
Trần
Chung Ngọc
Qua những tài liệu trên, tất cả
đều là kết quả nghiên cứu của một số lãnh đạo tinh thần trong Ki Tô
Giáo, hoặc của các giáo sư đại học, học giả Ki Tô, chúng ta thấy rằng,
huyền thoại Giê-su sinh ra từ một trinh nữ, nay đã bị xóa bỏ bởi sự
tiến bộ trí thức của nhân loại, bởi những sự kiện khoa học. Nhưng thực tế là, ở ngoài đời, vẫn có
hàng triệu người tin rằng bà Mary vẫn còn đồng trinh dù đã sinh nở nhiều
lần, và dù tất cả bằng chứng khoa học đã chứng minh chuyện Thánh Linh
làm cho bà Mary mang thai và sinh ra một người con trai không thể nào xảy ra
được. Nhưng chúng ta cũng nên hiểu
rằng, đây là thuộc về đức tin, và như giáo sư thần học John Dominic
Crossan nhận định, “Không ai có thể làm cho niềm tin như vậy thành một
sự kiện” (Nobody can make it (an act of faith) as a fact). Và Frederich Nietzche cũng đã đưa ra một
nhận xét: “Những gì mà quần chúng được
dạy để mà tin không cần đến lý lẽ, vậy thì ai có thể dùng lý lẽ
để có thể phủ bác niềm tin này?” (What the populace learned to believe
without reasons, who could refute it then by means of reasons?)
Sau đây, chúng ta hãy đọc tiếp
Kinh Tin Kính của Ca-Tô Giáo Rô-Ma:
...Chịu nạn
đời quan Phongxiô Philatô, chịu đóng đanh trên cây thánh giá, chết và
táng xác...
Trước hết, cái giá bằng gỗ hình
chữ thập mà Giê-su bị đóng đinh trên đó không phải là “thánh giá”
như bản văn tiếng Việt cố tình dịch sai để vinh danh Giê-su. Bởi vì, hình phạt đóng đinh trên giá gỗ
hình chữ thập là một cực hình của đế quốc La Mã dành cho những kẻ
nô lệ phạm tội, trộm cắp, giết người, phản loạn v..v.. Thánh Kinh viết rõ, (Luke 23: 32,33; Matthew
27: 38)) Giê-su bị xử đóng đinh trên giá gỗ hình chữ thập cùng lượt với
hai tên tội phạm, trộm cướp (criminals, robbers) khác. Không có lý do gì để chúng ta tin rằng
cái giá gỗ mà Giê-su bị đóng đinh trên đó khác với những giá gỗ
cùng loại trong thời đó. Bản văn bằng
tiếng Anh viết là Giê-su “was crucified” chứ không phải là “was nailed
on the holy cross”. Mà “crucify” trong
tự điển có nghĩa là: 1. Xử tử hình bằng cách đóng đinh hoặc trói
trên một giá hình chữ thập (To put to death by nailing or binding to a cross); 2.
Đối xử một cách độc ác, hành hạ (To treat cruelly; torment). Cho nên, chẳng có gì có thể gọi là “thánh”
ở đây cả. Gia Tô Giáo đã thánh
hóa một vật thuộc một cực hình tàn nhẫn và dã man nhất của nhân loại. Người ta đã tôn sùng một biểu tượng
của sự tàn ác, cố tình quên đi sự khủng khiếp kết hợp với cây thập
giá. Thật vậy, chúng ta hãy đọc một
đoạn nói về cực hình này của Russell Shorto trong cuốn Sự Thực Trong Phúc Âm:
Được đưa vào nghệ thuật Ki Tô
qua nhiều thế kỷ, cực hình đóng đinh trên thập giá đã trở thành một
kiểu trình bày ước lệ cao - đến độ như là một vật đẹp đẽ, làm
cho ta khó mà có thể tưởng tượng được sự khủng khiếp thực sự của
nó. Nhưng thực tế là một cái gì
khác hẳn. Trước hết, chúng ta hãy
xét đến ý nghĩa khủng khiếp của nó trong một xã hội mà nhân phẩm -
ngay cả nhân phẩm của một nông dân - là đức tính cao nhất. Mang ra nơi công cộng - kết tội, phơi trần
truồng (trên thập giá. TCN. Nghệ thuật Ki Tô thường đóng thêm cái khố
vào cho Giê-su trên thập giá) và chết dần trong hấp hối - là hình phạt
dã man hơn sự hành quyết nhiều.
Rồi có cả sự tra tấn. Thường là nạn nhân bị trói vào cột rồi
bị quất, hoặc bằng một cây roi ngắn gồm có nhiều sợi dây da trên có
đính những hạt bằng chì hay những mẩu xương, hoặc bằng gậy. Nạn nhân thường bị đóng lên giá hình
chữ thập ở ngay dưới đất rồi giá được dựng thẳng đứng lên. Đinh thường được đóng qua bàn tay hay cổ
tay và bàn chân.. 25
Cây thập giá, tượng trưng cho một
loại hình phạt man rợ và khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại,
nay đã biến thành vật hàng triệu người tôn thờ. Tôi không biết người khác nghĩ sao chứ
mỗi khi tôi nhìn thấy cây thập giá bất cứ ở đâu, trên nóc nhà thờ,
trên bộ áo khoác, hay đeo trên cổ của
bất cứ ai, là tôi lại nhớ đến cái cực hình đóng đinh trên thập giá
của dân La Mã cổ xưa, đã từng gây ra sự đau đớn cùng cực của hàng
trăm ngàn con người, và tôi nghĩ rằng không có cách nào có thể làm cho
tôi tôn thờ một vật có một lịch sử dã man đẫm máu như vậy, dù đó
là cái thập giá mà Giê-su hoặc bất cứ ai bị đóng đinh trên đó. Tín đồ Ki Tô thật là kỳ lạ, họ tôn
vinh một vật mà Chúa của họ chịu cực hình trên đó. Họ hân hoan tin rằng sự đau khổ của Chúa
chính là phương tiện giúp họ lên thiên đường. Họ chỉ nghĩ đến thiên đường và ghi
ơn sự chịu cực hình của Chúa họ. Tôi
nghĩ không có tôn giáo nào có thể nhồi vào đầu óc con người những ý
tưởng vô cùng ích kỷ như là Ki Tô
Giáo.
Thứ đến, câu “Chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô”
chứng tỏ rằng không phải là Giê-su tình nguyện leo lên thập giá để
cho người ta đóng đinh để rửa sạch tội lỗi của con người theo như lời
thuyết giảng hoang đường của giáo hội.
Thật vậy, chúng ta có thể thấy
rõ tính chất hoang đường của thuyết “chuộc tội” qua hai đoạn văn cực
kỳ mâu thuẫn sau đây trong cuốn Trần Lục, viết bởi Đức Ông Trần Văn
Khả, trang 273:
Núi này
(núi Sọ) ghi lại việc Chúa Ki Tô chịu đóng đinh và chết trên cây thập
tự.
Rồi tới
trang 279, Đức Ông Khả viết:
Ở đây
chúng ta nhận thấy có lòng sùng mộ đặc biệt đối với Phép Thánh Thể,
với cuộc tử nạn của Chúa Giêsu Ki Tô.
Vậy thì Chúa Giêsu tự nguyện chịu
đóng đinh hay là bị tử nạn? Chịu
đóng đinh là tự nguyện leo lên thập giá để cho người ta đóng đinh lên
mình. Còn tử nạn là vì tai nạn mà
chết, ngoài ý muốn của mình. Điều mâu thuẫn trên thuộc loại "giáo hội dạy rằng", và tín đồ,
kể cả Đức Ông, nhắc lại mà
không suy nghĩ. Chúng ta thấy rằng, đầu
óc của một Đức Ông mà còn như vậy, huống chi là đầu óc của những
tín đồ trong tầng lớp thấp kém của xã hội.
Giáo hội dạy rằng Chúa Cha cho
Chúa Con giáng trần, chịu chết trên thập giá, lấy máu mình rửa sạch tội
lỗi của nhân loại. Chỉ có điều,
từ ngày Chúa chết trên thập giá, tội lỗi con người càng ngày càng gia
tăng, con người càng ngày càng chê Chúa, xa Chúa cho nên Chúa mới tạo ra
những thiên tai, bệnh tật, chiến tranh khốc liệt chết hàng triệu người
để tiếp tục trừng phạt con người. Một
mặt khác, giáo hội cũng dạy rằng Chúa tử nạn
vì bị người Do Thái giết, dựa theo những lời bịa đặt của Thánh Phao
Lồ (Paul), hoặc vài lời trong Phúc Âm Giăng (John) mà các học giả ngày
nay đã cho là giáo hội ngụy tạo, thêm thắt vào Thánh Kinh về sau để có
cớ bách hại người Do Thái, vì hầu hết dân Do Thái không tin Giêsu là đấng
Cứu Thế của dân tộc họ. Chúng ta nên nhớ rằng dân Do Thái là dân được
Chúa Cha chọn làm dân cưng của Ngài (chosen people). Nhưng dân tộc này lại phủ nhận vai trò
cứu thế của Giê-su. Điều này chứng
tỏ Giê-su mắc bệnh hoang tưởng, tự phong mình là Con Thần Ki Tô, là
Chúa Cứu Thế, như một số nhà phân tâm học đã chứng minh. Chúng ta đã hiểu tại sao Ki Tô Giáo nói
chung, Ca-Tô Giáo Rô-Ma nói riêng, lại thù dân Do Thái suốt 2000 năm nay. Bởi vì sự phủ nhận Giê-su là Chúa Cứu
Thế của dân Do Thái đã chứng minh rằng Giê-su chỉ là một Ngụy Chúa. Còn bằng chứng nào cụ thể hơn là một
dân tộc được Chúa Cha chọn làm dân cưng của Ngài lại không công nhận
Chúa Con được Ngài phái xuống?
Cũng vì vậy mà ngày nay, nhiều học
giả, trong cũng như ngoài giáo hội, đồng
thuận ở điểm: “Trong Kinh Tin Kính của Ca-Tô, chỉ có câu trên là có
tính chất xác thực lịch sử, nghĩa là, “đích
thực Giê-su bị đóng đinh trên thập giá, chết, và táng xác. Chấm hết” (Historically verifiable that
Jesus was crucified, died, and was buried. Period). Còn những huyền thoại về
Giê-su trước khi bị xử tử, xung quanh cuộc
hành quyết, và sau khi chết, thì không thể nào tin được đó là những sự
kiện lịch sử (historical facts), và tuyệt đối không có một giá trị thuyết
phục nào trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại.
Chúng ta đã biết những chuyện
hoang đường về đời của Giê-su trước khi bị hành hình, ví dụ như,
sinh ra từ một nữ trinh, cứu người chết sống lại, đi trên sóng, làm
yên một cơn bão tố, đuổi “quỷ ám” ra khỏi một người bị bệnh động
kinh, nguyền rủa cho cây sung chết héo, biến nước lã thành rượu v..v..
Nhưng chính xung quanh cuộc hành quyết cũng còn nhiều chuyện hoang đường
không kém. Chúng ta hãy đọc ngay Thánh
Kinh, Matthew 27: 45 - 53:
Từ giờ
thứ 6 đến giờ thứ 9 (nghĩa là
từ trưa đến 3 giờ chiều), khắp cả xứ
đều tối tăm mù mịt. Ước chừng
giờ thứ 9, Giê-su kêu lớn lên rằng: Ê-li, Ê-li, lam-ma-sa-bách-ta-ni? Nghĩa
là: Chúa tôi ơi! Chúa tôi ơi! Sao ngài lìa bỏ tôi?.. Giê-su lại kêu lên một
tiếng lớn nữa rồi trút linh hồn..
Và này, cái màn trong đền thờ bị xé ra
làm hai từ trên xuống dưới. Đất thì rúng động, đá lớn bể ra, mồ mả
mở ra, và nhiều thây các thánh đã qua đời được sống lại. Sau khi Giê-su sống lại, các thánh đó ra
khỏi mồ mả, đi vào thành thánh (holy
city: Jerusalem. TCN), và hiện ra cho nhiều người
thấy.
Chúng ta thấy ngay những điều mô tả
trong đoạn Kinh Thánh trên toàn là những điều hoang đường tưởng tượng
trừ câu than của Giê-su trước khi chết: Chúa tôi ơi! Chúa tôi ơi! Sao ngài
lìa bỏ tôi?.. chứng tỏ tâm trạng thực của Giê-su nói lên một nỗi thất
vọng lớn lao, hoàn toàn mâu thuẫn với điều “giáo hội dạy rằng”:
Giê-su giáng thế, tình nguyện chịu chết để chuộc tội cho nhân loại. Ngoài ra, chuyện “khắp cả xứ đều tối
tăm mù mịt” (Matthew 27: 45: ..there was darkness over all the land) chỉ có thể
xảy ra nếu vùng đó, trong ngày đó, có nhật thực toàn phần. Các khoa học gia đã tính ngược trở lại
và xác định rằng không thể có nhật thực toàn phần ở vùng đất đó
và trong khoảng thời gian gần đó. Tại
sao? Bởi vì, với những hiểu biết
ngày nay về sự di chuyển của trái đất xung quanh mặt trời, và sự di
chuyển của mặt trăng xung quanh trái đất, chúng ta có thể dùng máy điện
toán (computer) tính ra và biết đúng, trong quá khứ cũng như trong tương
lai, khi nào có nhật thực toàn phần, khi nào không, và ở đâu trên trái
đất. Mặt khác, không có cuộc nhật
thực toàn phần nào có thể kéo dài 3 tiếng đồng hồ, từ trưa tới 3 giờ
chiều, trừ khi, đang ngắc ngoải trên thập giá, Giê-su ra lệnh cho cả
trái đất lẫn mặt trăng đều đứng yên, giữ nguyên vị trí nhật thực
toàn phần, sau ba giờ, khi Giê-su tắt hơi, mới chuyển động trở lại. Trong Cựu Ước
có chuyện Joshua, được sự giúp đỡ của Chúa Cha, chưa giết địch
quân đã tay nên ra lệnh cho mặt trời, mặt trăng ngưng lại đúng 1 ngày,
kéo dài thời gian có ánh sáng, để cho Joshua giết cho đã, rồi mới được
chuyển động trở lại (Joshua 10: 12, 13). Nếu
các tín đồ Ca-Tô có thể tin được chuyện này, thì họ cũng có thể tin
chuyện trời đất tối tăm mù mịt trong 3 tiếng đồng hồ, khi Giê-su bị
hành hình. Nhưng đọc kỹ thánh kinh
thì chúng ta lại thấy Luke còn phóng đại chuyện tối tăm mù mịt ra toàn
thể trái đất (Luke 23: 44: .. there was darkness over all the earth). Điều này chứng tỏ chuyện trời đất tối
tăm mù mịt khi Giê-su chết là chuyện bịa của những đầu óc tối tăm mù
mịt, không hiểu gì về sự chuyển động tương đối của trái đất và
mặt trăng đối với mặt trời, về hình dạng cũng như độ lớn của trái
đất.
Tôi thật không hiểu nổi, không những
giáo hội dạy tín đồ tôn vinh cây thập giá dùng để đóng đinh Giê-su,
nô lệ, những kẻ phản loạn và trộm cướp trên đó mà còn dạy tín đồ
phải hoan hỉ ăn mừng ngày chết của Giê-su, gọi đó là Ngày Thứ Sáu Tốt
Đẹp (Good Friday). Nhất định đó
không phải là Ngày Thứ sáu Tốt Đẹp mà là Ngày Thứ Sáu đen tối, thê
thảm nhất đối với Giê-su. Tín đồ
Gia Tô bị giáo hội lừa dối, dạy rằng đó là ngày Giê-su chịu chết để
chuộc cái tội tổ tông hoang đường của nhân loại. Nhờ cái chết đó mà tín đồ được Chúa
Cha tha thứ và được lên thiên đường. Giáo
hội biết tín đồ không bao giờ đọc Thánh Kinh, và giới chăn chiên cũng
không bao giờ giảng về tâm trạng của Giê-su trước khi chết dù Thánh
Kinh đã viết rõ. Tâm trạng này trái
ngược hẳn với những lời tuyên truyền sai sự thực của giới chăn chiên. Thật vậy, chúng ta hãy đọc vài đoạn
trong thánh kinh, Thánh kinh Hội Quốc Tế xuất bản, Văn phẩm Nguồn Sống
phát hành, 1994, Mác (Mark) 14; 33-36:
.. Ngài cảm
thấy hoang mang, sầu não vô cùng. Ngài
bảo (các
môn đồ. TCN): “Linh hồn ta buồn rầu
cho đến khi chết” Chúa đi một quãng,
rồi quỳ sấp dưới đất, cầu xin cho giờ phút khủng khiếp đừng đến
với Ngài nếu có thể được. Ngài
cầu nguyện: “Thưa Cha, Cha quyền phép vô cùng, xin cho con khỏi uống chén
(đau khổ) này, nhưng xin theo ý Cha, chứ không theo ý con.”
Luke (Lưu Ca) 22:24 còn mô tả cảnh
Giê-su cầu nguyện như sau:
Trong lúc
đau đớn thống khổ, Chúa cầu nguyện càng tha thiết, mồ hôi toát ra như
những giọt máu nhỏ xuống đất.
Đó là tâm trạng của Giê-su trước
khi biết mình sắp bị bắt. Như vậy
có phải là ông ta tình nguyện leo lên thập giá, chịu cho người ta đóng
đinh, để chuộc tội cho nhân loại như lời diễn giảng sai sự thực của
giáo hội hay không? Và chúng ta cũng
đừng quên, trước khi thở hắt ra, Giê-su còn nói lên một câu đầy thất
vọng: Chúa tôi ơi! Chúa tôi ơi! Sao ngài lìa bỏ tôi?.. như được viết rõ
trong phúc âm Matthew 27 và Mark 15. Cũng
vì vậy mà G. W. Foote đã bình luận trong cuốn Những Chuyện Hư Cấu Trong Thánh Kinh về
ngày chết của Giê-su như sau:
Cũng như ngày 25 tháng 12, được coi
như là ngày sinh của Giê-su, là một chuyện giả tưởng hoàn mỹ mà giáo
hội vay mượn từ dân gian cổ xưa, ngày Giê-su bị đóng đinh trên thập
giá cũng có tính cách thuần túy tùy tiện.
Nếu thực sự Giê-su chết thì ông ta cũng chỉ chết vào một ngày
nào đó, và ngày này cố định trên lịch.. Ngày chết của ông ta bao giờ
cũng rơi vào ngày thứ Sáu. Nhưng ngày
thứ Sáu này khi thì trong tháng này, khi thì trong tháng khác, và không bao giờ
giống nhau trong hai năm liên tiếp; điều này chứng tỏ chắc chắn là cái
chết của “đấng cứu thế” là một chuyện xảy ra trong huyền thoại. Tại sao cái ngày chết của ông ta lại
được quyết định bởi một sự tính toán thuộc môn thiên văn học? Tại sao nó phải là ngày thứ Sáu đầu
tiên sau ngày trăng rằm và sau ngày xuân phân?
Mặt khác, chúng ta cần phải ghi nhận:
“Ngày thứ Sáu tốt đẹp” là tên của ngày đã được xác định theo
thiên văn. Đó thực ra là ngày mà tấn
thảm kịch xảy ra trên Núi Calvary sau cơn khắc khoải và mồ hôi đổ ra
như máu (của Giê-su) trong vườn Gethsemane. Cái
con người than khóc: “Cha ơi, nếu có thể, xin đừng bắt con uống chén
này” rồi khi cảm thấy cánh tay tử thần lạnh lẽo phủ lên người mình,
còn than khóc cay đắng hơn nữa: “Chúa tôi ơi, Chúa tôi ơi, sao ngài lại
lìa bỏ tôi?”, cái ngày đó mà gọi là “Ngày thứ Sáu tốt đẹp”. Đối với hắn ta (Giê-su), ngày đó là một
ngày xấu hoặc một ngày đen tối. Vậy
mà những tín đồ của hắn coi đó là ngày vui vẻ nhất trong lịch sử thế
giới. Hắn chịu đau khổ để cho họ
có thể vui mừng; hắn xuống địa ngục để cho họ có thể lên thiên
đường; và họ đón chờ ngày tai họa đó với niềm vui và hân hoan. Con
người thật là quá hão huyền và ích kỷ, và tôn giáo cũng thường vậy,
tôn phong sự ích kỷ. Và trong những
tôn giáo ích kỷ trên thế giới thì Ki Tô Giáo là tôn giáo ích kỷ nhất. 26
Chúng ta hãy bình luận tiếp chuyện
Chúa chết.
Khi Giê-su tắt hơi thì Đất thì
rúng động, đá lớn bể ra, mồ mả mở ra, và nhiều thây các thánh đã
qua đời được sống lại. Sau khi
Giê-su sống lại, các thánh đó ra khỏi mồ mả, đi vào thành thánh, và hiện
ra cho nhiều người thấy.
Đất rúng động, đá lớn bể ra..
Đây có thể là một cuộc động đất. Tuy
nhiên, không có một sử gia nào, kể cả sử gia danh tiếng đương thời là
Flavius Josephus, ghi lại sự kiện này. Rồi
mồ mả mở ra để cho xác các thánh sống lại, nằm yên dưới mồ từ
chiều thứ Sáu đến sáng Chủ Nhật, chờ cho Giê-su sống lại rồi mới
nhỏm giậy như quỷ nhập tràng, đi qua đi lại trong thành Jerusalem, trình
diễn cho bàn dân thiên hạ thấy. Thời
buổi này, ai có thể tin được những chuyện hoang đường như vậy? Hơn nữa, Matthew không nói rõ các thánh đó
là thánh nào, ai phong cho họ làm thánh, và chết đi đã được bao lâu,
xác còn nguyên hay đã rữa nát hết thịt chỉ còn trơ lại bộ xương cứu
Chúa. Sau khi đi diễn hành ở Jerusalem
thì các “thánh” đó đi đâu? Trở
về các nhà mồ hay vẫn còn lang thang ở Jerusalem cho tới bây giờ? Chuyện
trong Thánh Kinh đều như vậy cả. Nay
chúng ta đã hiểu những người tin Thánh Kinh là những người đầu óc như
thế nào.
Chúng ta hãy đọc tiếp Kinh Tin Kính:
..xuống
ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại, lên trời ngự
bên hữu đức Chúa Cha phép tắc vô cùng; ngày sau bởi trời lại xuống
phán xét kẻ sống và kẻ chết..
Trước sự tiến bộ trí thức của
nhân loại, Giáo hội Ca-Tô không còn có thể lừa dối con người bằng củ
cà rốt Thiên Đường và cây gậy địa ngục được nữa. Cho nên, tháng 7, 1999, Giáo Hoàng Gion Pôn
Hai đã phải thú nhận rằng không làm gì có thiên đường ở trên các tầng
mây, mà cũng không làm gì có hỏa ngục ở dưới đất, tất cả đều do
tâm con người tạo ra mà thôi. Điều
thú nhận này đã làm cho hàng triệu tín đồ thất vọng, vì điều mà họ
mơ ước được lên thiên đường hưởng nhan thánh Chúa rút cục đã thực
sự trở thành cái bánh vẽ trên trời (A Pie-in-the-sky), đúng như nhận định
của Linh mục Ernie Bringas trước đây. Mặt
khác, “tội tổ tông” chỉ là một huyền thoại cho nên không làm gì có
cái gọi là “ngục tổ tông” để mà Giê-su “xuống” sau khi chết. Cho nên, trong mấy trăm năm nay, các tín đồ
Ca-Tô được dạy để đọc Kinh Tin Kính hàng ngày mà không biết rằng đó
chính là những lời lừa dối do chính giáo hội đặt ra để làm mê mẩn
đám tín đồ không có mấy đầu óc.
"Giáo hội dạy rằng":
Giê-su sống lại 3 ngày sau khi chết, và 40 ngày sau thì "thăng thiên",
nghĩa là cả hồn lẫn xác tự nhiên bốc lên trời, và hiện nay đang ngồi
bên phải Chúa Cha ở trên Thiên Đường. Người
nào tin ở Chúa, chỉ cần tin thôi, thì sau khi chết sẽ được lên Thiên
Đường ở cùng Chúa. Nhưng vì Giáo
Hoàng là "đại diện của Chúa", là người kế thừa Thánh Phê-rô
giữ chìa khóa mở cửa Thiên Đường, nên các tín đồ Gia Tô phải tuyệt
đối phục tùng và tuân lệnh Giáo Hoàng, nếu không, Giáo Hoàng hay Tòa
Thánh Vatican ở Rô-Ma sẽ tuyệt thông, nghĩa là không cho phép tín đồ hưởng
các "bí tích" để hiệp thông với Chúa trên Thiên Đường. Đây
là những tín lý căn bản của Ca-Tô Giáo Rô-Ma mà các tín đồ bắt buộc
phải tin, không tin thì không được chấp nhận là Ca-Tô hữu.
Nhưng đây chỉ là những lời giáo
hội bày đặt ra để nắm giữ đầu óc đám tín đồ thấp kém, vì không
làm gì có chuyện Giê-su “xuống ngục tổ tông” mà cũng không làm gì
có chuyện xác Giê-su bay lên trời. Thánh
Phao Lồ (Paul) đã viết rõ trong I Cổ-Linh (Corinthians) 15: 50:
Thưa anh
em. Tôi xin nói rõ thân thể bằng xương bằng thịt và máu không thể hưởng
được nước Thượng Đế, vì thân thể hư nát không thể hưởng sự sống
bất diệt.
Giê-su vẫn tự nhận một lúc 2 vai:
Con của Thần và Con của người (Son of Man).
Con của Thần thì chỉ có phần hồn, còn Con của Người thì phải
có xác phàm bằng xương bằng thịt. Do
đó Giê-su không thể nào bay lên trời ngự bên phải Thần theo như sự bày
đặt của vài tín đồ sùng tín tưởng tượng ra để thần thánh hóa
Giê-su.
Tuy nhiên, dù Giáo Hoàng đã chính thức
tuyên bố cùng thế giới là không làm gì có thiên đường hay địa ngục
như giáo hội vẫn thường dạy con chiên, nhưng tôi tin chắc đa số tín đồ
Ca-Tô trên thế giới, nhất là những tín đồ Ca-Tô ở các nước nghèo,
kém phát triển, không hề biết đến chuyện này. Những lời tuyên bố công nhận sự thực
khoa học của Giáo hội chỉ để chỉnh trang bộ mặt của giáo hội trước
dư luận trí thức thế giới chứ không phải để cho các tín đồ biết. Đây là sách lược ngu dân dễ trị của
giáo hội từ xưa tới nay. Lẽ dĩ nhiên
đám tín đồ thấp kém vẫn còn hi vọng lên thiên đường cùng Chúa sau
khi chết. Vậy thì thiên đường của
Chúa mà giáo hội đã nhét vào đầu óc tín đồ trong mấy ngàn năm nay là
như thế nào, và ở đâu?
Thiên Đường của Chúa ở trên một
"Vòm" (vault) gọi là "Trời" (Heaven) mà Thượng Đế tạo
ra trong ngày thứ nhì của 6 ngày "Sáng Thế". Muốn hiểu vòm Trời trên có hình dạng
ra sao, chúng ta hãy đọc lời giải thích của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thọ, một
tín đồ Ca-Tô trong khoảng 30 năm hồi thiếu thời, viết trong bài "Ít
Nhiều Nhận Định về Thiên Chúa Giáo", đăng trong cuốn Tại Sao Không
Theo Đạo Chúa, Tập I, trang 16:
"The
New Jerusalem Bible của Công Giáo dịch là Vault (vòm), và chú rằng người dân
Semites xưa coi cái vòm trời đó cứng chắc, có thể giữ nước ở phía
trên, không cho rơi xuống trần gian. Nó
hình nửa vòng cầu, hoặc như cái chảo úp, như ta thường trông thấy. Nó chắc chắn là phải hết sức cứng
vì có thể chứa được một số nước khổng lồ bên trên. Vòm trời đó, theo Job, đã được đúc bằng
"đồng thau" (Job 37:18). Vòm đó
có những cửa. Khi muốn có Hồng Thủy,
những "cửa trời" đó sẽ được mở ra cho nước trên trời tuôn
xuống (Gen 7:11)...Cung đình Chúa và tòa ngôi ngài đặt trên vòm trời đó
(Psalm 11:4), vì Sáng Thế Ký đã định nghĩa cái vòm đó là "trời"
(Gen 1:8).
Chúa Giêsu cũng xác quyết Chúa Cha
ở trên đó, khi Ngài dạy cầu xin: Lạy Cha chúng tôi ở trên trời (Mat.
6:9). Thánh Joan dạy rằng lúc thế mạt
vòm trời đó sẽ bị cuộn lại, cuốn đi, như một trang sách (Rev 6:14). Chúng ta cũng nên nhớ rằng vòm trời đó
có nhiều cột chống đỡ (Job 27:11); và trái đất cũng có nhiều cột chống
đỡ (Job 9:6). Đất đã được Chúa
đặt vững trên mặt nước (Psalm 136:6). Đất
muôn đời đứng yên một chỗ (terra in aeternum stabat, Vulgate, Eccl.
1:4)."
Theo đức tin Ca-Tô Giáo thì Thánh
Kinh là những lời "mặc khải" của Thượng Đế toàn năng sáng tạo
ra vũ trụ và muôn loài nên không thể sai lầm.
Chỉ có điều, trí tuệ của Thượng Đế khi đó không hơn gì trí
tuệ của những người bán khai là bao nhiêu cho nên mới "mặc khải"
cho các "Thánh Tiên Tri" những lời trong Thánh Kinh mà trí tuệ của
con người ngày nay đã hoàn toàn bác bỏ vì những lời "mặc khải"
đó quá sai lầm, không đúng với thực tại.
Vào đầu thập niên 1920, các
chuyên gia khảo cứu vũ trụ, qua những kính thiên văn tân kỳ, khám phá ra
rằng giải Ngân Hà (Milky Way) mà Thái Dương Hệ (hệ thống mặt trời và
các hành tinh xoay quanh mặt trời) của chúng ta nằm trong đó, có thể có tới
cả trăm tỷ ngôi sao, mỗi ngôi tương tự như mặt trời trong Thái Dương
Hệ, thật ra chỉ là một ốc đảo, một Thiên Hà (galaxy), trong vũ trụ. Các khoa học gia đã ước tính rằng
trong vũ trụ có khoảng 50 tỷ thiên hà tương tự như giải Ngân Hà. Trong vũ trụ học, vì phải kể đến những
khoảng cách vô cùng lớn nên người ta thường dùng đơn vị đo chiều dài
là 1 năm ánh sáng, hoặc đơn vị parsec bằng hơn ba năm ánh sáng một chút
(3.2616). Chúng ta đều biết, ánh sáng
truyền trong không gian với vận tốc khoảng 300000 cây số trong một giây
đồng hồ. Chúng ta cũng biết một phút
có 60 giây, một giờ có 60 phút, một ngày có 24 giờ, và một năm có khoảng
365 ngày. Do đó, chúng ta có thể
tính ra khoảng cách của một năm ánh sáng.
Khoảng cách này vào khoảng 9460800000000
(9 ngàn 4 trăm 60 tỷ 8 trăm triệu) cây số, hoặc gần 6 ngàn tỷ
miles.
Giải Ngân Hà có đường kính khoảng
100000 năm ánh sáng, và Thái Dương Hệ nằm cách xa tâm của giải Ngân Hà
khoảng 30000 (ba mươi ngàn) năm ánh sáng. Chúa
Giê-su mới "thăng thiên" cách đây khoảng 2000 năm, và dù cho chúng
ta chấp nhận Chúa thăng thiên với vận tốc của ánh sáng, một vận tốc
giới hạn của mọi vật chất, thì Thiên Đường của Chúa cũng chỉ quanh
quẩn đâu đó cách đây nhiều nhất là 2000 năm ánh sáng. Chỉ phiền có một điều, điểm đặc
biệt trong những khám phá mới về vũ trụ là các kính thiên văn tối tân
nhất hiện nay đã quét khắp vòm trời, đến tận những thiên hà cách xa
trái đất cả hơn 10 tỷ năm ánh sáng, mà không thấy bóng dáng của Thiên
Đường ở đâu. Nếu cho rằng Thiên
Đường ở xa hơn nữa, ngoài tầm khảo sát của các kính thiên văn, thì lại
đưa đến một vấn đề: cũng phải ít nhất là 10 tỷ năm nữa Chúa
Giê-su mới lên tới Thiên Đường. Các
tín đồ Ca-Tô tin tưởng rằng sẽ được lên Thiên Đường cùng Chúa sau
khi chết nên chuẩn bị một thời gian ít ra là 10 tỷ năm trước khi có thể
thấy dung nhan Chúa trên Thiên Đường. Dù
vậy cũng chưa chắc, vì vũ trụ đang ngày càng
nở rộng, và trong 10 tỷ năm nữa thì vũ trụ nở rộng đến
cỡ nào, chưa ai có thể biết trước được.
Khi đó, có thể mặt trời và trái đất sẽỵ không còn nữa vì
các khoa học gia ước tính trái đất và mặt trời chỉ có thể tồn tại
nhiều nhất là 5 tỷ năm nữa.
Đó là chuyện Chúa ở trên Thiên
Đường. Chuyện Chúa sống lại còn
vui hơn nữa nếu chúng ta đọc Thánh Kinh với một đầu óc sáng sủa,
phân tích, một loại đầu óc mà Giáo hội Ca-Tô ghét nhất. Chẳng thế mà đã có một thời Giáo hội
cấm tín đồ đọc Thánh Kinh vì e rằng tín đồ sẽ khám phá ra những lời
diễn giảng Thánh Kinh sai lầm của Giáo hội.
Các học giả nghiên cứu Thánh Kinh
đều đồng ý là trong bốn Phúc Âm thì Phúc Âm của Mark là cổ nhất, viết
vào khoảng 40 năm sau khi Giê-su chết. Ba
Phúc Âm kia, Matthew, Luke, John đều viết sau Phúc Âm của Mark nhiều năm, thí
dụ Matthew viết vào khoảng cuối thế kỷ 1, sau Mark khoảng 20 năm. Trước hết chúng ta hãy đọc chuyện Chúa
sống lại trong Mark 15 và 16.
Mark 15: 42-47; 16: 1 -8:
“Hôm đó, nhân ngày chuẩn bị lễ
Vượt Qua (nghĩa là thứ Sáu. TCN). Đến
chiều tối, Joseph, người Arimathea, một thành viên có uy tín trong Hội Đồng
Quốc Gia, từng trông đợi Nước Trời, bạo dạn đến xin Philate cho lãnh
xác Giê-su. Philate không tin Giê-su đã
chết nên gọi tên đội trưởng đến hỏi xem Giê-su đã chết thật chưa. Khi viên đội trưởng xác nhận Giê-su đã
chết, Philate cho phép Joseph lãnh xác Giê-su.
Joseph mua một cây vải gai, gỡ xác
Giê-su xuống khâm liệm, rồi đặt xác Giê-su trong một nấm mồ đục bên
sườn núi đá, rồi lăn một tảng đá lớn chặn trước cửa mồ.
Và Mary Magdalene và Mary, Mẹ của
Joses nhận biết nơi đặt xác Giê-su..
..Ngày
thứ Bảy qua, Mary Magdalene, Mary, mẹ của James và Salome đi mua hương liệu
để ướp xác Giê-su. Sáng sớm Chủ
Nhật, lúc mặt trời mọc, họ cùng nhau đi tới mộ Giê-su, hỏi nhau không
biết nhờ ai lăn tảng đá ra khỏi cửa mộ.
Nhưng khi tới nơi thì tảng đá lớn
đã được lăn ra khỏi cửa mộ rồi. Vào
trong nhà mồ, họ thấy một thanh
niên mặc áo dài trắng ngồi ở phía bên phải làm cho họ hoảng sợ.
Nhưng người thanh niên nói: "Đừng sợ!
Các ngươi đến tìm Giê-su ở Nazareth, người đã bị đóng đinh trên thập
giá. Ông ta sống lại rồi. Ông ta không có ở đây. Vào mà coi chỗ người ta đặt xác ông. Hãy đi báo cho các môn đệ của ông - và
Peter (Phê-rô) - rằng Giê-su đã đi
đến xứ Galilee trước họ rồi, và họ sẽ thấy Giê-su ở đó, như ông
đã dặn trước.
Ba người bèn chạy nhanh ra khỏi mộ
vì họ run sợ và thấy kỳ lạ. Và họ
không nói với ai lời nào vì sợ."
Bây giờ chúng ta hãy
đọc chuyện Chúa sống lại trong Matthew 27: 57-66 và Matthew 28: 1-8:
Đến tối
(thứ Sáu), Joseph, một người giàu có ở vùng Amarithea, cũng là một môn
đệ của Giê-su, đến xin Philate cho lãnh xác Giê-su. Philate ra lệnh trao xác Giê-su cho ông. Khi Joseph hạ thi hài Giê-su xuống, ông
gói xác trong một tấm vải gai sạch, rồi đặt xác Giê-su trong một hầm
mộ ông đục trên sườn núi đá. Joseph
lăn một tảng đá lớn chặn trước của mộ rồi bỏ đi. Mary Magdalene và bà Mary kia vẫn ngồi trước
mộ.
Hôm sau, kế ngày chuẩn bị lễ Vượt
Qua, các thầy trưởng tế và Pharisees đến gặp Philate và thưa rằng:
"Thưa Ngài, chúng tôi nhớ rằng khi còn sống, tên lừa bịp này
(Giê-su) đã nói: "Sau ba ngày ta sẽ sống lại". Để phòng mưu gian, xin Tổng Trấn ra lệnh
canh gác kỹ mộ nó suốt ba ngày, như thế các môn đệ của nó không thể
đánh cắp xác của nó rồi phao tin rằng nó sống lại.
Sự lừa
bịp này còn tai hại hơn là sự lừa bịp trước." Philate nói: "Các ngươi có lính gác, cứ
việc canh gác cho cẩn mật." Họ
liền niêm phong tảng đá và đặt lính canh gác trước cửa mộ..
..Sáng Chủ Nhật, trời mới rạng đông,
Mary Magdalene và bà Mary kia tới thăm ngôi mộ.
Bỗng nhiên có một trận động đất lớn vì một Thiên sứ từ
trên trời bay xuống, lăn tảng đá lớn ra khỏi cửa mộ rồi ngồi lên
trên đó., mặt sáng như chớp nhoáng, áo trắng như tuyết. Bọn lính gác khiếp sợ, đứng sững như
xác chết. Nhưng Thiên sứ nói với
hai người đàn bà: "Đừng sợ! Ta
biết các ngươi đến tìm Giê-su, người đã bị đóng đinh trên thập
giá. Ông ta không có ở đây, vì ông
ta đã sống lại. Hãy vào mà coi chỗ
người ta đặt xác Chúa.
Hãy đi lẹ và loan báo cho các môn đệ
của ông ta rằng ông ta đã sống lại, và thật vậy, ông ta đã đi tới
Galilee trước và các ngươi sẽ thấy ông ta ở đó. Hãy nhớ những lời ta nói. Hai người đàn bà vừa sợ vừa mừng, chạy
vội ra khỏi mộ và đi báo tin cho các môn đệ của Giê-su.
Chuyện Chúa sống lại trong Phúc Âm
Luke và Phúc Âm John tương tự như trong Phúc Âm Mark, tuy có một số chi tiết
khác nhau. Chúng ta thấy rằng chuyện
Chúa sống lại trong Phúc Âm Mark và Phúc Âm Matthew hoàn toàn khác biệt
nhau. Vậy chúng ta nên tin chuyện nào
và căn cứ vào đâu mà tin chuyện đó. Nếu
Mark đúng thì Matthew phải sai và ngược lại.
Vấn đề là chúng ta không thể biết ai đúng ai sai. Nếu dùng lý trí để xét đoán một vấn
đề thì khi chúng ta không thể căn cứ vào đâu để mà tin một trong hai
chuyện Chúa sống lại kia thì chúng ta phải loại bỏ cả hai. Các chuyên gia nghiên cứu Thánh Kinh đã
tìm ra nhiều điều thú vị trong chuyện Chúa sống lại trong Thánh Kinh
này.
Thứ nhất, Matthew 12: 40 kể lời
Giê-su “tiên tri” về sự sống lại của ông ta như sau:
“Chúa Giê-su đáp: “Như Giô-na
(Jonah) đã nằm trong bụng cá 3 ngày 3 đêm, ta sẽ vào lòng đất 3 ngày 3
đêm..”
Nhưng thực ra, không phải là Chúa sống
lại sau 3 ngày 3 đêm mà sau chỉ có 1 ngày rưỡi và 2 đêm: từ 3 giờ chiều
ngày thứ Sáu đến sáng sớm Chủ Nhật. Như
vậy là lời tiên tri của Chúa có một sai số là 50%. Trong khoa học, một dữ kiện có sai số
50% kể như là vứt đi, không thể sài được.
Thứ nhì, trong Matthew, khi hai bà Mary
đến nơi mộ Chúa thì tảng đá chặn cửa mộ vẫn còn đó. Rồi một Thiên sứ từ trên trời bay xuống
và lăn tảng đá ra khỏi cửa mộ. Ngôi
mộ trống không. Vậy xác Chúa ra khỏi
mộ bằng cách nào? Cho rằng hồn có
thể đi qua kẽ đá được, nhưng xác thì đi qua tảng đá bằng cách nào?
Thứ Ba, cùng một chuyện Chúa sống
lại mà bốn Phúc Âm mô tả khác nhau, nhiều khi đối nghịch hẳn nhau với
nhiều chi tiết rất mâu thuẫn, vậy nếu dùng lý trí để hỗ trợ đức
tin thì chúng ta phải tin như thế nào đây.
Và nếu tin rồi, nghĩa là không cần biết đến những mâu thuẫn
trong Thánh Kinh về chuyện Chúa sống lại, thì vai trò của lý trí đứng chỗ nào trong đức tin đó. Nếu chuyện Giê-su sống lại trong cả 4
phúc âm đều giống nhau thì chưa chắc điều này đã đúng như sự thực,
vì rất có thể đó là niềm tin của một số người cùng nghe lại một
truyền thuyết. Nhưng chi tiết trong 4
phúc âm về chuyện Giê-su sống lại có quá nhiều mâu thuẫn đối ngược
hẳn nhau, điều này chứng tỏ cả 4 phúc âm chẳng qua chỉ là tác phẩm của
4 người diễn giải sự việc theo lời đồn đại khác nhau trong dân gian
và theo niềm tin riêng của mình. Nhiều
học giả nghiên cứu thánh kinh đã khám phá ra rằng mỗi tác giả của 4
phúc âm đều có mục đích riêng khi viết chuyện giả tưởng về sự sống
lại của Giê-su.
Những cuốn phân tích kỹ lưỡng nhất
về những vấn đề ai là tác giả 4 phúc âm, viết với ý định gì, tài
liệu lấy từ đâu và lấy như thế nào v..v.., có thể nói là những cuốn
Ai Viết Những Phúc Âm? (Who Wrote The
Gospels?) của Randel McGraw Helms Giáo sư đại học Arizona State University, Hãy Dẹp
Đi Những Chuyện Trẻ Con (Putting Away Childish Things) của Giáo sư Thần học
Uta Ranke-Heinemann, Hãy Cứu cuốn Thánh Kinh
Khỏi Phái Bảo Thủ (Rescuing The Bible From Fundamentalism) của Giám mục
John Shelby Spong, và Năm Phúc Âm: Đích Thực
Giê-su Nói Gì? (The Five Gospels: What Did Jesus Really Say?) của The Jesus Seminar. Học hội Giê-su kể luôn Phúc Âm Thomas
nên mới là năm. Nhưng đây không phải
là nơi bàn luận chi tiết về thánh kinh, nên tôi không đi sâu vào những vấn
đề này.
Câu cuối cùng trong đoạn Kinh Tin Kính
nêu trên là:
..ngày
sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết..
Đây là niềm tin của những người
sùng tín Giê-su về một chuyện trong tương lai, cho nên không có một căn bản
khả tín nào. Trong 2000 năm qua, giáo hội
Gia Tô và nhiều hệ phái Ki-Tô khác đã nhiều lần tiên đoán ngày phán
xét, nhưng ngày đó không hề xảy ra, và sẽ không bao giờ có thể xảy ra
cho đến khi trái đất không còn tồn tại nữa.
Tại sao? Bởi vì những huyền
thoại do một số người sùng tín Giê-su bày đặt ra theo niềm tin riêng của
mình thì không bao giờ có thể trở thành sự thực. Chứng minh?
Đọc Thánh kinh, chúng ta thấy rõ
ràng là những người viết Tân Ước đều tin rằng Giê-su sẽ trở lại
trần gian trong một tương lai rất gần (Matthew 16: 27-28: Ta sẽ trở lại với
các thiên sứ trong vinh quang của Cha ta để thưởng phạt mỗi người tùy
theo việc họ làm. Ta cho các con biết:
một vài người đang đứng đây sẽ còn sống cho đến khi nhìn thấy ta
vào trong nước ta; Mark 9: 1: Chúa bảo các môn đệ: “Ta cho các con biết,
một vài người đang đứng đây sẽ còn sống cho đến khi nhìn thấy nước
trời thiết lập với uy quyền vĩ đại; Mark 13:30: Ta quả quyết, thế hệ này chưa qua đi
thì các biến cố đó (các biến cố xung quanh sự trở lại của Giê-su.
TCN) đã xảy ra rồi; Luke 21: 27, 30: Bấy
giờ nhân loại sẽ thấy ta giáng xuống trong mây trời với vinh quang và uy
quyền tuyệt đối.. Ta quả quyết: thế hệ này chưa qua đi, các biến cố
ấy đã xảy ra rồi; John 14: 21: Ta đi chuẩn bị chỗ ở cho các con. Khi chuẩn bị xong, ta sẽ trở lại đón
các con về với ta để các con ở cùng ta mãi mãi)
Nhưng Giê-su, với những lời hứa hẹn
hão huyền đầy tính chất tự tôn, tự cao, tự đại trên, đã cho các
môn đệ ăn bánh vẽ vì ông ta đã ra đi và không hề trở lại. 2000 năm qua, những người tin là Giê-su
có quyền phép “cứu rỗi” họ và cho họ lên thiên đường ở cùng ông
đã dài cổ ra ngóng chờ “ngày trở về” của Giê-su, nhưng năm này qua
năm khác, thế hệ này qua thế hệ khác, thiên niên kỷ này qua thiên niên
kỷ khác, Giê-su vẫn biệt tăm. Làm
sao ông ta có thể trở về được khi ông ta đã bị đóng đinh trên thập
giá, chết, và táng xác? Lời hứa hẹn
vô trách nhiệm đầy tính cách lừa dối những kẻ nhẹ dạ như trên có
giá trị gì khi những điều ông hứa không hề mảy may thực hiện được
đã 2000 năm nay. Hiện giờ ông ta ở
đâu? Không ai biết. Nhưng chắc chắn là không phải ở trên
trời, vì Giáo hoàng John Paul II, đại diện của ông trên cõi trần, đã khẳng
định không làm gì có thiên đường trên các tầng mây. Và điều này cũng phù hợp với những
khám phá của khoa học trong môn vũ trụ học.
Không ở trên trời thì chỉ có thể ở dưới đất, sâu ba thước. Nhưng ở đâu?
Công cuộc khảo cứu của Richard Andrews và Paul Schellenberger trong hơn
25 năm, dựa trên những tấm họa đồ trên giấy da, gồm những bản văn có
tính cách mật mã và những xếp đặt hình học, do linh mục Bérenger
Saunière kiếm thấy khi tân trang một nhà thờ ở miền Nam nước Pháp vào
cuối thế kỷ 19, đã đưa đến kết luận là hài cốt của Giê-su đã
được chuyển tới miền Nam nước Pháp, tại Rennes-le-Château, vào khoảng
thế kỷ 12. Và ngày nay, vị trí mồ
Giê-su đã biết rõ sau khi các chuyên gia khảo cứu giải được mật mã
trong những bản văn và những họa đồ hình học trên những tấm giấy
da. Công cuộc khảo cứu này được
tường trình đầy đủ trong một cuốn sách dày hơn 500 trang với nhiều
chi tiết giải thích ý nghĩa các bản văn và họa đồ hình học. Tên cuốn
sách là Cái Mồ của Thần: Thây của
Giê-su và Giải Đáp Của Một Sự Bí Mật 2000 Năm (The Tomb of God: The
Body of Jesus and the Solution to a 2000-year-old Mystery), xuất bản năm 1996. Những khám phá mới này đã soi sáng một
sự kiện: ngay từ thời gian đầu, có một hệ phái Ki Tô chủ trương dùng
trí tuệ để đi tới giải thoát, đối nghịch với chủ trương của hệ
phái Ca-Tô khai thác sự mê tín của quần chúng, xây dựng đức tin trên những
huyền thoại, phép lạ, và những tín điều độc đoán. Tác giả Paul Schellenberger viết trong Lời
Nói Đầu:
Kết luận
của chúng tôi thật là ngạc nhiên, tự nó vốn nguy hiểm, và gây nhiều
tranh cãi, nhưng đó là sự suy diễn hợp lý duy nhất trong ánh sáng của
các bằng chứng.
Chúng tôi vấp phải điều có thể
là một bí mật nhất từ xưa tới nay, một bí mật đã làm sáng tỏ sự
kinh hoàng của giáo hội Ca-Tô qua những phản ứng quá mức trước những
lời phê bình và tín điều đối nghịch trải qua nhiều thế kỷ. Sự kiện giáo hội phải dùng đến những
biện pháp cực đoan để bảo đảm sự che đậy sự bí bật này, được
coi như là tột bực dị giáo, không có gì làm cho chúng ta ngạc nhiên. Vì đặt căn bản giáo lý trên một niềm
tin đối ngược (nghĩa là Giê-su sống lại và bay lên trời thay vì sự thực
là Giê-su không chết mà còn lập gia đình, sinh con đẻ cái), khó mà giáo
hội có thể chấp nhận sự sai lầm của mình.
Điều ngạc nhiên đối với chúng tôi là sự khám phá ra một hệ
phái bí mật Ki-Tô đã cùng hiện hữu với xu hướng Ki Tô Giáo của đám
đông và, quan trọng hơn nữa, đã có một kiến thức, trọng điểm giáo
lý của hệ phái đó, mà ngày nay chúng tôi phải đương đầu.
Càng tìm hiểu những dấu vết về hệ
phái Ki-Tô “không chính thức” đó, chúng tôi càng hình dung ra được khả
năng của nó tạo thành một đức tin đương thời.
Đối với nhiều người ngày nay, xu
hướng Ki-Tô giáo của đám đông, tuy
cổ súy một tác phong hành xử có giá trị, nhưng lại đòi hỏi con người
phải không được dùng đến lý trí, phải có một đức tin mù quáng, đó
là điều không thể chấp nhận được - điều này đã làm cho họ rời xa
giáo hội và bác bỏ những lễ tiết thờ phụng của giáo hội. 27
Và tác giả Richard Andrews viết trong
Lời Kết:
Chúng tôi
đã đi đến kết luận là Núi Cardou (ở miền Nam nước Pháp. TCN) là nơi
xác Giê-su Ki-Tô, Thần trên trái đất, an nghỉ cuối cùng; đó chính là Mồ
của Thần. Nhiều người khác, kể cả
một số linh mục trong thế kỷ 19, cũng đã đi tới cùng một kết luận. Sự kiện này và quan niệm về thông điệp
của phái chủ trương đạt giải thoát bằng kiến thức (Gnoticism), bao gồm
hai lực đối nghịch của ánh sáng và tối tăm, đã chịu đựng nổi những
nỗ lực cực đoan của giáo hội Ca-tô với mục đích loại bỏ những tư
tưởng này trong đầu óc của người Tây phương trong suốt hai thiên niên
kỷ nay.
Giáo hội Ki Tô đã tự giới hạn một
cách trầm trọng những sự chọn lựa để có thể thay đổi trong tương
lai vì đã đẩy mạnh quan niệm về
“xác chết sống lại” và đem nó vào trong lễ tiết của lễ Mi-xa (Mass)
- sự biến chất của bánh và rượu thành thân thể và máu của Giê-su. Giáo hội phải duy trì ảnh hưởng của mình
qua cái bí tích phổ quát này. Bí quyết
thành công của giáo lý này nằm trong sự khai thác bản tính con người. Giáo hội Ca-Tô đặt mặc cảm “có tội”
vào trọng tâm của giáo lý, cùng lúc đưa ra phương cách cất bỏ mặc cảm
tội lỗi này. Xưng tội, đi kèm với
ăn năn thống hối, qua trung gian của giới linh mục, xóa bỏ được tội lỗi. Điều này có thể được bảo đảm bất
cứ lúc nào, bất kể là tội lỗi lớn tới mức nào. Chẳng cần phải là người thông thạo về
thần học chúng ta cũng có thể hiểu được tại sao quan niệm như vậy trở
thành phổ thông.
Ngược lại,
hệ phái Ki Tô chủ trương đạt giải thoát bằng kiến thức, đẩy mạnh
con đường tự quyết, một con đường khác biệt với sự tuân phục sách
vở và giới linh mục, đã đưa ra một sự thách đố khác hẳn đối với
con người. Sự khám phá ra những
phúc âm tại Nag Hammadi (những cuộn kinh trong biển chết: The Dead Sea
Scrolls. TCN) đã cho chúng ta bằng chứng xác nhận sự khác biệt giữa những
người theo Ki-Tô đã xảy ra ngay từ thời gian đầu và còn lan tràn trong
thế kỷ 3. Những tín đồ theo Giáo
hội Rô-Ma được quy định là phải chờ Giê-su trở lại trong ngày phán
xét cuối cùng mới có thể chia xẻ kinh nghiệm Của Giê-su và lên thiên
đường. Nếu Giê-su không sống lại
thì không làm gì có ngày trở lại. Bất
cứ dạng ám chỉ nào về sự vô nghĩa của sự sống lại, khoan kể đến
sự hiện hữu của xác Giê-su trên trái đất, đã đánh thẳng vào tim của
giáo hội theo lý thuyết của Phao Lồ (nghĩa là giáo hội Ca-Tô Rô-Ma. TCN). 28
Tưởng chúng ta cũng nên biết,
trước khi cuốn Mồ Của Thần Ki-Tô ra đời cũng đã có nhiều công cuộc
khảo cứu khác về cùng vấn đề, nhất là sau khi người ta kiếm ra được
những cuộn kinh nơi biển chết (The dead sea scrolls) từ giữa thập niên
1940. Điển hình là trong thập niên
1980, ba tác giả Michael Baigent, Richard Leigh, và Henry Lincoln đã xuất bản những
thiên khảo cứu Máu Thánh, Chén Thánh (Holy Blood, Holy Grail) và Cái Gia Sản Cứu Thế (The Messianic Legacy)
về những tài liệu chứng tỏ Giê-su không chết, đã lập gia đình, có
con và dòng dõi Giê-su hiện đang sống ở miền Nam nước Pháp. Tuy nhiên, tôi sẽ không đi sâu vào chủ
đề này trong một cuốn sách luận về đức tin trong Ca-Tô Giáo Rô-Ma.
Sau đây, chúng ta hãy đọc tiếp
Kinh Tin Kính:
..Tôi
tin kính đức Chúa Thánh Thần. Tôi
tin có hội Thánh hằng có ở khắp thế này, các Thánh thông công.
Thực ra, dịch Holy Spirit là Chúa
Thánh Thần không được đúng, vì chẳng có gì có thể gọi là Thánh hay
Thần. Spirit là dịch từ tiếng Do
Thái “ruah”, có nghĩa là “hơi thở, không khí, gió” (breath, air, wind).
Ngày xưa, người ta coi nó như là một hồn ma, vì vậy mới gọi là Thánh
Ma (Holy Ghost). Cho tới bây giờ, vẫn
còn rất nhiều người dùng danh từ Holy Ghost.
Tiếng thông dụng ngày nay là Thánh Linh.
Gọi vậy thôi chứ chẳng ai biết Thánh Linh là cái gì. Trong Ca-Tô
Giáo Rô-Ma, cái gọi là “Chúa Thánh Thần” đóng rất nhiều vai trò. Cái mà không ai nhìn thấy, không ai sờ
mó được, vô hình vô dạng, được tin là một trong ba ngôi Chúa, biến
hóa vô cùng.
Chúa Thánh Thần có thể
làm cho bà Mary mang thai mà không cần đến tinh khí của đàn ông; tới ngự trong đứa con nít thay
thế chỗ của Satan trong khi nó bị lôi đến nhà thờ làm lễ rửa tội; hướng
dẫn các Hồng Y trong việc tuyển chọn Giáo hoàng kể cả các giáo hoàng
can tội sát nhân, dâm loạn, bán phép giảm tội để lấy tiền v..v..; chủ
sự hôn phối cho những cặp nam nữ ở các nước Âu Mỹ có tỷ lệ ly dị
rất cao; là nguồn tâm linh hướng dẫn hành động của giáo hội Ca-Tô, kể
cả những hành động gây ra 7 núi tội lỗi đối với nhân loại mà “tòa
Thánh” mới thú tội và xin lỗi gần đây; có mặt trong tất cả những
bí tích của Ca-Tô giáo v..v.. Chúa Thánh Thần có thể hiện ra dưới nhiều
biểu tượng: nước, dầu, lửa, mây, ánh sáng, bàn tay, ngón tay, chim cu.
(Xin đọc Catechism of the Catholic Church, pp. 183-185).
Nhưng thực ra, những thuộc tính mà giáo hội Ca-Tô gán cho Thánh Linh
và bắt các tín đồ phải tin có đúng không, và có những bằng chứng gì
để thuyết phục những người ngoại đạo?
Tôi sẽ bàn qua vai trò của Thánh Linh trong chương sau, khi tôi luận về
các “bí tích” trong Ca-Tô Giáo Rô-Ma.
Cái mà các tín đồ Ca-Tô tin là “hội
Thánh”, nguyên nghĩa là “giáo hội Ca-Tô thánh thiện” (the holy Catholic
church), thật ra chẳng phải là hội Thánh. Vì
hội Thánh nào mà lại có thể gây ra 7 núi tội lỗi mà Giáo hoàng và “tòa
Thánh” đã phải xưng tội và xin được tha thứ cùng thế giới ngày 12
tháng 3 năm 2000? Hội Thánh nào mà lại
gây ra 9 cuộc “thánh chiến”với kết quả là bao nhiêu triệu người vô
tội bị tàn sát, đưa cả Âu Châu vào vòng tăm tối và man rợ trí thức
trong suốt 1000 năm của thời đại đen tối (the dark ages), lập ra những tòa
hình án để dùng cực hình tra khảo, thiêu sống, cướp tài sản của số
nạn nhân lên tới 11 triệu người, làm tiên phong hoặc đồng hành với
các thế lực thực dân Âu Mỹ đi xâm chiếm đất đai, cướp tài sản, cưỡng
bách cải đạo để truyền bá cái đạo “cao quý”, vu cho người Do Thái
cái tội “giết Chúa” để có cớ bách hại người Do Thái suốt 2000 năm
nay v..v.. Một cái hội có những
thành tích kinh hoàng như vậy có thể gọi là “hội thánh” được hay không? Nhất định là không thể được, ít ra
là đối với những người ngoại đạo. Còn
đối với các tín đồ thì họ muốn tin ra sao, đó là quyền của họ. Nhưng họ không có quyền bắt hoặc hi vọng
những người khác cũng phải tin như họ. Và,
những người ngoại đạo, khi biết đến lịch sử tàn bạo của giáo hội
Ca-Tô, thì đương nhiên có quyền khinh khi cái gọi là “hội thánh” này.
Nếu đã chẳng làm gì có cái gọi
là “hội Thánh” thì cũng chẳng làm gì có cái gọi là “các thánh
thông công.” Các tín đồ Ca-Tô tin rằng
sau khi chịu lễ rửa tội từ khi còn khóc oe oe, chưa biết gì, là mình đã
chính thức gia nhập “hội thánh” và đương nhiên là thánh rồi. Chẳng vậy mà ông Nguyễn Kim Khanh, một
tín đồ Ca-Tô với bút hiệu là Phan Thiết, viết trong cuốn Đất Việt..,
trang 358:
..những ai giữ nghĩa cùng Chúa cho đến
hơi thở cuối cùng (bất kể là trong đời bê bối đến đâu, độc ác đến
đâu, ăn gian nói dối đến đâu v..v.. TCN) đều có quyền chia động từ
“là thánh”: tôi là thánh, anh là thánh, chúng ta là thánh..
Thánh của ông Phan Thiết thật rẻ
như bèo, đáng bao nhiêu đồng tiền? Không
có tôn giáo nào nhiều thánh như Ca-Tô giáo Rô-Ma. Nhưng thực ra, đâu có phải cứ được
“tòa thánh” phong thánh hay gọi là thánh mà là thánh. Trong Thánh Kinh cũng đầy thánh, có nhiều
thánh chẳng ai biết gốc tích ra sao, ví dụ như các thánh viết bốn phúc
âm Matthew, Mark, Luke và John. Ở ngoài
đời thì cứ làm giáo hoàng là tự động thành “đức thánh cha”, chưa
kể nhiều tội đồ của nhiều dân tộc khác cũng trở thành thánh Ca-Tô
qua cái xưởng sản xuất thánh: Vatican (Hồng y Silvio Oddi: Vatican has become a
saint factory). Để độc giả có một
ý niệm về thế nào là thánh trong Ca-Tô giáo, trước hết tôi xin kể sơ
lược về vài thánh trong thánh kinh.
Abraham, thánh tổ phụ của các đạo
Chúa, lấy em ruột làm vợ rồi dâng vợ cho các vua Ai Cập Pharaoh và
Abimelech để đổi lấy trâu bò đồng ruộng, rồi lại ra tay định giết
đứa con ruột của mình là Issac (Sáng Thế 20, 21); thánh Lot, dâng hai đứa
con gái còn trinh cho bọn cướp muốn làm gì thì làm (bọn cướp từ chối),
sau lại ngủ với cả hai đứa con gái ruột của mình làm cho cả hai đều
mang thai (Sáng Thế 19); thánh Moses, sản
phẩm của một cuộc loạn luân (Exodus 6: bố của Moses lấy cô ruột sinh
ra Moses và Aaron), nghe lệnh Chúa Cha, giết người không gớm tay, cùng ra lệnh
cho quân dưới trướng phải giết sạch đàn ông, đàn bà và con nít trong
một thị trấn, chỉ để lại gái trinh và dâng cho Chúa một phần là 32
trinh nữ (Numbers 31); thánh David đã có nhiều vợ nhưng còn cướp vợ của
Uriah là Bethsheba bằng cách gửi Uriah ra tiền tuyến kèm theo mật lệnh cho
vị chỉ huy tiền tuyến là Joab phải làm sao để Uriah không được sống
sót (2 Samuel 11: 24,26,27); và ngay cả Chúa Giê-su, chúa của các thánh, cũng là người hỗn hào với cha mẹ, xấc
láo gọi người đàn bà không phải dân Do Thái là chó, tàn nhẫn ác độc
bắt 2000 con heo vô tội đâm đầu xuống sông chết đuối, nguyền rủa cây
sung cho nó chết héo chỉ vì nó không ra quả khi trái mùa v..v.. như đã
trình bày với nhiều chi tiết trong một phần trên. Đó là tên một số
thánh quen thuộc, còn biết bao thánh khác trong thánh kinh lòng dạ độc ác,
hành động phi cầm phi thú, đếm thật không xuể.
Còn các thánh ở ngoài đời thì
sao? Tín đồ Ca-Tô Việt Nam gọi giáo
hoàng của họ là “đức thánh cha”, tin rằng giáo hoàng đương nhiên phải
là bậc thánh, vì giáo hội dạy rằng, giáo hoàng được chọn là do kết
quả hướng dẫn của thánh linh cho các hồng y, những người có quyền chọn
lựa, quyết định ai là giáo hoàng. Không
có một sự lừa dối nào trắng trợn hơn là luận điệu này. Các tín đồ tin là vì họ không biết gì
về lịch sử các giáo hoàng trong giáo hội của họ. Để mở mang đầu óc của họ, sau đây
tôi xin trích dẫn một đoạn trong cuốn Những
Dối Trá và Huyền Thoại Của Thánh Kinh của Lloyd M. Graham:
Chúng tôi
thừa nhận rằng điều mà chúng tôi trình bày ở đây là chủ ý đưa ra hình
ảnh một mặt, mặt đen tối và ô nhục. Lý
do để đưa ra mặt này là vì hàng triệu linh hồn bị lạc dẫn đang sơn
phết mặt kia và đưa cao nó lên như là mặt duy nhất cho thế giới những
kẻ nhẹ dạ, cả tin. Chúng tôi nghĩ
rằng chúng ta cần phải biết cả hai mặt, không chỉ vì lợi ích của sự
thật mà còn là cho những người đang sống trong sự nô lệ tâm linh cho một
quyền lực lừa đảo. Đối với những
người này, một ngàn năm tội ác và đồi bại được làm nhẹ đi qua lời
giải thích hời hợt là “chỉ có vài giáo hoàng xấu”. Nếu những người giải thích như vậy mà
lương thiện, họ phải thừa nhận rằng thật ra chỉ có vài giáo hoàng tốt.
Chúng tôi đã nói về sự bất lương
của học thuật Ca-Tô. Không ở đâu
rõ ràng bằng luận điệu bào chữa, che đậy cho các giáo hoàng đồi trụy.
Những tội
ác của các giáo hoàng là do những người khác làm và “không thể tránh
được”, sự thiêu sống những kẻ dị giáo là một “điều cần thiết
của thời đại”, những sự trụy
lạc của giáo hoàng chỉ là “yêu thích sự vui vẻ lành mạnh”. Những hồ sơ ghi chép sự việc đương thời
đã hoàn toàn phủ bác những luận điệu trên, và những điều ghi chép
này không phải là do những kẻ thù của giáo hội viết, mà phần lớn là
do những sử gia của chính giáo hội gồm có những giáo hoàng và hồng y:
giáo hoàng Victor II, Pius II, hồng y Baronius, giám mục Liutprand, linh mục
Salvianus, và các sử gia như Milman, Gerbert, Burchard, Guicciardini, Vacandard,
Draper, và nhiều người khác. Đây
chính là những người có đầy đủ thẩm quyền đưa ra cái mặt đen tối
và ô nhục của giáo hội. Những gì
mà chúng tôi trình bày ở đây chỉ là lượm lặt trong thời gian 1500 năm,
nhưng chúng tôi nghĩ rằng cũng đủ để bác bỏ mọi điều tự nhận của
giáo hội, cho rằng giáo hội đã được thánh linh tuyển chọn và hướng
dẫn..
Trong thời đại đen tối (the dark
ages) những giáo hoàng được thánh linh hướng dẫn này đã giết nhau với
nhịp độ 10 giáo hoàng bị giết trong vòng 12 năm (891-903) và 40 trong vòng
hơn 100 năm. Sergius III là một kẻ giết
nhiều người; theo hồng y Baronius và Vulgarius, ông ta đã giết hai vị giáo
hoàng tiền nhiệm. Năm 708, Toto, một
nhà quý tộc đứng đầu một đám thuộc hạ ô hợp, đã vận động để
cho anh hắn được bầu làm giáo hoàng. Đó
là giáo hoàng Constantine II, người sau đó bị Christopher, thủ tướng của
ông ta, móc mắt ra. Rồi Christopher
cùng con của hắn âm mưu chống giáo hoàng Gregory và cũng cho người móc mắt
Gregory. Hai đứa cháu của giáo hoàng
Leo III là Pascal và Campulus đều là linh mục.
Chúng toa rập với nhau mưu đồ thay thế Leo III, thuê một đám giết
mướn để giết Leo III khi ông ta đi dạo phố.
Việc không thành, chúng đích thân ra tay, kéo Leo III vào một tu viện
và giết ông ta tại đó. Chắc độc
giả cho rằng đó là chuyện thuần túy giả tưởng, chỉ để phỉ báng. Nhưng không phải vậy, đó là dựa theo những
hồ sơ ghi lại sự việc của nhà viết tiểu sử các giáo hoàng.
Đó chỉ là chuyện thường của thời
đại. Giáo hoàng Leo V bị một người
cũng tên là Christopher hạ bệ, rồi đến lượt tên này cũng bị hạ bệ
và cái tên sát nhân giết mấy giáo hoàng tiền nhiệm đã nói ở trên,
Sergius III, lên thay. Trong thời đại này, không phải là Thánh Ma tuyển chọn
giáo hoàng mà là, theo Hồng y Baronius, những cô gái điếm (scortas). Đó là “luật lệ của những cô gái điếm
hạng sang” (rule of the courtesans), đôi khi còn được gọi là “chế độ
điếm trị” (Pornocracy), hay là triều đại của các cô gái điếm (reign
of the whores). Trong số điếm này có
một người mà Baronius gọi là “con điếm vô liêm sỉ”, Theodora, và đứa
con gái vô liêm sỉ không kém là Marozia. Cả
hai mẹ con đều có con với giáo hoàng Sergius III, và cả hai đều đưa những
đứa con hoang của mình lên ngai giáo hoàng - John XI và John XII. John XI bị cầm tù và John XII đã “biến
dinh Lateran (nơi giáo hoàng ở, trong Vatican. TCN) thành một ổ điếm”. Không có một tội ác nào mà John XII
không làm - giết người, khai gian, thông dâm, loạn luân với hai em, đâm
chém và thiến kẻ thù v..v.. Hắn ta chết trong tay của một người chồng
bị xúc phạm (vì bị bắt quả tang đang thông dâm với vợ người này.)
Theo sử
liệu, hồng y Francone cho người thắt cổ giáo hoàng Benedict VI, sau đó lên
làm giáo hoàng Boniface VII, “một con quỷ khủng khiếp vượt mọi con người
về tội ác”, theo sử gia Gerbert. Hắn
ta cũng chẳng tệ hơn gì giáo hoàng Boniface VIII.. Thật vậy! Để chiếm được cái mũ tiara (mũ ba tầng
của giáo hoàng. TCN) hắn đã thủ tiêu giáo hoàng dở hơi Celestine V. Nhưng hắn cũng chẳng hưởng được sự
chiến thắng lâu dài vì ngay sau đó hắn bị những người La Mã truất phế. Trong triều đại của một giáo hoàng kế
vị, Clement V, sau khi chết hắn còn bị mang ra xét xử và được xem là phạm mọi tội ác, kể
cả tội hành dâm với đồng nam (pederasty) và giết người. Và khi Clement chết thì người kế vị hắn,
John XXII, phanh phui ra rằng Clement đã quá nhân từ (Tác giả chơi chữ: “Clement
had been so very clement” vì clement có nghĩa là nhân từ) nên đã cho người
cháu một số tiền tương đương với 5 triệu dô-la, tiền của giáo
hoàng. Vào thời gian này, triều đình
của giáo hoàng được chuyển đến Avignon, và thánh Phê-rô nay cùng lúc
có hai người kế thừa, một người ở Avignon và một người ở Rô-Ma. Nhưng vậy mà cũng chưa đủ vì có khi có
tới ba giáo hoàng cùng một lúc - Gregory XII, Alexander V, và John XXIII. Về sau John XXIII bị từ khước, tên
thánh bị hủy bỏ, và gần đây tên này (John XXIII) được giáo hoàng kế
vị Pius XII lấy lại.
Sự đồi
bại của John XXIII lên đến độ mà Sigmund ở Hung Gia Lợi phải triệu tập
một hội đồng điều tra hắn ta. Kết
quả của cuộc điều ta là đưa ra năm mươi bốn (54) khoản mô tả John
XXIII là “độc ác, không tôn trọng những điều thiêng liêng, không trong
trắng, nói láo, không tuân theo luật lệ và đầy những thói xấu.” Khi còn là hồng y, John XXIII đã là người
“vô nhân đạo, bất công và tàn bạo.” Khi
lên làm giáo hoàng, ông ta là “kẻ đàn áp người nghèo, khủng bố công
lý; là cột trụ của tội ác, hình tượng của những kẻ buôn bán chức
tước và thánh tích; ham mê trò quỷ thuật, cặn bã của thói xấu, đắm
mình trong nhục dục; là tấm gương của sự ô nhục, một kẻ phát minh ra
những tội ác.” Hắn giữ chắc
ngôi vị giáo hoàng bằng “bạo lực và gian lận và bán phép giải tội,
chức vụ, bí tích và những đồ ăn cướp được.” Hắn “xúc phạm thánh thần, thông dâm,
giết ngưòi, hiếp dâm và ăn cắp.”.. Một
vài những giáo hoàng như vậy vô đạo đức, tục tĩu đến độ phải đi
đày. Ít nhất là có hai giáo hoàng bị
móc mắt và cắt lưỡi, rồi buộc vào đuôi lừa kéo lê ngoài đường phố. Một số khác bị khinh ghét đến độ
người ta quật xác chúng lên và ném xuống sông Tiber. Sau một ngàn bốn trăm năm dưới quyền lực
của Ki Tô Giáo, đạo đức xuống thấp đến độ giáo hoàng Pius II than rằng
“hiếm mà có một ông hoàng ở Ý không phải là đứa con hoang.” Lời tuyên bố này cũng áp dụng cho những
ông hoàng của giáo hội (nghĩa là những giáo hoàng, hồng y, giám mục
v..v..) như là của chính quyền dân sự.
Tệ hại
như vậy nhưng sự tệ hại hơn còn chưa tới - với giòng họ Borgias, đặc
biệt là Rodrigo. Trong những giáo
hoàng xấu xa độc ác thì hắn xứng đáng đứng đầu. Bằng cách hối lộ 15 hồng y với số tiền
tương đương với 3 triệu đô-la, hắn chiếm được sự tuyển lựa một
con người tệ hại nhất trong lịch sử - chính hắn, lên làm giáo hoàng với
tên Alexander VI. Sử gia Guicciardini mô
tả hắn như sau: “..có những thói quen cực kỳ tục tĩu, vô liêm sỉ và
không có một ý thức nào về sự thật, nuốt lời, không có tình cảm
tôn giáo, tham lam vô độ, nhiệt tình tham vọng, độc ác quá sự độc ác
của những giống người man rợ, tham muốn đưa con lên địa vị cao bằng
mọi thủ đoạn: hắn có nhiều con, và một trong những đứa này - cũng đáng
ghê tởm như cha của nó.” Đó là con người nổi tiếng, Cesare
Borgia, người đã giết người anh rể là John, và hai hồng y khác để chiếm
được cái áo hồng y..
Khi còn
là hồng y, cái kẻ chơi bời phóng đãng và sát nhân này đã biến chỗ
ở của mình trong Vatican thành một ổ điếm.
Theo sử gia đương thời là Burchard, hắn đắm mình trong những cuộc
hoan lạc trong những phòng của hắn, ngay trên phòng của giáo hoàng, và những
cô gái điếm hạng sang “nhảy múa trần chuồng trước những tôi tớ của
Chúa và vị đại diện của Chúa (nghĩa là giáo hoàng. TCN).”.. Đó là sự hoan lạc được giải thích như
là “lòng yêu thích sự vui vẻ lành mạnh.”
Đó là những ông hoàng của giáo hội
trong những ngày đó. Trong thời Trung
Cổ, tập thể các hồng y cũng đồi bại như là một tập thể mà người
ta có thể kiếm được trong suốt giòng lịch sử. Chiếm được một ngôi vị hồng y chỉ
là vấn đề có tiền và ảnh hưởng quen thuộc.
Đức tính, sự hiểu biết, và khả năng không dự phần nào trong đó. Thật vậy, những đứa trẻ mười bốn
mười lăm tuổi đôi khi cũng được đưa lên ngôi vị hồng y. Giáo hoàng Paul III cho hai đứa cháu (gọi
Paul III bằng ông) làm hồng y.. Paul IV cũng cho một đứa cháu gọi Paul IV bằng
bác lên làm hồng tuy chính ông ta nói “cánh tay của nó ngập máu đến tận
khuỷu tay.”
Vậy mà
đó là những người, với sự trợ giúp của Thánh Ma, tuyển chọn giáo
hoàng..
Tại sao cái lịch sử ô nhục này
không được tín đồ biết đến như là lịch sử các giáo hoàng mà họ
cho là tốt? Tại sao các tín đồ Ca-Tô
không được dạy rằng chính những con người như trên đã đưa đến sự
cải cách chứ không phải là do “con quỷ Luther đó.”? Giáo phái Tin Lành nổi giậy không chỉ
vì Luther mà vì sự phản đối tôi ác và sự đồi bại của giáo hội
Ca-Tô trong nhiều thế kỷ. Tên Sa-Tăng
Phê-rô đã xúc phạm đến toàn thể Âu Châu.. 29
Trên đây chỉ là sơ lược về những
sự đồi bại cùng cực của một số không nhỏ “đức thánh cha”, những
người được Thánh Linh hướng dẫn tập đoàn hồng y trong sự tuyển chọn,
trong lịch sử Ca-Tô Giáo Rô-Ma. Tôi
chưa hề nói đến những hoạt động lừa đảo, gian dối, thế tục, thực
dân của “hội thánh” liên hệ đến những vấn đề chính trị, xã hội,
kinh tế, văn hóa v..v.. trên khắp thế giới. Những vấn đề này cần
riêng một cuốn sách mới có thể tạm gọi là đầy đủ. Riêng về các
chuyện “thâm cung bí sử” của Ca-Tô Giáo Rô-Ma, quý độc giả nào muốn
biết thêm chi tiết có thể đọc cuốn Những
Đại Diện Của Ki-Tô: Cái mặt Đen Tối Của Giáo Hoàng Triều (Vicars
of Christ: The Dark Side of the Papacy) của Tổng Giám Mục Peter de Rosa, trong đó
có một chương nói về Triều Đại Giáo
Hoàng Do Điếm Trị (Papal Pornocracy) mà Hoàng Thiên đã dịch với đầu
đề không được sát nghĩa cho lắm: Triều
Đại Dâm Loạn Của Các Giáo Hoàng, và đăng trong Tuyển Tập I: Tại Sao Không Theo Đạo Chúa,
do ban nghiên cứu đạo giáo ở Texas xuất bản và phát hành năm 1994. Độc giả cũng có thể đọc những cuốn
sau đây: Những Giáo Hoàng Đồi Bại
(The Bad Popes) của E. R. Chamberlin; Vạch Trần Những Sự Thực về Các Giáo
Hoàng: Một Nghiên Cứu Thẳng Thắn về Vấn Đề Nhục Dục và Đồi Bại
trong cung đình Vatican (Unzipped: The Popes Bare All, A Frank Study of Sex and
Corruption in the Vatican) của Arthur Frederick Ide; Những Chuyện Tình Ái của Vatican hay Những
Tình Nhân Yêu Chuộng của Các Giáo Hoàng (The Love Affairs of the Vatican or
The Favorites of the Popes) của Tiến sĩ Angelo S. Rappoport.
Có thể có những tín đồ Ca-Tô,
tin theo lời chống đỡ của giáo hội, cho rằng đây chỉ là những chuyện
dính líu đến một số giáo hoàng, hồng y xấu xa trong quá khứ và đó là
những chuyện đã qua. Không hẳn vậy,
những chuyện đồi bại, ác độc không chỉ giới hạn trong giới giáo
hoàng hay hồng y mà còn lan tràn trong mọi giới lãnh đạo Ca-Tô gồm cả
các Tổng Giám Mục, Giám Mục và Linh mục, và kéo dài cho đến tận ngày
nay. Độc giả có thể đọc những
chuyện này trong nhiều tác phẩm đã xuất bản, đặc biệt là chương I
trong cuốn The Love Affairs of the Vatican của
Dr. Angelo S. Rappoport.
Tôi không muốn đi sâu vào những vấn
đề này. Những tài liệu nêu trên chỉ
có mục đích là chứng minh rằng: không có cách nào chúng ta có thể coi
Ca-Tô giáo như là một “hội thánh” vì giáo hội Ca-Tô đã phạm quá nhiều
tội ác đối với nhân loại, và vì nhiều bậc lãnh đạo trong Ca-Tô
giáo, kể cả một số người được phong làm Thánh Ca-Tô, xưa cũng như
nay, không đủ tiêu chuẩn đạo đức và trí tuệ để theo kịp những người
dân bình thường lành thiện, khoan nói đến những bậc thánh nhân theo sự
hiểu và định nghĩa của những người Á Đông về thánh nhân..
Có lẽ vì vậy mà Giám mục Spong đã
nhận định về những từ “hội thánh” và “các thánh thông công”
trong Kinh Tin Kính như sau:
Kinh Tin
Kính kết bằng một đoạn hiến dâng cho Thánh Linh, cái mà người ta nói rằng
đã tạo nên giáo hội trong ngày hạ trần của ông ta (được quy định vào
ngày chủ nhật thứ bảy sau ngày chủ nhật Phục Sinh. TCN), và được cho
là vẫn tiếp tục chứa đầy giáo hội với “sự hiện diện của Thần
Ki-Tô”. Thứ nhất, chúng ta cần ghi
nhận rằng, tất cả những biểu tượng về ngày hạ trần của Thánh Linh
đều bắt nguồn từ cùng một quan niệm về ba tầng trời (theo thánh kinh:
thiên đường ở trên các tầng mây, mặt đất phẳng dẹt, đứng yên và
là trung tâm của vũ trụ, và hỏa ngục ở dưới mặt đất. TCN) trong đó
người ta nói rằng Giê-su đã bay lên trời (thiên đường). Giả định đằng sau câu chuyện gửi
Thánh Linh hạ trần là cho rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ và Thần
Ki Tô sống ở trên trời có thể đổ xuống những ân sủng. Thứ nhì, Kinh Kinh Tín khẳng định là
cái thánh linh này sẽ được phân phát trong các thánh thông công, liên tục
tiếp sinh khí cho “giáo hội Ca-Tô thánh thiện.” Giáo hội, trong suốt giòng lịch sử, thật
ra cũng có những thời trông giống như các thánh sống cùng nhau (tác giả
muốn nói đến các thời trước thế kỷ thứ tư, trước khi Constantine nhận
Ki-Tô giáo làm quốc giáo. TCN). Nhiều
đời sống cá nhân đã biến đổi, trở nên phong phú hơn khi kết hợp với
cộng đồng và sự thờ phụng Ki-Tô. Nhưng
trong lịch sử giáo hội, giáo hội cũng có những giai đoạn khủng khiếp
đánh dấu bởi những cái gọi là “thánh chiến”, “chiến tranh thiêng
liêng của các thập tự quân”, những tòa hình án xử dị giáo, chính
sách vô nhân đạo chống Do-Thái, và sự công khai giết những người khác
giống, kỳ thị phái nữ và chống những người có khuynh hướng đồng giống
tình dục. Trong những
giai đoạn này, bạo lực quá mức đã được những người tự gọi mình
là tín đồ Ki-Tô dùng thả giàn trên cả những dân của Thần cũng như những
tạo vật của Thần. Những sự khủng
khiếp như vậy đã giáng xuống đầu nhân loại nhân danh một vị Thần của
tình yêu thương. Trong những giai đoạn
này thì các thánh thông công ở đâu? Chúng
ta tính sao với những sự kiện lịch sử này mỗi khi chúng ta đọc câu
trên trong Kinh Tin Kính? 30
Chúng ta thấy rằng, những tín đồ Ca-Tô quả là đáng thương hại. Đầu óc họ bị nhào nặn từ khi mới sinh ra đời nên họ hàng ngày cứ đọc lên những lời vô nghĩa, không biết rằng mình đã bị lừa dối bởi những lời nói láo vĩ đại.