
Những gì tôi không
tìm thấy ở Africa (*)
Joseph C. Wilson 4th
Có phải Chính phủ Bush lạm dụng thông tin tình báo về các chương trình vũ khí của Saddam Hussein để biện minh cho việc xâm lăng vào Iraq?
Dựa vào kinh nghiệm của
tôi với chính phủ Mĩ trong những ngày tháng trước khi cuộc chiến xảy
ra, tôi chẳng còn bao nhiêu lí giải để phải kết luận rằng một số thông
tin tình báo liên quan đến các chương trình vũ khí hạt nhân của Iraq đã
bị vặn vẹo để thổi phòng mối đe dọa từ Iraq.
Trong suốt 23 năm liền, tính
từ 1976 đến 1998, tôi là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp và đại sứ. Năm 1990, lúc còn là một tùy viên ngoại
giao ở Baghdad, tôi là nhân viên ngoại giao cuối cùng gặp Saddam Hussein. (Tôi cũng là người thẳng thắn kêu gọi
đánh đuổi Saddam khỏi Kuwait.) Sau
Iraq, tôi phục vụ trong chính phủ của Tổng thống George H. W. Bush (tức
Bush cha), với chức vụ đại sứ ở
Gabon và São Tomé và Príncipe; dưới chính phủ của Tổng thống Bill
Clinton, tôi tham gia vào việc vạch định chính sách về Phi châu cho Hội đồng
An ninh Quốc gia (National Security Council).
Với kinh nghiệm của tôi về
Phi châu, tôi đóng một vai trò nhỏ trong nỗ lực kiểm tra các thông tin về
mối liên hệ giữa Phi châu và các chương trình vũ khí hạt nhân của Iraq
mà chính phủ từng nghi ngờ. Có người
chắc vẫn còn thắc mắc về những bài báo viết về phát hiện của một
đặc phái viên vô danh đã đến Phi châu để điều tra về mối nghi ngờ
này? Đặc phái viên vô danh đó là
tôi.
Tháng 2 năm 2002, tôi được
cơ quan CIA, qua yêu cầu của Phó tổng thống Dick Cheney, giao nhiệm vụ để
điều tra về một báo cáo tình báo. Lúc
ấy, tôi chưa đọc bản báo cáo đó, nhưng tôi được biết rằng trong đó
có một đoạn viết về một hiệp ước mà theo đó Niger sẽ bán uranium
cho Iraq vào thập niên 1990s. Nhân viên
tình báo CIA đề nghị tôi nên đi Niger để kiểm tra xem hư thực ra sao, và
báo cáo cho Phó tổng thống biết.
Sau khi thảo luận với Vụ Phi
châu thuộc Bộ Ngoại giao (và với Barbro Owens-Kirkpatrick, đại sứ Mĩ tại
Niger), tôi đồng ý lên đường sang Niger công tác. Nhiệm vụ của tôi không có gì bí mật. Chuyến đi do CIA tài trợ. Tôi cũng nói rõ cho mọi người mà tôi gặp
biết rằng tôi đại diện chính phủ nước Mĩ.
Cuối tháng 2 năm 2002, tôi đến
Niamey, thủ đô Niger, nơi mà tôi từng là một nhà ngoại giao từ thập
niên 1970s, và từng làm việc với tư cách là chuyên viên của Hội đồng
An ninh Quốc gia trong thập niên 1990s. Thành
phố Niamey chẳng thay đổi mấy so với những gì tôi còn nhớ. Gió mùa bít kín bầu trời với bụi và
cát. Xuyên qua gió bụi mịt mù, tôi
có thể thấy nhiều đoàn lữ hành do lạc đà kéo băng ngang qua cầu John
F. Kennedy (cầu này bắt ngang sông Niger), và mặt trời dần lặng đằng sau
đoàn lữ hành. Phần lớn đoàn người
lữ hành quấn khăn quàng (scarf) phủ kín mặt để chống lại cát bụi, họ
chỉ để lộ cặp mắt.
Sáng hôm sau, tôi gặp Đại
sứ Owens-Kirkpatrick tại Tòa đại sứ. Vì
những lí do có thể hiểu được, nhân viên Tòa đại sứ theo dõi việc
buôn bán uranium của Niger rất sát. Tôi
không ngạc nhiên mấy khi bà đại sứ cho tôi biết rằng bà biết về lời
tố cáo Niger bán uranium cho Iraq, và bà cảm thấy bà đã vạch trần sự lừa
dối này trong báo cáo mà bà gửi về Washington rồi. Tuy thế, tôi và bà đồng ý rằng thời
gian của tôi sẽ dành để phỏng vấn các quan chức trong chính phủ để
biết xem cuộc buôn bán đó, nếu có, xảy ra vào lúc nào.
Tôi dành ra 8 ngày sau đó uống
trà ngọt và gặp gỡ nhiều người: từ các quan chức trong chính phủ hiện
nay, đến các cựu quan chức trong chính phủ trước, và những nhân vật có dính dáng đến kĩ nghệ
uranium. Tôi chẳng cần thêm thì giờ
để đi đến kết luận rằng cái gọi là việc buôn bán uranirum cho Iraq
là hết sức đáng nghi ngờ.
Với hệ thống công ti khai thác hầm
mỏ và quản lí của chính phủ ở Niger, bất cứ việc buôn bán uranium cho
Iraq không dễ gì tiến hành. Kĩ nghệ
khai thác uranium ở Niger gồm có hai mỏ: Somair và Cominak. Hai mỏ này do các công ti Pháp, Tây Ban
Nha, Nhật, Đức và Niger quản lí. Nếu
ai đó muốn chuyển uranium từ một mỏ, họ cần phải thông báo cho các
công ti này, và phải thông qua cơ quan năng lược quốc tế, International
Atomic Energy Agency. Hơn thế nữa, vì
hai mỏ này chịu dưới sự quản lí gắt gao của các cơ quan chính phủ
và phi chính phủ, việc buôn bán uranium cần phải có sự chấp thuận của
bộ trưởng hầm mỏ, và phê chuẩn của thủ tướng hay tổng thống. Nói một cách ngắn gọn, hệ thống quản
lí và kiểm soát uranium ở Niger quá chặt chẽ và cồng kềnh để tiến hành
bất cứ một sự buôn bán uranium cho bất cứ nước nào.
(Còn cái Giác thư (memorandum) thì
tôi chưa bao giờ thấy nó. Nhưng nhiều
nguồn tin cho biết nó có nhiều lỗi lầm sơ đẳng. Chẳng hạn như người kí tên trong đó
là những quan chức không còn phục vụ trong chính phủ. Có thể văn thư này do ai đó giả tạo. Và chính phủ Niger đã chính thức phủ nhận
văn thư này.)
Trước khi tôi rời
Niger, tôi có hội kiến với bà đại sứ về những phát hiện của tôi,
những phát hiện nhất quán với bà đại sứ.
Tôi cũng chia sẻ những kết luận của tôi với nhân viên của
tòa đại sứ. Đầu tháng Ba, tôi về
lại Washington và lập tức viết một báo cáo chi tiết về công tác và
phát hiện của tôi ở Niger cho CIA. Sau
đó, tôi chia sẻ kết luận của tôi với Vụ Phi châu của Bộ Ngoại giao. Không có gì bí mật hay mới lạ trong báo
cáo của tôi, cũng như chẳng có gì bí mật về chuyến công tác của tôi.
Ngoài ra, có ít nhất là 4 tài liệu
trong Văn khố chính phủ Mĩ nhất quán với kết luận của tôi. Những tài liệu này là bản báo cáo của
đại sứ Mĩ tại Niamey, báo cáo của nhân viên tòa đại sứ, báo cáo của
CIA về chuyến đi của tôi, và một trả lời cụ thể của CIA cho văn phòng
của Phó tổng thống (trả lời này có thể là bằng lời nói mà không qua
văn bản). Tuy chưa thấy các báo cáo
này, tôi đã ở trong chính phủ lâu và hiểu những thủ tục chuẩn này.
Tôi nghĩ câu chuyện [Niger bán
uranium cho Iraq] coi như đã rồi. Khóa
sổ. Tôi sẵn sàng trở lại cuộc sống
bình thường của tôi. (Tôi từng tham
gia vào cuộc tranh luận chung quanh vấn đề Iraq và đề nghị một chính
sách khống chế chế độ Saddam và đe dọa bằng vũ lực, thay vì xâm lăng
Iraq.) Tuy nhiên, Tháng Chín năm 2002, câu
chuyện Niger tái xuất hiện trên mặt báo. Chính
phủ Anh công bố một “Tài liệu trắng” (white paper) cho rằng Saddam
Hussein và các vũ khí phi chính thống của ông ta là một mối đe dọa. Trong tài liệu này có một đoạn văn cho
rằng Iraq cố gắng mua uranium từ một nước Phi châu (không nói tên) để
sản xuất vũ khí hạt nhân.
Thế rồi, vào tháng Giêng năm
2003, Tổng thống Bush, trích dẫn tài liệu của Chính phủ Anh, lặp lại lời
tố cáo rằng Iraq mua uranium từ Phi châu.
Ngày sau đó, tôi liên lạc một
người bạn ở Bộ Ngoại giao nhắc lại chuyến công tác của tôi ở Niger
và đề nghị anh ta xét lại xem cái “nước Phi châu” mà Tổng thống
Bush đề cập đến có phải là Niger hay không, và nếu đó là Niger thì
phát biểu của Tổng thống Bush không đúng với sự thật trong báo cáo của
tôi. Anh bạn tôi trả lời rằng có
lẽ Tổng thống đề cập đến một trong 3 nước Phi châu khác cũng sản
xuất uranium: Gabon, South Africa hay Namibia. Lúc
đó, tôi chấp nhận lời giải thích của anh bạn. Tôi không biết rằng vào tháng 12, một
tháng trước khi Tổng thống Bush đọc bài Diễn văn Liên bang, Bộ Ngoại
giao đã công bố một tài liệu thật (sheet of facts) đề cập đến Niger.
Đó là những sự thật về công
tác của tôi. Văn phòng phó tổng thống
đặt một câu hỏi nghiêm trọng. Tôi
được yêu cầu tìm câu trả lời. Tôi
đã tìm câu trả lời, và tôi tin vào câu trả lời của tôi. Tôi tin từng chữ và từng câu văn trong
câu trả lời mà tôi đã cung cấp và lưu truyền trong các quan chức chính
phủ.
Bây giờ, vấn đề đặt ra là: tại
sao giới lãnh đạo chính trị dùng (hay không dùng) câu trả lời của tôi. Nếu thông tin của tôi bị đánh giá là
không chính xác, tôi hiểu (dù tôi rất muốn biết tại sao không chính
xác). Nhưng, nếu thông tin của tôi
chính xác và bị lờ đi vì nó không ăn khớp với những định kiến về
Iraq, thì một lí giải khác được đặt ra là chúng ta gây chiến bằng những
lí do không thành thật. (Cần nhớ rằng trong cuộc trả lời phỏng vấn
vào tháng Ba trong chương trình "Meet the Press", Ông Cheney nói rằng
Saddam Hussein ‘một lần nữa tìm cách sản xuất vũ khí hạt nhân’.") Ít ra, Quốc hội, cơ quan phê chuẩn việc
dùng biện pháp quân sự qua sự yêu cầu của Tổng thống, nên tìm hiểu
xem những phát biểu về Iraq đúng hay sai.
Tôi đoan chắc rằng trước khi gây
chiến, mối đe dọa về vũ khí tàn phá hàng loạt của Saddam Hussein cần một
phản ứng quyết liệt và lâu dài của cộng đồng thế giới để giải
giới ông ta. Iraq từng có và từng
dùng vũ khí hóa học; Iraq cũng từng có một chương trình sản xuất vũ khí
sinh học và có thể có cả chương trình sản xuất vũ khí hạt nhân – tất
cả những việc làm này vi phạm các hiệp ước của Liên hiệp quốc. Tôi từng chạm trán ông Hussein và những
tên ác ôn trong chính phủ ông trước cuộc chiến vùng Vịnh vào năm 1991,
tôi hoàn toàn biết được những nguy hiểm từ ông ấy.
Nhưng những nguy hiểm đó có ghê
gớm như chính phủ nói cho chúng ta không? Chúng
ta phải tìm cho ra câu trả lời. Chính
sách ngoại giao của Mĩ tùy thuộc vào sự ràng buộc thiêng liêng của
thông tin. Vì lí do này, chất vấn sự
sử dụng có lựa chọn những thông tin tình báo để lấy cớ gây chiến
tranh ở Iraq không phải là một sự cắt xén, càng không phải là một lịch
sử xét lại – “revisionist history,” như ông Bush tuyên bố. Chiến tranh là một lựa chọn sau cùng của
một nền dân chủ. Chính phủ dân chủ
chỉ tiến hành chiến tranh khi có một mối đe dọa nghiêm trọng đến nền
an ninh của nền dân chủ. Hơn 200 binh
lính Mĩ đã bỏ mạng ở Iraq. Chúng
ta có nhiệm vụ bảo đảm sự hi sinh của họ vì cho những lí do đúng đắn.
(*) Nguyễn Văn lược dịch từ
bài viết “What I Didn't Find in Africa” của Joseph C. Wilson 4th,
đăng trên mục “Opinion” (Ý kiến) tờ New York Times, số ra ngày 6 tháng 7
năm 2003. Ông Wilson từng là đại sứ
Mĩ ở Gabon từ năm 1992 đến 1995, và nay là một cố vấn thương mại quốc
tế.

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net