08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes) Nghiên cứu & đối thoại tháng 11 quý bốn năm 2003 whiteball.gif (923 bytes)
KINH TIN KÍNH CÔNG GIÁO
(tiếp theo 2)

Trần Chung Ngọc

   Đối với giới trí thức, Giáo Hoàng Gion Pôn Hai đã chính thức công nhận thuyết Big Bang, nguồn gốc của vũ trụ, và thuyết tiến hóa, nguồn gốc của loài người, nghĩa là chôn vùi thuyết sáng tạo trong đáy hầm Thần học của Vatican.  Nhưng đối với quần chúng tín đồ thấp kém, giáo hội vẫn duy trì thuyết sáng tạo.  Tại sao? Vì toàn bộ tín ngưỡng Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo nói riêng được xây dựng trên huyền thoại sáng tạo, huyền thoại sa ngã của Adam và Eve tạo thành tội tổ tông, và vai trò chuộc tội và cứu rỗi của Giê su.  Nếu tuyên bố thuyết sáng tạo vô nghĩa thì cả một hệ thống tín ngưỡng Ki Tô phải sụp đổ.  Không có giáo hội Ki Tô nào muốn như vậy cho nên vẫn cố gắng duy trì sự tối tăm trí thức của quần chúng tín đồ thấp kém được chừng nào hay chừng đó.

   Thật vậy, trong cuốn Những chuyện Hư Cấu Trong Thánh Kinh, G. W. Foote đã đưa ra một nhận xét:

   Trong mọi quốc gia theo Ki Tô Giáo, quần chúng được dạy từ khi còn là trẻ thơ, rằng Thần Ki Tô đã tạo dựng nên vũ trụ trong 6 ngày rồi nghỉ ngày thứ bảy.  Tuy vậy, mọi sinh viên đều rõ là điều này hiển nhiên sai lầm, mọi  khoa học gia đều coi điều này là vô nghĩa, và giới giáo sĩ có học cũng bắt đầu diễn giảng điều này khác đi.  Nhưng họ phải duy trì chuyện sáng tạo trong một nghĩa này hay nghĩa khác, vì hai lý do rất quan trọng.  Thứ nhất, thuyết sáng tạo đứng ngay ở ngưỡng cửa của Thánh Kinh, và nếu thuyết này chỉ là một chuyện giả tưởng thì nó sẽ không tránh được sự bác bỏ mọi điều sau đó trong Thánh Kinh.   Thứ nhì, chuyện  sáng tạo dính liền với chuyện con người sa ngã trong Thánh Kinh.  Cả hai chuyện cùng sống hay cùng chết với nhau.  Nếu chuyện con người sa ngã được coi như là một huyền thoại (như ông Đỗ Mạnh Tri đã khẳng định trong cuốn Ngón Tay và Mặt Trăng. TCN), thì Ki Tô Giáo sẽ trở thành cái gì?  Kế hoạch cứu rỗi của Ki Tô Giáo không thể hiểu được nếu không dựa trên tiền đề là con người sa ngã.  Không có sự sa ngã, và sự hiện thân của Chúa,   chuyện Chúa bị đóng đinh trên thập giá, và chuyện Chúa sống lại là những quan niệm sai lầm vĩ đại.

   Như chúng tôi sẽ trình bày sau đây, chuyện sáng tạo thật là không rõ ràng, tự mâu thuẫn và vô nghĩa.11

   Trong một đoạn trước, tôi đã viết về quan niệm "trời" của những tín đồ Ca-Tô, một quan niệm của những người không hiểu gì hết về sự sinh ra và cấu trúc của vũ trụ mà chúng ta biết ngày nay.   Ngay cả Thánh Augustine, một bộ óc được coi là sáng giá nhất của Ca-Tô giáo, cũng không quan niệm nổi một trái đất có dạng của một quả cầu.  Chúng ta cũng nên nhớ rằng bản Kinh Tin Kính này được viết ra từ khoảng năm 150, khi đó trí tuệ của những người viết bản Kinh Tin Kính này còn thuộc loại man khai.  Cũng vì vậy mà bàn về câu "..dựng nên trời đất" trong Kinh Tín Kính, Giám mục John Shelby Spong đã đặt vấn đề như sau:

   Trời là cái gì?  Đâu là trời?  Điều rõ ràng là trong cái thế giới cổ xưa này, trời mà Thần Ki Tô dựng nên được nghĩ là nơi ăn chốn ở của Thần, và nó ở trên quá vòm trời.  Nhưng chúng ta trong thế hệ này biết rõ rằng vòm trời không phải là mái của thế giới mà cũng chẳng phải sàn nhà của cõi trời.  Vậy chúng ta muốn nói gì khi chúng ta khẳng định là Thần Ki Tô toàn năng toàn trí đã dựng nên trời? Phải chăng chúng ta muốn nói đến một vũ trụ vô biên mà trong thời Thánh Kinh được viết ra, không một người nào hiểu gì về cái vũ trụ đó như thế nào? 12

   Với trình độ hiểu biết của con người hiện đại, câu "..dựng nên trời đất" trong Kinh Tin Kính đã trở thành cái hí trường (Colosseum) khi xưa của thành Rô-Ma, chỉ còn lại vài cột chống siêu vẹo và những đống gạch ngổn ngang, để cho du khách thấy rõ sự tàn lụi của đế quốc Rô-Ma, cũng như sự suy sụp của nền Thần học Ki Tô Giáo trong thời đại của lý trí và khoa học.

   Chúng ta hãy đọc tiếp Kinh Tin Kính:

   "Tôi Tin Kính Đức Chúa Giêsu Là Con Một Đức Chúa Cha Cũng Là Chúa Chúng Tôi, Bởi Phép Đức Chúa Thánh Thần Mà Người Xuống Thai, Sinh Bởi Bà Maria Đồng trinh" 

    Phần đầu của câu trên: "Tôi tin kính Đức Chúa Giê-su Ki-Tô" ít ra cũng gần với thực tế hơn là tin vào một vị Thần toàn năng, sáng tạo ra vũ trụ muôn loài.  Vì chúng ta có thể chấp nhận sự hiện hữu của Giê-su như là một nhân vật lịch sử, đã sống tại một địa phương và trong một giai đoạn lịch sử mà chúng ta có thể kiểm chứng.  Tuy có nhiều thuyết đặt vấn đề về sự hiện hữu thực sự của Giê-su, nhưng ngày nay, hầu hết các học giả nghiên cứu về Ki Tô Giáo đều chấp nhận sự kiện Giê-su là một nhân vật lịch sử có thật.  Tuy nhiên, hầu như không có mấy người chấp nhận những huyền thoại về Giê-su được viết trong các Phúc Âm.  Tôi sẽ lần lượt phân tích những huyền thoại này qua Kinh Tin Kính.  Nhưng trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu chút ít về nhân vật Giê-su trong Ki Tô Giáo.

   Các tín đồ Ca-Tô nói riêng, Ki Tô nói chung, đều tin và chấp nhận rằng Giê-su là Chúa của họ và là hiện thân của Thần Ki Tô.  Điều này thể hiện trong câu "..là con một Đức Chúa Cha và cũng là Chúa chúng tôi" trong Kinh Tin Kính.  Niềm tin này được cấy vào đầu óc tín đồ ngay từ khi còn nhỏ, khi thân xác và trí tuệ chưa phát triển, cho nên khi lớn lên họ khó có thể thay đổi được niềm tin này.  Vì lối giáo dục đặc biệt của Ca-Tô giáo, trong gia đình cũng như trong nhà thờ, đặt nặng vấn đề tin và tuân phục, nên các tín đồ thường ít có khả năng suy nghĩ và thường chỉ biết những gì họ được nghe các Linh mục giảng trong nhà thờ.   Họ được nhồi vào đầu ý tưởng là bất cứ cái gì trái với những điều "giáo hội dạy rằng" đều là do những người ganh ghét chống cái đạo thiên khải cao quý của họ.  Ở ngoài đời, họ có thể theo kịp kiến thức của bất cứ bộ môn nào trừ những kiến thức thực sự về tôn giáo của họ.  Cho nên, Linh mục Ernie Bringas đã cho rằng, về phương diện tôn giáo, đầu óc của họ có một khuyết tật "lỗi thời" (an astrolabe mind).  Astrolabe nguyên là một dụng cụ định hướng cho tàu bè cho tới thế kỷ 17.  Từ thế kỷ 18, với sự phát triển của kỹ thuật mới, dụng cụ này đã được xếp vào bảo tàng viện vì thiếu chính xác và đã trở thành lỗi thời.  Linh mục Bringas dùng từ này để mô tả đầu óc của những tín đồ Ki Tô vẫn giữ những niềm tin sai trái và lỗi thời trong Ki Tô Giáo, bất kể đến sự tiến bộ trí thức của nhân loại trong những thế kỷ gần đây.  Tôi dịch thoát là khuyết tật vì nó đúng là một cái tật mà đa số tín đồ Gia Tô mang trong đầu từ khi còn nằm trong nôi, cái tật không chấp nhận bất cứ điều nào không hợp với đức tin của họ, bất kể là những khám phá mới về tôn giáo của họ trong ánh sáng của phương pháp phân tích hiện đại, của lý trí và khoa học, đã chứng tỏ rằng đức tin của họ không đặt trên những căn bản có tính cách thuyết phục dựa trên sự thực.  Sự hiểu biết của họ về Giê-su thật là nghèo nàn, không thay đổi suốt 2000 năm nay, dù nhân loại đã tiến bộ rất nhiều, nhất là về những kiến thức về chính nhân vật Giê-su.

   Thật vậy, trong cuốn Ai Là Giê-su?, học giả Ki Tô Colin Cross viết như sau trong phần dẫn nhập:

   Nhìn từ xa và xét về toàn thể, Giê-su ở Nazareth   có vẻ như là một nhân vật lịch sử hiển nhiên.  Nhưng khảo xát kỹ về bất cứ chi tiết nào cũng làm cho hình ảnh này mờ nhòa.  Lý do về sự bất minh này thật là hết sức đơn giản.  Đó là chúng ta không có bất cứ một tài liệu nào, thuộc bất cứ lãnh vực nào, về phần lớn cuộc đời của ông.   Ông ta không viết một cuốn sách nào.  Ngay cả hình dáng của ông ra sao cũng không ai biết.  Không có ngay cả một bằng chứng nào tự nó có giá trị để chứng tỏ là ông đã hiện hữu.  Những tài liệu hiện hữu, những phúc âm, chỉ viết về một phần nhỏ nhoi của đời ông và được viết theo quan điểm sùng bái cá nhân và nghi thức tôn giáo chứ không phải theo quan điểm sử học thông thường.  Trong những chuyện kể trong phúc âm có những điều bất phù hợp nghiêm trọng cũng như những điều rõ ràng là không thể xảy ra. 13

   Và Linh Mục Ernie Bringas cũng viết như sau, trong cuốn Thi Hành Đúng Như Trong Sách: Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Do Quyền Lực Thánh Kinh Gây Nên:

   Điểm đồng thuận ngày nay là nhân vật lịch sử Giê-su - những lời Giê su nói và những hành động Giê-su làm, và những biến cố xảy ra trong cuộc đời của ông - không thể xác định được chính xác.   Trong khi chúng ta biết tác giả của một phúc âm nhìn nhân vật Giêsu như thế nào như họ đã viết lại (và viết lại như thế nào), thường là chúng ta không thể đi quá những điều viết trong phúc âm để biết về chính con người thực của Giê-su.  Chúng ta không thể đoan quyết là những lời nào viết trong phúc âm về cuộc đời của Giê-su là đúng như sự thực.14

   Trên đây chỉ là những nhận định tổng quát về lý lịch mập mờ của Giêsu.  Đi vào chi tiết và dựa trên Thánh Kinh, chúng ta còn thấy rõ ràng là không có một căn bản nào có tính cách thuyết phục để cho những người có đầu óc có thể tin vào nhân vật Giê su vì trong Thánh Kinh có quá nhiều điều mâu thuẫn về con người lịch sử Giê su.  Những chi tiết về một phần nhỏ, khoảng 1/10 cuộc đời của Giê-su được mô tả trong bốn Phúc Âm Matthew, Mark, Luke, và John. Nhưng chính những chi tiết này: khi sinh ra đời, gia phả, thời gian gần 3 năm đi giảng đạo, khi chết, đều hoàn toàn mâu thuẫn nhau.  Cho nên, chúng ta không thể dựa vào đâu để tin chi tiết nào thật, chi tiết nào giả.  Chúng ta hãy đọc một phần nhỏ sự phân tích sau đây của Thomas Paine trong cuốn Thời Đại Lý Trí (The Age of Reason), một cuốn sách đã giữ một địa vị cao trong nền văn học Tây phương từ thế kỷ 19 đến nay, về nhân vật Giê-su:

   Lịch sử Giêsu KiTô được viết trong 4 cuốn mà người ta cho là Matthew, Mark, Luke, và John viết. Chương đầu trong Matthew bắt đầu bằng gia hệ của Giêsu KiTô, và trong chương 3 của Luke cũng có gia hệ của Giêsu KiTô.  Nếu 2 gia hệ này phù hợp nhau, chúng cũng không chứng minh được là đúng vì đó có thể là một gia hệ đã được đặt ra; nhưng vì chúng mâu thuẫn nhau về từng chi tiết một, điều này chứng tỏ một cách tuyệt đối là chúng đều là giả.

   Nếu Matthew đúng thì Luke phải sai; nếu Luke đúng thì Matthew phải sai; và vì không thể dựa vào đâu để tin ai đúng hơn ai, cho nên không dựa vào đâu để mà tin ai; và nếu chúng ta không thể tin được điều đầu tiên mà họ đưa ra, làm sao chúng ta có thể tin được những điều họ nói về sau?  Nếu chúng ta không thể tin họ về gia hệ của Giêsu mà họ đưa ra, làm sao chúng ta có thể tin được khi họ nói với chúng ta những điều kỳ lạ như Giê su là con của Thần sinh ra bởi một hồn ma, và một thiên thần đã bí mật loan báo sự này cho mẹ của Giêsu? 15

   Lý lịch không rõ ràng của Giê-su, do đó, là một lợi điểm để cho Giáo hội khai thác và mê hoặc những tín đồ đầu óc thấp kém, vì Giáo hội muốn giải thích thế nào cũng được, đặt ra chuyện nào cũng xong, và với phương pháp nhồi sọ tín đồ ngay từ trong sữa mẹ, uốn nắn đầu óc để cho tín đồ tuân phục hệ thống quyền lực trong Giáo hội, tín đồ trở thành những người bị điều kiện hóa, không còn khả năng suy luận, chỉ còn biết tin theo một cách mù quáng đi đến độ cuồng tín, không hề thắc mắc.  Họ đáng thương hơn là đáng trách.

   Những tín đồ này bị nhồi vào đầu những huyền thoại về tội tổ tông, về tư cách thần thánh của Giê-su, về khả năng "cứu rỗi" của Giê-su, do đó tin rằng con người sinh ra là có tội, cần sự "chuộc tội" và "cứu rỗi" của Giê-su, và tin vào những lời hứa hẹn về một đời sau tốt đẹp hơn ở trên thiên đường, dù rằng từ xưa tới nay chưa có ai từ thế giới bên kia trở về để cho thế gian biết thực chất của sự cứu rỗi đó như thế nào, vì sự cứu rỗi này chỉ xảy ra, nếu có, sau khi chết.   Giê-su là một người Do Thái đãỵ chết như mọi người, nhưng được vài tín đồ sùng bái, đơn phương khẳng định ông là con một của Thần Ki Tô, đã chết đi như mọi người nhưng rồi sống lại và bay lên trời, sẽ trở lại trần gian để phán xét mọi người, sống cũng như chết, và những ai tin vào ông sẽ được ông "cứu rỗi", cho lên Thiên đường ở cùng ông v..v.., một huyền thoại được kể lại với nhiều chi tiết mâu thuẫn khác nhau bởi những người viết Tân Ước, và lẽ dĩ nhiên chưa ai có thể kiểm chứng được sự "cứu rỗi" này  suốt trong 2000 năm lịch sử của Ki Tô Giáo.  Trái lại, ngày nay các chuyên gia nghiên cứu tôn giáo và cổ sử trong và ngoài giáo hội đã bác bỏ hoàn toàn những huyền thoại về Giê-su kể trên, như sẽ được trình bày trong những phần phân tích sau đây.

   Điều đáng nói nhất là các tín đồ Ca-Tô được nhồi sọ từ nhỏ để tin vào Giê-su, người mà họ coi là Chúa "phép tắc vô cùng", là "tình yêu", là "ơn cứu rỗi" v..v.. trong khi họ không hề biết gì về Chúa.  Họ không hề đọc Thánh Kinh nên không biết rằng, tất cả những điều họ biết về Giêsu chỉ là những điều họ được cha mẹ, trước đã bị nhồi sọ nay lại nhồi sọ lại cho con cái, hoặc do các Linh mục giảng trong nhà thờ, phần lớn là những điều chọn lọc một chiều trong Thánh Kinh mà bỏ qua những điều phản ánh tư cách và hành động thấp kém, ác độc của Giê-su. 

   Thật vậy, Giám mục Spong, trong cuốn Hãy Cứu Cuốn Thánh Kinh Ra Khỏi Phái Bảo Thủ, viết rằng:

   Có những đoạn trong bốn Phúc Âm mô tả Giê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả.16

   Phải chăng Giám mục Spong viết sai sự thực?  Không đâu.  Đọc Tân Ước, chúng ta thấy những lời nói và hành động của Giê-su còn tệ hơn là của một người thường. Chứng minh?

   Trong "Bài Giảng Trên Núi" (Sermont on the Mount), bài giảng mà các tín đồ Ca-Tô thường coi là tuyệt vời, Giê-su dạy môn đồ "phải yêu kẻ thù và cầu nguyện cho người khủng bố hành hạ các con" (Matthew 5: 44), nhưng chính Giê-su thì lại hành động ngược lại:

  Giê-su phán, Matthew 12: 30:

        Kẻ nào không theo ta, ở với ta, là chống đối ta.

coi những người không tuân phục Giê-su là kẻ thù và dạy môn đồ, Luke 19:27 :

   Hãy mang những kẻ thù của Ta ra đây, những người không muốn Ta ngự trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt Ta.

   Giê-su dạy: "Người nào nguyền rủa anh em sẽ bị lửa địa ngục hình phạt" (Matthew 5:22) nhưng chính Giê-su lại đi nguyền rủa những người không chịu theo Giê-su:

   Luke 8: 24: Nếu ngươi không tin ta là con Thượng Đế, ngươi sẽ chết trong tội lỗi của ngươi.

   Matthew 12: 34: Ôi thế hệ của những loài rắn độc, ác như các ngươi làm sao có thể nói những lời tốt lành?

   Matthew 23: 33: Ngươi là loài rắn, ngươi là thế hệ của những rắn độc, làm sao các ngươi thoát khỏi hỏa ngục?

   Tuyệt đối tin vào Thánh Kinh, Giáo hội Ca-Tô đã gây nên 9 cuộc Thánh Chiến, kéo dài những Tòa Hình Án (Inquisition) trong 400 năm, bách hại dân Do Thái trong suốt 2000 năm, làm tiền phong, đồng hành, hay theo gót thực dân v...v... nhằm tiêu diệt những người không tin Giê-su, không muốn theo đạo Chúa, với kết quả là cả trăm triệu sinh mạng vô tội đã được Giáo hội, nhân danh tình yêu của Chúa, nhân danh chương trình "cứu rỗi" của Chúa, tra tấn, tù đầy và giết chóc.

   Nhưng không phải chỉ có vậy.  Chúng ta còn thấy trong Thánh Kinh những lời nói, hành động của Chúa Con chứng tỏ một tâm địa hẹp hòi, độc ác, chứa đầy hận thù đối với ngay cả chính gia đình mình.  Chứng minh?  Chúng ta hãy trích dẫn vài đoạn khác trong Thánh Kinh.  Trước hết, Giê-su đối với cha mẹ ra sao?

   Chúng ta thấy trong John 2: 4, Jesus trả lời mẹ khi bà nói với Jesus là rượu đã hết trong một tiệc cưới: 

         Người đàn bà kia, sự quan tâm của bà có liên quan gì tới Ta?  Chưa đến lúc Ta trổ tài. 

   Tài gì?   Tài biến nước thành rượu.   Đây có phải là lời lẽ của một người con hiếu kính cha mẹ?  Và khi một đệ tử của Jesus nói, Matthew 8: 21-22:

   Xin để con đi chôn cất cha con xong con sẽ đi theo Ngài" Jesus trả lời: "Hãy đi theo ta ngay, hãy để cho người chết (người không đi theo Giêsu. TCN) lo mai táng người chết của họ.

   Phải chăng đây là sự khuyến khích lòng hiếu kính đối với cha mẹ?

   Mục đích của Giê-su sinh ra trên thế gian là gì, Matthew 10: 34-36 đã viết rõ:

   Đừng tưởng rằng Ta xuống trần để mang lại hòa bình trên trái đất.  Ta không xuống đây để mang lại hòa bình mà là gươm giáo.  Vì Ta xuống đây để làm cho con chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng, và kẻ thù của con người ở ngay trong nhà hắn.

   Sau đây là điều kiện Jesus đặt ra cho những người nào muốn làm môn đồ của ông, Luke 14: 26:

   Nếu kẻ nào đến với ta mà không "căm ghét" cha mẹ, vợ con, anh chị em, và ngay cả đời sống của hắn, thì hắn không thể là môn đồ của ta.

   Theo Gene Kasmar trong cuốn All The Obscenities in the Bible, p. 359, thì chữ "căm ghét" là dịch từ tiếng Hi Lạp (Thánh Kinh gốc viết bằng tiếng Hi Lạp)  "miseo", có nghĩa là ghét tởm và khinh khi.

     Trên đây tôi vừa trích dẫn vài lời nói của Giê-su, những lời nói phản ánh một bộ mặt khác của Giê-su mà các tín đồ thường không bao giờ biết đến.  Sau đây là vài hành động của Giê-su cũng phản ánh "tình yêu" thực sự của Giê-su đối với đồng loại, súc vật và cây cỏ.

   Chúng ta biết rằng, trong Matthew 15:26 và Mark 7: 25-29, khi một người đàn bà không phải là người Do Thái đến xin Giê-su chữa bệnh cho con gái thì Giê-su đã từ chối, nói rằng ông ta xuống trần chỉ để cứu người Do Thái mà thôi, và còn gọi người đàn bà kia là chó.   Sau người đàn bà chấp nhận thân phận mình là chó để chứng tỏ lòng tin vào Giê-su nên Giê-su mới chữa cho con gái bà khỏi bệnh.  Đó là tình yêu của Chúa đối với đồng loại.

   Từ chuyện này tôi nghĩ, người nào không phải là dân Do Thái muốn tìm sự cứu rỗi trong Chúa Giê-su xin cứ tùy tiện, tôi tuyệt đối tôn trọng niềm tin của họ, nhưng trước hết họ phải từ bỏ thân phận làm người của mình rồi hãy tính chuyện cứu rỗi.

   Chúng ta cũng đã biết, trong Matthew: 8: 32, Mark 5: 13, Giê-su đã đuổi quỷ từ trong hai người bị quỷ ám, cho chúng nhập vào 2000 con heo rồi bắt đàn heo rông xuống biển chết đuối hết.  Đó là tình yêu của Chúa đối với đàn súc vật vô tội.

   Và chúng ta cũng biết,  trong Matthew: 21: 18,19, hôm đó Giê-su đang đói, nhìn đàng xa thấy một cây sung, nhưng tới gần chẳng thấy có quả nào, Giê-su bèn nổi sùng rủa một tiếng, thế là cây sung chết héo queo, không bao giờ có thể ra trái nữa.  Đó là tình yêu của Chúa đối với cây cỏ.  Điểm đáng nói trong chuyện này là:  Giê-su có tài biến nước thành rượu, biến một ổ bánh mì thành trăm ổ bánh mì, vậy làm sao ông ta có thể đói được.   Hơn nữa, ông ta “phép tắc vô cùng” nhưng lại không thể làm cho cây sung ra trái lúc trái mùa để cho mình ăn lúc đói, rồi phải trổ tài làm "phép lạ" nguyền rủa cho cây sung chết héo không bao giờ ra quả được nữa.

   Lẽ dĩ nhiên, những mâu thuẫn trong lời nói và hành động của Giê-su như vừa nêu ở trên không bao giờ được giảng dạy trong nhà thờ.

   Quyền tự do tín ngưỡng là quyền của mọi người.  Ai muốn tin vào một Giê-su nhân từ, có khả năng cứu rỗi những người tin ở sự cứu rỗi, thì cứ việc tin.  Tôi tuyệt đối không ngăn cản.  Nhưng đối với tôi, từ những điều tôi đọc được trong Tân Ước về tư cách và đạo đức của Giê-su, thì Giê-su không đáng để tôi kính trọng, đừng nói là thờ phụng.   Đừng có cho là tôi phỉ báng Chúa.  Chính Tân Ước đã phỉ báng Chúa.  Và, không phải vì tôi là người không theo đạo Chúa mới có ý kiến như trên.  Chính Giám mục Spong cũng đã có những ý kiến tương tự (Ibid., trg. 21,24):

   Chúng ta có thấy hấp dẫn đối với một Chúa phải giết cả một bày heo để đuổi một con quỷ ra khỏi thân người hay không?  Chúng ta có nên khâm phục và kính trọng người mà chúng ta gọi là Chúa đã nguyền rủa một cây sung khi nó không ra trái lúc trái mùa không?...

    Cuốn Thánh Kinh đã làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị.  Nó đưa đến cho tôi một vị Thần mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng.17

    Các tín đồ ngày ngày đọc Kinh Tin Kính, tin rằng Giê-su Ki Tô là con một Đức Chúa Cha.  Như vậy thì họ là gì của Đức Chúa Cha, là những đồ chơi của Đức Chúa Cha?   Và tại sao họ thường cầu nguyện một câu hoàn toàn vô nghĩa: "Lạy Cha chúng tôi ở trên Trời", vô nghĩa vì Chúa Cha chỉ có một con là Giêsu.  Vậy họ lấy tư cách gì để mà gọi Chúa Cha là Cha?  Rồi giáo hội dạy họ phải gọi các Linh Mục là Cha, coi Cha cũng như Chúa, nhưng thực ra Chúa chẳng phải là Cha của họ, chỉ là Cha của Giê-su mà thôi, cho nên khi họ gọi các Linh Mục là Cha thì đó là gọi bừa, vì Cha đâu phải là Cha, chẳng qua chỉ là người học vài năm làm nghề Linh Mục để chăn dắt đám tín đồ thấp kém, nhắc lại cho họ những điều "giáo hội dạy rằng", và cả Cha lẫn con đều không thấy sự mâu thuẫn trong câu "là con một Đức Chúa Cha" trong Kinh Tin Kính.

   ...Bởi Phép Đức Chúa Thánh Thần Mà Người Xuống Thai, Sinh Bởi Bà Maria Đồng trinh...

    Câu trên tóm tắt huyền thoại về sự sinh ra đời của Giê-su, chủ ý muốn chứng minh tư cách thần thánh của Giê-su.  Nhưng Thánh Kinh lại viết rõ rằng, Giê-su có nhiều anh chị em.  Điều này có nghĩa là bà Mary, thân mẫu của Giê-su, đã sinh nở nhiều lần.

   Không đếm xỉa gì tới Thánh Kinh, Giáo hội Gia Tô quyết định rằng: bà Mary vẫn còn đồng trinh.  Theo như lời dạy của Giáo hội cho đám tín đồ thấp kém,  Giáo hội Gia Tô được Thánh Linh hướng dẫn trong mọi sự việc nên không thể sai lầm.  Do đó, các tín đồ, nhất là đa số tín đồ Việt Nam, vì không bao giờ đọc Thánh Kinh và thường bị nhốt trong những ốc đảo ngu dốt (từ của LM Trần Tam Tĩnh), nên tuyệt đối tin rằng bà Mary vẫn còn đồng trinh.  Lý trí có thể dùng được gì trong đức tin này?  Vì nếu con người sử dụng đến lý trí thì câu hỏi đầu tiên được đặt ra là: làm sao mà một người đàn bà, sau khi đã sinh đẻ nhiều lần, vẫn còn đồng trinh?  Từ “Mẹ đồng trinh” (Virgin Mother) là một từ đầy mâu thuẫn đối với thế giới hiện đại.

   Vậy tín lý "đồng trinh" đưa ra chỉ để thần thánh hóa một người đàn bà ngẫu nhiên làm mẹ của Chúa Giê-su và nhốt tín đồ vào vòng mê tín. Chưa kể là cái huyền thoại "đồng trinh" này đã được cóp nhặt từ nhiều huyền thoại "đồng trinh" khác trong dân gian như các chuyên gia nghiên cứu Thánh Kinh đã chứng minh.  Thật vậy, muốn chứng tỏ sự hoang đường của thuyết Giê-su là con Thiên Chúa, sinh ra từ Mary đồng trinh, chúng ta cần phải biết chút ít về lịch sử  nhân loại và Tân Ước. 

   Trong lịch sử nhân loại đã có nhiều nhân vật được coi là sinh ra từ một trinh nữ, Giê-su không phải là nhân vật đầu tiên.  Chúng ta có thể kể: Horus, một vị Thần Ai Cập, sinh ra từ trinh nữ Isis vào khoảng 1550 TTL; Attis sinh ra từ trinh nữ Nama ở miền Phrygia, vào khoảng 200 TTL; Quirrnus, một đấng cứu thế của dân La Mã, sinh ra từ một trinh nữ khoảng thế kỷ 6 TTL; Adonis, một vị Thần của dân Babylone, sinh ra từ trinh nữ Ishtar; Mithra, một vị Thần của dân Ba Tư, sinh ra từ một trinh nữ khoảng 600 TTL; Krishna, một vị Thần Ấn độ, sinh ra từ trinh nữ Devaki, vào khoảng 1200 TTL v...v... Như vậy, huyền thoại Giê-su sinh ra từ Mary đồng trinh cũng chẳng có gì đặc biệt,  độc đáo, và đáng tin cậy hơn các huyền thoại "đồng trinh" khác.

   Trong Tân Ước, những thư của Thánh Paul (Phaolồ) được coi như là viết sớm nhất, vào khoảng từ 15 đến 20 năm sau khi Giê-su chết trên thập giá, coi Giê-su như là con đẻ của một Joseph và Mary (born of a woman).   Trong 4 Phúc Âm thì Phúc Âm Mark được coi là viết trước tiên và viết vào khoảng 20 năm sau Paul, nghĩa là 40 năm sau khi Giê-su chết, không hề viết gì về chuyện Giê-su sinh ra từ Mary đồng trinh.  Phúc Âm sau cùng, John, viết vào đầu thế kỷ 2,  cũng không viết gì về hiện tượng này.  Chỉ có hai Phúc Âm Matthew và Luke, viết sau Phúc Âm Mark cả vài chục năm, và 90% là cóp nhặt của Mark, là thêm thắt vào chuyện Giêsu sinh ra từ Maria đồng trinh.  Nhưng chuyện "giáng sinh" của Giêsu  trong hai Phúc Âm Matthew và Luke lại hoàn toàn khác nhau và chứa nhiều mâu thuẫn, sự kiện lịch sử sai lầm v..v.. nên người đọc chẳng biết tin ai vì không có căn bản nào để mà tin ai là đúng.

   Ngoài ra, giáo hội còn dạy đám tín đồ có đầu óc khuyết tật rằng: Giê-su là đấng cứu thế, thuộc dòng dõi vua David, theo như lời tiên tri trong Cựu Ước.  Và các tín đồ cứ nhắm mắt tin theo, không hề để tâm suy nghĩ để biết rằng, "sinh ra từ Mary đồng trinh" và "đấng cứu thế" là hai vai trò không thể cùng lúc diễn xuất trên sân khấu.

    Để chứng minh đầu óc của đa số tín đồ Ca-Tô thuộc loại khuyết tật, không có khả năng suy nghĩ, tôi xin trích dẫn đoạn sau đây của Đức Ông Trần Văn Khả trong cuốn "Trần Lục", nhiều tác giả, xuất bản tại Canada, năm 1996.  Đức Ông Trần Văn Khả viết về Giê-su như sau, trang 269:

   Trong Kinh cầu Thánh Giuse, chúng ta đọc như sau: "Ông Thánh Giuse là Cha Nuôi Con Đức Chúa Trời";

   Ngay sau đó Đức Ông viết: “Chúa Giêsu là dòng dõi Vua Đa-vít, mà Thánh Giuse là một thành phần (Matthew 1:16). “

   Đó là những lời "giáo hội dạy rằng", và Đức Ông nhắc lại mà không hề suy nghĩ.  Thật vậy, nếu Giuse chỉ là cha nuôi của Giê-su thì dù cho Giuse thuộc dòng dõi vua David, Giê-su cũng không thể nào thuộc dòng dõi vua David.  Vì sao?  Vì Giê-su là hoa trái của sự "xâm phạm tiết hạnh" của Thánh Ma vào Mary, một người đàn bà Do Thái đã có chồng là Joseph (Giu-se), nếu chúng ta tin được chuyện Thánh Linh có thể làm cho Mary mang thai.   Vì vậy, Giê-su mới được gọi là Con Thiên Chúa và Giu-se mới được coi như là cha nuôi của Giê-su.  Đã là Con Thiên Chúa thì không thể thuộc dòng dõi vua David, dù cha nuôi của Giê-su là Giu-se thuộc dòng dõi vua David.  Tôi có cảm tưởng rằng Đức Ông Trần Văn Khả cũng như các tín đồ Ca-Tô, được Giáo hội dạy sao thì cứ nhắc lại đúng như vậy mà không hề bận tâm suy nghĩ xem điều mình nói có hợp lý hay không.  Nhưng tại sao Giáo hội lại dạy Giê-su thuộc dòng dõi vua David?  Vì, như đã trình bày trong chương trên, theo niềm tin của dân Do Thái thời bấy giờ, thì một đấng Cứu Thế sẽ xuất hiện để giải phóng dân Do Thái ra khỏi ách thống trị của La Mã, và đấng Cứu Thế này bắt buộc phải thuộc dòng dõi Vua David, vì David là một ông Vua có công chiến thắng dân Canaan, mở mang nước Do Thái.  Do đó, vài người Do Thái theo Giêsu, viết Phúc Âm, vừa muốn chứng minh rằng Giêsu đích thực là đấng Cứu Thế nên phải thuộc dòng dõi vua David, vừa muốn "chứng minh" rằng Giêsu là Con Thiên Chúa nên mới đặt ra câu chuyện hoang đường là do Thánh Ma phủ nên Mary sinh ra Giê-su.  Nhưng trí tuệ của những người viết Phúc Âm vào thời đó chưa đủ trình độ để nhận ra tính loại trừ hỗ tương (mutual exclusive),  nghĩa là có cái này thì không thể có cái kia, về hai vai trò "Con Thiên Chúa" và "Thuộc dòng dõi vua David".  Khoan nói đến chuyện Matthew và Luke viết về gia phả Giê-su, từ vua David trở xuống, hoàn toàn khác nhau, với một đàng thì 28 thế hệ, đàng khác thì 42 thế hệ với tên khác nhau.  Vì thế, ngày nay thế giới mới cho rằng tiểu sử của Giê-su là một tiểu sử bất minh nhất trong những tiểu sử bất minh.

    Chuyện Giê-su sinh ra từ Mary đồng trinh đã là đề tài nghiên cứu của nhiều người, gồm đủ thành phần trí thức trong xã hội: linh mục, giám mục, nhà thần học, học giả, giáo sư đại học v...v...   Tuy nhiên, chẳng cần phải là những bậc trí thức chuyên gia như trên, chỉ cần đầu óc có đôi chút suy luận chúng ta cũng có thể thấy sự mâu thuẫn trong thuyết “Mary đồng trinh” nằm ngay trong Thánh Kinh.

   Trước hết, chúng ta hãy xem Thánh Kinh kể chuyện Giêsu sinh ra từ “Mary đồng trinh” ra sao.  Như trên đã nói, trong Tân Ước chỉ có hai Phúc Âm Matthew và Luke là nói về chuyện này, hai Phúc Âm này viết sau khi Giê-su chết từ 50 tới 70 năm.

   Phúc Âm Matthew (Mã-Thi) kể như sau, Matthew 1: 18-24, xin đặc biệt chú ý những đoạn chữ đậm:

   Sự sinh ra của Giê-su Ki Tô như sau: Sau khi mẹ Giê-su là Mary đính hôn với Joseph, trước khi họ giao hợp cùng nhau, người ta thấy bà có mang với Thánh Linh.

   Chồng nàng, Joseph, là người tốt bụng, và không muốn nàng bị nhục trước công chúng, định kín đáo từ hôn.

   Nhưng khi ông còn đang suy nghĩ về quyết định này, bỗng nhiên, một thiên sứ hiện ra trong một giấc mộng, nói rằng, “Joseph, con dòng David, đừng có sợ, cứ lấy Mary làm vợ, vì cái thai nàng mang trong bụng là của Thánh Linh.  Rồi nàng sẽ sinh ra một đứa con trai, ngươi hãy đặt tên cho nó là Giê-su, vì nó sẽ cứu dân của nohỏi tội lỗi.

   Việc xảy ra đúng như lời Thần Ki Tô tiên đoán qua nhà tiên tri:

   “Này, một trinh nữ sẽ mang thai, sinh hạ một con trai, và họ (they? Ai?)   sẽ đặt tên cho hắn là Immanuel”, có nghĩa là “Thần ở cùng ta”.

   Joseph tỉnh giậy, theo lệnh của thiên sứ, cưới Mary làm vợ, nhưng không giao hợp cùng vợ cho đến khi Mary sinh đứa con đầu lòng, đặt tên là Giê su.

   Chúng ta hãy phân tích đoạn trên trong Thánh Kinh.  Phân tích Thánh Kinh với đầu óc tỉnh táo, không mê mẩn, là một nghệ thuật, vì chúng ta có thể khám phá ra nhiều điều kỳ thú để mà thưởng thức. Đoạn trên thường được các linh mục viện dẫn và giảng trong nhà thờ là sự kiện Giê-su sinh ra đời phù hợp với lời tiên tri trong Cựu Ước, Isaiah 7: 14: “Cho nên, chính Thần sẽ cho ngươi một dấu hiệu: Này, một trinh nữ sẽ mang thai và sinh ra con trai, và đặt tên nó là Immanuel.” (Therefore the Lord Himself will give you a sign: Behold, the virgin shall conceive and bear a son, and shall call his name Immanuel.)  Nhưng đọc kỹ đoạn kinh trên, chúng ta thấy rõ ràng Mã-Thi (Matthew) đã xen lẫn thật với giả và để lộ nhiều sơ hở. 

   Thật vậy, thứ nhất, chuyện Joseph tốt bụng, không muốn làm lớn trước công chúng chuyện bụng Mary càng ngày càng to, và định kín đáo từ hôn không thể thực hiện được trong thời đó, theo luật của Do Thái.  Randel Helms viết trong cuốn Những Chuyện Giả tưởng Trong Phúc Âm (Gospel Fictions), trang 48:  “Có lẽ Matthew không biết là theo luật Do Thái, điều này (kín đáo từ hôn) không thể nào thực hiện được; việc từ hôn phải hợp pháp và công khai” (Matthew was perhaps unaware that this (the marriage contract set aside quietly) was not possible under Jewish law; the process had to be legal and public.)

   Thứ nhì, chuyện thiên sứ hiện ra trong giấc mộng của Joseph thì chỉ có mình Joseph biết, và Thánh Kinh không hề có chỗ nào viết là Joseph kể chuyện này cho ai.  Matthew viết phúc âm Matthew khoảng 60 năm sau khi Giê-su chết, có nghĩa là khoảng 90 năm sau khi Giê-su sinh ra đời.  Matthew không thể là một nhân chứng trong giấc mộng của Joseph.  Mặt khác, Matthew không phải là một tông đồ của Giê-su.  Kết luận?  Đây chỉ là một chuyện Matthew “bày đặt” ra với mục đích thần thánh hóa người mình sùng tín: Giê-su, theo niềm tin riêng của mình.  Nhưng chính cái chuyện bày đặt này lại chứng tỏ Matthew không được thông minh cho lắm, vì ông ta chỉ lấy ra cái đầu còn dấu đi cái đuôi.  Ông ta lấy một câu trong Cựu Ước, Isaiah 7: 14, để chứng minh rằng Giê-su sinh ra đúng như lời tiên tri trong Cựu Ước.  Ông ta biết rằng dân thường thời đó chẳng bao giờ đọc Cựu Ước, cũng như ngày nay, các linh mục lấy những đoạn trong Thánh Kinh, ngoài toàn bộ vấn đề (out of context), để giảng cho tín đồ vì biết tín đồ không bao giờ đọc Thánh Kinh.  Thật vậy, câu trong Isaiah 7:14, “Cho nên, chính Thần sẽ cho ngươi một dấu hiệu: Này, một trinh nữ sẽ mang thai và sinh ra con trai, và đặt tên nó là Immanuel.”  chẳng phải là lời tiên tri chuyện Giê-su ra đời mà là Isaiah nói ra trong một trường hợp khác hẳn.  Đây là trường hợp vua Ahaz của xứ Judah (Nam Do Thái) đang bị hai kẻ thù, Syria và Israel (Bắc Do Thái) tấn công.  Nhà “tiên tri” Isaiah của xứ Judah thời đó trấn an nhà vua bằng một lời “tiên tri”, rằng hai kẻ thù kia sẽ bị đánh bại.  Khi nào?  Lời “tiên tri” của Isaiah đã nói lên rõ ràng, Isaiah 7: 14-16:

  Cho nên, chính Thần sẽ cho ngươi một dấu hiệu: Này, một một người đàn bà trẻ sẽ mang thai và sinh ra con trai, và đặt tên nó là Immanuel.

   Đứa trẻ đó sẽ ăn bơ và mật cho đến khi biết bỏ điều ác chọn điều thiện.

   Nhưng trước khi đứa trẻ ấy biết bỏ điều ác, chọn điều thiện, thì đất nước của hai vua mà ngài đang sợ hãi sẽ bị hoang vu.

   Chúng ta thấy ngay  sự xảo quyệt của Matthew trong việc trích dẫn Cựu Ước trên với mục đích truyền bá niềm tin riêng của mình.  Truyền thống này kéo dài trong giáo hội Gia Tô cho tới ngày nay với những câu thêm thắt, ngụy tạo trong Tân Ước, cùng những lời diễn giảng cắt xén chọn lọc ngoài toàn bộ vấn đề.  Mặt khác, Isaiah thường được coi như là một nhà đại tiên tri trong Cựu Ước.  Nhưng thực ra, Isaiah chỉ “tiên tri” láo, vì lời “tiên tri” trong Isaiah 7: 14-16 ở trên hoàn toàn sai với sự thực nếu chúng ta đọc II Sử Ký 28 (2 Chronicles 28) kể chuyện Ahaz xứ Judah bị hai nước đánh bại thê thảm như sau:

   Ahaz được 20 tuổi khi lên ngôi, trị vì 16 năm tại Jerusalem..  Thần Ki Tô phó mặc Ahaz trong tay của vua Syria.  Quân đội Syria đánh bại Ahaz, bắt vô số tù binh giải về Damascus.   Thần Ki Tô cũng phó mặc Ahaz trong tay của vua Israel.  Quân đội Israel đánh bại Ahaz qua một cuộc tàn sát lớn.   Vì Pekah, con của Remaliah, đã giết  một trăm hai mươi ngàn (120000) người Judah trong một ngày, tuy họ đều là dũng sĩ.. Và quân đội Israel cũng bắt đi hai trăm ngàn (200000) tù binh gồm đàn bà, con trai, con gái, và cướp đi hầu hết của cải và mang về Samaria.

   Thứ ba, trong văn bản gốc Thánh Kinh bằng tiếng Do Thái, Isaiah nói trong Isaiah 7: 14 là “Này, một người đàn bà trẻ đang mang thai..” (a young woman is with child) chứ không phải là một trinh nữ sẽ mang thai.   Isaiah dùng chữ “almah”, có nghĩa là “người đàn bà trẻ” (young woman), có chồng hoặc chưa có chồng.   Còn trinh nữ, tiếng Do Thái là “betulah”.  Nếu Asaiah muốn nói đến một trinh nữ thì phải dùng chữ “betulah”.  Trong thời điểm mà người Do Thái càng ngày càng đông ở Hi Lạp, các dịch giả đã dịch chữ “almah” thành “parthenos” trong tiếng Hi Lạp.   Parthenos có nhiều nghĩa, và một trong những nghĩa này là trinh nữ.  Giáo hội đã dựa vào văn bản tiếng Hi Lạp, nhặt câu trên từ Cựu Ước ra và diễn giảng lệch lạc rằng đó là lời tiên tri về sự sinh ra của Giê-su tuy sự thực câu trên chẳng liên quan gì đến sự sinh ra của Giê-su, như tôi vừa chứng minh ở trên.

   Thứ tư, nếu chúng ta không dùng đến đầu óc, cứ giáo hội dạy sao thì tin vậy, và tin rằng thực sự nhà tiên tri Isaiah đã tiên đoán sự sinh ra của Giê-su từ một trinh nữ, thì tên của đứa trẻ phải là Immanuel chứ không phải là Jesus.

   Thứ năm, câu cuối nói lên một sự kiện rõ ràng nhất: “Joseph tỉnh giậy, theo lệnh của thiên sứ, cưới Mary làm vợ, nhưng không giao hợp cùng vợ cho đến khi Mary sinh đứa con đầu lòng, đặt tên là Giê su.”  Câu này hàm ý Giê-su chỉ là đứa con đầu lòng của Mary, Mary còn nhiều đứa con khác nữa.  Joseph chỉ không giao hợp với Mary cho đến khi Mary sinh ra Giê-su.  Sau đó thì Joseph tha hồ làm bổn phận người chồng.  Do đó, một đoạn khác trong Thánh Kinh mới kể rằng Giê-su có 4 người em trai và ít nhất là 2 em gái (Mark 6: 3: “Đây có phải là anh thợ mộc (Giê-su), con bà Mary, anh của James, Joses, Judas, và Simon?   Các em gái của hắn chẳng phải đang có mặt tại đây sao?” (Is this not the carpenter, the son of Mary, and brother of James, Joses, Judas, and Simon?  And are not his sisters here with us?). 

    Vậy mà Mary vẫn còn đồng trinh cho tới bây giờ, đầu thế kỷ 21.   Học thuật Gia Tô (Catholic scholarship) quả thật là tuyệt vời trong việc uốn nắn đầu óc tín đồ.   Nhưng đối với các học giả nghiên cứu Thánh Kinh và cổ sử thì câu “Đây có phải là anh thợ mộc, con bà Mary” lại nói lên một chuyện khác.  Theo truyền thống Do Thái thời bấy giờ thì dân chúng thường gọi một người còn trẻ là con ông này, con ông nọ, chứ không bao giờ gọi là con của bà này, bà nọ.  Gia hệ của Giê-su trong Matthew và Luke đều kể tên đàn ông qua nhiều đời.  Trường hợp gọi một người là con của bà này, bà nọ là để ám chỉ đứa con đó là đứa con hoang (bastard). 

   Thật vậy, trong tuần báo Time, tờ báo có uy tín và phát hành vào bậc nhất trên thế giới, số ngày 6 tháng 12, 1999, có bài viết của Reynolds Price, một học giả chuyên gia về Thánh Kinh (biblical scholar), về Giê-su ở Nazareth: Xưa và Nay (Jesus of Nazareth: Then and Now).  Tác giả viện dẫn Phúc Âm James và viết như sau:

   Chuyện người ta cho rằng Giê-su là đứa con hoang có lẽ uẩn hàm trong câu hỏi của dân làng trong Mark 6, “Đây có phải là con bà Mary không?”  Bị gọi là con của người mẹ, thay vì con của người cha, thường hàm ý đó là đứa con hoang, hay ít nhất là một dấu chỉ không biết cha là ai, bất kể người cha này là thần thánh hay là người thường.  Nhiều người chống đối thuyết đồng trinh thời đó cũng cho rằng Mary có mang Giê-su với một người lính La Mã tên là Panthera.  Chuyện sinh ra đời của Giê-su thật là mù mờ bởi những nghi vấn về người cha là ai.18

   Nhiều học giả cho rằng, rất có thể những chuyện Giêsu sinh ra từ một trinh nữ trong Matthew và Luke được tạo ra để che đậy những phê bình phân tích về Ki Tô Giáo trong thế kỷ đầu: Giê-su là một đứa con hoang của Mary.  Rải rác trong các Phúc Âm có những chi tiết chứng tỏ như vậy, nếu chúng ta biết đọc những bản văn này. Cũng vì vậy mà Giám Mục Spong, trong cuốn Sinh Ra Từ Một Người Đàn Bà: Một Giám Mục Nghĩ Lại Chuyện Giê-su Sinh Ra Đời, đã đưa ra nhận xét:

   Ông ta (Giê-su) không là ai cả, một đứa trẻ ở Nazareth, chẳng có gì tốt đẹp có thể rút tỉa ra từ sự sinh ra đời này.  Chẳng có ai biết cha ông ta là ai.  Rất có thể ông ta là một đứa con hoang.  Rải rác trong miền đất truyền thống Ki Tô lúc đầu (4 Phúc Âm), có những chi tiết chứng tỏ như vậy, giống như những trái mìn chưa kiếm ra và chưa nổ . 19

   Chúng ta nên để ý, trong cuốn Thánh Kinh, bản Mới Duyệt Lại dùng làm chuẩn (New Revised Standard Version of the Bible), từ “trinh nữ” (virgin) đã được bỏ đi và thay bằng từ “người đàn bà trẻ” (young woman) trong câu Isaiah 7: 14, để cho đúng với văn bản gốc bằng tiếng Do Thái.

   Luke 1: 26- 33 cũng thuật lại chuyện sinh ra của Giê-su như sau: 

   Qua tháng sáu, Thần Ki Tô sai thiên sứ Gabriel vào thành Nazareth, xứ Galilee, đến một trinh nữ đã hứa hôn với một người tên là Joseph, thuộc dòng dõi vua David. Tên người trinh nữ là Mary.

   Thiên sứ nói: “Hãy hoan hỉ lên, hỡi người được đặc ân, Chúa ở cùng nàng, phúc cho người đàn bà như nàng.”

   Nhưng khi Mary thấy thiên sứ, không hiểu thiên sứ nói gì, và những lời chúc tụng kia có nghĩa gì.

   Rồi thiên sứ nói với nàng, “Đừng sợ, Mary, vì Thần đã ban đặc ân cho nàng.  Và này, cô sẽ mang thai, và sinh ra một con trai và đặt tên nó là Giê-su.   Đứa trẻ đó sẽ thành vĩ nhân, và sẽ được gọi là con của đấng tối cao; và Thần sẽ cho hắn ngôi vị của David.  Hắn sẽ cai trị dân Do Thái (hậu duệ của Jacob) mãi mãi, và nước hắn cai trị sẽ bất diệt.

   Sau đó Luke viết một chuyện hoang đường nhất trong những chuyện hoang đường như sau:

   Mấy ngày sau (sau khi thiên sứ đến thăm), Mary vội vã lên đường, đến một thành phố miền đồi núi xứ Judah, vào nhà Zacharias thăm bà dì Elizabeth (khi đó Elizabeth đang có mang được 6 tháng. TCN).  Vừa nghe Mary chào, thai trong bụng Elizabeth liền nhảy mừng; và trong Elizabeth có đầy dẫy thánh linh.  Rồi bà ta nói lớn: “Phúc cho cô trong giới phụ nữ, và phúc cho cái thai trong lòng cô .  Nhưng tại sao tôi được ban cái vinh dự là có mẹ Chúa tôi đến thăm?  Thật vậy, vừa nghe tiếng cô chào hỏi là cái thai trong bụng tôi đã nhảy mừng.

      Để cho cuốn sách khỏi quá dài, tôi sẽ không phân tích những đoạn trên trong phúc âm Luke, xin để cho quý độc giả tùy nghi nhận định.  Chẳng biết là Thánh Linh đã làm cho bà Mary mang thai, hay là cái người giả làm thiên sứ Gabriel làm cho bà Mary mang thai.  Ngày nay, cũng có nhiều thiếu nữ nhẹ dạ, tin rằng ngủ với linh mục cũng như ngủ với Chúa, vì Chúa cũng như cha.  Những đứa con lai trong các vùng đi đạo ở Việt Nam (theo sự nhận xét của Phạm Duy), nơi đây chỉ có các linh mục, giám mục mũi lõ mắt xanh chứ không có lính Pháp, dưới thời Pháp thuộc, đã nói lên sự kiện này.  TV Mỹ cũng đưa ra nhiều trường hợp các con chiên kiện các linh mục về tội dụ dỗ theo luận điệu này.  Mặt khác, thiên sứ mới báo tin có vài ngày mà Elizabeth đã biết là Mary mang Chúa trong người, và cả cái thai mới được 6 tháng trong Elizabeth cũng biết, nên vội nhảy mừng.   Chúng ta nên nhớ, thời đó chưa có điện thoại mà cũng chưa có điện thư (E-mail) nên Mary không thể kể cho Elizabeth nghe chuyện thiên sứ đến thăm trước khi đi bộ đến thăm Elizabeth.  Và, từ lúc Mary được thiên sứ đến báo tin sẽ được Thánh Linh làm cho mang thai đến lúc gặp Elizabeth mới chỉ có mấy ngày thôi.  Thánh Kinh toàn những chuyện như vậy, chẳng trách trước đây giáo hội cấm tín đồ không được đọc thánh kinh, vi phạm là bị tuyệt thông.

   Chúng ta cũng nên để ý rằng, ngày nay các chuyên gia khảo cứu Thánh Kinh đã chứng minh rằng Matthew và Luke không phải là môn đồ của Giêsu.  Hai Phúc Âm Matthew và Luke được viết ra ít nhất là 5, 70 năm sau khi Giêsu chết.   Matthew kể rằng Joseph (Giuse), cha của Giêsu, được thiên thần báo mộng cho biết về chuyện Mary được Thánh Ma (Holy Ghost) làm cho mang thai sau khi Mary mang thai được 6 tháng, lẽ dĩ nhiên chuyện nằm mơ này chỉ có mình Joseph biết.  Luke thì kể Mary được thiên thần có tên hẳn hoi là Gabriel đến báo cho biết sẽ được Thánh Ma làm cho mang thai, và chuyện này cũng chỉ có mình Mary biết.  Cả Matthew và Luke đều không phải là môn đồ của Giêsu và cũng chẳng ai biết họ là ai, làm sao họ biết được chuyện mà chỉ có mình Joseph hoặc mình Mary biết.  Không lẽ Joseph và Mary kể lại cho họ nghe?  Điều này phi lý vì đọc Thánh Kinh chúng ta thấy rằng thiên thần Gabriel báo cho Mary biết về ân sủng của Thần cả 6 tháng trước khi một thiên thần khác báo mộng cho Joseph về chuyện này và khuyên Joseph chấp nhận "chuyện đã rồi", đừng có làm to chuyện (Thánh Kinh kể Joseph định bỏ Mary về chuyện "không chồng mà chửa mới ngoan, có chồng mà chửa thế gian sự thường" này, và Mary cũng không hề nói cho Joseph biết chuyện được "thiên thần" Gabriel thăm viếng.)   Như vậy làm sao chúng ta có thể tin được những điều Matthew và Luke viết?  Phân tích chi tiết nội dung hai Phúc Âm Matthew và Luke, các học giả ngày nay, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội, đều cho rằng, mục đích Matthew dựng lên chuyện đồng trinh là để chiêu dụ dân Do Thái tin theo Giê-su, còn Luke dựng lên chuyện đồng trinh khác với Matthew để chiêu dụ dân Gentile.

   Nhưng đọc kỹ Thánh Kinh chúng ta mới thấy trí tuệ của tác giả các phúc âm thật là kém cỏi, để lộ nhiều sơ hở và mâu thuẫn.  Thật vậy, trong Luke 2 có một chuyện khác.  Nhân ngày lễ vượt qua, vợ chồng Joseph, Mary và Giê-su, khi đó mới 12 tuổi, cùng đến Jerusalem.  Sau ngày lễ thì hai vợ chồng Joseph thấy biến mất ông con.  Tưởng rằng ông con đã đi cùng bạn bè đi về nhà nên ông bà cũng trở về nhà.  Nhưng đi suốt cả ngày cũng không thấy Giê-su đâu, lúc bấy giờ mới hỏi thăm và đi tìm Giê-su.  Hai ông bà quay trở lại Jerusalem và ba ngày sau thì thấy Giê-su đang ngồi đối đáp với mấy thầy thông thái trong một đền thờ.  Sau đây là những lời đối đáp giữa bà Mary và ông con Giê-su, trích nguyên văn từ cuốn Kinh Thánh: Cựu Ước và Tân Ước bằng tiếng Việt của   American Bible Society, New York, 1998, trang 58, Lu-Ca (Luke) 2 : 48 -50:

   Khi cha mẹ thấy Ngài, thì lấy làm lạ, và mẹ hỏi rằng: Hỡi con, sao con làm cho hai ta thế này? Này, cha và mẹ đã khó nhọc lắm mà tìm con.  Ngài thưa rằng: Cha mẹ kiếm tôi làm chi?  Há chẳng biết tôi phải lo việc Cha tôi hay sao?  Nhưng hai người không hiểu lời ngài nói chi hết.

   Quý vị có thấy một đứa bé 12 tuổi nào hỗn hào với cha mẹ như vậy chưa, trừ phi nó là con nhà mất dạy.  Trước hết nó ở lại Jerusalem một mình mà không hề xin phép cha mẹ.  Sau đó khi cha mẹ tìm được nó, trách nó, thì nó lại sẵng giọng cùng cha mẹ và hỏi họ kiếm nó làm chi?  Nhưng câu chót “Nhưng hai người không hiểu lời ngài nói chi hết”  đã chứng minh rằng chuyện thiên sứ Gabriel viếng thăm Mary là chuyện phịa, và chuyện thiên sứ báo mộng cho Joseph cũng lại là chuyện phịa nốt, vì nếu thực sự có hai chuyện này thì Joseph và Mary đã biết Giê-su là ân sủng đặc biệt của Thần Ki Tô, là con của Thánh Linh, mà lại không hiểu Giê-su nói gì khi Giê-su nói là đang lo việc của Cha, nghĩa là việc của Thần Ki Tô.

   Đọc đoạn kinh trên, Uta Ranke-Heinemann, nữ giáo sư thần học rất có uy tín của nước Đức, người phụ nữ đầu tiên trên thế giới chiếm được một ghế (ngôi vị cao được Tòa Thánh công nhận) trong môn Thần Học Ca-Tô (The first woman in the world who hold a chair of Catholic Theology) có nhận xét như sau trong cuốn Hãy Dẹp Đi Những Chuyện Trẻ Con:

   Trong truyền thuyết về Giê-su ở trong đền thờ  khi mới 12 tuổi, cha mẹ hắn rõ ràng là không hiểu hắn.  Khi hắn nói về Cha hắn ở trên trời, họ không hiểu hắn nói cái gì (Luke 2:50).  Điều này mâu thuẫn với chuyện loan báo (của thiên sứ Gabriel. TCN), và cũng chứng tỏ rằng Luke đã đan những chiều hướng phát triển truyền thống khác nhau vào với nhau.  Trong những chiều hướng phát triển này, chuyện kể trong đoạn  trên  không hề biết gì về chuyện Giê-su sinh ra từ một trinh nữ. 20

   Nhận xét trên thật là chính xác, vì Matthew không phải là môn đồ của Giê-su, chỉ viết lại theo ý mình những điều nghe người khác truyền tụng.  Cho nên chuyện này mâu thuẫn và phủ bác chuyện kia là chuyện rất thường trong một tác phẩm như vậy.

  Chuyện cha mẹ lo lắng cho con là chuyện tự nhiên, nhưng chuyện “Chúa tôi” đối đáp với cha mẹ như vậy thì quả thật là đặc biệt, ít ra là không hợp với nền luân lý của Việt Nam.  Còn nền luân lý của Do Thái ra sao thì tôi không biết.   Phân tích những lời hỗn hào của Giê-su đối với mẹ và gia đình trong nhiều trường hợp được viết trong Thánh Kinh, một số học giả đã cho rằng, đúng là Giê-su có cái mặc cảm của một đứa con hoang, bị thiên hạ khinh khi đàm tiếu cho nên hận gia đình, hận mẹ, hận thân phận nghèo khó của mình v..v.. kết thành những thái độ và lời nói với mẹ và gia đình như vậy.  Ngoài ra, các học giả còn cho rằng những lời Giê-su giảng trong bài Phúc Thật 8 Mối mà các tín đồ Gia Tô Việt Nam khen là “tuyệt vời” thực ra chỉ nói lên những điều hoang tưởng của Giê-su phát xuất từ những mặc cảm về thân phận của chính mình, chứ chẳng phải là tôn vinh người nghèo, vì trước Thần Ki Tô, con người tuyệt đối bình đẳng vì cùng là tạo vật của Thần.

   Sau đây chúng ta hãy duyệt qua kết quả nghiên cứu về đề tài “Giê-su sinh ra từ một trinh nữ” (virgin birth) của một số người có tên tuổi trong nền văn học Âu Mỹ. 

   Trước hết là Thomas Paine trong cuốn Thời Đại Lý Trí:

   Khi người ta bảo tôi rằng, một người đàn bà tên là Mary đồng trinh mà lại mang thai tuy chưa hề ăn nằm với người đàn ông nào, và rằng chồng của bà, Joseph, nói rằng có một thiên thần nói với ông ta như vậy, thì tôi có quyền tin hay là không, trường hợp như vậy cần có bằng chứng vững chắc hơn là những lời họ nói, nhưng chúng ta cũng lại không có ngay cả những lời họ nói, vì cả Joseph lẫn Mary đều không viết lại điều gì, tất cả chỉ là những điều mà những người khác nói là họ nói như vậy - đó chỉ là những lời đồn đãi trên những lời đồn đãi, và tôi không thể đặt niềm tin của tôi trên loại bằng chứng như vậy.

   Tuy nhiên, chuyện Giêsu là Con Thiên Chúa cũng chẳng có gì là khó hiểu.   Ông ta sinh ra ở một thời mà huyền thoại dân gian đã làm cho đầu óc con người tin vào một chuyện như vậy.  Hầu hết những nhân vật đặc biệt sinh ra trong huyền thoại dân gian đều được coi như là con của một vị Thần nào đó. Vào  thời đó, tin rằng một người là con của Thần không phải là điều mới lạ, và rằng Thần ăn nằm với phái nữ là một quan niệm quen thuộc.

   Câu chuyện về thiên thần loan báo cái mà Giáo hội gọi là Thụ Thai Vô Nhiễm không được nhắc tới trong Phúc Âm Mark và John; và được Matthew và Luke tả lại khác nhau, nhưng Joseph và Maria lại là những bằng chứng không thể tin cậy vì chính họ chẳng nói gì mà là những người khác nói thay cho họ.

   Nếu ngày nay có một cô gái mang thai và nói rằng, ngay cả thề thốt rằng, có một hồn ma làm cô mang thai, và một thiên thần nói với cô ta như vậy, thì chúng ta có tin cô ta không?  Chắc chắn là không rồi.  Vậy tại sao chúng ta lại tin vào cùng một chuyện như vậy về một cô gái mà chúng ta không hề thấy, chỉ được kể lại bởi những người mà không ai biết là ai, ở đâu và bao giờ. 21

   Bình luận câu   ...Bởi Phép Đức Chúa Thánh Thần Mà Người Xuống Thai, Sinh Bởi Bà Maria Đồng trinh... Giám mục Spong viết trong   cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Thì Chết:

   Điều rõ ràng là nếu chúng ta hiểu câu trên theo nghĩa đen thì nó vi phạm tất cả những gì chúng ta hiểu về sinh học.   Chúng ta đã chẳng biết là mọi chuyện sinh ra từ một trinh nữ - và trong lịch sử nhân loại có nhiều chuyện như vậy - là những truyền thuyết hay sao?  Đó là con người toan tính đề xuất rằng nhân loại không có khả năng tạo thành một nhân vật như được mô tả.   Mọi chuyện sinh ra từ trinh nữ, kể cả câu chuyện về Giêsu, như là một sự thực sinh học, đã trở thành hoàn toàn vô giá trị bởi sự khám phá ra sự hiện hữu của tế bào trứng.  Sự khám phá này có nghĩa là người đàn bà không còn được coi như là vật thụ nhận hạt giống của đàn ông như là câu chuyện sinh ra từ trinh nữ uẩn hàm.  Chúng ta không còn có thể nói rằng Thần thánh là một ân huệ trong đứa con của người đàn bà mà không dính dáng gì tới tư cách con người của bà ta.  Ngay từ lúc đó, người đàn bà phải được coi như là đồng sáng tạo, một dự phần viên bình đẳng trong sự truyền giống. 22

   Về chuyện Giê-su sinh ra từ một trinh nữ, giáo sư Thần Học Ca-Tô Uta Ranke-Heinemann viết như sau:

   Sự sinh ra của Giêsu không nói đến một khái niệm nào về sự truyền giống của con người.  Không có sự dự phần nào của người đàn ông, hoàn toàn không có.  Sự tạo nên Giêsu là tác phẩm sáng tạo đặc biệt của Thần Ki Tô, có thể so sánh với sự sáng tạo ra Adam từ một nắm đất sét.  Tuy nhiên, người đàn bà không phải là một nắm đất sét.  Tất cả câu chuyện về phép lạ sinh ra từ một trinh nữ được dựng lên ở một thời mà không ai biết gì về cái tế bào trứng của phái nữ.   Câu chuyện về sự sinh ra từ một trinh nữ chỉ có thể nói lên ở một thời mà người đàn bà bị coi như là giữ một vai trò hoàn toàn thụ động.  Cho đến  khi tế bào trứng được khám phá ra năm 1827, các nhà Thần học, kể cả Luke và Matthew, nghĩ rằng đàn bà không hơn gì một chậu đất để trồng hoa mà người đàn ông đặt hạt giống của mình vào và từ đó sinh ra đứa trẻ.  Lối suy nghĩ như vậy bắt nguồn từ quan niệm về sinh học của Aristotle, coi người đàn bà như là cái bình chứa trống rỗng để gây giống cho người đàn ông.  Người đàn ông làm tất cả trong sự truyền giống....

   Do đó, theo cái mẫu cổ xưa này, Matthew và Luke nghĩ rằng nếu loại bỏ một người cha trên trái đất sinh ra Giêsu thì chỉ có mình Thần Ki Tô là chủ lực tạo ra Giêsu.  Họ không thể nghĩ rằng, để sinh ra một người, cần phải có hai cộng sự viên đồng đẳng, và dù cho con người được thay thế bằng Thần, thì Thần cũng không phải là nguyên lý duy nhất tạo ra con người.

   Kể từ khi khám phá ra tế bào trứng của người đàn bà - và do đó người đàn bà phải dự phần trong việc truyền giống - ý tưởng truyền thống về chuyện Giê-su sinh ra từ một trinh nữ do hành động sáng tạo đơn độc của Thần đã trở thành không có cách nào có thể biện minh cho được.

   Do đó, sự vô minh, thiếu hiểu biết, đã được dùng làm nền tảng cho ý tưởng là Giê-su được sinh ra từ một trinh nữ do quyền phép của Thánh Linh mà không cần đến giao hợp.

   Ngoài ra, chúng ta cần phải xét đến điều này: Trong trường hợp một trinh nữ thụ thai thì tế bào đầu tiên của cơ thể  Giê-su phải là một tế bào của phái nữ.  Và nếu bằng một phép lạ nào đó mà cái tế bào này phân chia ra mà không cần đến sự tham dự của người đàn ông, và tiếp tục phân chia để hình thành một con người, thì cái sự thụ thai đồng trinh này, khi sinh đứa bé ra, bắt buộc phải là một đứa bé gái. 23

   Giáo sư Uta Ranke-Heinemann không giải thích tại sao sự thụ thai dồng trinh chỉ có thể sinh ra một đứa con gái trong cuốn sách của bà.  Có lẽ bà cho rằng độc giả đều cập nhật hóa những kiến thức ngày nay về sinh học, cho nên không cần giải thích.   Tôi không nghĩ vậy, nhất là đối với những tín đồ Ca-Tô, cho nên tôi xin có vài lời giải thích để vấn đề thêm rõ ràng.

   Khoa học ngày nay đã chứng minh rằng: bộ đầy đủ “gien” (complete set of genes) của con người, danh từ khoa học gọi là “genome”, gồm có 23 sắc tố (chromosome) thuộc cha và 23 sắc tố thuộc mẹ, cặp với nhau thành 23 cặp riêng rẽ sắc tố.  Các khoa học gia đã xếp các cặp sắc tố này từ cỡ lớn nhất (số 1) cho tới cỡ nhỏ nhất (số 22), còn cặp sắc tố sau cùng chính là cặp “sắc tố định giống” (sex chromosome) gồm có: 2 sắc tố X trong cơ thể của đàn bà, và 1 sắc tố X và 1 sắc tố Y nhỏ hơn trong cơ thể của người đàn ông.  Về kích thước thì sắc tố X vào khoảng giữa hai cặp sắc tố 7 và 8, còn sắc tố Y thì nhỏ nhất.  Chính cặp sắc tố sau cùng này sẽ quyết định đứa bé sinh ra là con trai hay con gái, tóc vàng hay tóc đen, mắt nâu hay mắt xanh v..v.. 

   Cơ thể con người có vào khoảng 100 ngàn tỷ (Trillion) tế bào (cell).  Trong mỗi tế bào có một nhân (nucleus).  Trong nhân tế bào có 2 bộ đầy đủ genome: một bộ genome của người cha và một bộ genome của người mẹ.  Mỗi bộ genome có vào khoảng từ 60000 đến 80000 “gien” (Genes).

   Như trên đã nói, cặp sắc tố quyết định giống của đàn bà là 2 sắc tố X (X,X), và của đàn ông là 1 X và 1 Y (X,Y).  Trong quá trình truyền giống, nếu sắc tố X của đàn ông kết hợp với sắc tố X của người đàn bà thì đứa trẻ sinh ra sẽ là con gái.  Còn nếu sắc tố Y của người đàn ông kết hợp với sắc tố X của người đàn bà thì đứa trẻ sinh ra sẽ là con trai.  Do đó, một mình Mary, nếu thực sự thụ thai mà không do giao hợp với đàn ông và không có tinh khí của đàn ông thì không thể nào sinh ra con trai được.

   Đến đây tưởng chúng ta cũng nên biết một chuyện: năm 1995, tại một làng bên Ý, hàng ngàn người kéo đến xem bức tượng Mary khóc ra máu.  Hiện tượng này được giới “chăn chiên” giải thích là Đức Mẹ quá thương xót thế gian tội lỗi (phần lớn thuộc 7 núi tội lỗi của giáo hội Ca-Tô. TCN) nên khóc đến chảy máu mắt.  Các tín đồ cũng đều tin vậy, và càng sùng tín thêm lòng thương yêu bao la của Đức Mẹ, không buồn để ý đến chuyện Mẹ là mẹ của Chúa “quyền phép vô cùng” mà cũng bất lực trước những sự đau khổ của con người, chỉ biết khóc thôi.  Nhưng chuyện đáng nói nhất ở đây là người ta đã lấy máu mắt này mang đi thử DNA và khám phá ra rằng máu đó là của đàn ông, không thể là của đàn bà, vì chứa những sắc tố X và Y (của đàn ông) chứ không phải là X và X (của đàn bà).  (Gospel Truth, p. 35: ..as recently as 1995, a statue of the Virgin “weeping tears of blood” drew thousands to a village in Italy, despite DNA analysis that proved the blood to be from a man).  Người ta đã làm đủ trò để nhốt tín đồ vào trong vòng mê tín, thật là đáng buồn, nhưng khoa học đã làm bớt đi phần nào mê tín..

   Học giả Gia Tô Michael Martin, Giáo sư Triết đại học Boston, viết trong cuốn Bản Án Chống Ki Tô Giáo như sau:

   Có bằng chứng lịch sử nào về chuyện Giê-su sinh ra từ một nữ trinh?  Trong bốn phúc âm thì chỉ có hai là kể chuyện này với hai nội dung tường thuật khác nhau.  Như tôi đã ghi ở trên, trong Matthew, tin về sự sinh ra của Giê-su được báo cho Joseph trong một giấc mộng; trong Luke, thiên sứ Gabriel nói thẳng cho Mary biết.  Hơn nữa, Matthew cho rằng khi Giê-su sinh ra thì cha mẹ ông ta sống ở Bethlehem và họ rời Bethlehem khi vua Herod tìm giết Giê-su.. Tuy nhiên, trong Luke, cha mẹ Giê-su lại đi từ nhà ở Nazareth tới Bethlehem vì một cuộc kiểm tra dân số của chính quyền La Mã..

   Đúng vậy, nếu có hai chuyện loan báo khác nhau về Giê-su sinh ra đời thì ít ra là một trong hai phúc âm trên phải kể cả hai chuyện này.  Ngoài ra, vì cách loan báo cho Joseph và Mary khác hẳn nhau - bởi một thiên sứ và trong một giấc mộng - những sự loan báo trên không có gì để chứng thực bởi bất cứ ai khác ngoài Mary và Joseph.  Trong trường hợp thiên sứ Gabriel đến loan báo cùng Mary, không có một nhân chứng nào ngoài Mary.  Trong trường hợp Joseph nằm mơ thì không thể có một nhân chứng nào khác ngoài người nằm mơ.  Như vậy, chúng ta không có một nhân chứng nào để xác định những chuyện loan báo siêu nhiên kia là thực..

   Ngoài tất cả những mâu thuẫn,  những điều không đúng với lịch sử, và những điều không thật rất hiển nhiên trong 2 phúc âm Matthew và Luke, cả Mark và John đều không viết gì về sự sinh ra của Giê-su.  Điều này thật là lạ lùng nếu ta cho rằng giáo điều “Mary đồng trinh” đã được những tín đồ Ki Tô thuở sơ khai biết đến một cách rộng rãi.  Nhất là, tại sao Mark, người viết phúc âm đầu tiên, không nói gì về giáo lý đồng trinh này nếu giáo lý đó được biết đến một cách rộng rãi vào cuối thế kỷ đầu tiên?  Còn nữa, tại sao John, người viết phúc âm sau cùng cũng không nói gì về hiện tượng Giê-su sinh ra từ một trinh nữ nếu điều này mọi người đều biết?  Lời giải thích hợp lý nhất là Mark và John đều không cho rằng chuyện đó là thật về đời Giê-su.  Điều này chắc chắn là làm cho giá trị tính chất xác thực của thuyết đồng trinh giảm đi nhiều. 24