
TIN NGẮN CHỌN LỌC TRONG THÁNG 10
VATICAN CITY.- Xưởng sản xuất thánh Vatican [từ của Hồng Y Sylvio Oddi: Vatican has become a saint factory] đã nâng Mẹ Teresa, alias Agnes Gonxha Bojaxhiu, lên hàng chuẩn thánh, trên ngưỡng cửa vào hàng Thánh Công giáo (Catholic saint). Hơn 250 ngàn giáo dân đã tụ họp ở quảng trường Phê-rô để dự cuộc lễ này. Một số nữ tu trong dòng “thừa sai bác ái” đã mừng đến chảy nước mắt.
Thông thường, quá trình phong thánh của Công giáo La Mã cần nhiều thập niên, có khi nhiều thế kỷ, nhưng giáo hoàng John Paul II đã đặc biệt hoàn thành thủ tục nhanh chóng đối với bà Teresa, miễn trừ luật của giáo hội là quá trình phong thánh của giáo hội chỉ bắt đầu ít nhất là 5 năm sau khi ứng viên chết.
Điều kiện để nâng lên hàng “chuẩn thánh” này đòi hỏi một phép lạ của bà Teresa sau khi chết. Giáo hội cho rằng bà Teresa đã thực hiện một phép lạ là chữa khỏi một người đàn bà nhà quê (peasant woman) ở Ấn Độ có một cục u ung thư trong dạ dày (stomach tumor). Theo sự “điều tra” của giáo hội thì người đàn bà nhà quê này, sau khi bà Teresa chết được đúng 1 năm, đã ngồi trước bức ảnh của bà Teresa cầu nguyện và thấy ánh sáng từ đôi mắt trong bức ảnh của bà Teresa chiếu ra, và sáng hôm sau, các cục u ung thư trong dạ dày đã biến mất. (The next morning, the tumor was gone)
Các bác sĩ Ấn Độ chữa trị cho người đàn bà kia không tin ở phép lạ, nói rằng đó là kết quả chữa trị của y khoa. (Indian doctors who treated the woman dispute the miracle, saying the cure was the result of conventional medical treatment.)
Giáo hoàng, với bệnh Parkingson ở thời kỳ cuối, đã chấp nhận kết quả của các nhân viên điều tra của giáo hội. (The pope has accepted the findings of church investigators)
Trong 25 năm tại vị, giáo hoàng John Paul II đã nâng lên hàng chuẩn thánh 1319 người, và phong thánh cho 474 người – một tổng số nhiều hơn tổng số những người đã được phong thánh trong vài thế kỷ trước nhiều.
Alessandro Inglese, một thương
gia chủ một tiệm bán đồ kỷ niệm gần quảng trường Phê-rô, nói: “Tất cả những thánh đó đều tốt cho
vấn đề thương mại. Những chuỗi
tràng hạt tỏa hương thơm, những chiếc mê-đay, hình bà Teresa trong những
khung ảnh tỏa sáng, băng video, tượng các nữ tu – tất cả đều được
bán ra nhiều sáng chủ nhật, và Inglese tin rằng giáo hoàng càng phong nhiều
thánh thì Inglese càng kiếm dược nhiều lợi tức.”
[Giao Điểm đề nghị độc giả đọc thêm
bài “Đâu Là Sự Thật” của Trần
Chung Ngọc, và bài “Phụ Đề Về Mẹ
Teresa” của Tinh Đẩu trên trang nhà Giao Điểm để biết rõ hơn về
Giáo hoàng John Paul II và Thánh Teresa.]
BRIDGEPORT- CONNECTICUT.- Giáo khu (diocese) Bridgeport bố cáo đã thỏa thuận dàn xếp bồi thường cho 40 nạn nhân của các linh mục Công giáo loạn dâm trong giáo khu một số tiền là 21 triệu đô-la. Đây là một trong những số tiền lớn nhất mà một giáo khu phải bồi thường cho các nạn nhân của các linh mục Công giáo từ khi vấn nạn loạn dâm của các linh mục công giáo nổ bùng ở Boston năm 2002. Đây là cuộc dàn xép bồi thường thứ hai trong giáo khu. Trong cuộc dàn xếp bồi thường trước, giáo khu Bridgeport đã tốn 16.7 triệu đô-la để bồi thường cho 47 nạn nhân.
Cũng trong năm nay, giáo khu
Manchester, N.H., đã dàn xếp để bồi thường 6.5 triệu đô la cho 61 nạn
nhân; giáo phận (archdiocese) Louisville tốn 25.7 triệu đô-la để bồi thường
cho 243 nạn nhân; và giáo phận Boston, 85 triệu đô la bồi thường cho 552 nạn
nhân của các linh mục loạn dâm trong “hội thánh” công giáo.
VATICAN CITY.- Một nhóm giám mục công giáo La Mã Anh lên án đài BBC đã có thái độ chống công giáo (anti-Catholic) qua những chương trình về ngừa thai, phá thai và lạm dụng tình dục của một số linh mục công giáo.
Một chương trình ngày 13 tháng 10, 2003 đưa ra những tài liệu nghiên cứu về giáo lý công giáo về ngừa thai và phá thai đã ảnh hưởng trên thế giới như thế nào.
Những tài liệu này kết luận rằng: “trong khi giáo hoàng giảng dạy về hòa bình và sự sống, giáo lý của ông ta và những hành động của giáo hội công giáo [chống phá thai và ngừa thai] đã gây nên cảnh nghèo khó và chết chóc khắp nơi” (while the pope preaches peace and life, his teachings and the actions of the Catholic Church [in opposing abortion and contraception] bring about widespread poverty and death.” Các giám mục công giáo này cho rằng những tài liệu trên là không công bằng (unfair). Đài BBC phủ nhận là đã chống công giáo. (The BBC denied being anti-Catholic)
VATICAN CITY.- Một tổng giám mục Việt Nam, tổng giám mục Phạm Minh Mẫn đã được giáo hoàng sắp chết John Paul II, phong lên chức Hồng Y, ngang hàng với Hồng Y Bernard Law ở Boston và Hồng y Thiết Giáp Ratzinger ở Vatican. Vì là một Hồng Y, Hồng Y Phạm Minh Mẫn rất có hi vọng trở thành giáo hoàng của khoảng gần 1 tỷ tín đồ công giáo hoàn vũ. Đây là một tin mừng đối với khoảng 7 triệu giáo dân Việt Nam trong số 80 triệu dân Việt Nam. Báo chí công giáo Việt Nam hải ngoại và cả trong nước ca tụng đây là một tin mừng cho “toàn dân” Việt Nam và cho rằng “mọi người dân Việt Nam” đều phải hãnh diện về việc tấn phong này. Trong cuộc lễ nâng Teresa lên hàng chuẩn thánh cũng như trong cuộc lễ tấn phong 30 tân Hồng Y, những phụ tá của Giáo Hoàng phải đọc thay giáo hoàng bài thuyết giáo dông dài của Ngài, vì vị đại diện của Chúa trên trần (vicar of Christ) không còn đủ hơi để đọc. (Aides read his words, the 83-year-old pontiff (vicar of Christ) was unable to deliver any part of his homily)
Giao Điểm: Hồng Y là chức sắc cao cấp nhất trong giáo hội Công giáo, sau giáo hoàng. Sự lựa chọn Hồng Y khi xưa phần lớn dựa vào dòng dõi gia đình, thí dụ là con rơi con vãi của giáo hoàng, và ngày nay, dựa vào tinh thần “quên mình trong vâng phục” Tòa Thánh và Giáo hoàng, theo đúng đường lối của Tòa Thánh v..v.., (most of the new appointees mirror the pope’s conservative views; some church analysts have accused the pontiff of trying to stack the deck with like-minded conservatives) chứ không dựa trên đạo đức hay trí tuệ. Không ai có thể bảo Hồng Y Bernard Law ở Boston và Hồng Y Thiết Giáp Ratzinger là những con người có đạo đức tôn giáo. Cũng không ai có thể bảo Hồng Y Nguyễn Văn Thuận và Hồng Y Phạm Minh Mẫn là những con người có trí tuệ nếu đã đọc cuốn “Nhân Chứng Hi Vọng” của TGM Nguyễn Văn Thuận và bức thư của TGM Phạm Minh Mẫn, đề ngày 25-12-2002, gửi LM Nguyễn Tấn Khóa, Quyền Chủ Tịch Ủy Ban Đoàn Kết CGVN và các Đại Biểu Đại Hội Những Người CGVN Xây Dựng và Bảo Vệ Tổ Quốc Lần Thứ IV. Điều này rất rõ ràng nếu chúng ta đọc lịch sử các giáo hoàng và các Hồng Y trong giáo hội công giáo.
BUCHAREST. ROMANIA.- Một cuộc thăm dò ý kiến cho biết: Hầu hết dân Romania muốn có một lãnh tụ cứng rắn để mang lại trật tự cho quốc gia nghèo khó của họ và khoảng 1/3 dân chúng muốn có một chính quyền quân sự hơn là một chính quyền dân chủ.
Romania, dự định gia nhập khối Âu Châu năm 2007, là một trong những quốc gia nghèo nhất ở Âu Châu.
Sau khi CS sụp đổ năm 1989, chế độ dân chủ ở Romania đã đưa tới cảnh trì trệ Kinh tế và tham nhũng.
Cuộc thăm dò ý kiến Gallup cho biết, 84% dân chúng mong muốn có một lãnh tụ với bàn tay sắt (longed for an iron-fisted leader) để mang lại trật tự xã hội, và hơn ân số cho rằng đời sống trở thành tệ hơn trong 5 năm qua.
XUNG QUANH CUỘC XÂM CHIẾM IRAQ:
1.- Một phần ba binh sĩ Mỹ ở Iraq thú nhận là tinh thần của họ thấp trong một cuộc thăm dò ý kiến của một tờ báo quân sự. Điều này làm cho các bậc lãnh đạo ở Ngũ Giác Đài lo ngại và tuyên bố là sẽ theo sát vấn nạn này.
Bộ trưởng quốc phòng Donald Rumsfeld và Tham Mưu trưởng, tướng Richard Myers, nói trong một cuộc họp báo là có những dấu hiệu chứng tỏ có sự khó khăn trong việc tuyển mộ vào thành phần trừ bị của quân đội. Họ không nói rõ chi tiết và sau đó, các viên chức khác cũng nói rằng họ không chi tiết gì thêm.
Myers và Rumsfeld nói như trên để trả lời một bản tường trình của tờ Stars and Stripes (1 tờ báo của quân đội Mỹ) rằng 1/3 số binh sĩ trả lời những câu hỏi của tờ báo nói rằng tinh thần của họ thấp và pan style="mso-spacerun: yes"> nói rằng họ sẽ không tái đăng. Số binh sĩ trả lời là vào khoảng 2000 người và tờ Stars and Stripes viết rằng đó không phải là một cuộc tham khảo ý kiến khoa học.
Kết quả cuộc tham khảo ý kiến binh sĩ này trái ngược với những lời tuyên dương của các viên chức trong chính quyền Bush và của một phái đoàn quốc hội từ Iraq trở về, khẳng định tinh thần binh sĩ ở Iraq rất cao.
2.- Trung Tướng William Boykin, Phụ Tá Thứ Trưởng Quốc Phòng về Tình Báo (deputy undersecretary of defense for intelligence), đang bị điều tra vì phát ngôn bừa bãi, trái ngược với chính sách ngoại giao, ít ra là ở ngoài miệng, của tổng thống Bush và Bộ Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld.
Tướng Boykin, một tín đồ Tin Lành cuồng tín, đã từng mặc quân phục nói trong nhiều nhà thờ truyền giáo Tin Lành (evangelical churches) phát biểu rằng Hoa Kỳ là một quốc gia Ki-Tô (a Christian nation) và quân đội Mỹ là một quân đội Ki-Tô (Christian army) đang dự một cuộc chiến chống kẻ thù tâm linh của Mỹ..gọi là Satan (a spiritual enemy..called Satan). Mô tả cuộc chiến của ông ta với một lãnh chúa ở Somali (Hồi giáo), Boykin nói: “Tôi biết rằng God của tôi thì lớn hơn God của hắn. Tôi biết rằng God của tôi là một God thật còn God của hắn là một hình tượng.” (I knew that my God was bigger than his God. I knew that my God was a real God and his was an idol.) Boykin còn nói “Nếu chúng ta tiến đánh họ nhân danh Giê-su thì kẻ thù chỉ có thể thất trận” (The enemy will only be defeated if we come against them in the name of Jesus). Boykin tin rằng God của ông ta đã quyết định trong những cuộc bầu cử tổng thống Mỹ, rằng God của ông ta đã đặt Bush vào Tòa Bạch Ốc. (He’s (Bush) in the White House because God put him there).
Báo chí, nhiều nguyên thủ quốc gia, và ngay cả dân biểu Mỹ đã lên tiếng đòi Rumsfeld phải giải nhiệm, cất chức, hoặc thuyên chuyển tướng William Boykin vì phát ngôn bừa bãi như trên.
Giao Điểm: Không thể tưởng tượng được một tướng lãnh cao cấp của Mỹ lại có thể có một kiến thức thấp kém như vậy, và còn mê tín đến độ như vậy.
Thứ nhất, khi nói rằng: “Tôi biết rằng God của tôi là một God thật còn God (Allah) của hắn là một hình tượng.” thì tướng Boykin đã để lộ cái ngu của mình vì God của Ki Tô Giáo hay God của Hồi Giáo (Allah) là một. Hơn nữa, chính Ki Tô Giáo mới thờ hình tượng vì có bao giờ người ta thấy một bức tượng nào của Allah đâu. Thượng nghị sĩ Joseph Lieberman, ứng củ viên Tổng Thống Hoa Kỳ, phát biểu trước một nhóm dân Mỹ gốc Ả Rập như sau: “Chúng ta gặp nhau ở đây không phải là những tín đồ Hối Giáo, Ki Tô Giáo, hay Do Thái Giáo.. Chúng ta đều là con cái của cùng một God và của cùng một cha, Abraham. Thật ra, chúng ta chính là anh em với nhau.” (We meet here today not as Muslims, Christians or Jews..We are children of the same God and of the same father, Abraham).
Thứ nhì, Mỹ không phải là một quốc gia Ki-Tô. Hiến Pháp Hoa Kỳ không nói đến Ki Tô Giáo và Tu Chính Án thứ nhất khẳng định: “Quốc hội sẽ không làm luật kính trọng một định chế tôn giáo nào, hoặc ngăn cấm quyền tự do tôn giáo của người dân.” (The Constitution makes no mention to Christianity, and the 1st Amendment states that “Congress shall make no law respecting an establishment of religion, or prohibit the free exercice thereof’)
Thứ ba, khi nói rằng “Nếu chúng ta tiến đánh họ nhân danh Giê-su thì kẻ thù chỉ có thể thất trận” thì hiển nhiên Boykin đã tham dự cuộc chiến ở Việt Nam cũng như không học được bài học Việt Nam, nơi đây Vô Thần đã đánh bại Giê-su cũng như ông Thần lớn (Big God) của Boykin.
Hình ảnh của Mỹ ở Iraq càng ngày càng đen tối. Phúc trình mới nhất của Human Rights Watch lên án Mỹ đã gây nên nhiều tử thương cho người dân Iraq. (Report slams U.S. for Iraqi civilian deaths.)
Bản phúc trình, sau khi xem xét về những tử thương xảy ra sau khi tổng thống Bush tuyên bố là cuộc chiến chính ở Iraq đã chấm dứt ngày 1 tháng 5, 2003, lên án là quân đội liên minh do Mỹ chỉ huy thường không chịu điều tra về những cái chết của thường dân, không cẩn thận ngăn ngừa và không cho biết con số tử vong. Nhóm nhân quyền này cho rằng nhiều cái chết này là do những hoạt động quân sự hung hăng quá độ của Mỹ. (The report, which examined deaths that occurred since President Bush declared the end of major combat in Iraq on May 1, charges that the U.S.-led military coalition is often reluctant to investigate civilian deaths, is not careful enough to prevent them and has failed to provide an accounting of the casualties. The human rights group alleges that many of the deaths were caused by overly aggressive U.S. military actions.)
Duyệt xét lại những trường hợp tử vong, Human Rights Watch phanh phui ra một mô thức của lực lượng Mỹ dùng những chiến thuật quá hung hăng hiếu chiến, bắn bừa bãi vào những vùng dân chúng và dựa ngay vào hỏa lực (reveals a pattern by U.S. forces of overaggressive tactics, indiscriminate shooting in resident areas and a quick reliance on lethal force.)
LA PAZ – BOLIVIA.- Nhiều ngàn dân chúng đã xuống đường làm nghẹt đường phố và xa lộ ở Bolivia, mang theo biển ngữ khuyến cáo chính phủ thi hành chính sách “Ba Không”: Không xuất cảng dầu xăng và những nguồn lợi thiên nhiên khác, Không giao thương tự do với Mỹ, và Không tham dự Toàn Cầu Hóa (No to the export of gas and other natural resources, No to free trade with the United States, and No to Globalization).
Đám biểu tình gọi tổng thống Bolivia là một “sát nhân” (murderer)
Tổng thống Sanchez de Lozada đưa ra một chương trình nhượng bộ (offering a package of concessions), đưa ra đề nghị một cuộc trưng cầu dân ý (referendum). Những người chống đối đã bác bỏ đề nghị này.
Sự chống đối và bất mãn đã lan trong khắp vùng: nghiệp đoàn lao động, nhóm dân sự và giới lãnh đạo ở Venezuela, Brazil, Argentina.. đều đặt nghi vấn về vấn đề thị trường tự do và tự do giao thương (doubts about market liberalization and free trade).
Nicanor Apaza, 46 tuổi, nói trong cuộc biểu tình: “Toàn Cầu Hóa chỉ là một cái tên khác của sự thống trị và tuân phục. Chúng tôi đã sống với chúng (thống trị và tuân phục) trong 500 năm nay và ngày nay chúng tôi muốn làm chủ chúng tôi.” (Globalization is just another name for domination and submission. We’ve had to live with that here for 500 years and now we want to be our own masters.)
Bolivia là nước đầu tiên
trong châu Mỹ La Tinh mở cửa cho thị trường tự do. Nhưng hầu hết người dân Bolivia không thấy
có mấy lợi ích. Xuất cảng giảm từ
25 năm trước và phát triển kinh tế đình trệ.
Giới Thiệu Sách Mới:
David Gibson, The Coming
Catholic Church, Harper, SanFrancisco, 2003.
Hard cover, Price: US $23.95.
Đây là một cuốn sách mà mọi tín đồ Công giáo cũng như những người ngoại đạo, nhất là những người quan tâm đến vấn đề tôn giáo ngày nay, đều nên đọc.
Tác giả David Gibson là một tín đồ Công giáo, đã thường xuyên viết về ý thức hệ Công giáo (Catholicism) cho nhiều nhật báo (Newspapers) và tuần báo (Magazines), đã từng sản xuất những bộ phim tài liệu về Giáo hội Công giáo cho đài CNN, và đã làm trong đài phát thanh Vatican (Vatican Radio) trong nhiều năm.
Nội dung cuốn sách phân tích nguồn gốc lịch sử và thần học của xì-căng-đan linh mục loạn dâm trên đất Mỹ, nói về trách nhiệm của các giám mục và linh mục v..v.. Cuốn sách gồm có ba phần. Phần thứ nhất nói về các tín đồ Công giáo (The Laity) trong đó 6 chương, đặc biệt là những chương nói về Sự Giận Dữ Và Phản Đối (Anger and Protest), Đóng Tiền, Cầu Nguyện, Tuân Phục (Pay, Pray, Obey), Xuất Giáo: Tại Sao Rời Bỏ Giáo Hội (The Exodus: Why They Are Leaving). Phần thứ hai nói về Giới Giáo Sĩ (The Priesthood) gồm có năm chương, đặc biệt là những chương nói về vấn đề Lạm Dụng Tình Dục, Dục Tính và Người Linh Mục Hiện Đại (Sexual Abuse, Sexuality, and the Modern Priest); Tập Đoàn Giáo Sĩ: Nguyên Tội (Clericalism: The Original Sin). Phần thứ ba nói về Hệ Thống Quyền Lực Công Giáo (The Hierarchie) gồm ba chương, đặc biệt là chương Các Giám Mục và Những Điều Quyết Định Của Cuộc Khủng Khoảng (The Bishops and the Keys to the Crisis).
Đọc cuốn sách này, độc giả không những chỉ biết rất nhiều chi tiết về các vụ linh mục loạn dâm, sách lược che đậy của tập đoàn Hồng Y và Giám mục, mà còn có thể biết thêm ít nhiều về lịch sử và cấu trúc toàn trị của Giáo hội Công Giáo La Mã cũng như những phong trào phản đối ngấm ngầm cũng như công khai của giới tín đồ đối với hệ thống quyền lực của giáo hội. Theo tác giả, đa số tín đồ Công giáo hiện nay vẫn sống trong sự thiếu hiểu biết (ignorance) về thực chất của các linh mục, giám mục, và nhất là không biết gì về những đường lối chính trị và thế tục của giáo hội.
Trong chương kết, tác giả hi vọng giáo hội Công giáo có thể thay đổi toàn diện bộ mặt trong tương lai để lấy lại uy tín trước đám tín đồ đông đảo. Chúng ta hãy chờ xem.

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net