08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes) Nghiên cứu & đối thoại tháng 11 quý bốn năm 2003 whiteball.gif (923 bytes)

(Giao Điểm cống hiến quý độc giả chương phê phán triệt để, sâu thẳm nhất về Kinh Tin Kính Công giáo đã được GĐ xuất bản trong cuốn "Đức Tin Công giáo". Để độc giả tiện việc theo dõi trên mạng lưới, chúng tôi sẽ chia ra ba phần: phần một, từ chú thích 1 - 10; phần hai, từ chú thích 11 - 24; phần ba, từ chú thích 25 - 31)        

KINH TIN KÍNH CÔNG GIÁO

Trần Chung Ngọc

     Vài Lời Nói Đầu:  Sau khi đăng bài Phật & Giê-su trên trang nhà Giao Điểm, có độc giả đặt vấn đề với tôi như sau:  “Khi ông đưa lên song song Kinh Nền Tảng Đức Tin của Phật Giáo và Kinh Tin Kính của Công Giáo và đưa ra kết luận là Kinh Tin Kính của Công Giáo là “sản phẩm của một số người ở vài thế kỷ đầu, không hiểu gì về vũ trụ học, sinh học, di truyền học, sinh hóa học, cổ sinh vật học, địa chất học, vật lý học hiện đại v...v..., những môn học mới phát triển trong những thế kỷ gần đây, và chứa nhiều điều mâu thuẫn, phi lý, hoang đường, chỉ hợp với những tín đồ đã bị điều kiện hóa, không có khả năng tự mình suy nghĩ...” thì đó có phải là những khẳng định vô trách nhiệm không?  Ông căn cứ vào đâu mà kết luận như trên?   Có lý do gì để chúng tôi tin vào những nhận định của ông là đúng?”

     Tôi xin lỗi quý độc giả vì đã không viết rõ hơn trong bài Phật và Giê-su.  Đáng lẽ tôi phải ghi thêm rằng “Bản Kinh Tin Kính của Công Giáo đã được tôi phân tích chi tiết từng câu trong Chương II, từ trang 73 đến trang 185, trong cuốn Đức Tin Công Giáo, Giao Điểm Xuất Bản năm 2000.  Lẽ dĩ nhiên, độc giả chất vấn tôi chưa đọc đến cuốn sách này.  Để bù lại sự thiếu sót trên, tôi xin trang nhà Giao Điểm vui lòng đưa lên bài phân tích Kinh Tin Kính của Công Giáo để quý độc giả có thể rằng kết luận của tôi không sai và đã dựa trên khá nhiều tài liệu của các học giả ở trong cũng như ở ngoài giáo hội Công Giáo.

KINH TIN KÍNH CÔNG GIÁO

(Đức Tin Công Giáo, Chương II)

     Trong chương này, tôi sẽ thảo luận về Đức Tin Công Giáo (Catholic Faith) trong ánh sáng của Khoa Học và Lý Trí.  Như  đã viết trong phần Dẫn Nhập, Đức Tin và Lý Trí là hai con đường trái ngược nhau, con đường đi tới mê tín đối với con đường đi tới hiểu biết.  Nhưng chúng ta đã biết, gần đây Giáo Hoàng Gion Pôn Hai (John Paul II) đã gửi một bức thư thông tri (Encyclical letter) cho các giám mục của ông về đề tài "Mối quan hệ giữa đức tin và lý trí " (The relationship between faith and reason).  Trước khi bàn đến mối quan hệ giữa Đức Tin và Lý Trí, chúng ta cần phải biết rõ định nghĩa của hai từ này.  Tôi dịch "Faith" là Đức Tin và "Reason" là Lý Trí.  

   Theo định nghĩa của H. L. Mencken thì Faith hay Đức Tin là "một kiểu tin phi-lôgic vào sự xảy ra của những gì không chắc có thực" (an illogical belief in the occurrence of the improbable).   Theo định nghĩa trong tự điển thì Faith hay Đức Tin là "sự tin chắc vào một cái gì đó mà không chứng minh được cái đó có thực" (Firm belief  in something for which there is no proof.)  Định nghĩa của Reason hay Lý Trí trong tự điển là "khả năng có những tư tưởng hợp lý, suy lý, hoặc phân biệt" (The capacity of rational thought, inference, or discrimination) hay "suy xét đúng, phán đoán hợp lý" (good judgment, sound sense).  Theo những định nghĩa trên thì hiển nhiên là Đức Tin Ca-Tô Giáo Rô-Ma và Lý Trí là hai từ có nghĩa loại trừ hỗ tương (mutual exclusive), có cái này thì không có cái kia.  Thật vậy, khi chúng ta dùng lý trí để xác định và chấp nhận một điều gì thì chúng ta không cần đến đức tin, và khi chúng ta tin vào điều gì mà không cần biết, không cần hiểu, thì lý trí trở nên thừa thãi.  Trong Ca- Tô Giáo Rô-Ma có nhiều thí dụ để chứng minh luận điểm này.  Trước hết, chúng ta hãy nghe một lời Thánh phán.

   Thánh Ignatius of Loyola (1491-1536), người sáng lập dòng Tên, phán rằng:

   Chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng tin rằng cái mà chúng ta thấy là trắng thực sự là đen, nếu hàng giáo phẩm trong Giáo hội quyết định như  vậy. 1

   Cho nên, bất kể những quyết định của Giáo hội phi lý đến đâu, phản tiến bộ và phản khoa học đến đâu, xúc phạm đến các tôn giáo khác đến đâu, các tín đồ Ca-Tô chỉ có việc nhắm mắt tin theo, không cần biết, không cần hiểu, và lẽ dĩ nhiên không bao giờ cần dùng đến lý trí.  Nhưng trong giáo hội Ca-Tô không phải chỉ có toàn những người nhắm mắt tin theo tất cả những lời "giáo hội dạy rằng", mà còn có những vị thuộc giới lãnh đạo Ca-Tô Giáo và những tín đồ trí thức đã dùng lý trí để phân tích toàn bộ giáo lý của Ca-Tô Giáo và đưa ra những nhận định về chính tôn giáo của mình.  Những nhận định này sẽ được trích dẫn, khi cần, trong phần phân tích Đức Tin Ca-Tô sau đây.

   Tín đồ Ca-Tô tin nhiều thứ lắm. 

   Họ tin rằng Thánh Kinh là những lời "mạc khải" của Thần Ki Tô nên không thể nào sai lầm, tuy ngày nay bằng chứng tràn ngập cho thấy vô số những điều trong Thánh Kinh sai lầm về cả Thần học lẫn khoa học.

   Họ tin rằng Thánh Linh hay Thánh Ma (Holy ghost) có thể làm cho Bà Mary mang thai rồi sinh ra Giêsu, tuy ngày nay khoa sinh học đã chứng minh rằng không có tinh trùng của phái Nam, Mary chỉ có thể sinh ra con gái (như sẽ được trình bày với nhiều chi tiết hơn trong một đoạn sau.)  Một hồn ma nhập vào người mà có tinh khí gồm 2 loại sắc tố (chromosome) X và Y để có thể làm cho người đàn bà thụ thai và sinh ra con trai là điều không tưởng.

   Họ cũng tin rằng Thánh Ma là nguồn tâm linh  hướng dẫn giáo hội, dẫn dắt các Hồng Y trong việc bầu Giáo Hoàng. Vậy mà giáo hội đã phạm 7 núi tội lỗi đối với nhân loại, và ngày nay các nhà nghiên cứu về Ca-Tô Giáo đã chứng tỏ từ xưa tới nay, Giáo Hoàng lên ngôi phần lớn dựa vào bạo lực và bằng những thủ đoạn, âm mưu, đàng sau hậu trường, khoan kể là số Giáo hoàng vô luân, vô đạo đức trong Ca-Tô Giáo không phải là nhỏ.  Những sự kiện lịch sử này sẽ được trình bày trong một phần sau.

   Họ tin rằng Giáo Hoàng là đại diện của Chúa (Vicar of Christ) trên trần, giữ trong tay những chìa khóa mở cửa Thiên đường, tuy Tiến sĩ Arthur Frederick Ide, sau khi nghiên cứu lịch sử các Giáo hoàng, đã viết trong cuốn Unzipped: The Popes Bare All, rằng các Giáo hoàng thực sự chỉ giữ những chìa khóa mở những cánh cửa vào nhục dục, trụy lạc, và bạo lực (..which history shows actually open the doors to sex, vice, and violence).  Thiên đường chỉ là một hứa hẹn trống rỗng mà mà giáo hội nhồi vào đầu óc tín đồ từ khi còn nhỏ, chứ thực tế không có một căn bản thuyết phục nào về sự hiện hữu của Thiên đường, và cũng chưa có ai biết Thiên đường ở đâu, như thế nào.  Cho nên, trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, nhất là, trước những bằng chứng tràn ngập của những khám phá khoa học về vũ trụ, gần đây, tháng 7, 1999, Giáo Hoàng Gion Pôn Hai đã phải tuyên bố: "Thiên đường chẳng phải ở trên Trời, trên các tầng mây, Thiên đường ở trong Tâm con người". 

   Tuy nhiên, Ngài vẫn tự cho rằng mình có quyền, hoặc Vatican có quyền, "tuyệt thông" tín đồ, nghĩa là quyền khai trừ tín đồ ra khỏi giáo hội, không cho tín đồ hưởng các "bí tích" trong "hội Thánh" và lên Thiên đường hiệp thông cùng Chúa.  Đối với những tín đồ thấp kém, nhẹ dạ, cả tin, "tuyệt thông" hay "dứt phép thông công" là một vũ khí hù dọa hữu hiệu, vì họ đã được nhồi vào đầu từ khi con nhỏ là muốn hiệp thông với Chúa thì phải đi qua các trung gian như Linh mục, Giám mục, Giáo hoàng hay "Tòa Thánh".   Nhưng đối với giới trí thức, ngay cả trong giáo hội, thì đó chỉ là một trò cười đáng khinh vì nó vô giá trị, vô nghĩa và lỗi thời.  Thật vậy, trong cuốn Thần Chưa Chết: Từ Sự Sợ Hãi Tôn Giáo Đến Sự Tự Do Tâm Linh, Linh Mục James Kavanaugh đã vạch rõ cho chúng ta thấy bản chất và ý nghĩa của "tuyệt thông" như sau:

   Tôi thấy khó mà có thể tin được là trong thời đại kỹ thuật không gian này mà một đoàn thể tôn giáo (Ca-Tô giáo. TCN) lại có thể quá lỗi thời để tin rằng một hình phạt thuộc loại huyền thoại như vậy vẫn còn có ý nghĩa gì đối với con người.

...Tuyệt thông,  trong nhiều thế kỷ, đã là vai trò của giới quyền lực đóng vai Thượng  đế .  Đó là sự chối bỏ sự tự do suy tư của con người một cách vô nhân đạo và phi-ki-tô.  Nhưng nhất là, nó đã là nỗ lực điên cuồng của một quyền lực, vì quá lo sợ mất đi quyền lực của mình, nên phải kiểm soát tín đồ thay vì hướng dẫn họ đi tới một tình yêu thương tự do và trưởng thành.

   Tuyệt thông toan tính biến sự thực chứng tôn giáo thành một trại huấn luyện quân sự trong đó sĩ quan phụ trách nhào nặn lên những người máy trung thành bằng cách làm chúng ngạt thở bởi giam hãm và sỉ nhục.  Có thể những phương pháp này có nghĩa trong việc huấn luyện con người để chiến đấu ngoài mặt trận.  Những phương pháp này thực là trẻ con và bất lương khi xử lý với sự liên hệ của con người đối với Thượng đế; nhưng thật không thể tin được là chúng vẫn còn tồn tại. 2

   Họ tin rằng linh mục mà họ thường gọi một cách sai lầm là cha, cũng là một Chúa khác.  Một người học nghề linh mục trong mấy năm để trở thành một loa phóng thanh cho các "bề trên" mũi lõ mắt xanh ngồi ở tận Rô-Ma xa xôi là có thể thay Chúa tha tội cho họ, dù chính bản thân nhiều vị linh mục, về kiến thức cũng như về đạo đức, còn thua và tội lỗi hơn cả tín đồ.  Thật vậy, số linh mục đồng giống luyến ái (gay priests), nghiện rượu (alcoholic priests), bị bệnh AIDS, phạm tội cưỡng bách tình dục trẻ em (child abuse) đã lên tới mức độ mà Tòa Thánh không có cách nào che dấu bằng cách thuyên chuyển họ đi một giáo xứ khác như trước, đành phải lập ra những ủy ban nghiên cứu để giải quyết vấn đề, cùng gửi họ đi các trung tâm chữa trị, phí tổn lên đến trên tỷ đô la.  Tín đồ Ca-Tô biết rất ít về các linh mục, giám mục v...v... của họ, họ vẫn tin rằng các "bề trên" này của họ là cao quý, đạo đức lắm.  Họ không đọc lịch sử các Giáo hoàng, họ không đọc lịch sử cái mà họ gọi là "Hội Thánh". Đôi khi trong đám tín đồ cũng có người biết những chuyện động trời của các linh mục nhưng họ không dám động gì tới họ vì Giáo hội dạy rằng như vậy là mang tội với Chúa.  Thật là tội nghiệp cho họ.

   Họ được dạy rằng quyền phán xét các linh mục là thuộc về Chúa.  Do đó, họ không cần để ý đến chuyện Chúa có thể tha tội cho linh mục của họ, nhưng chính quyền dân sự lại vượt trên quyền của Chúa, vẫn đưa "Cha cũng như Chúa" của họ vào nhà tù như thường nếu "Cha cũng như Chúa" của họ phạm những tội hình dân sự. 

   Nếu kể hết những điều tín đồ Ca-Tô tin thì quá dài, nên sau đây tôi chỉ luận qua một số tín điều căn bản trong Ca-Tô Giáo  Rô-Ma.

   Căn bản những niềm tin chính trong Ca-Tô Giáo được gói ghém trong bản Kinh Tin Kính của các Tông Đồ (Apostle's Creed) thường gọi tắt là Kinh Tin Kính, đặt ra khoảng năm 150.  Trong thời đại đế Constantine, qua công đồng Nicene năm 325, kinh này được thêm vào vài đoạn nâng Giêsu Kitô (Chúa Con) lên cùng hàng với Chúa Cha với những lời có tính cách mơ hồ, trống rỗng vô nghĩa như "Thần của Thần, ánh sáng của ánh sáng" (God of God, light of light) v..v..  Kinh này đưa đến một sự mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa giáo hội miền Đông và giáo hội miền Tây.  Đến thế kỷ thứ 7, kinh này lại được thay đổi và thêm vào thuyết Chúa Ba Ngôi và nhiều điều hoang đường nữa, dài hơn kinh Tông đồ và kinh Nicene nhiều.  Kinh này có tên là Kinh Tin Kính Athanasius.  Vì kinh này dài và lủng củng nên chẳng có mấy ai đọc nó.   Anh Giáo thường dùng kinh Nicene làm căn bản và Ca-Tô Giáo dùng kinh Tông đồ làm căn bản.  Trong sách Giáo Lý Công Giáo của Việt Nam chỉ có kinh Tin Kính của Tông đồ chứ không có những kinh Nicene hay Athanasius.

   Nguyên văn bản kinh như sau, chúng ta nên để ý rằng bản kinh bằng tiếng Việt (Sách Giáo Lý Công Giáo, nxb Zieleks, Texas, 1991, trg. 14) có vài chỗ không đúng với bản kinh bằng tiếng Anh.

Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng
dựng nên trời đất.
Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu KiTô
là con một Đức Chúa Cha cũng là Chúa chúng tôi,
bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai,
sinh bởi bà Maria đồng trinh,
chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô,
chịu đóng đanh trên cây thánh giá, chết và táng xác,
xuống ngục tổ tông,
ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại,
lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng;
ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.
Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần.
Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này,
Các Thánh thông công.
Tôi tin phép tha tội.
Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.
Tôi tin hằng sống vậy.  Amen.

   Có vẻ như Kinh Tin Kính tiếng Việt ở trên pha trộn hai bản văn khác nhau, cũ và mới.  Để cho vấn đề được rõ ràng và dễ bề so sánh, tôi xin đăng nguyên 2 văn bản tiếng Anh như sau.  Những phần để trong dấu ngoặc cong (..) là thuộc bản văn mới trong cuốn Catechism of the Catholic Church, xuất bản năm 1994, hoặc để thay một từ cũ (có gạch dưới), hoặc mới thêm vào.  Còn những phần trong dấu ngoặc thẳng [..] là trong bản văn cũ được bỏ đi:

I believe in God the Father Almighty,
maker (creator) of heaven and earth
And in Jesus Christ, his only Son, our Lord
who (He) was conceived by (the power of) the Holy Spirit,
(and) born of the Virgin Mary;
(Jesus Christ) suffered under Pontitus Pilate,
was crucified, dead (died), and (was) burried;
he descended into hell
(on) the third day he rose again [from the dead];
he ascended into heaven
and sitteth (is seated) on (at) the right hand of
[God] the Father [Almighty]
from thence he shall (will) come (again)
to judge the living and the dead.
I believe in the Holy Spirit,
(I believe in) the holy catholic church,
[the communion of saints]
(I believe in) the forgiveness of sins,
(I believe in) the resurrection of the body,
(I believe in) [and the] life everlasting, Amen.

      Bản kinh trên rõ ràng là sản phẩm của một số người ở vài thế kỷ đầu, không hiểu gì về vũ trụ học, sinh học, di truyền học, sinh hóa học, cổ sinh vật học, địa chất học, vật lý học hiện đại v...v..., những môn học mới phát triển trong những thế kỷ gần đây.  Ngoài ra, bản kinh này còn chứa nhiều điều mâu thuẫn, phi lý, hoang đường, chỉ hợp với những tín đồ đã bị điều kiện hóa, không có khả năng tự mình suy nghĩ. Chứng minh? 

   Trước hết, tưởng chúng ta cũng nên biết, Giám Mục John Shelby Spong đã viết một cuốn khảo luận nhan đề Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Hoặc Chết trong đó ông đưa ra một nhận định tổng quát về Kinh Tin Kính:

   Những lời trong Kinh Tin Kính của các Tông đồ, và sau đó được khai triển thành Kinh Tin Kính Nicene, được nặn ra trong một thế giới quan mà ngày nay không còn hiện hữu.  Thật vậy, thế giới quan này thật là xa lạ đối với thế giới mà tôi đang sống trong đó.  Cách nhận thức thực tại khi những Kinh Tin Kính của Ki Tô Giáo được đề ra thì nay đã bị xóa sạch bởi sự phát triển hiểu biết của con người. 3  

   Muốn hiểu tại sao Giám Mục Spong lại nhận định như trên, chúng ta hãy phân tích những lời kinh này từng câu một trong ánh sáng của lý trí, của khoa học hiện đại và thực tế.  

   Kinh mở đầu bằng câu:

  "Tôi Tin Kính Đức Chúa Trời..." .

   Với sự hiểu biết của con người hiện nay thì câu trên trở thành vô nghĩa và huyền hoặc, không hợp với thực tế.  Tín đồ Ca-Tô Việt Nam dịch God là Đức Chúa Trời trong khi, như chúng ta đã biết, God trong Ki Tô Giáo chỉ là một vị Thần của một dân tộc hay một bộ lạc Do Thái cổ xưa.  Mặt khác, người Ca-Tô hiểu rằng Trời là trụ xứ của Thần Ki Tô (Christian God) như được mô tả trong Thánh Kinh, nghĩa là ở trên các tầng mây một chút, vì vậy họ thường ngẩng mặt cầu nguyện "Lạy Cha chúng tôi ở trên Trời".   Cũng vì vậy mà họ gọi cái "nhà ở trên trời", nơi Chúa ngự, là "Thiên đường", đường tiếng Hán có nghĩa là cái nhà.  Trong một phần sau, tôi sẽ trình bày với nhiều chi tiết hơn về cái gọi là "vòm Trời" trong Thánh Kinh.  Ngày nay, cái vòm Trời như được mô tả trong Thánh Kinh đã tan vỡ ra thành từng mảng trước những khám phá của khoa học về vũ trụ.   Khi con người bắt đầu ý thức được rằng, qua những khám phá của Copernicus và Galileo, chẳng có vòm Trời nào để cho "Chúa Trời" ngự trên đó mà phán xét, thưởng phạt con người, thì những nhà bảo vệ tín lý Ki Tô Giáo bèn thay đổi chỗ ở của "Chúa Trời", sửa lại là "Chúa Trời" không ở "trên đó" (up there) mà ở  "ngoài đó" (out there), hàm ý ở khắp mọi nơi, hi vọng sự thay đổi này sẽ làm cho con người tin vào "Chúa Trời" hơn.  Nhưng, với một vũ trụ được cả thế giới, kể cả Tòa Thánh Vatican, công nhận là vô biên, thiên hà Andromeda gần giải ngân hà của chúng ta nhất cũng cách xa chúng ta khoảng 2 triệu năm ánh sáng, và vũ trụ gồm cả tỷ thiên hà như vậy, có thiên hà cách xa chúng ta cả 15 tỷ năm ánh sáng, mỗi năm ánh sáng là một khoảng cách vào khoảng 9460800000000 cây số (9 ngàn 4 trăm 60 tỷ 8 trăm triệu), thì "Chúa Trời" ngự ở đâu?  Cả "trên đó" và "ngoài đó" đều không có ý nghĩa. Chưa kể là thay đổi từ "trên đó" thành "ngoài đó" hàm ý bác bỏ một điều tin trong Kinh Tin Kính: "Sau khi chết Chúa Con lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha".   Khoa học tiến tới đâu thì "Chúa Trời" lui tới đó, và hiện nay "Chúa Trời" đã bị đẩy ra khỏi "vòm Trời" tưởng tượng của những người viết Thánh Kinh, và rơi vào cõi hoang tưởng của những người có đầu mà không có óc. Trước khi đi vào chi tiết vấn đề này, tưởng chúng ta cũng nên tìm hiểu về nguồn gốc đức tin Ca-Tô về một "Chúa Trời".

   Đức tin Ki Tô nói chung, Ca-Tô nói riêng, bắt nguồn từ một thế giới khác hẳn với thế giới mà chúng ta đang sống hiện nay.  Trong thế giới đó, thế giới của người Do Thái, trí tuệ con người chưa mở mang.  Trong thế kỷ đầu, khi các Phúc Âm trong Tân Ước được viết ra, quan niệm về thế giới viết trong Cựu Ước chỉ phản ánh sự hiểu biết của người Do Thái trong thời đó về vũ trụ.  Nhưng Ki Tô Giáo cho đó là những lời mạc khải của "Chúa Trời" nên không thể sai lầm, vì một điều sai lầm trong Thánh Kinh sẽ đưa tới kết luận là tư cách thần thánh, toàn năng, toàn trí của Chúa Trời, theo như "giáo hội dạy rằng", chỉ là điều tưởng tượng của những người khi xưa sùng tín Thần của họ.

   Theo Cựu Ước thì vũ trụ gồm có ba tầng:  trái đất mà chúng ta đang sống trên đó thì phẳng và dẹt như một cái đĩa, là trung tâm của vũ trụ, đứng vững dưới một tầng trời, ở dưới trái đất là tầng địa ngục.  Tầng trời được hiểu là nơi trú ngụ của "Chúa Trời", nơi đây "Chúa Trời" thường xuyên ngồi xem xét  những chuyện của con người và can thiệp vào những chuyện thế gian.  Cho nên, những gì mà trí tuệ con người thời đó chưa hiểu nổi, thí dụ như thiên tai, bệnh tật, và ngay cả những hiện tượng thiên nhiên như sấm, sét v..v... đều được coi là những hành động của "Chúa Trời" (acts of God) để trừng phạt tội lỗi của con người, những vụ được mùa được coi là ân sủng của "Chúa Trời".  Ngày nay, chúng đã biết, và biết rất rõ, nguyên nhân của những hiện tượng thiên nhiên và có thể tiên đoán khá chính xác khi nào thiên tai nào xảy ra và ở đâu.

   Trải qua 16 thế kỷ, niềm tin tất cả là do "Chúa Trời" tạo ra đã tạo thành đức tin của Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo nói riêng, ở phương trời Âu Mỹ.  Nhưng khi nền văn minh hiện đại bắt đầu ló dạng vào đầu thế kỷ 16 thì quan niệm về một Thiên Đường nơi đó "Chúa Trời" ngồi để phán xét những việc thế gian cũng bắt đầu chao đảo và hiện nay thì trở thành Hoang Đường (cái nhà hoang), ít ra là đối với đa số dân chúng trên thế giới, nhất là đối với tuyệt đại đa số những người trong giới trí thức hiểu biết.  Muốn chứng minh luận cứ này, chúng ta cần trở lại sự tiến bộ của nhân loại từ khi cuộc cách mạng khoa học bắt đầu.    

   Có thể nói rằng cuộc cách mạng tư tưởng của Tây phương bắt đầu bằng những công cuộc khảo cứu của Nicolaus Copernicus (1473-1573) khi ông nghiên cứu vũ trụ, khi đó chỉ gồm có mặt trời, trái đất và trăng sao mà con người nhìn thấy trên trời.  Ông đưa ra một nhận định phá đổ dứt khoát quan niệm về trời mà con người khi đó cho là trụ xứ của "Chúa Trời".  Nhận định của Copernicus có ít người biết đến cho đến khi Galileo Galilei (1564-1642), dựa trên những tư tưởng của Copernicus và trên những kết quả quan sát thực nghiệm, xác định lại quan niệm về vũ trụ và vị thế của trái đất trong vũ trụ.  Galilei đi tới kết luận là không phải là mặt trời quay xung quanh trái đất như đã viết trong Thánh Kinh mà chính là trái đất quay xung quanh mặt trời.  Kết luận này làm thay đổi toàn bộ hệ thống tư tưởng của con người về vũ trụ, và làm "lạnh xương sống" giới giáo sĩ Ca-Tô Giáo, những kẻ buôn bán quyền lực (power brokers) thời đó, những kẻ xây dựng quyền lực trên sự "không thể sai lầm của Thánh Kinh" và trên sự hiểu biết vô cùng giới hạn của quần chúng Tây phương.  Nói rõ hơn, trái đất không còn được coi như là đứng yên, trung tâm của vũ trụ như là "lời không thể sai lầm" của "Chúa Trời" trong Thánh Kinh, và vì thực tế là trái đất luôn luôn di chuyển trong không gian với một vận tốc trên 1 trăm ngàn cây số một giờ, đồng thời quay xung quanh trục Nam Bắc với vận tốc quay khoảng 1600 cây số một giờ cho nên không có chỗ nào để cho "Chúa Trời" ngồi yên "trên đó" hay "ngoài đó"à can thiệp vào việc hàng ngày của thế gian.  Muốn theo dõi sự việc trên thế gian để mà can thiệp, "Chúa Trời" cũng phải điên đảo, đảo điên như là trái đất đang điên đảo, đảo điên trong không gian.  Cũng vì vậy mà, như trên đã nói, Giáo Hoàng Gion Pôn Hai, trước sự tiến bộ của khoa học, đã phải thú nhận: "Không làm gì có Thiên đường ở trên các tầng mây."

   Trên đây là những điều mà hầu như cả thế giới chấp nhận, kể cả một số trong hàng giáo phẩm Ca-Tô Giáo gồm có Giám mục, Linh mục và một số trí thức trong chính giáo hội, qua sự phân tích khoa học, dùng lý trí suy luận để tìm ra sự thực.  Đối với đa số tín đồ mà lý trí được coi như là một xa xỉ phẩm không cần thiết thì vấn đề lại khác hẳn, vì họ vẫn còn tin theo lời dạy giả dối của giáo hội cho đám tín đồ thấp kém, rằng "Chúa Trời" toàn năng, hay là "phép tắc vô cùng", làm gì cũng được.  Đây chính là câu tiếp theo trong Kinh Tin Kính mà chúng ta sẽ thảo luận:

"... Là Cha Phép Tắc Vô Cùng"

   "Chúa Trời" bây giờ được gọi là Cha, nghĩa là giống đực.   Tại sao lại là Cha mà không phải là Mẹ?  Căn bản giống đực của "Chúa Trời" dựa vào đâu?  Chữ "Cha" trong câu kinh này chẳng qua chỉ là sản phẩm của những người sống trong thời đại và địa phương theo chế độ phụ hệ, kỳ thị và coi rẻ phái nữ.  Chính chữ "Cha" này đã được các giáo hội Ki Tô dùng làm căn bản "truyền thống thiêng liêng của giáo hội" (sacred tradition of the Church) trong suốt 20 thế kỷ nay để biện minh cho đường lối coi thường và đàn áp phái nữ, kéo dài cho tới tận ngày nay.

   Chúng ta biết rằng, Giáo Hoàng Gion Pôn Hai đã ra thông tri quyết định không chấp thuận cho phái nữ làm linh mục với lời tuyên bố: "Trong Giáo hội Ca-Tô Rô-Ma, đàn bà sẽ không bao giờ được làm linh mục, vì Giêsu không chọn người đàn bà nào làm tông đồ của Người" (Women will never be priests in the Roman Catholic Church because Jesus did not choose any women to be his disciples).   Có người hỏi lại rằng: "Thế Giêsu có chọn một người Ba Lan nào làm tông đồ của Người không?  Tại sao một người Ba Lan như Karol Jozef  Wojtyla (tên tục của Giôn Pôn Hai) vẫn có thể làm linh mục, rồi leo lên làm Giáo hoàng, một địa vị mà "giáo hội dạy rằng" kế nghiệp Phê-rô, làm đại diện cho Giêsu trên trần?"  Có cách nào trả lời câu hỏi trên cho hợp lý ngoài cách dựa vào một tín điều: "Giáo hoàng là một bí nhiệm"?  "Bí nhiệm" là từ giáo hội thường dùng để "giải thích" những điều "bí đặc", không thể giải thích được cho nó hợp lý.  Khi giáo hội tuyên bố đó là một  bí nhiệm thì con người chỉ có thể hoặc tin hoặc chối bỏ, không phải là vấn đề để thắc mắc, bàn cãi.  Mọi lý luận đều trở thành vô giá trị, do đó lý trí trở thành thừa thãi.

   Nhưng không phải chỉ có chữ "Cha" trong kinh Tin Kính mang sắc thái coi thường, hạ thấp phụ nữ mà trong cuốn Thánh Kinh chúng ta cũng thấy đầy những tư tưởng kỳ thị, coi rẻ phụ nữ, coi phụ nữ như là vật sở hữu của đàn ông, là công dân hạng hai, nhơ nhớp v..v...

   Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong Thánh Kinh.  Thánh Phao Lồ phán, 1 Cor. 11: 3:

   Nhưng còn điều này tôi muốn nhắc anh em:  Chúa Cứu Thế là chủ của người Nam; Người Nam là chủ của người Nữ; Thượng đế là chủ của Chúa Cứu Thế (mâu thuẫn với thuyết Chúa Ba Ngôi. TCN)..

 Và trong 1 Timothy 2: 2: 11-12 chúng ta đọc:

   Người đàn bà hãy học hỏi trong yên lặng, với tinh thần tuân phục.  Ta không cho phép người đàn bà nào  dạy hoặc có quyền đối với đàn ông, mà phải yên lặng.

    Chẳng thế mà một số Thánh nổi tiếng trong Ca-Tô Giáo Rô-Ma đã đưa ra những nhận định kỳ thị phái nữ, những nhận định có thể đưa các Ngài vào tù trong thời đại này.  Thí dụ, Thánh Augustine (354-430) (cha đẻ của nền Thần học Ca-Tô và được Ca-Tô Giáo tôn sùng, coi như là có trí tuệ "siêu việt", tác giả cuốn Đô Thị Của Thần Ki Tô), đã phán:

   Người đàn bà, khi xét cùng với chồng, là hình ảnh của Thần Ki Tô .., nhưng khi xét riêng là đàn bà...thì không phải là hình ảnh của Thần, nhưng đối với người đàn ông xét riêng, thì đó là hình ảnh của Thần. 4

   Thánh Jerome (347-420) thì phán:

   Đàn bà là cửa ngõ của quỷ, của đường xấu xa, cái chích của con bọ cạp, nói tóm lại, là một thứ nguy hiểm. 5

   Và Thánh   John Chrysostom (347-407) coi đàn bà còn tai hại hơn là thú dữ:

        Trong những thú dữ, không có con nào gây hại như   một người đàn bà. 6

Còn Thánh Anthony (1195-1231) thì coi đàn bà như là quỷ, là rắn:

Khi các ngươi thấy một người đàn bà, hãy coi như là các ngươi đối diện với, không phải là một con người mà chính là một con quỷ.  Tiếng nói của người đàn bà là tiếng phun phì phì của con rắn. 7

     Như vậy, chúng ta đã hiểu tại sao Ruth Hurmence Green, một phụ nữ đã trưởng thành trong một gia đình Ki-Tô và trong nền giáo dục Ki-Tô, đã phải viết như sau trong cuốn "Quyển sách của Ruth": 

    Không có một trang sách nào trong Thánh Kinh mà không làm tôi bất bình về một phương diện nào đó... Và khi tôi thấy Thánh Kinh coi thường phụ nữ thường là tôi muốn quẳng nó ra cuối phòng.   Tôi nguyện không bao giờ còn cầm cuốn Thánh Kinh một cách lộ liễu trên tay ở nơi công cộng. 8 

   Quý độc giả nào muốn biết rõ hơn về căn bản kỳ thị, khinh rẻ phụ nữ trong Thánh Kinh, xin đọc cuốn Ki Tô Giáo, Chế Độ Nam Trị, Và Sự Lạm Dụng: Một Phê Bình Của Phái Nữ (Christianity, Patriarchy, and Abuse: A Feminist Critique) của Joanne Carlson Brown và Carole R. Bohn, trong đó có 10 bài tiểu luận về các đề tài xung quanh vấn đề kỳ thị phụ nữ viết bởi các giáo sư đại học phái nữ.  Thật là tội nghiệp cho những tín đồ phụ nữ trong giáo hội Ca-Tô, vì một lời hứa hẹn hão huyền về một cái bánh vẽ "cứu rỗi" trên trời mà phải chịu an phận với sự kỳ thị đã được nuôi dưỡng bởi giáo hội trong suốt 20 thế kỷ.

   Giám Mục Spong cũng cho rằng chữ "Cha" trong kinh Tin Kính đã được dùng trong nhiều ngàn năm để biện minh cho sự đàn áp phụ nữ của các định chế tôn giáo (Ibid., trang 5): "The word Father...shouts of the masculinity of the deity, a concept that has been used for thousands of years to justify the oppression of women by religious institutions..."

   "Phép tắc vô cùng" là dịch sai từ chữ "Almighty".  Vì "phép tắc vô cùng" làm ta liên tưởng đến Tề Thiên Đại Thánh, đệ tử của Đường Tăng Trần Huyền Trang, theo Thầy đi Thiên Trúc thỉnh Kinh Phật.  Giám mục John Shelby Spong giảng Almighty, theo nghĩa Thần học của Giáo hội, có nghĩa là Toàn Năng và Toàn Trí (Almighty has been translated theologically by the Church into such concepts as omnipotence (all-powerful) and omniscience (all-knowing), nghĩa là "làm gì cũng được", và "cái gì cũng biết", kể cả quá khứ vị lai.  Ngoài hai thuộc tính này, về sau Giáo hội còn đặt   ra một thuộc tính nữa là Toàn Thiện (omnibenevolent) nghĩa là "nhân từ vô cùng".  Ba thuộc tính trên đã là những điều mà các tín đồ Ca-Tô cứ nhắc lại như những con vẹt mà không chịu tìm hiểu, phân tích để biết ý nghĩa thực của những từ này là như thế nào.  Đó cũng là những điều mà con người trong thời Trung Cổ ở Âu Châu bắt buộc phải tin, nếu không thì bị tù đầy, tra tấn, và thiêu sống như lịch sử Ca-Tô Giáo đã chứng minh.  Nhưng khi Giáo hội Ca-Tô mất quyền sinh sát vì sự tiến bộ của nhân loại thì chính ba thuộc tính trên lại là những vấn nạn   quật ngược lại nền Thần học của Giáo hội, vì Giáo hội không có cách nào giải thích được những mâu thuẫn trong những quan niệm trên, và nhất là thực tế đã bác bỏ hoàn toàn những quan niệm về Toàn Năng, Toàn Trí và Toàn Nhân, ba thuộc tính mà Giáo hội đặt ra để gán ép vào Thần Ki Tô.

   Để cho vấn đề được rõ ràng, chúng ta hãy luận về ba thuộc tính trên của Thần Ki Tô.

   Thứ nhất, chúng ta hãy nhìn vào thực tế trên cõi đời: từ những em bé mới sinh ra đã bị tật nguyền cho tới những thiên tai gây ra cảnh tang tóc thiệt hại cho con người; từ những bệnh truyền nhiễm cho tới những chiến tranh tàn sát hàng triệu người; từ những cuộc tranh chấp chính trị nhỏ cho tới những cuộc chiến tranh tôn giáo còn đang tiếp diễn ở Bosnia, Ireland, Palestine; rồi những cảnh trẻ em đang bị chết đói ở Rwanda, Ethiopia v...v.., chúng ta có thể tin được chăng là có một Thần Ki Tô "làm gì cũng được" và có lòng “nhân từ vô cùng” được không?  Tại sao những tín đồ Ca-Tô vẫn còn tin vào lòng thương yêu của Thần Ki Tô theo như lời rao giảng của các cán bộ truyền giáo?  Bởi vì họ đã được reo rắc vào trong đầu óc một tâm cảnh ích kỷ, chỉ biết đến mình mà không nghĩ đến người khác.  Họ được dạy rằng những bất hạnh xảy ra cho mình là do ý Chúa để thử thách, cứ kiên trì tin Chúa, thờ phụng Chúa thì Chúa sẽ cho sống đời đời tốt đẹp bên Chúa.  Nếu có gì may mắn xảy ra cho mình thì đó là do lòng thương yêu của Chúa, hoặc ân sủng của Chúa ban cho.  Chẳng thế mà trong một tai nạn máy bay, 3 hành khách sống sót trong số 286 người trên chuyến bay, đã cám ơn Chúa vì Chúa đã thương yêu, cứu họ.  Họ không hề để ý đến chuyện 283 người tử nạn kia sẽ cám ơn ai?  Cái tâm cảnh ích kỷ này đi đến độ cực đoan là những tín đồ tân tòng, ở Việt Nam cũng như ở bất cứ nơi nào trên thế giới,  vui sướng vì tin là mình sẽ được lên Thiên đường ở cùng Chúa, mà không hề nghĩ đến ông bà tổ tiên hay đồng bào mình bị đày địa ngục vì không tin Chúa, theo như lời dạy lố bịch, hoang đường, mê tín, xúc phạm đến mọi tôn giáo khác của Giáo hội.  Ngày nay, một số nhà Thần học đã đưa ra vấn đề "có sự cứu rỗi ngoài giáo hội" (salvation outside the church) nhưng luận điểm này mang nhiều sắc thái gượng ép vì cho rằng con người ngoài giáo hội cần đến một sự cứu rỗi không tưởng trong Ki Tô Giáo.  Những thực tế trên cõi đời đã cho chúng ta thấy rõ ràng là Thần Ki Tô, nếu có, chẳng phải là một vị Thần đầy lòng thương yêu nhân loại, vậy thì người hãy thương lấy người, và vứt bỏ đi những cặp nạng Toàn Năng, Toàn Trí và Toàn Nhân trong Thần học Ki Tô. 

   Ngày nay những sự việc xảy ra trên khắp thế giới đã chứng minh rất hùng hồn là chỉ có con người mới giúp được con người.  Trận lụt lớn ở miền Trung Việt Nam vào đầu tháng 11, 1999, nếu không có bàn tay vô Thần cấp thời và tích cực cứu giúp của chính quyền, quân đội và đồng bào; và sau đó, không có sự cứu trợ vật chất với tính cách đại qui mô của các tổ chức tôn giáo như Chùa Từ Đàm, Chùa Từ Hiếu v..v.., với sự hăng say hoạt động từ thiện của các Tăng, Ni Phật Giáo cùng đồng bào trong nước v..v.., sự đóng góp của đồng bào hải ngoại v..v... thì những sự đau khổ  về chết chóc, thiệt hại và thiếu thốn vật chất của nạn nhân bão lụt không biết lên tới mức nào.  Đâu có thấy bàn tay cứu giúp của Chúa ở đâu, dù rằng Thánh Kinh viết rằng Chúa Cha có thể làm mưa bánh mì cho những người đang đói ăn, và Chúa Con cũng có khả năng biến một ổ bánh mì thành trăm ổ bánh mì.  Phải chăng Chúa chỉ có khả năng làm bánh mì cho dân Do Thái, chứ không có khả năng thổi cơm hay chế tạo mì gói ăn liền cho dân Việt Nam?

   Lịch sử thế giới cũng cho thấy, những người chết đói ở Somalia, Rwanda, Ethiopia cứ tiếp tục chết đói cho đến khi có những cơ quan từ thiện quốc tế cứu giúp, dù rằng trong những xứ này có khá nhiều người tin Chúa.  Các nhà bảo vệ tín lý bèn diễn giải rằng, những cơ quan từ thiện chính là bàn tay cứu giúp của Chúa.  Đến khi bị hỏi ngược lại là trong số những người làm việc thiện có rất nhiều người không theo đạo thờ Thần, không tin là có Thần, và nhất là, tại sao Thần lại để cho sinh ra những nạn đói kém hay thiên tai trên thế giới rồi mới đưa bàn tay ra cứu giúp một phần, vì trước khi cứu giúp đã có nhiều người chết đói rồi?  Câu trả lời có tính cách mạ lỵ đầu óc con người là: những việc Thần Ki Tô làm, con người không thể nào hiểu nổi.  Người ta lại hỏi: nếu con người không hiểu nổi thì tại sao các ông lại cứ tuyên bố là Thần muốn thế này, Thần muốn thế nọ, và muốn chúng tôi phải thờ Thần của ông?  Câu trả lời để chấm dứt mọi lý luận là: tin thì lên Thiên đường, thắc mắc thì xuống điạ ngục.

   Cách đây khoảng 23 thế kỷ, triết gia Epicurus đã đặt vấn đề Toàn Năng, và Toàn Thiện như sau:

"Hoặc Thần muốn hủy bỏ sự  ác, và không thể
Hoặc Thần có thể hủy bỏ nhưng không muốn
Hoặc Thần không thể, và không muốn
Nếu Thần muốn, nhưng không thể làm được, Thần bất lực. (nghĩa là không Toàn Năng)
Nếu Thần có thể, nhưng không muốn, Thần thật là xấu xa. (nghĩa là không nhân từ)
Nếu Thần không thể và cũng không muốn,
Thần vừa bất lực vừa xấu xa.
Nhưng nếu (như họ thường nói) Thần có thể hủy bỏ sự  ác
Và Thần thật sự muốn như vậy
Tại sao trên cõi đời này lại có sự  ác?"
(Either god wants to abolish evil, and cannot;
Or he can, but does not want to;
Or he cannot, and does not want to.
If he wants to, but cannot, he is impotent.
If he can, but does not want to, he is wicked.
If he neither can, nor wants to,
He is both powerless and wicked.
But if (as they say) god can abolish evil,
And god really wants to do it,
Why is there evil in the world?)

     Từ xưa tới nay, chưa có ai trả lời được câu hỏi mà Epicurus đã đặt ra, dù những bộ óc kém cỏi đã phát minh ra chuyện Thần muốn trừng phạt sự xấu xa của con người, những sản phẩm do chính Thần tạo ra theo y như hình ảnh Thần và tự khen tác phẩm của mình là "tuyệt hảo", như được viết trong Cựu Ước, chương Sáng Thế.  Tại sao con người do Thần tạo ra một cách tuyệt hảo như trên lại làm ác?  Câu trả lời phi lôgic của các nhà truyền giáo là Thần muốn cho con người tự do, không muốn con người là những người máy.  Nhưng nếu Thần toàn năng thì tại sao không thể tạo ra một con người tự do giới hạn, nghĩa là không thể có cái tự do làm ác mà chỉ có tự do làm thiện mà thôi.  Vậy nguồn gốc của sự xấu ác ở trên đời là ở đâu? ở con người hay ở Thần?

   Những tín đồ Ki Tô tin vào một vị Thần toàn năng trong khi họ không hiểu toàn năng là gì.  Họ không thể hiểu được rằng, theo định nghĩa, không làm gì có chuyện toàn năng.  Vì toàn năng nghĩa là có khả năng làm bất cứ điều gì mà con người có thể tưởng tượng được, thí dụ, làm cho một cặp vợ chồng da đen sinh ra một đứa con da trắng, làm ra một con rùa có lông, hay con thỏ có sừng, hay một cây mít sinh ra trái soài v...v..  Có người đã đặt một câu hỏi rất ý nhị về thuộc tính toàn năng của Thần Ki Tô: "Thần có thể tạo ra một phiến đá nặng đến nỗi chính Thần cũng không vác nổi không?"  Đây là một câu hỏi không một nhà thần học Ki Tô nào trả lời nổi, vì trả lời "có" hoặc "không" đều đương nhiên bác bỏ thuộc tính toàn năng của Thần.  Kết luận: thuộc tính toàn năng không thể có.   Nếu thuộc tính toàn năng không thể có thì một vị Thần toàn năng cũng không thể nào có.  Mặt khác, toàn năng và toàn trí (cái gì cũng biết) là hai thuộc tính có tính chất loại trừ hỗ tương (mutual exclusive), nghĩa là có cái này thì không thể có cái kia, cho nên một vị Thần kiêm cả hai thuộc tính toàn năng và toàn trí là điều không tưởng.  Thật vậy, nếu Thần "biết" cái gì sẽ xảy ra trong tương lai và Thần không thể thay đổi được sự việc đó, điều này rất rõ ràng trước những thực tế và quy luật thiên nhiên ở ngoài đời, thì làm sao có thể gọi là "Thần toàn năng" được?  Ngược lại, nếu Thần có khả năng thay đổi sự việc nhưng lại không biết những gì sẽ xảy ra để mà thay đồi, vậy thì "toàn trí" ở chỗ nào?  Nói tóm lại, một vị Thần toàn năng, toàn trí chỉ có trong niềm tin đã được nhồi vào óc từ khi còn nhỏ của những người không hiểu thế nào là toàn năng, toàn trí.

   Sau cùng, đọc Thánh Kinh, nhất là Cựu Ước, thì không ai có thể chấp nhận Thần Ki Tô trong đó là bậc toàn thiện.  Tại sao?  Vì Thần Ki Tô trong Cựu Ước được mô tả như một vị Thần tiền hậu bất nhất, lòng đầy thù hận, trí tuệ kém cỏi,  ham vật chất, ham gái, độc ác, vô lương tâm, tàn nhẫn, bất công ..., những thuộc tính hoàn toàn trái ngược với thiện tâm và lòng nhân từ của con người. Chứng minh?

   Trong chương I, tôi đã trích dẫn vài đoạn trong Cựu Ước chứng tỏ một vài hành động độc ác, bất nhân của Thần Ki Tô, ví dụ như chuyện Thần Ki Tô dùng Vua Ai Cập để giáo dục dân Do Thái nhưng rồi lại gây ra 10 tai họa cho dân Ai Cập, với cao điểm là làm cho tất cả những đứa con đầu lòng trong mọi gia đình dân Ai Cập chết hết (Exodus  11: 4-6); khi dân Do Thái chạy ra khỏi Ai Cập thì Thần rẽ nước biển ở Hồng hải, nghĩa là tạo ra một lối thoát khô, để cho dân Do Thái chạy qua, rồi sau đó lại đóng nước lại làm cho cả toán quân Ai Cập đuổi theo chết đuối hết ở Hồng Hải (Exodus 15) v.. v.. Ngoài ra chúng ta còn có thể đọc trong Cựu Ước: Thần là một người chinh chiến (Exodus 15:3: The Lord is a man of war); Thần khuyến khích dân Do Thái quật đầu những đứa trẻ dân Edom vào đá cho chết (Psalm 137: 7-9);  Thần ra lệnh cho Moses tiêu diệt dân Midian (Numbers 31: 1,2), quân lính của Moses thiêu rụi mọi thị trấn của dân Midian, cướp bóc hết của cải, gia súc v...v..., giết chết mọi đàn ông (Numbers 31: 7) nhưng chừa lại đàn bà và trẻ con.  Điều này làm Moses nổi giận, ra lệnh giết hết đàn bà và trẻ con trai, chỉ chừa lại các trinh nữ để chia cho Thần một phần.  Tất cả có 16000 trinh nữ, số nộp cho Chúa là 32 (Numbers 31: 40) v...v...  Thật là khôi hài khi ta đọc đến những điều răn của Thần trong đó có những khoản như: không được giết người, không được trộm cắp, không được tà dâm, những điều khoản mà chính Thần là người đầu tiên vi phạm.  Một vị Thần độc ác, bất nhân như vậy có đáng để chúng ta tôn kính hay không? khoan nói đến chuyện thờ phụng.

    Đó là về Chúa Cha, và chúng ta nên nhớ Chúa Cha chỉ có con một là Chúa Con, Giê-su.  Thánh Kinh Tân Ước cũng viết rõ,  Chúa Con, Giêsu, được phái xuống trần để dạy con người thi hành luật của Chúa Cha, những luật mà nếu thi hành trong thời đại này thì sẽ bị cả thế giới lên án và đưa ra tòa án quốc tế xét xử (Hãy đọc kỹ 4 Phúc Âm Matthew, Mark, Luke, John và các chương Acts, Corinthians, Revelation v..v.. trong Tân Ước).  Điều đáng nói là đọc kỹ Tân Ước chúng ta thấy trí tuệ, đạo đức của Chúa Con, Giê-su, cũng chẳng hơn Chúa Cha là bao nhiêu.   Những nhận định này sẽ được chứng minh trong một phần sau.

   Như trên tôi đã chứng minh không làm gì có chuyện toàn năng, nhưng người ta vẫn cứ tin vào một vị Thần toàn năng.  Chỉ cần nhin những sự việc xảy ra xung quanh mình cũng thấy toàn năng là một thuộc tính tưởng tượng của con người.  Toàn năng làm sao mà cho tới bây giờ trên thế giới vẫn chỉ có khoảng 30% (1.9 tỷ tín đồ mọi tông phái Ki Tô trên tổng số hơn 6 tỷ người trên thế giới) tin ở Thần toàn năng?   Chuyện đã quanh quẩn lại trở thành quẩn quanh..

   Trên một khía cạnh khác, tin vào Chú Cuội hay tin vào Táo Quân còn đỡ hơn tin vào một Thiên Chúa toàn năng, vì chưa có ai nhân danh Chú Cuội hay Táo Quân để giết người hay ép người khác phải tin vào Chú Cuội hay Táo Quân, trong khi không biết bao nhiêu người đã tin vào Thiên Chúa và đã nhân danh Thiên Chúa  để phạm phải không biết bao nhiêu là tội ác và gây ra không biết bao nhiêu thảm cảnh cho nhân loại.

   Do đó, những quan niệm thuộc loại mê tín như Thần có thể ban phúc, giáng họa cho nhân loại, hoặc làm những phép lạ để chứng tỏ khả năng thần thánh v...v..., là những quan niệm đã lỗi thời, không phù hợp với sự hiểu biết của con người ngày nay và những thực tế ở ngoài đời. Tôi xin lấy một thí dụ trong Thánh Kinh Do Thái - Ki Tô.

   Thánh Kinh, Matthew 17: 14-21, viết:

   Khi Đức Chúa Giê su và môn đồ đã trở lại cùng đoàn dân, thì có một người đến gần, quỳ trước mặt Ngài, mà thưa rằng: "Lạy Chúa, xin Chúa thương đến đứa con trai tôi! Vì nó mắc bệnh phong điên (Kinh Thánh tiếng Việt dịch sai, Epilepsy là bệnh "động kinh" chứ không phải là phong điên), phải chịu đau đớn quá, thường bị té vào lửa, và té xuống nước.  Tôi đã đem nó đến cho môn đệ Chúa, nhưng  chữa không được."  Đức Chúa đáp rằng: "Hỡi dòng dõi không tin và gian tà kia, ta sẽ ở với các ngươi cho đến chừng nào? Ta sẽ nhịn nhục các ngươi cho đến khi nào?  Hãy đem con đến đây cho ta."  Rồi Đức Chúa  Giê su quở trách Qủy, Quỷ liền ra khỏi đứa trẻ, và từ giờ đó đứa trẻ được lành.

   Các môn đồ bèn đến gần Chúa và hỏi riêng rằng: "Vì cớ gì chúng tôi không đuổi Quỷ ấy được?"  Ngài đáp rằng: "Ấy là tại các ngươi ít đức tin.   Vì ta nói thật cùng các ngươi, nếu các ngươi có đức tin bằng một hạt cải, sẽ khiến núi nầy rằng: Hãy dời đây qua đó, thì nó liền dời qua, vì không có sự gì mà các ngươi chẳng làm được." Nếu không cầu nguyện và nhịn ăn, các ngươi không thể đuổi thứ quỷ này được.

   Đọc đoạn trên trong Thánh Kinh các tín đồ Ki Tô chắc hẳn sẽ rất lấy làm sợ và phục tài đuổi quỷ của Chúa Giê su.  Nhưng phân tích kỹ câu trên, và với kiến thức của con người ngày nay,  chúng ta biết được những gì? 

   Thứ nhất, điều rõ ràng là không có một môn đồ nào của Chúa tin ở Chúa, không những thế còn hoài nghi khả năng của Chúa, nên Chúa phải trổ tài chữa bệnh động kinh bằng cách đuổi quỷ ra khỏi đứa bé, đểhuyết phục đám đệ tử phải tin vào khả năng thần thánh làm phép lạ của Chúa.  Chỉ có điều, y học ngày nay đã xác định và chứng minh rằng bệnh động kinh tuyệt đối không phải là do quỷ ám, mà là do sự nhiễu loạn của hệ thống thần kinh làm cho con người mất đi một phần hoặc toàn bộ ý thức kiểm soát những cử động của thân thể vì trong óc thiếu chất acid glutamic, gây nên sự run rẩy hoặc co quắp thân thể, chân tay. Cho nên, chuyện Chúa chữa khỏi bệnh động kinh bằng cách đuổi quỷ ám ra khỏi thân thể con người là chuyện hoang đường, phản ánh trí tuệ của Matthew, người viết Phúc Âm Matthew trong Tân Ước, trong lãnh vực y học ở một thời đại cách đây 2000 năm, cho rằng bệnh động kinh là do quỷ ám.  Và do lòng sùng bái cá nhân, Matthew muốn thần thánh hóa Giê-su nên đã đặt ra chuyện Giê-su có khả năng thực hiện phép lạ, đuổi quỷ ám ra khỏi thân người.  Tất cả những "phép lạ" mà những người viết Tân Ước kể là Chúa Giê-su thực hiện đều thuộc loại bịa đặt này như hàng trăm học giả trong và ngoài giáo hội  đã vạch rõ trong những tác phẩm.nghiên cứu của họ.  Chúng ta không thể trách Matthew được, vì nguyên nhân của bệnh động kinh, con người mới biết rõ gần đây, trong thế kỷ 20, và ngày nay các bác sĩ thường chữa bệnh động kinh bằng thuốc hoặc châm cứu để cho hệ thống thần kinh được ổn dịnh và tìm cách gia tăng lượng acid glutamic trong óc..

   Thứ nhì, trong 2000 năm nay, người tin Giê-su thì rất nhiều, người cầu nguyện cũng không thiếu, nhưng không có một ai có đức tin dù chỉ nhỏ bằng hạt cải để có thể đuổi "quỷ ám" ra khỏi người bị bệnh động kinh, và cũng chưa có ai có khả năng bảo trái núi này dời đi chỗ khác là nó tự động bò đi chỗ khác.   Chừng nào mà các tín đồ Ca-Tô, từ Giáo Hoàng trở xuống, không bảo được núi dời đi chỗ khác hay "đuổi quỷ ám" ra khỏi thân người mắc bệnh động kinh, thì họ đừng có hòng lên Thiên đường ở cùng Chúa, vì theo lời Chúa trong Thánh Kinh thì họ chỉ thuộc dòng dõi không tin và gian tàì, đức tin của họ còn nhỏ hơn hạt cải, chưa đủ mức đòi hỏi của Chúa nên Chúa đã phải than "Hỡi dòng dõi không tin và gian tà kia, ta sẽ ở với các ngươi cho đến chừng nào?"   Cũng vì vậy mà trong 2000 năm nay Chúa đã không ngó ngàng gì đến các tín đồ theo Chúa, vì sự thực là chưa ai có đủ đức tin để thấy được dung nhan Chúa ngồi bên tay phải của Chúa Cha ở trên Trời, theo như lời dạy của giáo hội.  Cho nên, điều mà các tín đồ tin rằng sẽ được hiệp thông cùng Chúa thật ra chỉ là điều mơ tưởng ước mong dựa trên những rao giảng sai sự thực.  Mà dù tín đồ có đủ đức tin cũng không thấy Chúa được, vì sự thực là chẳng làm gì có Chúa nào ngồi trên Thiên đường.  Thiếu tá Gagarin, phi hành gia đầu tiên bay trên thượng tầng không khí xung quanh trái đất, đã nói về trung tâm khoa học không gian của Nga sô: "Tôi chẳng thấy vị Thần nào ở trên này" (I don't see any God up here).   

   Một thí dụ khác trong Thánh Kinh,  Matthew 8: 28 - 34, cho chúng ta thấy rõ tính tình của Chúa Con trong một câu chuyện khác, cũng nói về Chúa đuổi quỷ ra khỏi thân người, được tóm tắt như sau:

   Có hai người bị quỷ ám gặp Chúa Giê-su và quỷ trong hai người đó van nài Chúa Giê-su đuổi chúng ra và cho nhập vào một bày heo.  Chúa phán "đi ra", chúng liền nhập vào bầy heo và cả bầy heo (độ 2000 con, theo Mark 5: 13) rông tuốt xuống sông chết đuối hết.  Trẻ con chăn heo chạy về làng kể chuyện lại cho dân làng nghe, cả làng kéo ra khỏi làng gặp Chúa Giê-su và...van nài (có nghĩa là đuổi) Ngài hãy đi ra khỏi vùng đất của họ.

   Giê-su là con Chúa Trời, phép tắc vô cùng, vậy thì chuyện đuổi quỷ ra khỏi thân người, nếu thực sự là có quỷ, là chuyện dễ dàng.   Chúng ta cũng nên nhớ, trong chuyện "đuổi quỷ" ra khỏi người bị bệnh động kinh, Chúa chỉ đuổi nó ra thân người rồi để cho nó tự do muốn đi đâu thì đi.   Nhưng lần này, thử hỏi, 2000 con heo có tội tình gì mà Giê-su để cho quỷ nhập vào chúng, rồi bắt chúng nhào xuống sông chết đuối hết?  Như vậy có phải là Giê-su là người không có lòng nhân, đang tâm tàn nhẫn giết cả một đàn heo vô tội.  Mà đàn heo cũng lại là những sản phẩm của chính Chúa Cha “sáng tạo” ra, vì theo niềm tin Gia Tô thì mọi thứ trên đời này đều là do Chúa tạo ra cả.   Bởi vậy dân làng mới coi Giê-su như là một tên phù thủy, một kẻ đáng chê trách, đã vô cớ hủy đi một nguồn lợi của dân làng, làm cho họ tự nhiên mất đi cả một đàn heo tới 2000 con, cho nên họ kéo ra ngoài làng, chặn đuổi Giê-su đi nơi khác, không dám để cho Giê-su vào làng. 

   Thánh Kinh có đầy những chuyện chứng tỏ nhân cách và đạo đức thấp kém của Giê-su như trên, nhưng tín đồ vẫn được dạy đó là những "phép lạ" mà Giê-su đã làm, và Thánh Kinh là những lời "mạc khải" của Chúa, không thể nào sai lầm, Giê-su là "Con một của Chúa Cha" được phái xuống trần để chịu tội thay cho mọi người, do đó, vẫn tin Giê-su là đấng "Cứu Thế", "phép tắc vô cùng", có khả năng "cứu rỗi" những ai tin vào Giê-su.  Thật là tội nghiệp cho những người trong thời buổi này mà vẫn còn tin vào những chuyện thuộc loại huyền thoại phản khoa học, đầy mâu thuẫn và phi lý liên hệ đến nhân vật Giê-su như trên.

   Chúng ta chỉ có thể tội nghiệp họ chứ không thể trách họ, vì chính Giáo Hoàng John Paul II cũng vẫn còn tin là quỷ và thiên thần có thực, theo như tài liệu của học giả Gia Tô Joseph L Daleiden sau đây trong cuốn Sự Mê Tín Sau Cùng:

   Giáo Hoàng John Paul II tin vào nhiều điều mê tín mà đối với các tín đồ Gia Tô hiện đại họ cảm thấy ngượng ngùng.  Ngay gần đây trong ba bài dạy giáo dân ông vẫn tin rằng mỗi người đều có ít nhất là ba thiên thần bảo hộ và thảo luận về những nhiệm vụ khác nhau của các thiên thần trên Thiên đường.  Giáo hoàng hét vào mặt cử tọa: "Hãy coi chừng bọn quỷ".  Ông tin rằng quỷ Satan hiện thân dưới dạng con một con sư tử, một con rắn, một con rồng, hoặc một con dê có sừng. 9

     Nhưng trên đây chỉ là những lời mà Giáo hoàng đưa ra với một mục đích, mang thiên thần ở trên Thiên đường ra để khuyến dụ, và mang quỷ ở địa ngục ra để dọa đám giáo dân thấp kém, vì gần đây, tháng 7, 1999, ông đã tuyên bố rằng chẳng có nơi nào là Thiên đường hay Địa ngục, tất cả chỉ đều do tâm con người tạo ra mà thôi.  Ông biết rõ, các linh mục không bao giờ giảng những điều có ảnh hưởng đến đức tin của tín đồ, dù rằng những điều đó do chính những bậc lãnh đạo tôn giáo của họ phát biểu.  Sách lược từ ngàn xưa của Giáo hội là nuôi dưỡng đức tin của giáo dân bằng cách giữ họ "càng biết ít bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu".  Lịch sử đã chứng minh như vậy.

"...Dựng Nên Trời Đất"

   Tín đồ Ca-Tô được dạy để tin rằng Thần Ki Tô, alias Chúa Cha, là bậc toàn năng đã tạo dựng nên trời đất và muôn loài.  Niềm tin mù quáng không cần biết đến lý lẽ, không cần hiểu này có tác dụng đánh đổ mọi lý luận Thần học và mọi bằng chứng khoa học về vũ trụ của chúng ta ngày nay.  Tôi xin lấy một thí dụ:

   Trong cuốn "Đối Thoại Với Giáo Hoàng...", một tác giả, học giả Trần Văn Kha, đã đặt vấn đề "linh hồn" đại khái như sau, trg. 82-83:

   Nếu bảo rằng linh hồn là một thực thể riêng biệt, không do thân xác sinh ra ra, nên không chết cùng với thân xác, thì linh hồn ấy ở đâu mà ra?  Nếu bảo rằng linh hồn do Chúa sinh ra, chứ không phải thân xác, thì vị trí của cái linh hồn ấy đối với thân xác là như thế nào?  Sự thông minh, hay ngu dốt, hay tính độc ác của một người là ở trong đầu óc, nghĩa là ở thân xác, hay ở linh hồn?  Nếu bảo là ở thân xác, thì tại sao Chúa lại đem một linh hồn trong sạch bỏ vào một thân xác ngu đần, độc ác, rồi lại bắt linh hồn phải chịu trách nhiệm?  Nếu bảo là ở linh hồn, thì lại càng vô lý.  Tại sao Chúa lại sinh ra linh hồn tội ác?  Chúa có chịu trách nhiệm về linh hồn do Chúa sáng tạo ra không?  Những linh hồn do Chúa sinh ra đều bình đẳng như nhau, hay có cái tốt , cái xấu, như xe hơi Nhật, xe hơi Mỹ?  Linh hồn có tội gì đâu mà sinh ra ở Phi Châu đói khổ, rồi bị người da trắng cai trị, bóc lột, đem buôn bán làm nô lệ?

   Những linh hồn do Chúa sinh ra, ở đâu trước khi nhập vào một đứa trẻ sơ sinh?  Ở một chỗ nào đó trên Thiên Đàng có một kho chứa linh hồn?  Kho ấy lớn hay nhỏ, hay cần tới đâu thì nới rộng tới đó?... Nhập vào khi nào?  Khi vừa bắt đầu thụ thai, hay khi đứa trẻ lọt lòng mẹ? v...v...

   Đó là những câu hỏi rất trí thức, xoáy thẳng vào nền Thần học Ki Tô Giáo, nhưng Linh Mục Thiện Cẩm, nhà nghiên cứu tôn giáo Ca-Tô ở Việt Nam, đã viết trên báo Chính Nghĩa, số 381, để trả lời như sau:

   Chỉ cần một bà lão công giáo nhà quê cũng có dư khả năng để trả lời những thắc mắc của nhà học giả Trần Văn Kha.  Thật vậy, theo niềm tin Ki Tô Giáo, thì Thiên Chúa là Đấng toàn năng, chính người đã tạo dựng nên thế giới muôn loài (nghĩa là cả những bão lụt, sấm sét, thiên tai, động đất, khổng long (đã biến mất sau một thời gian), rắn rết, hùm beo, vi trùng đủ thứ bệnh v...v.. TCN), vậy thì việc dựng nên linh hồn cho mỗi con người, đâu có khó khăn gì? (các em nhỏ sơ sinh bị khuyết tật, bị bệnh chứng Down, bị trì trệ trí óc (mentally retarded), hay mới sinh ra đã tắt thở v...v... nên cám ơn vị Chúa toàn năng đầy lòng nhân từ này. TCN).

     Rồi, với "lý luận" như trên, Linh mục Thiện Cẩm hạ một câu: "Như vậy làm sao có thể đối thoại nghiêm chỉnh với một người như Đức Giáo Hoàng Gioan PhaoLồ II?"

   Chắc hẳn Linh Mục Thiện Cẩm cho rằng đầu óc của Giáo Hoàng cũng như đầu óc của những bà lão công giáo nhà quê, và đối thoại nghiêm chỉnh là phải chấp nhận niềm tin về "một Thiên Chúa duy nhất, đấng sáng tạo ra vũ trụ muôn loài" của những bà lão công giáo nhà quê.  Tôi không hi vọng một bà lão công giáo nhà quê nào đọc cuốn sách này, nhưng nếu Linh mục Thiện Cẩm có đủ can đảm đọc cuốn sách này thì ông sẽ nhận thức được thực chất của đấng sáng tạo trên, và do đó thoát ra khỏi được cái ngục tù tư tưởng hay cái lưới vô hình xiềng xích trí tuệ, điều mà hàng triệu tín đồ Ca-Tô đã làm và còn đang tiếp tục làm trong những quốc gia văn minh tiến bộ ở Âu, Mỹ.   

     Rất may cho thế giới loài người là không phải tất cả thiên hạ đều là những "bà lão công giáo nhà quê", do đó trí tuệ con người hiện nay, tuyệt đại đa số không ở mức trí tuệ của Linh mục Thiện Cẩm, hay của những “bà lão công giáo nhà quê” cũng vậy.  Niềm tin tôn giáo của Linh mục Thiện Cẩm đã tạo nên một điểm mù trước những tiến bộ về trí tuệ của con người.  Linh mục Thiện Cẩm không biết rằng khoa học ngày nay đã bác bỏ hoàn toàn quan niệm về một linh hồn trong Ki Tô Giáo, do đó những kẻ còn có ý định đi kiếm linh hồn cho Chúa là những kẻ sống trong tâm cảnh tối tăm của thời Trung Cổ.  Giám mục Spong cũng đặt vấn đề linh hồn trong Ki Tô Giáo như sau:

   Nếu chỉ có con người có linh hồn, như Giáo hội đã dạy, thì chúng ta phải biết rõ khi nào nhân loại thành hình và được Thần ban cho một linh hồn vĩnh cửu.  Không có một sự sáng tạo tức thời, sự ban cho một linh hồn này trở thành một vấn đề lớn. Những sinh vật đi thẳng đứng có phải là con người không?  Hay định nghĩa của con người chỉ dành riêng cho tình trạng tiến hóa của sinh vật đi thẳng đứng thành con người?  Nếu vậy, ở giai đoạn nào của sự phát triển thành con người?  Ngôn ngữ chỉ xuất hiện trong khoảng từ 35 tới 50 ngàn năm.  Nếu các nhà sinh học không thể xác định tại thời điểm nào sinh vật đi thẳng đứng trở thành con người, ngoại trừ chỉ có thể nói rằng, tiến trình này trải dài trong khoảng 1 triệu rưỡi năm, vậy các nhà Thần học có dám xác định rõ hơn không? 10

   Chúng ta thấy rõ kiến thức của Giám Mục John Spong khác xa với kiến thức của Linh Mục Thiện Cẩm, hay kiến thức của những “bà lão Công Giáo nhà quê”, những đầu óc tin rằng việc Chúa "toàn năng", tuy không hiểu thế nào là toàn năng,  tạo cho mỗi người một linh hồn đâu có khó khăn gì.

    Nhưng, theo như nhận định của Giám mục Spong thì, nếu thuyết Sáng Tạo là một sự thật, và con người được Thần Ki Tô tạo ra tại một thời điểm nào đó, vấn đề mỗi người có một linh hồn có thể tạm cho là có lý tuy không thể nào chấp nhận được, vì không có tính cách hoàn toàn thuyết phục. Nhưng điều rõ ràng là con người hiện nay đã tiến hóa dần dần, trải qua nhiều triệu năm một cách liên tục, từ những sinh thể ban khai, rồi tới những sinh vật đi thẳng đứng (homo erectus), sau cùng mới tới con người như chúng ta (homo sapiens),  vậy linh hồn của con người được Thần Ki Tô tạo cho vào thời điểm nào, và tạo như thế nào, biết rằng mỗi giây, mỗi phút, trên thế giới có biết bao đứa trẻ đủ mọi chủng tộc, sắc dân, sinh ra đời?

   Kiến thức con người hiện đại đã bác bỏ dứt khoát quan niệm về một vị Thần toàn năng, sáng tạo ra muôn loài vì quan niệm này cực kỳ phi lý trước những bằng chứng không ai có thể phủ bác của khoa vũ trụ học, sinh học, sinh hóa học v..v....  Giáo hội Ca-Tô cũng biết rõ như vậy, nhưng một mặt thì Giáo hoàng Gion Pôn Hai chính thức công nhận thuyết Big Bang, thuyết Tiến Hóa và bác bỏ ngay cả sự hiện hữu của Thiên đường và Địa Ngục như Giáo hội vẫn thường dạy con chiên, một mặt vẫn hạn chế tối đa những thông tin thuộc loại này, duy trì sự tối tăm trí thức của đám tín đồ thấp kém.  Để làm gì, nếu không phải để duy trì những quyền lợi thế tục bằng sự lừa dối quần chúng?  Chứng minh?

   Cái vũ trụ muôn loài của Ki Tô Giáo là một vũ trụ trong đó trái đất thì phẳng và dẹt, đứng yên một chỗ và mặt trời thì quanh xung quanh trái đất như được viết trong Thánh Kinh, những điều mà các tín đồ Ki Tô thấp kém đều tin rằng không thể sai lầm, vì họ được nhồi vào đầu từ khi còn nhỏ đó là những lời "mạc khải" của Thần sáng tạo.  Dựa theo những dữ kiện không thể sai lầm trong Thánh Kinh, Tổng Giám Mục James Ussher ở Ái Nhĩ Lan (Ireland) đã tính rất kỹ và xác quyết rằng Thần Ki Tô đã sáng tạo ra vũ trụ muôn loài này vào tối ngày thứ Bảy, 22 tháng 10, năm 4004 Trước Thường  Lịch (TTL) (Archbishop James Ussher...concluded that God had made heaven and earth on the evening of Saturday, October 22, 4004 B.C.), nghĩa là cách đây khoảng hơn 6000 năm.  Chỉ có điều, từ nhiều thế kỷ, con người đã biết quả đất tròn, và không phải là mặt trời quay xung quanh trái đất mà chính là trái đất quay xung quanh mặt trời.  Ngoài ra, khoa học ngày nay đã xác định tuổi của trái đất là vào khoảng từ 4 tỷ rưỡi đến 5 tỷ năm, và loài người đã có mặt trên địa cầu cả vài triệu năm, hình thành theo định luật tiến hóa.  Do đó, cái vũ trụ muôn loài của Ki Tô Giáo là cái vũ trụ phản ánh trình độ hiểu biết của những người viết Cựu Ước cách đây khoảng 3000 năm.  Trình độ này như thế nào so với kiến thức của con người hiện nay?  Cả thế giới đều đã rõ, trừ những tín đồ thuộc loại "bà lão công giáo nhà quê" như  Linh mục Thiện Cẩm.

   Quyền chọn lựa là quyền tự do của con người.  Chúng ta có thể chấp nhận những sự kiện khoa học về tuổi của trái đất, hoặc chúng ta có thể tin Thiên Chúa đã tạo ra trái đất,  dù rằng ngày nay chúng ta có 100% bằng chứng là trái đất đã hình thành cách đây hơn 4 tỷ năm, và 0% bằng chứng về một trái đất có tuổi từ   6 tới 10000 năm.  Một cuộc thăm dò ý kiến của viện Gallup năm 1993 cho biết, 45% dân Mỹ tin ở thuyết Sáng Tạo, nghĩa là Thiên Chúa sáng tạo ra thế giới này cách đây mới có từ 6 tới 10000 năm.   Chẳng cần phải nói chúng ta cũng biết số dân này thuộc những thành phần nào trong xã hội.  Điều này không có nghĩa là chúng ta đối diện với 45% thuyết Sáng Tạo đúng, và 55% khoa học đúng.  Không, như trên đã nói, chúng ta đối diện với 100% đúng cho khoa học và 0% cho Sáng Tạo, nếu chúng ta xét đến tổng hợp những kết quả nghiên cứu, đo lường trong vũ trụ học, địa chất học, hóa học, vật lý học, cổ sinh vật học, sinh học đưa đến việc xác định tuổi của trái đất. 100% là kết quả của lý trí, và 0% là sản phẩm của đức tin.  Thật là thú vị khi chúng ta so sánh hai con số trên: nếu chúng ta biểu diễn tuổi thực của trái đất, thí dụ 4 tỷ rưỡi năm, bằng một đoạn giây dài 150 thước (m), thì tuổi của trái đất trong Thánh Kinh, 10000 năm, chỉ mỏng bằng một tờ giấy.  Trong đức tin, phạm vi hiểu biết chỉ bằng bề dày của một tờ giấy; ngoài đức tin, kiến thức con người trải dài 150 m.

Ghi Chú: Chương “Bí Tích Công Giáo” đã được đưa lên trang nhà Giao Điểm trước đây.