
Ngày nay, Ki Tô Giáo, dựa vào thế lực của các cường
quốc Âu Mỹ, và nấp sau những
chiêu bài như “đối thọai”, “hòa hợp tôn giáo”, “tự do dân chủ”,
“nhân quyền”, “tự do tôn giáo” để thúc đẩy chương trình bành trướng
cải đạo Á Châu, một lục địa đông dân và tài nguyên phong phú. Không còn mấy giá trị đối với giới
trí thức hiểu biết, mất dần ảnh hưởng trong những quốc gia văn minh
tiến bộ, Ki Tô Giáo phải tìm đất sống ở những nơi tình trạng xã hội
chưa ổn định, dân trí còn kém mở mang, và dân chúng còn nghèo khó, còn
chịu nhiều bất công xã hội. Á
Châu là miếng mồi ngon nhất, thích hợp nhất, từ đó nền “Thần học
Ki Tô Giáo theo cung cách Á Châu” đã được đề xướng để thực hiện
âm mưu xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu của Ki Tô Giáo. Âm mưu này có thành tựu hay không, tất cả
tùy thuộc chính sách giáo dục và tôn giáo của các chính quyền địa
phương ở Á Châu.
Qua sự phân tích những chủ đề
trong cuốn sách này, chúng ta đã biết
rõ thực chất của cái gọi là “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Á
Châu” là như thế nào. Đó chẳng
qua chỉ là một tập hợp những thủ đoạn truyền đạo xảo quyệt, bất
chính, bất lương trí thức của những tổ chức thế tục mang danh tôn
giáo. Cho nên chúng ta không lấy gì
làm lạ trước những phản ứng của Á Châu để đối phó với sách lược
Cải Đạo Á Châu của Ki Tô Giáo.
Chúng ta đã biết ít nhiều về phản
ứng của dân Thái Lan và Ấn Độ. Chúng
ta cũng đã biết, Trung Quốc, Đài Loan, Sri Lanka, và Việt Nam đã từ chối,
không chấp thuận lời xin của giáo hoàng John Paul II tới viếng thăm tín
đồ trong các quốc gia này mà ai cũng biết mục đích là khuyến khích sự
cuồng tín của các tín đồ, ngầm xúi họ gây loạn và xáo trộn trong những
xã hội này qua lời dạy “đừng sợ”. Xin
quý độc giả hãy tìm đọc cuốn Tôn
Giáo Đối Chiếu, Tập III, của Trần Văn Kha, mới xuất bản tháng 2,
2003, trong đó có bài phỏng vấn Bác Sĩ David Frawley, một cựu tín đồ Ca
Tô, để biết về quan điểm rất chính xác của ông về thực chất sách
lược cải đạo Á Châu của Ca Tô Giáo là như thế nào.
Vấn
đề của chúng ta ngày nay là phải xét xem giáo hội Ca Tô có thể làm được
những gì với sách lược Cải Đạo Á Châu trong tương lai, và sách lược
này có ảnh hưởng gì đến đất nước Việt Nam. Sách lược của giáo hội Ca-Tô cũng như
Tin Lành, chúng ta đã rõ, do đó chúng ta cần có những biện pháp đối phó. Tại sao lại phải đối phó? Bởi vì KiTô giáo chưa hề thay đổi trong
sách lược truyền đạo, và sách lược này luôn luôn xúc phạm đến các
tôn giáo và các nền văn hóa truyền thống địa phương, như chúng ta đã
thấy trong những phần phân tích ở trên. Ki
Tô giáo không thể chấp nhận ý tưởng hòa hợp tôn giáo theo quan niệm
đa tôn giáo bình đẳng trên thế giới. Đây
là một thái độ nguy hiểm, phương hại đến nền hòa bình thế giới. Sau đây chúng ta hãy đi thẳng vào vấn đề.
Một
thủ đoạn trong sách lược Cải Đạo Á Châu, như chúng ta đã biết, là
dùng chiêu bài “đối thoại” và “tự do tôn giáo”, “hòa hợp tôn
giáo” mà thực chất chỉ là những bình phong che đậy những âm mưu đen
tối đàng sau. Ngay từ Công Đồng
Vatican II, Giám Mục Emile de Smedt, phát ngôn
viên của ủy ban soạn về đề mục tự do tôn giáo, đã đưa ra khuyến cáo
về chính sách “đối thoại”, “tự
do tôn giáo”, “hòa hợp tôn giáo” chỉ có trên mặt văn tự của
Vatican trước Công đồng linh mục ngày 19 tháng 11 năm 1963 như sau:
"Nhiều người phi-Ca-Tô đã nuôi sự thù ghét đối với giáo hội,
hay ít ra cũng nghi ngờ đó là một loại chủ thuyết Machiavelli (nghĩa là chỉ cần đạt
được mục đích bất kể đạo đức. TCN), vì đối
với họ chúng ta có vẻ như là khi
ở thế thiểu số trong quốc gia nào thì chúng ta đòi hỏi phải được tự do tôn giáo nhưng cùng lúc lại từ chối hay tước bỏ
cùng sự tự do tôn giáo đó của họ nếu chúng ta ở thế đa số.
Tại sao lại nói đến đối thoại với các người Ki-Tô khác, với
người Do Thái, với tất cả những người phi-Ki-Tô (non-Christians) khi thực ra về lý thuyết cũng như thực hành,
giáo hội Ca Tô Rô Ma không tôn trọng tự do của những người phi-Ca-Tô.
Bất cứ kế hoạch hòa hợp tôn
giáo nào của giáo hội Ca Tô cũng sẽ hoàn toàn vô hiệu quả và hoàn
toàn vô nghĩa trừ phi giáo hội tuyên bố rõ ràng và với thẩm quyền
rằng giáo hội sẽ tôn trọng sự tự do của các tín ngưỡng khác, dù rằng
giáo hội có quyền hành hay cơ hội có thể làm khác, và rằng giáo hội
phải dựa trên căn bản tự do tôn giáo, lên án sự bất khoan dung, bách hại
và kỳ thị ."
(Many non-Catholics harbor an aversion
against the Church, or at least suspect it of a kind of Machiacellianism, because we seem
to them to demand free exercice of religion when Catholics are in a minority in any nation
and at the same time refuse and
deny the same religious freedom when Catholics are in the majority.
Why speak about dialogue with other
Christians, with Jews, with all non-Christians, if, in theory or in fact, the Roman
Catholic Church does not respect the freedom of non-Catholic religions?
Every ecumenical "move" of the Catholic Church will be completely fruitless
and devoid of any real meaning unless the Church states clearly and authoritatively that it will respect the liberty of other
believers, even if it has the power or the occasion to do otherwise, and that it condemns
intolerance, persecution and discrimination on grounds of religious liberty.)
Tuy nhiên, trong mấy chục năm qua,
Vatican vẫn theo đuổi chính sách xâm lăng văn hóa và tôn giáo trên toàn thế
giới, đặc biệt là ở Á Châu và Phi Châu, qua những thủ đoạn không
được lương thiện như đã được trình bày trong các phần trên. Nhưng tà không bao giờ có thể thắng
được chánh, cho nên dù với tiền rừng bạc bể, với những đám tín đồ
bản địa cuồng tín, với những phương tiện truyền thông rồi rào, tất
cả những kế hoạch Cải Đạo Á Châu của Vatican cũng sẽ vô hiệu quả
và trở thành hoàn toàn vô nghĩa, như giám mục Emile de Smedt đã báo động ở trên.
Tuy
những kế hoạch Cải Đạo Á Châu của Ca Tô Giáo không có mấy hi vọng
thành tựu, nhưng chúng ta không thể lơ là, coi thường những thủ đoạn của
Giáo hội Ca Tô. Chúng ta không thể
áp dụng hạnh từ bi một cách sai lầm theo nghĩa chỉ biết tụng Kinh niệm
Phật, ngồi hít vào thở ra, tìm sự an lạc cho riêng mình, và để mặc
cho Ca Tô Giáo tự do hoành hành, nô lệ hóa đầu óc người dân Việt, kéo
người dân Việt xuống hàng súc vật (con chiên).
Tinh thần Đại Thừa, Phật Giáo nhập thế ngày nay không cho phép
chúng ta có thái độ như vậy khi chúng ta còn có nhiệm vụ đối với quốc
gia dân tộc, nhiệm vụ bảo vệ nền văn hóa và tôn giáo dân tộc, nghĩa
là Phật Giáo. Tôn giáo dân tộc nên
hiểu là tôn giáo của tuyệt đại đa số người dân trong một quốc gia
chứ không phải là tôn giáo duy nhất được chính thức công nhận trong quốc
gia đó. Thí dụ, Ki Tô Giáo được
coi là tôn giáo dân tộc của Mỹ tuy chỉ có khoảng 80% người Mỹ theo Ki
Tô Giáo, trong đó có 25% là Ca Tô. Tuy
vậy trên khắp nước Mỹ chúng ta thấy đầy dẫy những khẩu hiệu như
“In God We Trust” hay “God Bless America” v..v.. Do đó, ở Việt Nam, phổ biến
những biểu tượng của Phật Giáo như Hoa Sen, Cờ Phật Giáo, Chuyển Pháp
Luân v..v.. đều không có gì là trái với lẽ thông thường và không có
nghĩa Phật Giáo là tôn giáo duy nhất ở Việt Nam.
Từ
là cho vui, và Bi là cứu khổ. Khai
sáng trí tuệ người dân, chuyển hóa để cho họ thấm nhuần giáo lý
nhân bản, thiết thực, hòa bình, vị tha, vô thường, vô ngã v..v.. của Phật
Giáo là mang niềm vui đến cho họ. Cứu
họ ra khỏi vô minh, mê tín dị đoan, xiềng xích trí tuệ, tinh thần nô lệ
ngoại nhân v..v.., đó chính là cứu khổ. Vì
không hiểu ý nghĩa thực sự của từ bi nên những người Ca Tô thường lên
án những ai viết ra những sự thực về Ca Tô Giáo là không áp dụng hạnh
từ bi của Phật Giáo. Họ muốn rằng
họ được quyền xuyên tạc Phật Giáo, mạ lỵ Tăng đoàn, và khi ở vị
thế cầm quyền, được tự do giết người ngoại đạo, cưỡng bức cải
đạo họ như dưới thời Ngô Đình Diệm. Ngược
lại, họ muốn chúng ta phải áp dụng hạnh từ bi của Phật Giáo theo nghĩa
họ muốn, nghĩa là không được viết ra những sự thật lịch sử hay những
mánh mưu xâm lăng văn hóa và tôn giáo của Ca Tô Giáo. Họ muốn khi họ tát vào má này của
chúng ta thì chúng ta phải đưa má kia ra cho họ tát tiếp, áp dụng lời dạy
của Giê-su, một lời dạy mà thực chất là nuôi dưỡng sự bất công,
và chính họ chưa bao giờ áp dụng.
Sự
nguy hại thật sự của kế hoạch Cải Đạo Á Châu của Ca Tô và Tin Lành
là, do cái căn bản tự cho là một tôn giáo thiên khải và chỉ được thờ
một Thần Ki Tô, và tin vào sự hứa hẹn của các nhà truyền đạo về một
sự "cứu rỗi" của Giê-su, sách lược cải đạo có tính cách mê
hoặc này cộng với sách lược hạ thấp, mạ lỵ các tôn giáo và nền văn
hóa khác như vừa nêu ở trên, sẽ tạo nên một lớp người bản xứ vô
não trở thành cuồng tín, tình nguyện làm nô lệ cho ngoại bang, sẵn sàng
phản bội quốc gia để đổi lấy một cái bánh vẽ trên trời sau khi chết, do đó không tránh khỏi đưa đến những
cảnh xáo trộn trong xã hội, bất hòa trong những khối tín ngưỡng khác
nhau trong những quốc gia yêu chuộng hòa bình, đang sống hòa hợp trong
tình tương thân tương ái giữa những đồng bào ruột thịt. Những điều này đã xảy ra ở Việt Nam
từ khi các thừa sai Ca Tô đầu tiên xâm nhập Việt Nam để truyền đạo
và tiếp tục xảy ra trong vài vùng cao nguyên, đã và đang xảy ra ở Ấn
Độ, Thái Lan, ở Đông Timor, Nam Dương v..v...
Là
một người “ngọn Mỹ, gốc Việt”, tôi quan tâm đến Việt Nam, và sau
đây là những nhận định của tôi về sách lược Cải Đạo Á Châu của
Vatican trên đất nước Việt Nam.
Dựa
trên những sự kiện lịch sử trong quá khứ xa và gần, chúng ta có thể
phần nào tiên đoán được sự thành công hay thất bại của sách lược xâm
lăng văn hóa và tôn giáo của Vatican tại Á Châu nói chung, Việt Nam nói
riêng. Tôi tin rằng sách lược cải
đạo của Ca-Tô Giáo tại Việt Nam sẽ thất bại bởi những lý do sau đây.
1)
Trở lại lịch sử, Ca Tô Giáo xâm nhập vào Việt Nam từ
1533, và 140 năm sau, tới đầu thập niên 1670, các thừa sai Ca Tô mới khuyến
dụ được khoảng 60000 người theo đạo, tuyệt đại đa số thuộc thành
phần thấp kém nhất trong xã hội Việt Nam (Xin đọc Catholicism et Sociétés
Asiatiques của Yoshiharu Tsuboi), không có khả năng phân biệt chánh tà, chân
giả cho nên rất dễ bị lùa vào trong vòng mê tín của Ca Tô Giáo. Sau đó, các thừa sai Pháp thuyết phục thực
dân Pháp đánh chiếm Việt Nam, mở đầu cuộc xâm chiếm bằng cuộc tấn
công vào Đà Nẵng năm 1858. Sau khi
tích cực giúp quân xâm lăng Pháp để đưa Việt Nam vào vòng đô hộ,
Ca-Tô Giáo ở Việt Nam dựa vào thế lực thực dân để truyền đạo, làm
mưa làm gió trên đất nước Việt Nam. Nhưng
dù ở thế thượng phong, dưới cái dù của thực dân trong gần 100 năm, cộng
với 9 năm miền Nam dưới chế độ độc tài, gia đình trị, Ca Tô trị của
Ngô Đình Diệm, số tín đồ Ca-Tô trên tỷ lệ dân số luôn luôn chỉ ở
mức 7 phần trăm hay ít hơn. Điều này
chứng tỏ nền văn hóa Việt Nam không tương hợp với nền văn hóa Ki Tô. Vậy ngày nay, tất cả lợi thế về quyền
lực thế tục của Ca-Tô Giáo đã không còn, ngoại trừ sức mạnh hữu
danh vô thực hào nhoáng bên ngoài, Ca-Tô Giáo có cách nào để cải đạo
người dân Việt Nam? Liệu chính quyền
hiện nay có để cho họ tự do xâm nhập ào ạt vào Việt Nam để truyền
đạo sau những chiêu bài đạo đức giả có tính cách lưỡng chuẩn
(double standard) như nhân quyền và tự do tín ngưỡng một chiều hay không? Chúng ta cần phân biệt rõ ràng quyền tự
do tín ngưỡng và quyền tự do xâm nhập một quốc gia để truyền đạo. Hai quyền này hoàn toàn khác nhau.
2) Thời
buổi này, không còn mấy người có đầu óc còn tin ở những chuyện hoang
đường như “tội tổ tông”, “Chúa tình nguyện leo lên thập giá để
chuộc tội cho nhân loại”, “Đức Mẹ đồng trinh”, “Giê-su chết ba
ngày rồi sống lại và bay lên trời”, quyền phép “cứu rỗi” của
Giê-su v..v.., kể cả một số giám mục, linh mục trong giáo hội. Khoa học với những bằng chứng bất khả
phủ bác trong vũ trụ học, di truyền học, sinh học, sinh hóa học, cổ
sinh vật học v..v.. cộng với thuyết tiến hóa đã bác bỏ toàn bộ nền
thần học Ki Tô Giáo. Đặc biệt là trong thời đại thông tin điện tử này,
không ai có thể dấu ai được điều gì, và con người có thể kiểm chứng
những tài liệu nghiên cứu chính xác bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu. Làm sao giáo hội Ca Tô có thể thuyết phục
được quần chúng bằng những lý thuyết mơ hồ không có một căn bản xác
thực nào. Làm sao sao Ca Tô Giáo có thể
thuyết phục con người bằng những thuyết sáng tạo, cứu rỗi, thiên đường,
hỏa ngục trong khi chính giáo hoàng của họ đã chính thức phủ bác những
thuyết này khi ông ta đã chính thức công nhận trước quần chúng thuyết
Big Bang về nguồn gốc vũ trụ, thuyết tiến hóa về nguồn gốc nhân loại,
và phủ nhận sự hiện hữu của thiên đường và hỏa ngục. Trí tuệ người dân Việt Nam đâu còn ở
mức trí tuệ của những nông dân hay dân chài ở những vùng hẻo lánh
trong thế kỷ 18, 19? Liệu chính quyền
Việt Nam và người dân Việt Nam có để cho những nhà truyền giáo Ca Tô
tiếp tục lừa dối người dân bằng những chuyện hoang đường cổ xưa
nay đã không còn một giá trị nào trong thế giới văn minh tiến bộ ngày
nay? Chúng ta có đủ tài liệu và
thông tin để chất vấn, bẻ ngược lại mọi luận điệu thần học giả
dối của Ca Tô Giáo.
3) Dù sách lược Cải Đạo Á Châu mang nhãn
hiệu “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Châu Á” nhưng bản chất “thần
giáo” của Ki Tô Giáo không thể thay đổi.
Do đó nền văn hóa KiTô không tránh khỏi vấp phải nền văn hóa Phật
giáo đã bám rễ ăn sâu và đồng hóa với nền văn hóa truyền thống của
dân Việt Nam, vốn là một nền văn hóa nhân bản và nhân chủ. Sự tích dân tộc Việt Nam là Con Rồng
Cháu Tiên của Mẹ Âu Cơ và Cha Lạc Long Quân và tục thờ cúng tổ tiên,
ông bà cha mẹ đã qua đời, chứng tỏ người Việt Nam từ ngàn xưa đã
bác bỏ quan niệm thần linh sinh ra con người.
Còn gì nhân bản hơn là người tôn thờ người, và người thờ
nhân tính. Đạo sống này của dân Việt
Nam có trước cả khi Đức Phật, Lão Tử, Khổng tử hay Giê-su sinh ra đời. Và Phật Giáo đã đóng góp vào nền văn
hóa đặc thù này bằng cách đưa vào chủ trương tôn trọng nhân phẩm của
con người, tự tu tự chứng, mình làm chủ chính mình. Do đó, nền văn hóa nhân bản và nhân chủ
của Việt Nam chính là thành trì chống nền văn hóa Kitô qui phục thần hữu
hiệu nhất.
Tưởng
chúng ta cũng nên biết, Tây phương ngày nay cũng đã nhận ra giá trị đích
thực của một nền văn hóa nhân bản và nhân chủ. Ngay gần đây, tháng 4, 2003, hội những người
Mỹ theo chủ nghĩa nhân bản và nhân chủ (Humanists) đã phổ biến một bản
Cương Lĩnh số⠳ khẳng định “bác bỏ ý tưởng là có một Thiên Chúa cần
phải “cứu” nhân loại” (rejecting the idea that there is a God who
needs to "save"”humanity), “chỉ có đạo
đức con người mới quyết định tương lai của thế giới” (human’s
ethical behavior alone will dictate the future of the world), “Trách nhiệm
về đời sống của chúng ta và cái thế giới mà chúng ta sống trong đó
là thế giới của chúng ta và chỉ của chúng ta mà thôi” (The
responsibility for our lives and the kind of world in which we live is ours and ours
alone). Ký tên trên bản Cương Lĩnh
(Manifesto) này là 19 nhân vật đã được trao tặng giải Nobel, và 57 nhà
trí thức có tên tuổi khác trong đó có tiểu thuyết gia Kurt Vonnegut và
nhà đạo diễn Oliver Stone. Năm 1973,
hội này cũng ra tuyên ngôn cho rằng “sự tin vào một Thiên Chúa đáp ứng những
lời cầu nguyện “không chứng minh được và lỗi thời” và một niềm
tin như vậy cho chúng ta “những hi vọng hão huyền về một thiên đường
trong đời sau”” (belief in a prayer-answering God “unproved and outmoded”,
such a belief offers “false hopes of heaven hereafter”.) Hội này tin rằng con người được kêu gọi
để sống đạo đức mà không cần phải có sự trợ giúp siêu nhiên của
một thần, của các nam thần hay nữ thần nào, hay của một lực huyền
bí không có tình người nào.
(Humanists believe that people are called to ethical living “without supernatural
assistance from a god, gods or godesses or an impersonal mystical force.)
Nền
văn hóa Phật Giáo cao hơn nền văn hóa Ki Tô rất nhiều, điều này không
ai có thể phủ nhận, trừ phi chúng ta đánh đồng sai lầm nền văn hóa Ki
Tô với những tiến bộ về khoa học, kỹ thuật của xã hội của Tây phương,
những tiến bộ mà Ki-Tô giáo nói chung, Ca-Tô giáo nói riêng, đã tích cực
ngăn chặn (đốt sách vở, đốt luôn cả khoa học gia, cấm tín đồ đọc
sách v..v..) nhưng không nổi, cho nên ngày nay đã nhận vơ làm “nền văn hóa
Ki Tô Giáo”. Ngày nay, Tây phương đã nhận ra chân giá trị của Phật
Giáo, và Phật Giáo phát triển rất tự nhiên trong những xã hội Tây phương
mà không hề có ý định cải đạo người khác hoặc kiếm thêm tín đồ. Đụng phải cái thành trì Phật Giáo ở
Á Đông, Ki Tô Giáo không có cách nào thắng được Phật Giáo vì từ giáo
lý cho đến thực hành, từ bản chất của mỗi tôn giáo cho đến những
phúc lợi mà mỗi tôn giáo đã mang đến cho nhân loại, từ đạo đức tôn
giáo cho tới trí tuệ của những vị lãnh đạo tinh thần trong mỗi tôn
giáo v..v.., Ki Tô Giáo đều không thể so sánh với Phật Giáo được.
4)
Bản chất của Giáo hội Ca-Tô Việt Nam chỉ là một
mớ
tín đồ hạng hai.
Ca-Tô giáo vào Việt Nam từ 1533 nhưng 400 năm sau (1933) mới có
một giám mục đầu tiên (Nguyễn Bá Tòng).
Nhưng tệ hơn cả là Giáo hội này hoàn toàn lệ thuộc Vatican bất kể
là những quyết định của Vatican xâm phạm đến chủ quyền dân tộc và
xúc phạm đến nền văn hóa của Việt
Nam tới đâu. Lịch sử cho thấy quyền
lợi của Vatican luôn luôn đối nghịch với quyền lợi của Việt Nam. Chừng nào mà tinh thần nô lệ này còn tồn
tại, thì chừng đó người dân Việt Nam vẫn còn phải lưu tâm đề phòng
lịch sử tái diễn. Tinh thần nô lệ
này hoàn toàn trái ngược với tinh thần yêu nước, yêu độc lập của
người dân Việt Nam, đã được chứng minh qua bao cuộc đánh đuổi quân
ngoại xâm. Với sách lược Cải Đạo
Á Châu qua những thủ đoạn bất chính, liệu Ca Tô Giáo có tin rằng những
người ngoại đạo ở Việt Nam sẽ để yên cho Giáo hội muốn tuyên truyền
lừa dối đồng bào của họ ra sao cũng được?
Hay tin rằng người dân Việt Nam đã quên đi vai trò của giáo hội
Ca-Tô Rô-Ma tại Việt Nam trong việc đưa nước Việt Nam vào vòng nô lệ của
Pháp?
5)
“Thần học” là một bộ môn chưa bao giờ có và không thể nào
có trên đất Á Châu. Á Châu có rất
nhiều thần: thần ác, thần thiện, thần cây đa, thần bình vôi, thần
hoàng làng (thường là những nhân vật có công với đất nước được sắc
phong của nhà vua), thần hà bá v..v.. Nhưng
Á Châu không có môn học nào gọi là thần học.
Cho nên “thần học Ki Tô Giáo”, bất kể là mang nhãn hiệu nào, Á
Châu hay Phi Châu, của phái nữ hay giải phóng, đen hay đỏ, hay cả dâm ô
(Xin đọc Theological pornography của Mary Hunt) đều không có tác dụng trên
đầu óc người Á Đông. “Thần học
Ki Tô Giáo” chỉ có thể hợp những người có đầu óc yếu kém, không
thể tự mình bước đi trên đường đời, cho nên lúc nào cũng phải dựa
vào một cặp nạng thần học, một cặp nạng đã mọt rỗng đến tận cốt
lõi. “Thần học Ki Tô Giáo theo cung
cách Châu Á” cũng không ra ngoài lệ vì bản chất nó chỉ là “thần học”
và được xây dựng trên những luận cứ xảo quyệt, gian dối hạ đẳng
như đã được chứng minh trong các phần phân tích ở trên.
Trên
đây chỉ là vài lý do chính mà tôi nghĩ sách lược Cải Đạo Á Châu sẽ
không thể nào thành tựu ở Á Châu nói chung, Việt Nam nói riêng. Giáo hoàng đặt kế hoạch trồng cây Ca-Tô Giáo vào những miền đất
ở Á Châu trong thiên niên kỷ thứ ba, theo thường lịch. Điều hiển nhiên là đất Á Châu không
thích hợp với cây Ca-Tô. Trồng vào
đó, cây tuy không đến nỗi chết héo queo như cây sung bị Chúa Giêsu nguyền
rủa, không bao giờ có thể ra trái được nữa, nhưng có lẽ cũng chỉ sống
một cách èo ẹt, không có nhiều sinh khí.
“Kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa cứu độ Á Châu” trong 2000 năm
qua vẫn tiếp tục kỳ diệu như cũ, nghĩa là Á Châu vẫn tiếp tục từ
chối không muốn biết đến Thiên Chúa. Lịch
sử không đi giật lùi. Không ai có thể
đi ngược lại đà tiến hóa của con người.
Người dân Việt Nam không lẽ lại tệ hại đến mức phải đi hốt
những thứ làm ô nhiễm đầu óc con người mà Âu Châu và Mỹ Châu đang
đào thải dần dần, và coi đó là những của báu trên trần gian. Tôi thực tình không tin như vậy.
Tuy
nhiên chúng ta cũng cần phải đề cao cảnh giác về hiểm họa Ki Tô Giáo.
Hiểm họa Ki Tô Giáo ở trên thế giới là một hiểm họa có thực. Lịch sử đã chứng tỏ như vậy. Chúng ta không nên bị mê hoặc bởi luận
điệu: "Tôn giáo nào cũng tốt như nhau
cả, đều dạy con người làm lành, tránh ác."
Bản
chất của Ca-Tô Giáo và Tin Lành là lợi dụng sự cuồng tín của tín đồ,
tạo thành một lực lượng xã hội, để
khi có cơ hội và quyền thế thì sẽ khuynh loát chính quyền, đàn áp và
áp bức tín đồ của các tôn giáo khác. Bản
chất cuồng tín này, nếu ở vị thế nắm quyền hành thì sự tác hại của
nó đối với khối dân chúng không đồng tín ngưỡng không biết lên tới
mức độ nào. Kinh nghiệm lịch sử
ở những nơi mà Ca-Tô giáo là chủ lực tinh thần trong thời Trung Cổ, và
trong thời cận đại ở Tây Ban Nha dưới quyền của nhà độc tài Ca-Tô
Franco, ở Croatia dưới quyền của tên Ca-Tô Ante Palevic và những linh mục
khát máu, và ở Nam Việt Nam dưới chế độ Ca-Tô Ngô Đình Diệm là một
tấm gương cảnh tỉnh những người còn mơ mộng là "tôn giáo nào cũng
tốt cả". Ngày nay, không ai còn coi Ki Tô Giáo là một lực lượng tôn
giáo thuần túy mà trái lại chỉ là những định chế coi nặng vấn đề
quyền lợi chính trị và kinh tế.
Ngày
nay, không một người nào có đầu óc còn nghĩ đến những biện pháp cấm
đạo và bách hại những người đi đạo như khi xưa nữa. Vậy biện pháp nào thích hợp nhất để
bảo vệ và gìn giữ nền văn hóa truyền thống của Việt Nam? Tôi cho rằng, để tránh cái hiểm họa
Ca-Tô và Tin Lành, cái hiểm họa đã
được chứng tỏ trong 2000 năm lịch sử của Ki Tô Giáo, đặc biệt là
Ca-Tô giáo , ở Việt Nam, ngoài việc cương quyết ngăn chận sự xâm nhập
của các thừa sai truyền đạo vào trong đất nước, con đường hữu hiệu
nhất là con đường mở mang dân trí. Qua
con đường này, người dân sẽ biết rõ về bản chất và những sự thực
về Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo nói riêng, và từ đó sẽ đỡ bị mê
hoặc bởi những lời truyền đạo giả dối, che đậy thực chất mê tín,
hoang đường, phi lý của Ki Tô Giáo. Theo
nữ học giả Ca-Tô Joane H. Meehl, "Đạo
Ca-Tô chỉ thịnh hành và phát triển trong đám người nghèo và ngu dốt”
chỉ có sự mở mang dân trí và đời sống thoải mái kinh tế mới có thể
loại trừ ảnh hưởng của Ca Tô Giáo.
Điều
này đã xảy ra trong những nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ trong đó đời
sống vật chất của con người tương đối cao, và những tác phẩm nghiên
cứu nghiêm chỉnh về tôn giáo, bất kể tôn giáo đó là tôn giáo nào, và
bất kể chủ đề nghiên cứu là chủ đề nào, của những người có uy
tín trong giới trí thức như lãnh tụ tôn giáo, học giả, chuyên gia, giáo
sư đại học v..v.. được phổ biến rộng rãi trong quần chúng. Hi vọng với đà tiến triển về kinh tế
hiện nay ở Việt Nam, với nhiều tác phẩm nghiên cứu về tôn giáo được
nhà nước sáng suốt cho phép phổ biến, Việt Nam có thể giảm bớt hiểm
họa Ki Tô trên đất nước.
Tôi
thành thực ước mong chính quyền Việt Nam hãy lưu tâm đến hiểm họa Ki
Tô Giáo trên đất nước và đưa ra một chính sách tôn giáo hợp lý,
không thiên vị. Đừng bao giờ
để rơi vào những cạm bẫy “đoàn kết tôn giáo” hay “đoàn kết quốc
gia” mà ngăn chận chính sách mở mang dân trí.
Dân trí mở mang không bao giờ có thể là nguồn gốc của sự chia rẽ
hay gây hận thù. Sự hòa hợp giữa những khối dân có tín ngưỡng khác
nhau trong những quốc gia tân tiến Âu Mỹ, nơi đây các tác phẩm nghiên cứu
về tôn giáo được phổ biến rộng rãi, là một bằng chứng rõ rệt nhất
về lợi ích của việc mở mang dân
trí để
cho người dân biết rõ sự
thật về tôn giáo trong xã hội. Thật vậy, khoảng 85% dân Mỹ theo Ki Tô Giáo trong đó có khoảng 25% theo
Ca Tô Giáo Rô Ma, hơn 90% dân Pháp rửa tội theo Ca Tô Giáo v..v.. nhưng những
tác phẩm nghiên cứu về Ki Tô Giáo: những sự thực về lịch sử những
tội ác của Ca-Tô Giáo, về tổ chức độc tài của Giáo hội, về những
thần quyền tự phong của giới lãnh đạo Ca-Tô, cùng những tín điều
hoang đường phi lô-gic, phi lý trí, phản khoa học, huyền hoặc, lỗi thời
v..v.. của Ca-Tô Giáo nói riêng, Ki Tô Giáo nói chung, về con người lịch sử
Giê-su, về những sai lầm trong Thánh Kinh v..v.. đều được tự do phổ biến
mà các chính quyền Mỹ, Pháp không sợ làm mất sự “đoàn kết tôn giáo”
hay “đoàn kết dân tộc” trên đất nước của họ, thì thử hỏi tại
sao Việt Nam chỉ có 7% dân chúng theo Ca Tô Giáo mà chính quyền lại sợ rằng
những tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh với đầy đủ tài liệu về tôn
giáo lại có thể ảnh hưởng đến sự đoàn kết tôn giáo hay đoàn kết
dân tộc trên đất nước? Ngăn chận
sự mở mang dân trí trong thời buổi này là có tội với dân tộc, với lịch
sử.
Việt
Nam cần phải ý thức được sự nguy hại của chiêu bài nhập nhằng tự
do tôn giáo với tự do truyền đạo để có thể tìm cách đối phó, đưa
ra những biện pháp ngăn chận thích nghi, hợp lý. Những biện pháp ngăn chận này phải nằm
trong quốc sách và phải được cương quyết thi hành. Tôi tin rằng đa số người dân Việt Nam
sẽ ủng hộ những biện pháp bảo vệ nền văn hóa truyền thống Việt
Nam này vì chúng ta ý thức rõ ràng rằng không có một chế độ nô lệ
nào độc hại bằng nô lệ văn hóa.
Sách
lược truyền giáo của Ca-Tô Giáo là một sách lược chủ trương xóa bỏ
mọi nền văn hóa phi Ki-Tô, dùng bạo lực thắng công lý, dùng gian xảo, dối
trá để lừa dối dân gian, dùng bả vật chất và mê tín dị đoan để
chiêu dụ và giữ tín đồ, dùng những phép lạ ngụy tạo để huyễn hoặc
làm mê mẩn đầu óc tín đồ v..v.. Lịch sử thế giới đã ghi rõ điều
này, và kinh nghiệm cay đắng của Việt Nam đối diện với sự xâm nhập
của Ca-Tô Giáo còn ghi rõ trong sử sách. Ở
đây, sách lược truyền giáo của đạo Ca-Tô đã đưa tới những cảnh bất
hòa trong những gia đình nào có người bỏ tôn giáo truyền thống của gia
đình, của dân tộc, để tin theo những lời dụ dỗ huyền hoặc của Ca-
Tô Giáo, từ bỏ không còn tôn trọng những lễ tiết truyền thống trong
gia đình. Ca-Tô Giáo cũng đưa tới những
cảnh Lương Giáo nghi kỵ, thù nghịch, tàn sát lẫn nhau như lịch sử đã
chứng tỏ. Gần đây, Ca-Tô giáo còn
đưa ra sách lược nham hiểm: dùng bọn người trí thức nô lệ mất gốc,
đưa ra những tác phẩm xuyên tạc lịch sử, văn hóa Việt Nam, nhất là lịch
sử và văn hóa Phật Giáo, hoặc đánh đồng khập khiễng vài nét văn hóa
Việt Nam hoặc Phật Giáo với nền văn hóa Ki Tô, ngụy trang đằng sau những
chiêu bài đầu môi chót lưỡi như “Thần
học Ki Tô Giáo theo cung cách Á Châu”, hoặc “quay về với truyền thống
dân tộc, hội nhập văn hóa dân tộc”, trong khi bản chất độc tôn cuồng
tín về “Chúa KiTô là đấng trung gian duy nhất”, nô lệ Vatican vẫn
không thay đổi. Chính quyền và người
dân Việt Nam cần nghiên cứu kỹ để biết rõ những âm mưu lũng đoạn
quốc gia Việt Nam, và nhất là thái độ “không đội trời chung” của
Ca-Tô Giáo đối với Cộng Sản, để biết đường mà tránh đi trên con
đường đưa tới sự tự hủy diệt. Thế
lực của Ca Tô Giáo hoàn vũ ngày nay chỉ là một lớp sơn phết bên
ngoài, thực lực càng ngày càng yếu, không còn nắm quyền sinh sát như ngày
trước, cho nên muốn gì giáo hội chỉ còn biết cầu nguyện.
Người
Việt Nam chúng ta thường tự hào với 4000 năm văn hiến. Thật ra, nền văn hóa nhân bản (lấy con
người làm gốc), nhân chủ (con người tự quyết định số phận mình)
và định cư (không lang thang nay đây mai đó) của dân tộc Việt Nam, một
nền văn hóa đối ngược với loại văn hóa thần linh, du mục của dân Do
Thái, còn lâu hơn là 4000 năm. Nền văn
hóa này, được biết trong giới khoa học và khảo cổ là nền văn hóa
Hòa Bình (Bắc Việt Nam). Tiến sĩ
Wilhel G. Solheim II, giáo sư nhân chủng học ở trường đại học Hawaii đã
viết: “Tôi không ngạc nhiên nếu thời kỳ
văn hóa Hòa Bình (Bắc Việt Nam) bắt đầu khoảng 15000 (mười lăm ngàn) năm
trước Tây Lịch.. Trên một mảnh
sành khoảng 6 cm vuông, chúng tôi đã thấy dấu vết vỏ một hạt thóc
oriza savita. Dùng carbon 14 định tuổi
những đồ vật bị vùi ở lớp đất trên lớp đất vùi mảnh sành,
chúng tôi biết là mảnh sành - và hạt lúa - đã có niên đại muộn là
3500 trước Tây Lịch” (Wilhelm G. Solheim II, New Light On A Forgotten Past,
National Geographic, Vol. 139, No. 3, March 1971). Như
vậy, tính đến thế kỷ 16, khi Ca-Tô giáo bắt đầu du nhập Việt Nam, thì
Việt Nam đã có một lịch sử và một nền văn hóa không hề biết đến
Chúa Cha cũng như Chúa Con trong ít nhất là 5000 năm. Trong 5000 năm này, tổ tiên chúng ta đã tốn
bao xương máu, mồ hôi, nước mắt để xây dựng nước và giữ nước, bảo
vệ nền văn hóa truyền thống của dân tộc. Bổn phận của mọi người
Việt chúng ta là phải tiếp nối truyền thống anh dũng của ông cha, không
thể đi ngược lại trào lưu tiến hóa của nhân loại, không thể để cho
một ý thức hệ hoang đường, vô tổ quốc, vô gia đình, có nhiều sắc
thái đế quốc như ý hệ Ca Tô xâm lấn với mục đích biến đổi, đưa
nền văn hóa và tôn giáo dân tộc của chúng ta xuống hạng hạ căn qui thần,
“quên mình trong vâng phục” mấy tên mũi lõ mắt xanh vô đạo đức ngồi
ở Rô Ma nghĩ kế hoạch tước đoạt trí tuệ và khả năng suy tư của
người dân Việt Nam. Chúng ta không
nên quên rằng, ông cha chúng ta trước đây đã qui kết Ca Tô Giáo Rô Ma
là một tà đạo. Nhận định chính
xác này thật là đáng phục ở thời điểm mà các công cuộc nghiên cứu
về Ca Tô Giáo chưa phát triển. Tà là không ngay thẳng, không chính trực,
gian dối. Ngày nay, qua những tác phẩm
nghiên cứu về Ca Tô Giáo, càng ngày chúng ta càng thấy lộ ra bản chất
tà giáo của tôn giáo này.
Thật
vậy? Thứ nhất, tôn giáo này đã
được xây dựng trên những tà thuyết mà ngày nay Tây phương đã không
còn chấp nhận, ít ra là trong giới trí thức hiểu biết. Như trên chúng ta đã biết, Mục sư Ernie
Bringas đã đưa ra nhận định: “Đa số các học giả coi những chuyện
trong Tân Ước và bảy tín lý giáo hội
đưa ra sau đây đều là huyền thoại” và Giám mục John Shelby Spong
đã khẳng định: “..một đấng cứu thế (Giê-su) có nhiệm vụ
khôi phục tình trạng tiền sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước-thời-Darwin
và một sự vô nghĩa sau-thời-Darwin." (A savior who restores us to
our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian
nonsense.), và nhà thần học nổi danh, Uta Ranke-Heinemann, người phụ nữ đầu
tiên chiếm được ngôi vị giáo sư thần học của Ca Tô Giáo, đã qui kết
những chuyện trong Tân Ước như “Giê-su sinh ra từ một nữ trinh”, “các
phép lạ Giê-su làm”, “Giê-su sống lại”, “Ngôi mộ trống”, “Giê-su
thăng thiên”, “những chuyện trong Sứ Vụ Các Tông Đồ (Acts)”, “Phê-rô ở Rô-ma” v..v.. đều là những
chuyện trẻ con, cần phải dẹp bỏ [Xin đọc cuốn Putting Away Childish Things của Giáo sư thần
học Uta Ranke-Heinemann) Thứ nhì, chỉ
có một tà giáo mới có thể gây ra 7 núi tội lỗi mà giáo hoàng đã phải
xưng thú trước thế giới. Thứ ba,
sách lược cải đạo Á Châu, như được phân tích trong các phần trên, đã
chứng minh rằng đó chỉ là những thủ đoạn bất chính để thực hiện mưu đồ xâm lăng văn hóa
và tôn giáo Á Đông.
Tuy
nhiên, không ai cấm con người tiếp tục tin vào những tà thuyết hay những
điều không có thực, như tin là có thần bình vôi, có Chúa sống lại, có
chú Cuội ngồi gốc cây đa trên cung Hằng, hay như trẻ con để răng sữa
dưới gối, treo bít tất ở lò sưởi để nhận quà của ông già Noel
v..v.. Nhưng tà thuyết luôn luôn vẫn
chỉ là tà thuyết, điều không có thực luôn luôn cũng chỉ là lông rùa,
sừng thỏ, bất kể là có bao nhiêu người vẫn còn tiếp tục tin vào tà
thuyết hay những điều không có thực. Con người căn trí bất đồng, không
ai có thể bắt buộc những tín đồ Ki Tô Giáo trong những ốc đảo ở
Nam Mỹ, Phi Châu, Phi Luật Tân, Việt Nam, và ngay cả trên đất Mỹ, phải
có cùng trình độ trí óc mở mang như đa số trên thế giới ngày nay.
Dù
vậy, tôi không thể không có vài lời tâm huyết cùng các tín đồ Ki Tô
Việt Nam, Ca Tô cũng như Tin Lành. Tôi
không coi các bạn là kẻ thù. Đời tôi
không có ai là kẻ thù. Nhưng lương tâm
tôi không cho phép tôi nói lên những lời đãi bôi để tạo sự đoàn kết
tôn giáo hay đoàn kết dân tộc. Tôi
hoàn toàn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của các bạn nhưng điều này
không có nghĩa là tôi không được phép, hay không nên, nói ra những sự thực
về tôn giáo của các bạn. Đây là
một bổn phận đối với mọi người còn nghĩ đến quốc gia dân tộc.
Qua những phần phân tích ở trên, tôi tin rằng mọi người Việt Nam yêu nước
đều ý thức được bổn phận phải vạch trần âm mưu bất chính của
Vatican trong sách lược Cải Đạo Á Châu và từ đó, có bổn phận phải tập
trung nỗ lực để ngăn chận mọi thủ đoạn truyền đạo bất chính của
Ki Tô Giáo trên đất nước..
Tôi
hi vọng các bạn có thể sáng suốt nhận ra rằng, từ xưa đến nay các bạn
đã bị lừa vào một niềm tin không đáng.
Có đáng hay không khi các bạn vẫn tiếp tục bám víu vào một hi vọng
hão huyền: sự “cứu rỗi” của một người Do Thái tên là Giê-su mà
chính Giáo Hoàng hay một số giám mục, linh mục, mục sư, những người lãnh
đạo tinh thần các bạn, đã bác bỏ. Giáo
Hoàng của các bạn đã phủ nhận thuyết sáng tạo, phủ nhận “tội tổ
tông”, phủ nhận sự hiện hữu của thiên đường và hỏa ngục, Giám mục Spong đã coi vai trò “cứu thế”
của Giê-su như là một sự vô nghĩa hậu – Darwin, Mục sư Ernie Bringas đã
gọi sự “cứu rỗi” của Giê-su là một cái bánh vẽ trên trời,, và
giáo sư thần học Uta Ranke-Heinemann đã coi tất cả những điều các bạn
tin là những chuyện trẻ con, cần phải dẹp bỏ. Vậy tại sao các bạn
còn cứ tự giam mình trong những giáo hội mà lịch sử đen tối của chúng
đã rõ rệt. Các bạn có cho rằng,
các bạn chỉ cần đến một đức tin là đủ, là các bạn ở trong một
“hội Thánh”, còn những chuyện ô nhục giáo hội làm trong suốt mười
mấy thế kỷ, hay những luận điệu lừa bịp của giáo hội để kéo các
bạn vào một đức tin không thực, hoàn toàn không có ảnh hưởng gì đến
các bạn? Nếu các bạn không dứt
bỏ được, ít nhất là gánh nặng Vatican, trên vai thì các bạn sẽ kẹt lắm. Bất kể là các bạn tin thế nào, dùng luận
cứ gì, những sự thực lịch sử của giáo hội Ca Tô Rô Ma sẽ gắn liền
với đời sống tâm linh của các bạn mà các bạn không có cách nào có thể
tách rời nó ra khỏi đời sống tâm linh của các bạn. Với phương tiện truyền thông đại chúng
ngày nay, với số người Việt sống ở nước ngoài, và cả ở trong nước,
không có cách nào các bạn có thể ngăn chận được những thông tin xác
thực về Ki Tô Giáo. Hi vọng các bạn
sẽ có một chọn lựa sáng suốt.
Trong
cuốn A New Christianity For A New World, xuất
bản năm 2001, Giám mục John Shelby Spong có liệt kê những tín điều căn bản
sau đây của Ki Tô Giáo:
Ngày nay tôi thấy những tín lý căn bản này
mà chúng ta thường hiểu theo truyền thống, không những là ngây ngô, mà
còn có thể dứt khoát loại bỏ. Trong thế hệ của chúng ta, không một
tín lý nào ở trên được các học giả Ki Tô danh tiếng xác nhận.
(Today I find each of these fundamentals, as traditionally understood, to be not only
naive, but eminently rejectable. Nor would
any of them be supported in our generation by reputable Christian scholars.)
Hi
vọng bài viết này có thể đóng góp một phần nhỏ trong nhiệm vụ bảo
vệ nền văn hóa và tôn giáo dân tộc của Việt Nam, đất nước thân yêu
của chúng ta, và nhất là giúp các bạn Ki Tô nhìn ra được vấn nạn Ki Tô
trên đất Việt.

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net