
(Bài viết dưới đây là quan
điểm cá nhân của một người Việt ở nước ngoài nhưng lòng luôn hướng
về Đất Việt)
Dẫn nhập :
Có ý rằng: Đất nước của
người Nam phải do người Nam cai trị. Điều đó đã do ý trời định. Kẻ
nghịch kia dám xâm phạm đất ta, chỉ là mua lấy sự thất bại mà thôi.
Bốn câu thơ trên đây do danh tướng
Lý-Thường-Kiệt có tài kiêm văn võ đặt ra với mục đích dùng chiến
tranh tâm lý để đánh giặc phương Bắc, làm cho địch quân xuống tinh thần,
lúc ấy vào khoảng năm Bính-Thìn (1076). Và kể từ ấy, giặc phương Bắc
trước sau, gồm: nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh, nhà Thanh đều lần lượt
bị thảm bại trước sự khởi nghĩa vùng lên chiến đấu của nhân dân
Việt-Nam. Điễn hình là tinh thần đại đoàn kết của dân ta ở Hội nghị
Diên-Hồng là một bài học lịch sử.
Tưởng chỉ có thế thôi, nhưng
Trời đã định sẵn, hơn 800 năm sau, đến năm 1954, rồi đến năm 1974, bốn
câu thơ trên đây vẫn còn linh nghiệm. Cách mạng tháng 8/1945 với toàn
dân kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh đã mang lại độc
lập cho nước nhà. Nhưng sau đấy, dựa vào thực dân Anh vào Nam-Bộ để
tước khí giới quân đội Nhật. Pháp trở lại Việt Nam hầu đặt ách
nô lệ trên đầu trên cổ nhân dân ta một lần nữa. Nhân dân Việt Nam đã
chiến đấu dũng cảm chống lại thực dân Pháp. Pháp đã mang sinh mạng của
con em cùng với chủ quan, sai lầm to lớn của Pháp dẫn đến sự thua trận
Điện-Biên-Phủ. Và sau nầy, Mỹ lại đi theo vết xe cũ của Pháp, đặt lên
chính phủ quốc gia bù nhìn ở miền Nam Việt-Nam nên đã mua lấy thất bại
chua cay.
Một nghìn năm dưới ách thống
trị của giặc Tàu, một trăm năm trong vòng nô lệ giặc Tây, ba mươi năm
chống Mỹ cứu nước. Không ai ngờ được một nước nhỏ bé như Việt
Nam mà có thể đánh thắng những kẻ địch mạnh hơn mình gấp bội. Đó
là nhờ kết tinh Dân Tộc, nhờ dòng máu dũng cảm biết hy sinh vì tranh đấu
cho độc lập nước nhà, nhờ tinh thần đại đoàn kết của toàn dân và
nhờ có được các vị anh hùng Dận Tộc có tài và sáng suốt là Hồ Chí
Minh lãnh đạo toàn dân chiến đấu chống ngoại xâm giành được thắng lợi
nên từ chỗ trước kia, Việt Nam không có tên trên bản đồ thế giới,
nhưng bây giờ hai chữ Việt Nam được mọi người trên thế giới biết
đến không phải chỉ trên sách vỡ, lời nói, phim ảnh mà cái quan trọng
là trong thâm tâm của đại đa số nhân dân các nước trên thế giới đối
với Việt Nam.
Nói chung, nói theo tâm lý và thực
tế, người Việt Nam rất hiếu hòa, biết trọng lễ nghĩa, đạo lý,
không có tâm địa thâm hiễm, dễ tha thứ và cởi mở. Nhưng không vì thế
mà trỡ thành ngu đần. Tuy biết nhún nhường nhưng không phải dại dột.
Ai làm ơn thì không bao giờ phụ, nhưng hễ bị hà hiếp, bị khinh khi thì
không dễ gì cúi đầu cam chịu mà sẽ kiên nhẫn chống trả đối phương
bằng nhiều cách dù phải hy sinh mạng sống để bảo tồn độc lập và hạnhphúc
của nhân dân Việt-Nam.
* * *
Vào Đề.
Nhân việc
Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Donald Rumsfeld có lời mời tướng Phạm Văn Trà,
Bộ trưởng Quốc Phòng Việt-Nam sang viếng thăm Mỹ. Phía Việt-Nam đã nhận
lời mời. Đồng thời sẽ có một tàu chiến Mỹ sẽ viếng thăm Việt Nam
trong nay mai. Việc nầy đưa đến bài viết “Quan hệ Việt-Mỹ, khúc quanh lịch sử
“ hôm nay !
Trong việc nối lại khúc quanh lịch sử Việt-Mỹ cho
chúng ta thấy, trước hết những nhà lãnh đạo Mỹ không biết tiên liệu
và việc làm nầy đã để trễ những 58 năm (năm mươi tám). Đáng lẽ đã
được thực hiện bắt đầu từ năm 1945, khi thiếu tá Archimede Patti, trưởng
đội OSS (The Office of Strategist Services, tiền thân của CIA, Tình Báo Mỹ)
được phái sang Việt-Nam công tác. Nhiệm vụ của thiếu tá Patti lúc bấy
giờ là cứu nguy cho những quân đội Mỹ khi nhảy dù xuống Việt-Bắc và
phối hợp với tổ chức Việt-Nam Độc-Lập Đồng-Minh Hội (Việt-Minh) do
Hồ Chí Minh lãnh đạo để chống lại phát-xít Nhật. Ở Tân-Trào, Mỹ đã
huấn luyện cho đội Tuyên Truyền Giải Phóng quân Việt-Nam cách thức sử
dụng vũ khí. Vào ngày 2/9/1945 lễ độc lập của Việt-Nam, Patti đã hân hạnh
ngồi bên Võ Nguyên Giáp dự lễ. Trong lúc chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên
ngôn độc lập của nước Việt-Nam Dân Chủ Cộng Hòa, một đoàn máy bay
Mỹ đã bay rà xuống thấp hiện trường ở vườn hoa Ba-Đình với ý nghĩa
ủng hộ buổi lễ độc lập đầu tiên của Việt-Nam cho thêm phần long trọng.
Sau đấy, khi thiếu tá Patti về nước, chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi một
bức thư đến tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt kêu gọi Mỹ ủng hộ Việt
Nam về mặt tinh thần, đồng thời gửi đến nhân dân Mỹ một thông điệp
mang tay bày tỏ mối thiện cảm của nhân dân Việt-Nam đối với nhân dân
Mỹ xem như anh em. Theo tài liệu trong văn khố Mỹ cho biết, quan điểm của
tổng thống Roosevelt lúc bấy giờ là muốn cho các nước thuộc địa trong
đấy có Việt-Nam được độc lập nhưng chưa kịp thi hành thì ông chết.
Kế đến thời tổng thống Harry Truman, chủ tịch Hồ Chí Minh lại viết
thư và gửi điện văn nhắc lại yêu cầu trước đây nhằm vào việc hỗ
trợ tinh thần cho Việt-Nam và nhìn nhận một nước Việt-Nam độc lập.
Nhưng không được trả lời. Chẳng những vậy, tổng thống Truman còn tiếp
trợ cho Pháp trong việc tái chiếm Đông-Dương vì sợ rằng Cộng-Sản sẽ
xâm nhập châu Âu, phải có Anh và Pháp đứng trong Liên Phòng Bắc Đại Tây
Dương để chống lại Nga-Xô. Còn ở châu Á thì sợ Việt-Nam đứng về
phe Cộng-Sản, như bàn cờ Domino, mất Việt-Nam thì sẽ mất cả Thái, Diến-Điện,
Mã-Lai, Nam-Dương, Philippine, Uc và Tân-Tây-Lan
v.v. .
Mặt khác, về cá nhân vị chỉ huy
Du-Kích Hồ Chí Minh, thiếu tá Patti cho biết, buổi đầu gặp gở ông Hồ
đã lôi cuốn được cảm tình của người đối thoại. Hồ Chí Minh có vầng
trán rộng, đôi mắt sáng ngời, là một người có tinh thần Dân Tộc cao
độ biết tranh đấu cho Việt-Nam được độc lập. Nhưng Mỹ vẫn nghi ngờ
Hồ Chí Minh là con người Cộng Sản. Người ta có biết đâu rằng Staline
nghi ngờ Hồ Chí Minh vì ông không có tinh thần Cộng-Sản Quốc Tế; trong
vụ bị bắt ở Tàu, khi được thả ông cũng bị nghi ngờ ! Sở dĩ ông
theo Cộng Sản vì Cộng-Sản bênh vực giai cấp bị trị, giai cấp công
nông và người nghèo khổ. Trái lại, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa tư bản
thường hay cướp nước người, hà hiếp và bóc lột các dân tộc nhược
tiểu.
Nếu tổng
thống Mỹ là những người thức thời, lãnh đạo giỏi thì Washington và
Hà-Nội đã bắt tay nhau từ trước, không có việc hiểu lầm và chiến
tranh Việt-Nam đã không xẩy ra; không có việc Mỹ đi đêm với Trung-Hoa để
làm cho Nga-Xô suy yếu. Không phải hiểu lầm thôi mà còn là sai lầm trong
chiến tranh Việt-Nam như tác giả James Olson
và Randy Robert viết trong quyển “Where the Domino fell” trong lời kết rằng:
“Vietnam was the wrong war, wrong place at the
wrong time for the wrong reason”. (Chiến tranh Việt Nam là sai lầm, sai ở
địa điểm, sai ở thời điểm và sai ở lý do biện minh). Còn cựu Ngọai
trưởng Henry Kissinger mới đây viết
trong quyển “Ending the Vietnam war” (Chấm
dứt chiến tranh Việt-Nam) rằng: Some of them derided what they called “cold war
attitudes” as if the cold war have been some sort of misunderstanding, if not an
American invention (Trong số họ chế giễu cái được gọi là “ quan điểm
chiến tranh lạnh” là nếu chiến tranh lạnh đã là vài điều mơ hồ của
sự hiểu lầm, nếu đó không phải là điều người Mỹ phát minh). Nói như
ông Kissinger là người Mỹ đã mơ hồ về thực tại những cái gì đã xẩy
ra liên quan đến tình hình thế giới, liên quan đến Việt Nam nên đã có
nhận xét sai lầm theo thế cờ Domino, nếu Việt-Nam mất thì cả Đông-Nam
châu Á sẽ rơi vào tay Cộng-Sản. Nhưng sau khi Việt-Nam chiến thắng, các
nước châu Á vẫn còn nguyên vẹn, chẳng có gì gọi là sụp đổ. Ngoài
ra, ông Kissinger đã lặp lại câu mà nhiều nhà chính trị hay sử học đã
nói: “Lịch sử không bao giờ lặp lại”
và đi đến kết luận Chiến tranh Việt-Nam là một bài học.
Đây là
dịp để chúng ta nhắc lại Hiệp định Genève 1954.
Nhận xét về Hiệp-Định Genève 1954
và hậu quả.
Trận
chiến thắng Điện-Biên-Phủ của Quân Đội Nhân-Dân Việt Nam anh hùng đã
làm chấn động cả thế giới. Vào dịp nầy, Giáo hoàng Pie XII tại Roma
(tòa Thánh Vatican) đã đề nghị với Mỹ dùng bom nguyên tử ném xuống Việt
Nam để cứu Pháp. Vì giáo hoàng Pie XII tin tưởng rằng người Âu Mỹ đi
chiếm thuộc địa với mục đích bảo vệ văn minh Thiên chúa giáo mà họ
quan niệm là đi mở mang nước Chúa nhắm vào những nước nhỏ và nghèo
khổ như Việt Nam. Kể từ 1946 khi De Gaulle nuôi mộng tái chiếm Đông-Dương
nhờ vào sự trợ giúp của Mỹ về tinh thần cũng như vật chất. Cho đến
năm 1954 vì thua trận nên Pháp phải ngồi vào bàn hội nghị, ký hiệp ước
Genève về Việt Nam.
Nhận định
về Hiệp định Genève 1954, chúng ta nhận thấy tại sao Pháp không trả lại
cho Việt Nam cả nước mà chỉ có một nửa nước, kể từ vĩ tuyến 17 trỡ
lên ? Xin thưa rằng: Trong công cuộc kháng chiến giành độc lập, nhân dân
Việt-Nam hy sinh xương máu, nhưng các cường quốc định đọat số phận
đất nước ta. Các cường quốc tham dự hội nghị Genève và quyết định
những điều khoản trong hiệp ước Genève 1954 về Việt-Nam gồm có: Mỹ,
Anh, Nga xô, Trung quốc.
Mỹ, Anh
tất nhiên là về hùa với Pháp không nói làm gì, nhưng còn Nga-xô và Trung
quốc thì sao ? Nga-xô ở những ngày đầu đã xem Hồ Chí Minh là người có
đầu óc Dân Tộc. Vì vậy, trong những ngay đầu kháng chiến ta rất thiếu
vũ khí, họ có dư nhưng đã không viện trợ cho ta. Còn Trung quốc thì
nhóm người lãnh đạo của họ chủ trương chủ nghĩa bá quyền, bành trướng.
Cụ thể là trong chiến lược toàn cầu, họ mưu toan thôn tính Việt Nam
và toàn bộ Đông-Dương, lấy đó làm đầu cầu để tiến chiếm các nước
khác ở Đông-Nam châu Á. Và sau này, họ đã dựng Pol-Pốt, Iêng-Xary lên
làm lãnh tụ Khmer Đỏ. Bày cho Pôl-Pốt dùng chính sách diệt chủng ở
Miên, với mưu sâu loại trừ bớt dân số Miên để dành cho kế hoạch di
cư cả chục triệu người Hoa trong tương lai sẽ đến đất Miên định
cư, kế hoạch nầy hiện đang được tiến hành tại Tây-Tạng hiện nay.
Tháng 06
năm 1973, chủ tịch Mao Trạch Đông đã nói với những người lãnh đạo
Việt Nam rằng: “Thành thực mà nói, nhân
dân Trung quốc, đảng Cộng Sản Trung quốc và nhân dân thế giới phải
cám ơn nhân dân Việt Nam đã đánh thắng Mỹ. Các đồng chí chiến thắng mới buộc Nixon phải đến Bắc Kinh”.
Bằng chứng đích thực nhất cho thấy hai nước Nga-xô và Trung quốc nhìn
nhận Chính Phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chậm hơn các nước khác. (Sau
hơn một năm Trung Quốc và Nga-Xô mới nhìn nhận Việt-Nam). Nói tóm lại,
những người lãnh đạo Trung quốc muốn chia cắt Việt Nam có tính cách
lâu dài hòng làm cho Việt Nam suy yếu phải phụ thuộc vào Trung quốc. Năm
1979, họ dùng lực lượng Khmer Đỏ tấn công vào mấy tỉnh biên giới của
Việt-Nam ở phía nam, đồng thời phối hợp nhịp nhàng với kế hoạch đánh
chiếm Việt Nam, họ mang cả mấy sư đoàn tấn công vào Việt Nam ở phía
bắc. Nhưng họ đã thất bại vì bị thiệt hại nặng trước sự chống
trả của Dân quân Du kích điạ phương. Mộng không thành đạt, Trung quốc
phải rút lui không thực hiện được kế hoạch xâm lăng như đã định.
Vì thế mà trước đây chủ tịch Hồ
Chí Minh đã từng nói:
“Cách mạng Việt Nam do Việt Nam làm lấy”
và ông Trường-Chinh, Tổng bí thư đã nêu cao khẩu hiệu: ”Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng
lợi”.
Việt
Nam tuy thắng trận nhưng ở thế yếu vì bị các cường quốc bắt ép phải
nhận một nửa đất nước, từ vĩ tuyến 17 thay vì cả nước !
Pháp
rút lui khỏi miền bắc năm 1954 và hoàn toàn rút lui khỏi miền nam năm
1955, để lại di họa cho chúng ta sau nầy. Đó là chủ nghĩa quốc gia không
xương sống, chủ nghĩa quốc gia giả hiệu và một đạo quân thứ năm nằm
vùng là Giáo hội Thiên Chuá giáo địa phương. Chủ nghĩa quốc gia giả hiệu
nầy đã liên tục có mặt tại miền nam Việt Nam dưới thời Mỹ-Diệm tới
thời Mỹ-Thiệu và hiện nay nó vẫn còn giẫy giụa như những con lươn,
con trạch trên đất Cờ-Hoa nầy để bảo vệ lá cờ chết, lá cờ tay sai
!
Mặt
khác, căn cứ theo hiệp định Genève 1954 thì đến 1956 Pháp và Việt-Nam phải
tổ chức tổng tuyển cử, phổ thông đầu phiếu ở cả hai miền nam bắc
để tiến tới thống nhất đất nước. Nhưng Mỹ đã xúi giục bằng
cách bày ra trò phản đối của ông phổng Diệm !
Từ năm
1946, tuy Mỹ không trực tiếp giúp Pháp tái chiếm Đông-Dương nhưng Mỹ đã
ủng hộ đường lối của Pháp với chiêu bài “bảo vệ
nền văn minh Thiên Chúa Giáo”. Sau 1954, Mỹ
đã hất cẳng Pháp để trực tiếp nhảy vào miền Nam Việt-Nam nói riêng
và Đông-Dương nói chung với chiêu bài ”ngăn ngừa Cộng-Sản và chống
Cộng đến cùng để bảo vệ Thế giới Tự Do”. Thua đậm hay thất bại ở Việt-Nam ư ? Nói cho đúng ra là Mỹ đã thảm bại
ở Việt Nam nên Mỹ phải rút quân về và nêu ra chính sách Việt-Nam hóa
chiến tranh để vớt vát sĩ diện. Sở dĩ tôi không nói thất bại mà nói
thãm bại vì trong mấy chục năm chiến tranh Việt Nam Mỹ đã đưa nhiều
tướng tài đến chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt Nam. Nhiều bộ phận nghiên
cứu đặc biệt của Mỹ đã đến nghiên cứu ngay chiuến trường cũng
như mọi tình huống để hổ trợ cho chiến tranh. Các cơ quan chuyên môn như
USOM, USAID, USIS đã làm việc thường trực tại Việt Nam. Các đại biểu
quốc hội Mỷ thuộc hai đảng Cộng hòa và Dân chủ đã đến Việt Nam khảo
sát tình hình. Và với non một triệu quân đội Mỹ, cộng thêm quân đội
của các nước chư hầu như Úc, Tân-Tây-Lan,
Gia-Nã-Đại, Nam Triều, Thái-Lan đều tham dự chiến trường. Tất cả các
quận lỵ ở miền Nam Việt Nam đều có cố vấn Mỹ thường trực chỉ
huy. Không những vậy, về mặt tình báo, Mỹ còn tổ chức những bộ phận
tình báo trá hình như: Đội Diệt Trừ Sốt Rét, Dân Ý Vụ. Ngòai văn phòng
Thông Tin Mỹ là USIS, Mỹ còn tổ chức Đài
Phát Thanh Gươm Thiêng Ai Quốc để tuyên
truyền ra Bắc. Ngoài vấn đề nhân sự ra, các loại máy bay siêu thanh
cùng các loại vũ khí tối tân khác cũng được ,mang đến để phục vụ
chiến tranh Việt Nam. Trên mấy chục năm chiến tranh Việt Nam liên tục 5
đời Tổng Thống Mỹ đã lãnh đạo chiến tranh Việt Nam. Nhưng rốt cuộc
với chiêu bài hay sách lược nào cũng đều mang đến thất bại vì cuộc
chiến tranh không có chính nghĩa. Ngày 30 tháng 04 năm 1975 trước sự tấn công như vũ bão của
Quân Đội Nhân Dân Việt-Nam, Dương Văn Minh, tổng thống miền Nam Việt
Nam đầu hàng không điều kiện. Kể từ giờ phút nầy, Việt-Nam được
độc lập, thống nhất dưới nền Xã hội Cộng Hòa sau mấy mươi năm
tranh đấu hy sinh.
Mỹ
đưa ra chủ trương cấm vận Việt-Nam với mục đích trả thù, sợ Việt-Nam
đứng ra lập Liên-bang Đông-Dương sau khi Việt-Nam bị Khmer Đỏ do Pol Pot
chỉ huy (Pol Pốt là đàn em của Tàu đỏ) đánh phá mấy tỉnh biên giới
của Việt-Nam, hãm hiếp đàn bà con gái, đốt nhà, cướp trâu bò lùa về
Miên. Ngoài ra, ở Miên bè lũ Pol-Pốt đã có chính sách diệt chủng, giết
cả triệu người Miên vô tội. Vì những lý do trên đây, cho nên đến tháng
12 năm 1978, Việt Nam mang quân vào đất Miên đuổi đánh quân Khmer Đỏ. Mỹ
đã đưa ra chủ trương cấm vận Việt-Nam trong lúc Việt-Nam vừa mới thống
nhất đất nước sau mấy chục năm bị chiến tranh tàn phá, lầm
than, đến nỗi tuy là một nước nông nghiệp nhưng thiếu gạo để ăn, phải
ăn bo-bo trừ cơm. Mỹ lấy cớ Việt
Nam xâm chiếm Cămphuchia để tiếp tục cấm vận. Nhưng hai mươi năm sau, lại
chính Mỹ đi xâm chiếm các nước khác, lấy cớ Taliban chứa chấp trùm khủng
bố Bin Laden nên phải mang quân đến chiếm đóng ở Afghanistan và sau đó
xâm lăng Iraq với lý do dàn dựng rằng Iraq có vũ khí giết người hàng loạt,
đe dọa nền an ninh của Mỹ. Chẳng qua Mỹ cậy thế mạnh của mình, dùng
luật rừng rú, bất chấp Liên Hiệp Quốc để chiếm đóng nước khác hầu
muốn tóm thâu nguồn lợi dầu lửa về phần mình.
Điểm qua những liên hệ Việt-Mỹ.
Ngày 21
tháng 04 năm 1991 Việt Nam đồng ý để Mỹ thành lập một Văn .
Phòng Liên Lạc của Mỹ tại Hà-Nội để
tiến tới bang giao và bãi bỏ cấm vận.
Tháng 12
năm 1991 Mỹ bãi bỏ việc cấm công dân Mỹ đến Việt Nam
Ngày 29
tháng 12 năm 1992, Washington chấp thuận cho thành lập đường giây liên lạc về điện thoại nối liền giữa
hai nước Việt-Mỹ.
Ngày 14
tháng 12 năm 1992 tổng thống G. Bush cho phép các hãng buôn Mỹ mở văn phòng
ỏ Việt Nam để nghiên cứu thị trường-
Ngày 3
tháng 2 năm 1994 tổng thống Clinton tuyên bố bãi bỏ cấm vận Việt Nam.
-Ngày 11 tháng năm 1995, tổng thống Clinton tuyên bố bình thường hóa, lập
quan hệ ngoại giao với Việt Nam hầu hàn gắn lại vết thương do chiến
tranh gây ra.
Ngày 5
tháng 08 năm 1995 bộ trưởng Ngoại Giao Mỹ Warren Christopher đến Hà-Nội dự
lễ khánh thành Toà Đại Sứ Mỹ.
Ngày 04
tháng 09 năm 1995 cựu tổng thống Bish viếng thăm Việt Nam.-
Ngày 07
tháng 10 năm 1995, cựu Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert S. McNamara đến viếng
thăm Việt Nam.
Ngày 09
tháng 05 năm 1997, ông Peterson Wilson đến nhậm chức Đại sứ Mỹ tại Việt
Nam, đồng thời Đại sứ Việt Nam Nguyễn Văn Bàng đã đến Washington trước
đó hai ngày để nhậm chức Đại sứ Việt Nam tại Mỹ.
Ngày 24
tháng 06 năm 1997 Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao Mỹ Madeline Albright chính thức
viếng thăm Việt Nam
Ngày 13
tháng 07 năm 2000, Charlene Barshefsky đại diện Bộ Thương Mãi Mỹ đến Việt
Nam để ký kết với Bộ trưởng Vũ Khoan về việc thỏa thuận hiệp
thương.
Ngày 16
đến 19 tháng 11 năm 2000, tổng thống Bill Clinton và vợ Hillary Clinton cùng
cô con gái Chelsea đến Hà-Nội lần đầu làm chuyến viếng thăm lịch sử.
Mục đích chuyến đi của Clinton là thảo luận để thắt chặt thân hữu
giữa hai nước Việt-Mỹ. Clinton nói: “Tôi nghĩ rằng bây giờ là thời
điểm để viết một chương sử mới tại đây”.
Ngày
24-26 tháng 07 năm 2001, Bộ trưởng Ngoại Giao Mỹ Colin Powell đến Hà-Nội
họp với các nhà lãnh đạo các nước châu Á.
Ngày 03
tháng 10 năm 2001, thượng viện Mỹ chấp thuận việc trao đổi buôn bán
bình thường với Việt Nam.
Đồng
thời, ngày 28 tháng 11 năm 2001, Quốc hội Việt nam cũng chấp thuận việc
trao đổi buôn bán bình thường với Mỹ.
Những bất đồng hiện nay của hai bên :
Về
phía Việt-Nam.
Việt-Nam
đòi Mỹ bồi thường thiệt hại do chất khai quang “Da Cam” gây ra, kể cả
thiệt hại về chiến tranh do Mỹ gây ra.
Vụ xử
bất công trong việc cá trơn (cá Ba-sa) của Việt Nam nhập cảng vào Mỹ.
Vụ treo
cờ quốc gia bù nhìn trên đất Mỹ do Mỹ gián tiếp gây nên. Vẫn biết rằng
là cờ vàng ba sọc đỏ trên thực tế là lá cờ chết, không được cộng
đồng quốc tế công nhận.
Việc Mỹ
gián tiếp khuyến khích các thành phần chống Cộng người Mỹ gốc Việt
thành lập chính phủ Lưu vong chống Việt-Nam trên đất Mỹ.
Vẫn biết
rằng vụ treo cờ và chính phủ lưu vong không đi đến đâu. Nhưng mỗi khi
hai bên có tinh thần tôn trọng nền độc lập của nhau thì phải giải quyết
chấm dứt, không nên để những việc nầy xẩy ra.
Về
phía Mỹ.
Mỹ đòi
Việt-Nam “mở rộng tự do, dân chủ”.
Mỹ đòi
hỏi Việt-Nam cho “Tự Do tôn giáo”.
Mỹ đòi
Việt-Nam “mở rộng nhân quyền”.
Chúng
tôi sẽ không đi sâu vào những điểm
bất đồng đưa ra trên đây. Những điểm bất đồng của hai bên sẽ được
giải quyết thỏa đáng nếu như hai bên Việt-Mỹ thoả thuận một chiến
lược chung về quân sự.
Trong lúc ông Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Rumsfeld bận lo đối phó với chiến tranh du kích ở Iraq cùng đe dọa nguyên tử của Bắc Triều-Tiên, của Iran bù đầu thì còn thời giờ đâu mà mời tướng Trà đến thăm Mỹ xã giao. Sao Mỹ không mời các bộ trưởng khác mà lại đi mời Bộ trưởng Quốc Phòng là người nắm giềng mối quân đội. Hẳn nhiên chuyến đi nầy của tướng Trà không ngoài tham khảo về một dự thảo chiến lược quan trọng mà hai bên đều cần có và muốn có những thỏa thuận
Chiến lược
đó là gì ? Xin thưa, là chiến lược ngăn ngừa chủ trương bành trướng
của Trung quốc trong kế hoạch muốn làm “Thiên Hoàng” trên thế giới.
Muốn trở thành siêu cường, việc thứ nhất cần phải làm cho Mỹ suy yếu.
Trước đây, tuy Trung-Quốc chưa có vũ khí hiện đại
như hiện nay, kinh tế còn thô sơ, chưa có vũ khí nguyên tử묠chưa đưa được người lên không gian nhưng đã có chủ trương bành trướng như lấy
hẳn miền Bắc Việt-Nam mà không tốn một viên đạn, không đổ một giọt
máu. Nhưng mưu sâu của họ không qua mắt được bác Hồ. Lúc đang thời kỳ
Mỹ mở chiến tranh Việt-Nam, lúc bác Hồ còn sống, thủ tướng Chu Ấn
Lai đã có lời đề nghị cùng bác Hồ: “Các
đồng chí cứ tập trung quân đưa hết vào để giải phóng miền Nam. Còn
miền Bắc thì đã có hồng quân Trung-Hoa lo liệu”. Trước khi chưa có
trận đánh Điện-Biên-Phủ họ đã đề nghị cùng Việt-Nam là họ sẽ gửi
quân đội Trung-Hoa sang giúp đánh Pháp. Nhưng chủ tịch Hồ Chí Minh đã khéo léo từ chối bằng cách
đề nghị để cho họ giúp Việt-Nam làm cầu đường ở các tỉnh vùng
biên giới như Lào-Kay, Cao-Bằng, Lạng-Sơn. Trung Hoa tiến chiếm Tây-Tạng,
chiếm lĩnh các đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa, và đến năm 1979, đồng thời
gây hấn với Ấn-Độ trong việc tranh chấp ở biên giới Ấn-Hoa. Đánh
chiếm các tỉnh biên giới miền Bắc Việt-Nam không xong. Nếu như không gặp
thất bại thì họ đã xua quân chiếm luôn thủ đô Hà-Nội và xuôi xuống
chiếm luôn Trung và Nam-Bộ như họ đã vẽ trong bản đồ một nước Trung
Hoa to lớn vĩ đại bao gồm nội, ngoại Mông-Cổ, Triều Tiên, bán đảo Đông-Dương,
Thái, Diến-Điện, Mã-Lai v.v. . . Lợi dụng việc giúp làm cầu cống, đường
sá trước đây, họ đã vẽ bản đồ, đã tổ chức đường dây dọ thám
ở nơi người thiểu số gốc Mèo (Hmong) và
Mán (Khamú ) ở những vùng biên giới nước ta.
Lúc bác
Hồ còn sống, ông Trường-Chinh làm Tổng Bí thư rồi đến ông Lê-Duẫn
là những người có tài mới dư sức đối phó với sách lược của
Trung-Quốc. Còn thời xa xưa, tinh thần yêu nước của nhân dân Việt-Nam
lúc nào cũng đặt trong tình trạng báo động về tham vọng của Trung-Quốc.
Nhưng chỉ trừ những vị anh hùng bất khuất, không sợ chết, không màng
danh vọng như Trần Bình Trọng, “thà làm
ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”. Còn bàn dân thiên hạ, ít
có ai dám ngang nhiên đụng đầu với Trung-Quốc vì không ai muốn tên khổng
lồ nằm sát bên cạnh can thiệp vào đất nước mình. Tên khổng lồ đó
vẫn luôn luôn tự xưng mình là “Thiên triều”.
Còn bây giờ Việt-Nam cũng đã dụ được Trung-Quốc ký
kết về biên giới giữa hai nước Việt-Hoa. Và không có lý do gì để mà
gây hấn nữa.
Nhưng chuyện động trời khác lại xẩy ra, chúng tôi đã thấy tận
mắt đủ các mặt hàng hoá Trung- quốc từ những đồ thực dụng cho đến
máy móc nhỏ, xe máy, đồ điện tử, áo quần, thuốc men tràn ngập Việt-Nam
đền mức báo động là hàng của họ rẻ hơn của Việt-Nam nên sẽ bóp
chết hàng hóa do ta làm ra. Mặt khác, ta thất thu thuế vì hàng nhập cảng
có đến phân nửa là hàng lậu, hàng trốn thuế được cả mấy trăm cửu
vạn (người gánh đồ) ngày đêm vượt biên giới từ Trung-Quốc vào Việt-Nam
như chỗ không người. Chẳng mấy chốc mà hàng hóa mang nhãn hiệu Made in China đè bẹp hàng hóa mang nhãn hiệu
Made in Viet Nam. Đây là một trong những
phương cách đánh vào kinh tế Việt-Nam không cần gây chiến tranh lạnh hay
chiến tranh nóng gì cả.
Hiện
nay, kinh tế của Trung quốc đang đi lên như diều gặp gió. Trái lại, kinh
tế của Mỹ đang trên đà xuống dốc. Trong
một tương lai không xa Trung quốc không những đe dọa Mỹ về kinh tế mà
còn đe dọa cả về quốc phòng và an ninh. Điều nầy đã được các nhà
nghiên cứu về quân sự trên thế giới nghĩ đến từ lâu. Nhưng cứ sự
thật mà nói, sở dĩ Trung quốc có địa vị kinh tế mạnh như hôm nay đều
do Mỹ giúp ở bước đầu kể từ sau khi tổng thống Nixon viếng Trung quốc.
Đấy là dùng gậy ông đập lưng ông, y hệt như trường hợp Mỹ đã từng
giúp Saddam Hussein ở Iraq, và giúp Bin
Laden ở Afghanistan nên mới xẩy ra cớ sự làm cho Mỹ phải lo lắng như hôm
nay.
Mỹ phải
có kế hoạch đối phó với đà nhẩy vọt của Trung quốc ngay từ bây giờ
hãy còn kịp. Nếu để lâu hâu hoạn sẽ không biết đâu mà lường. Và nếu
Mỹ muốn kế hoạch của mình thành tựu thì phải có việc liên minh quân
sự hay có một thỏa thuận ngầm với Việt-Nam ngay từ bây giờ nên mới
có việc Mỹ mời tướng Trà, Bộ trưởng Quốc Phòng Việt-Nam đến thăm
Mỹ trong nay mai. Và Mỹ nên nhớ rằng ở Châu Á hiện thời chỉ có Việt-Nam
và Án Độ là hai nước duy nhất có thể cản bước tiến xâm lăng của
Trung quốc .
Như vậy
thì cả hai Mỹ lẫn Việt-Nam phải có sự thay đổi về thành kiến và bỏ
lại quá khứ để đi đến mẫu số chung là hợp tác trên quan điểm hai bên
đều có lợi.
Đối với
Mỹ:
Mỹ nên
thay đổi thái độ đối với Việt-Nam. Thái độ đó là hợp tác trên
tinh thần bình đẳng, không cậy thế giàu mạnh để lấn lướt.
Viện trợ
kinh tế, viện trợ kỹ thuật cho Việt-Nam thay vì bồi thường chiến tranh
do Mỹ gây nên.
Bồi thường
cho Việt Nam thoả đáng trong việc xoa dịu vết thương do chất hóa học Da
Cam mà Mỹ dùng để khai quang trước
đây ở Việt-Nam gây ra.
Bãi bỏ
việc xâm phạm vào nội trị, chủ quyền của nước Việt-Nam bằng những
đòi hỏi vớ vẩn như vấn đề nhân quyền, tự do dân chủ, tự do tôn
giáo phải được thực thi ở Việt-Nam.
Chấm dứt
hỗ trợ gián tiếp cho các tổ chức thù nghịch Việt-Nam. Cấm các tổ chức
có tinh cách chính trị chống phá Việt-Nam bằng nhiều hình thức. Cấm
treo cờ quốc gia bù nhìn là cờ vàng ba sọc đỏ vì lá cờ này không được
cộng đồng quốc tế công nhận.
Đối với
Việt-Nam:
Nơi đây,
chúng tôi chỉ đề cập về mặt quân sự cho hợp với thời điểm về việc
tướng Trà sắp đến Mỹ theo lời mời của Bộ trưởng Quốc Phòng, ông
Donald Rumsfeld.
Ngoài
chiến lược, chiến thuật quân sự ra, chúng ta cần phải nhìn nhận rằng
Việt-Nam có nhược điểm. Đấy là vấn đề vũ khí. Ngay như vũ khí
thông thường gồm cả đạn ta cũng không tự sản xuất ra được, nhất
nhất cái gì cũng phải mua của ngoại quốc. Chưa nói gì đến máy bay, cao
xạ, tên lửa, trọng pháo, xe tăng, xe thiết giáp
v.v. . .
Năm 1979
khác xa với bây giờ ! Thời gian 24 năm
đã trôi qua, hiện nay Trung quốc đã cho người lên được không gian. Kể
về vũ khí thì Trung quốc giờ đây chỉ còn thua Mỹ. Phải như hiện nay,
chiến tranh Việt-Hoa xẩy ra như năm 1979 thì ta lấy đâu ra vũ khí hiện đại,
thực tế như máy bay, xe tăng, tên lửa để chống lại Trung quốc. Với
kho vũ khí hiện đại của Trung quốc mang tấn công ta thì nhất định ta sẽ
bị thiệt hại về vật chất rất to lớn.
Ngoài vũ
khí hiện đại mà ta cần có hiện nay. Đi đôi với vũ khí hiện đại là
cần học hỏi kỹ thuật sử dụng. Như vậy không gì hơn là có được một
liên minh quân sự với một đại cường. Ta hãy nêu ra ví dụ, không phải
riêng gì Việt-Nam mà cộng chung lại Việt-Nam, Mã-Lai, Philippines liệu có
đòi lại được Hoàng-Sa và Trường-Sa không ? Nếu không có một cường
quốc tham dự vào hay đứng ra làm trọng tài để phân xử ?
Nhân dịp
nầy, không cần ai đốc thúc, tướng Trà là một chỉ huy quân sự tất
nhiên sẽ biết những điều gì mình phải làm, cần làm cho đất nước về
mặt quốc phòng.
Nhìn lại
lịch sử từ hồi lập quốc cho đến nay thì kẻ thù truyền kiếp của Việt-Nam
không ai khác hơn ngoài nước lân bang khổng lồ, Trung quốc là mối đe dọa
thường xuyên đối với dân ta. Khi người khổng lồ vui vẻ thì không sao.
Còn như vật mình vật mẩy, giận hờn thì ắt có chuyện không hay sẽ xẩy
ra ngay lập tức vì sự thể ở đời “không
bao giờ có chuyện bán con, nuôi cháu”. Và “tình đồng chí” chẳng qua chỉ ở đầu
môi chót lưỡi như đã xẩy ra hồi năm 1979: “Trung quốc định dạy cho Việt-Nam một bài
học”, thiên hạ cứ tưởng là như thế ! Nhưng sự thật khác hẳn,
nó trái ngược lại !
Một ví
dụ cụ thể được đặt ra, nếu mang ra so sánh giữa Mỹ và Hoa ai nguy hại
hơn thì chắc chắn hễ đã là người Việt-Nam thì bất kỳ ai cũng có
được nhận thức là Hoa nguy hại hơn vì họ sẽ đồng hoá ta quá dễ
dàng. Về phần Mỹ, họ không thể dễ gì đồng hóa được Việt-Nam vì văn
hóa dị biệt, vì khác màu da. Hơn nữa gần nhà giàu hay dù là trọc phú
đi chăng nữa vẫn còn hơn là đã nghèo mà còn keo kiệt, kèn cựa, ích kỷ
và thâm độc !
Vả lại,
đối với Mỹ nói chung về tâm lý thì mối lợi là trên hết ! Hôm nay là
kẻ thù nhưng ngày mai không phải là kẻ thù nữa có sao đâu ? Vì đấy là
thực tế và cũng là thực chất thuộc về bản tính Dân Tộc !
Trần Quang Chính.

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net