
Vài lời của GĐ: Tác giả hồi
ký Phượng trên trời, hải đường dưới đất hiện đang giảng dạy
Triết học so sánh Đông Tây tại Đức, đã là thành viên của Đoàn SVPT Huế, tham gia
phong trào sinh viên Phật tử năm 1963. 1964 - tốt nghiệp Cử nhân Triết học
ĐHVK Huế; từ 1964-65 giáo sư Triết học trường Đồng Khánh Huế. 1965 -
du học tại Đức với học bổng “Trao Đổi Hàn Lâm” (DAAD) do Viện
Goethe Institute tại Sài Gòn đề nghị. Hồi ký “PTTHĐDĐ” ghi lại những
tháng ngày tham gia của một người sinh viên Phật tử vào cuộc vận động
Phật giáo cho bình đẳng tôn giáo từ tháng 5 đến cuối tháng 8 năm 1963 tại
Huế.
Hồi ký “PTT
HĐDĐ” do tác giả và trang nhà Khuông Việt giữ bản quyền. Vì lý do kỹ
thuật của trang nhà KV, nên chúng tôi được phép đăng trước, và khởi
đăng trên web GĐ kể từ tháng 6/2003, và liên tục sau đó gồm có 5 phần.
Vào Đà Nẳng kỳ này là phần thứ 6. Kể từ tháng 11 này, vì lý
do chúng tôi dùng kỹ thuật “frame”, nên không thể nối kết với các
trang web cũ. Do đó, để đọc lại các phần cũ, độc giả phải trở về
trang chính, bấm vào mục Mục lục trang Nghiên cứu & Đối thoại,
chọn trang tháng 6/2003. Giao Điểm.
Chúng
tôi từ giã nhau tại sân chùa. Quái lạ, lúc bị phong toả chỉ ước mơ
giây phút ấy, mà sao lúc chia tay rời Từ Đàm hình như đứa nào cũng thấy
bâng khuâng. BTôn phá tan bầu không khí ấy bằng một cử chỉ dấu cảm
động rất mệ Tôn, vừa nói vừa liếc nhanh qua tôi rồi day về phía Trương
Phì : “Nì thôi chạy về nhà mau cho rồi, mấy bữa ni ở dơ ở dớp,
hai tuần mà cứ một bộ đồ mặc đi mặc lại. Ui chao không đẹp đẽ
chi hết. Mau về mà tắm rữa cho sạch sẽ, rồi đi phố nữa chơ !”.
Phan Chánh Đông, khi nào cũng thận trọng, vừa trả lời BTôn vừa dặn anh
em . “Phố xá chi chừ ! Anh em nên cẩn thận ! Công an vẫn
còn theo dõi đó nghe ! Về nhà nghỉ ngơi nhưng nhớ báo tin cho
nhau !” Chúng tôi chia tay khi nắng chưa tắt trên ngọn cây Bồ
đề.
Về
đến nhà, mẹ tôi mừng rơi cả đôi đũa bếp đang chăm “trách” cá nục chuối kho nước với
ớt xanh chìa vôi và ớt bột trên bếp lửa. Buổi cơm chiều đối với
người tuyệt thực trở về khá thịnh soạn với cá nục kho, tôm rim, rau
muống luộc và nước luộc rau muống có vắt vài giọt chanh trong vắt. Cả
nhà vừa cầm đũa, đã thấy bóng người lấp ló trước cửa với tờ giấy
viết vội của Phan Chánh Đông cho biết rằng tên tuổi của những sinh
viên tuyệt thực đã bị ghi vô sổ đen, mọi người nên “tẩu tán”
đừng ngủ ở nhà, và ban đêm đừng đi ra ngoài cũng như không mở cửa nếu
có người đến gõ cửa. Riêng Đông sẽ không có mặt ở Huế một thời
gian. Chưa kịp mừng đoàn tụ, mẹ
tôi nghe đọc thư nhắn đã tái mét mặt mày, sợ thất thần. Nuốt vội cơm,
mẹ tôi lập tức cho người nhắn cậu tôi xuống nhà. Cậu tôi đến với
chiếc xe trắc xông màu đen. Không giải thích nhiều, mẹ tôi bảo tôi lên
xe cùng với mẹ và một xách áo quần
đã chuẩn bị vội vàng. Tôi chưa kịp hỏi đi đâu, thì xe đã rồ bánh,
qua cầu Gia Hội, qua cầu Trường Tiền, qua cánh đông An Cựu, về phiá cầu
Hai rồi lên đèo Hải Vân. Chúng tôi đang ở trên đường vào Đà Nẳng.
Suốt
cả chuyến đi, tôi không vui vì có cảm giác mình bị “bắt
cóc nhưng không phản kháng ! Mà cũng không còn sức để phản kháng !
Sau hai tuần ăn uống kham khổ, thiếu ngủ, thần kinh căng thẳng vì suốt
ngày máy phóng thanh đinh tai điếc óc thường trực tra tấn não bộ, ngồi
trong xe tôi bỗng nghe cảm giác đuối sức đang làm rã rời tay chân. Lã người
trên vai mẹ, tôi mơ hồ tưởng như chiếc xe đang chạy vòng quanh và chuyến
đi lãng đãng như một cơn mộng du. Khi mẹ tôi nâng tôi dậy và bảo xuống
xe, tôi mới biết mình đã xa Huế và xa chùa Từ Đàm. Bỗng nhiên hốt hoảng
tôi kêu lên “Mạ ơi, con không muốn xa Huế mờ !” và ngồi bệt
xuống đất tôi đòi quay trở lại. Mẹ tôi kiên nhẫn : “Nì, đừng
có chướng nghe. Vô nhà mau rồi đi ngủ !” và kéo tôi đứng dậy. Chẳng đặng đừng tôi lết thết theo mẹ
vào nhà bác X. ở Đà Nẳng. Căn nhà nhỏ nằm trên một ngã tư nào đó
trên phố gần chợ Cồn, nửa tây nửa ta kiểu xây vội của bến cảng
touranne một thời. Trước nhà có một sân con hấp tấp với cây trứng cá
lớn nhanh và khóm hoa lài mọc dại, cành lá bám đầy bụi đỏ của bốn
nẻo đường dồn đến. Nơi mái hiên ánh nắng chói lói xoi mói mắt nhìn
vào buổi xế trưa. Từ đó Đà Nẳng đối với tôi chưa bao giờ là thành
phố để đến mà chỉ để đi qua, đêm cũng như ngày.
Đêm
hôm ấy tôi bị lên cơn sốt cao độ. Hình như tất cả sức lực và nghị
lực đem ra chống chõi trong những ngày cam go ở Từ Đàm đều rủ nhau bỏ
đi mất hút, tôi thấy người mềm nhũn, đầu óc choáng váng, không còn gượng
được, tôi nằm vùi. Ngày hôm sau định
ngồi dậy đã quay lơ ngã lăn, mê man suốt mấy hôm liền , tình trạng kiệt
sức thấy rõ, Trong cơn sốt tôi hay nói mê sảng, lảm nhảm đầu ngô
mình sở những chuyện ở Từ Đàm. Có đêm tôi bật dạy la lên “Không
về! Không về! Ở lại chùa! Đừng nói nữa! ” và lắm khi
la hét ầm ĩ “Chạy! Chạy! Mau! Lựu đạn cay ! Cứu cứu !”.
Mẹ tôi lo sợ, đêm nào cũng thức canh chừng, có đêm mẹ đánh thức tôi
trong cơn vùng vẫy ú ớ, mở mắt thấy mẹ đang lau mồ hôi trên trán cho
tôi, tôi ân hận đã làm mẹ bận tâm. Mẹ thầm thì : “Ui chao,
noái mớ chi mà noái cả đêm !”. Nhưng
hình như mẹ không trách tôi, hình như mẹ đã cảm thông và hiểu được
sự việc hơn qua những cơn ác mộng của tôi, chỉ chép miệng thở dài
“sốt ni là sốt mưa sốt nắng, đi dang nắng cả ngày rứa
thê răng mà không đau được.” Trong
cơn đau, khi tỉnh giấc, tôi lại nhớ Huế và nhớ chùa ! Không giải
thích được ! Như nỗi say mê của
một người đã lên đường đi và nghĩ mình đang đi đúng hướng, có một
thứ ánh sáng ở đàng trước thu hút tầm nhìn và chân không còn muốn
quay lui, mọi cản trở đều biến thành những thôi thúc bước tới. Tôi bồn chồn chỉ muốn trở về Huế như
có tiếng chim gọi đàn… Hai ngày đầu, mỗi lần tỉnh giấc tôi chỉ
rên rỉ nhai đi nhai lại một câu : “mạ ơi, con muốn về Huế !
cái thành phố Đà nẳng ni hắn làm con đau. Con về Huế là con lành liền.
Ở đây xe cộ ồn ào quá.” Mẹ tôi nhẫn nại : “Ừ rồi đi
về ! Nhưng phải lành bệnh đã chơ !”. Ba ngày sau cơn sốt
thuyên giảm, buổi sáng vừa ngồi dậy
được tôi lại nằn nì xin mẹ trở về Huế. Mẹ tôi chỉ ầm ừ bảo
tôi nằm nghỉ cho khoẻ rồi đội nón ra đi. Mẹ trở về với bác Th. y
tá. Bác Th. người Huế vào Đà Nẳng sinh sống đã lâu. Suốt mấy ngày liền
bác đã đến săn sóc tôi một cách tận tình. Bác đo nhiệt độ và cười
tươi với hàm răng vàng quyện nhựa thuốc lá cẩm lệ : “bớt rồi
đó !”. Trong khi lúi húi sửa soạn ống tiêm, bác nói chuyện với
mẹ tôi ngồi bên cạnh. Qua câu chuyện tôi mới biết được rằng trong lúc
tôi mê man, mẹ đã đi đến khuông hội Phật tử ở Đà Nẳng nghe ngóng
tin tức, cùng với mọi người tụng
kinh tưởng niệm Bồ tát Thích Quảng đức, tham gia các buổi giảng và
các buổi cầu nguyện cho cuộc vận động đang tiếp tục trên khắp miền
Nam. Nghe nói sau ngày Thích Quảng Đức tự thiêu, cuộc vận động Phật giáo
càng được Phật tử khắp nơi ủng hộ, nhất là ở miền Trung. Ngay ở
Đà nẳng, gia đình Phật tử trong các khuông hội làm việc ngày đêm, mọi
tầng lớp dân chúng sẵn sàng hổ trợ công sức và tiền của, mặc dù bị
chính quyền đe dọa, đàn áp, khiêu khích, nhưng mọi người vững vàng dưới
hình thức Bất Bạo động. Ngay ở các hải đảo Tiên sa, chùa Non nước
phong trào ủng hộ cuộc vận động rất sôi nổi. “Chơ răng !”,
mẹ tôi nói với bác mà như nói với chính mình để tự trấn an : “ai
ai người ta cũng theo chùa bênh Phật, chơ riêng chi sinh viên mà sợ
hè !”. “Ui chà, chính quyền dùng nhiều thủ đoạn hăm doạ mà
không ai sợ chi cả ! Càng hăm, Phật tử càng hăng bác nờ !”.
Tôi nằm nghe chuyện mà thấy nóng lòng, tự hỏi không biết tình hình ở
Huế như thế nào và anh em Phật tử trôi giạt về đâu. Hôm sau, như thường
lệ, mẹ tôi đội nón ra chợ. Khi trở về, qua bờ vai thấy lấp lánh cặp
kính cận thị theo sau lưng mẹ nơi khung cửa. Tôi tròn mắt kêu lên mừng
rỡ : “Ui chao anh Kha !”.
Người
theo mẹ tôi vào nhà đúng là anh Vĩnh Kha. Chưa kịp chào nhau, tôi đã hỏi
tới tấp : “Anh vô Đà nẳng lúc mô rứa ? Huế ra răng rồi ?
Anh em ở mô hết ? Anh có tin chi của qúi Thầy không ? Làm răng anh
biết Kim Lan ở đây mà tới ?”. Mẹ
tôi bảo : “Đó anh thấy chưa ? Ngày mô cũng đoài về Huế nằng
nằng !” Anh Kha cười : “Nằm bẹp dí rồi ! Hết trạng
hết oai rồi hí !” Tôi cải bướng : “Kim Lan đi về Huế
được rồi ! Anh có liên lạc được với anh em ở Huế không ?”. Kha cho biết anh cũng vào Đà Nẳng ngay khi
rời Từ Đàm, vì gia đình anh ở Đà Nẳng. Ông cụ thân sinh anh là một
trong những người có công lớn với khuông hội Phật Tử Đà Nẳng, nên
anh lại “dấn thân” tiếp tục. Anh cho biết Thầy Trí Quang đã vào
Sài gòn cùng với ôn Tịnh Khiết và Thầy Thiện Minh ngay sau hôm 11/6. Ở Sài gòn sau cuộc tự thiêu của Hoà Thượng
Thích Quảng đức, quần chúng sôi sục đòi hỏi chính quyền thực thi nguyện
vọng chính đáng của Phật giáo. Chính quyền đã chịu ngồi thương thuyết
với UBLPBVPG. Nhưng chưa có chi khả quan. Có thể bi quan hơn, vì mặc khác
chính quyền cũng ngấm ngầm tìm biện pháp phá rối cuộc vận động. Ở
Huế cuộc vận động vẫn tiếp tục, nghe nói có một vài thay đổi. Tôi
nóng lòng : “Anh có nghe tin tức của anh em trong đoàn không ? Phan
Đình Bính đã được thả ra chưa ?” Anh Kha bảo : “Chính vì thế
mà anh đến tìm Kim Lan đây. Anh em chạy tán loạn trong mấy ngày đầu, kẻ
vô Đà Nẳng, như Kim Lan và anh, nghe
nói Hiệp, Côn, Tùng cũng chạy vào đây, kẻ về trốn ở các vùng quê, như
anh Văn, Đông, Chi, Tuyết, kẻ vô Sài gòn như Bửu Tôn, Tôn thất Chiểu.
Nhưng cuộc vận động bây giờ tiếp tục rộng rãi hơn, công khai hơn, qúi
Thầy và qúi sư cô cũng như mấy anh em khác nhắn qua khuôn hội Đà Nẳng
phải đi tìm Kim Lan và các anh em khác. Có
người xuống nhà hỏi mới biết địa chỉ ở đây. Đang đi tìm thì gặp
Bác đi về.” Anh nói như tự thú : “Vô đây mà nhớ chùa quá đi. Những
ngày cực mà vui. Nhớ quái lạ.” Tôi
có tật hay dành : “Còn Lan thì nhớ Huế gấp mười anh thê lận.”
và mau mắn : “Rưá thì làm răng tìm gặp được mấy anh em ? Chiều
ni được không ? Chiều ni gặp nhau bàn việc rồi mai cùng nhau ra Huế
hè !”.
Anh Kha gật đầu nhìn tôi với vẻ thương hại, giọng nửa Huế nửa Bình
Định đặc biệt dành cho tôi : “nhưng Kim Lan còn bệnh mà đi mô được ?
Ở Từ Đàm gió thổi đã bai (bay), chừ thì gió chưa thổi thò mặt ra
ngoài cũng sẽ… bai (bay) mất tiêu luôn !”
Tôi hứa : “Không can chi mô, Lan lành bệnh rồi, ra Huế là
khoẻ mạnh lại ngay ! À anh có tin chi của anh Giàu không ?”
Kha lắc đầu và hẹn tôi chiều nay sẽ báo tin về các anh em khác.
Gần
chiều tối, đúng như lời anh Kha hứa các anh em đến tìm tôi. Cả bọn gặp
nhau lại mừng “hết lớn !” Tự nhiên thấy thân nhau như anh em ruột
thịt ! Đứa mô cũng thú nhận là nhớ những ngày ở chuà Từ Đàm,
những giờ “đấu tố”, đấu khẩu với công an, những giọt nước mắt
tức giận, mùi lựu đạn cay và những buổi cơm thiếu thốn. Có người bảo
về nhà yên lặng suốt ngày bỗng nhớ cái loa phóng thanh ỏm tỏi ra rã suốt
hai tuần và nhớ luôn cả mấy ông công an đội mũ phới bí mật bên kia vỉa
hè. Chúng tôi phân tích tình hình và hoàn cảnh của mỗi anh em, cuối cùng
đi đến kết luận làm cho tôi mừng rơn là sẽ trở về Huế. Cuộc vận
động Phật giáo sau vụ Thích Quảng Đức tự thiêu đã trở nên một vấn
đề của công luận thế giới. Báo chí quốc tế đã đăng tải hàng loạt
tin tức về Việt nam. Tổng thống Mỹ Kennedy đã bắt đầu sắc bén hơn
trong những phát biểu của ông về chính sách của họ Ngô. Nỗi ngạc
nhiên đã thành lời trách móc đối với chính phủ Việt nam rằng “mâu
thuẫn tôn giáo có thể giải quyết đơn giản mà không hiểu tại sao ông
Diệm lại không làm được !” và sự nghi ngờ khả năng chống Cọng
sản của vị tổng thống miền Nam càng ngày càng lộ rõ. Những cuộc thương
thuyết giưã UBLPBVPG và nhà cầm quyền làm cho chúng tôi thấy rằng cuộc
vận động cần phải được hổ trợ tích cực của anh em sinh viên và
chúng tôi không thể bỏ đi nửa chừng. Cả mấy anh em đồng ý với nhau
là phải quay về Huế càng sớm càng tốt. Tôi nghe mà bệnh hầu như khỏi hẳn. Mẹ tôi cũng
đồng ý cho tôi trở lại Huế. Suy nghĩ của mẹ đơn giản hơn, mẹ nói
“ai cũng ủng hộ qúi thầy, thì mình cũng ủng hộ quí thầy, có chi mô
mà sợ !”.
Hai ngày sau, mờ sáng tinh sương chúng tôi rời Đà nẳng ra Huế. Sương sớm
phủ trên những ngọn cây ngô đồng mọc dại hai bên đường ngoại ô
làm mềm nét phong trần của thành phố bến cảng này. Hàng quán hai bên
đường còn ngủ yên nên Touranne bỗng hiện ra mộc mạc chơn chất vẻ
người xứ Quảng. Tôi nghe lòng hớn hở và nhẹ nhõm, đâm ra khoan dung và
dễ dãi với những người chạy theo xe bán thơm và mít hay kẹo gương, mạch
nha… Nếu được phép tôi đã mua hết để đem về Huế! Cảm giác được
trở về Huế náo nức khó tả. Mấy
gói chả đùm trong lá và ổ bánh mì nóng hổi đem theo ăn dọc đường bỗng
ngon hơn bao giờ.
Quảng
đường Huế - Đà Nẳng là một trong những chặn đường ngoạn mục nhất
của bờ biển hình chữ S này. Khi xe chạy đến Nam Ổ,- lần nào cũng như lần ấy cảm tưởng hình
như vẫn y nguyên -, chiếc trắc xông đang bon bon quen thuộc với con đường quốc lộ số
1 trán nhựa biển lận hẹp hòi bỗng như ngỡ ngàng trước cảnh trời nước
phóng khoáng mênh mông của phá Nam Ô nằm sát đường quốc lộ, hớn hở
muốn chạy xộc vào biển khơi nếu anh tài không vững tay lái cho xe kè
sát lề đường. Cảnh đầm phá dưới ánh bình minh vừa sơ thái vừa rực
rỡ diễm lệ như nét mặt của một long ngư
từ lòng biển xuất hiện với đôi má ửng hồng làm cho nhân gian sửng
sốt phải buộc miệng tán thán trầm trồ ! Gió biển lồng lộng thổi.
Nam Ổ nổi tiếng có nước mắm ngon và bánh gai đặc sản. Mùi nước mắm
phơi phới trong gió sớm như một tin báo không sai chúng tôi đang chạy dọc
theo bờ biển Thái bình dương.
Xe lên đến đỉnh
đèo Hải Vân, bỏ lại ánh nắng phung phí trên mặt biển mông mênh để lẩn
mình trong mây lạnh. Mùa đông cũng như mùa hè đỉnh Hải Vân vẫn mê mãi
quyện trong sương mù pha lẫn với hơi mây ào ạt. Thuở ấy trên đèo còn
có những hàng quán giải khát với bún bò và bánh bèo Huế. Hình như đã
trở thành một nghi lễ cho những người vượt đèo thuở ấy sau khi
nghỉ giải khát : đứng ở đỉnh đèo mờ ảo nhìn về biển xa để
cảm một chút tình hòn vọng phu trong gió lạnh, rồi vội vả lên xe quên
ngay nỗi chờ đợi non cao nước thẳm
bơ vơ ấy và háo hức với chiếc xe bắt đầu chúi mũi đổ xuống con
đường đèo ngoằn ngoèo trước mặt. Đường đèo Hải Vân đã làm cho Huế
trở thành một giai nhân bí ẩn thúc dục mọi tình cảm phiêu lưu mạo hiểm,
nhưng kẻ “tìm hoa” dù không gặp được người trong mộng cũng không thấy
đắng cay, bởi vì chính con đường đã là từng bước “giai nhân”, từng
bước đạt ĐẠO : “Đường vô
(hay ra !) xứ Huế quanh quanh, non xanh nước biếc như tranh họa đồ”. Mỗi cái nhìn ném xuống biển là mỗi lần
toại nguyện về ước vọng phiêu lưu hồ hải của những kẻ chưa biết
sóng gió là gì nên vội vàng mặc tình thả hồn hút theo với màu xanh vô
tận biền biệt của biển khơi, mỗi cái ngước mắt lên rừng cây là một
lần ngỡ ngàng với cảnh trùng điệp đậm nhạt của màu xanh bách diệp
trải dài trên vách núi cheo leo, không ngờ cuộc mạo hiễm rừng sâu mơ hồ
đã đến đích ! Và cứ thế con đường đèo Hải Vân cuốn hút kẻ
hành nhân mãi mê vào những mẫu chuyện kỳ tình dọc đường với dấu tích
miếu thờ thần rừng, thần hổ hai bên đường, câu chuyện học trò trong
Quảng ra thi, câu chuyện cọp chặn đường ông Trạng Huế (Huế có muôn
vàn ông Trạng ngồi trên võng bắt dân cán đi nhưng khi thấy cọp thì
run như cầy sấy, lạy cọp như tế sao nhưng cũng có những ông Trạng
oai hùng đuổi cọp cứu dân !).
Đoạn đường đèo gian nan dường như cũng biết hối lỗi nên cuối đường
đã dành cho lữ khách một món quà đẹp mắt thú vị : bãi cát Lăng Cô
sóng soãi nhấp nhánh màu cát trắng trong nắng sớm, đang đón từng đợt
sóng biển nhẹ nhàng đến và đi, vổ về như nhịp ru em. Rặng dừa xa um
tùm che các thôn nhỏ gây một cảm giác bình an
khiến cho khách hết bồ n chồn, yên tâm tựa lưng vào ghế nhắm mắt
thoải mái trong vài giây.
Cho đến khi chiếc xe bỗng trở nên êm ái nhu mì trên con đường trải nhựa
khiêm tốn là đà với mặt nước : chúng
tôi đã đến đồng bằng Cầu Hai nước ngọt với những ruộng lúa hiền
hoà thơm ngát mùi luá chín. Đầm phá
Túy Vân u mặc một màu sương khói xa xăm, tiếp liền phá Tam Giang thăm thẳm
mù khơi, đến nỗi mây bay không có
nơi dừng lại nên đành nhắm mắt uống gió cho say túy lúy để nghìn năm
bay mãi không thôi. Tôm cá Cầu Hai nổi tiếng ngọt và thơm thịt, được
đem lên bán ở chợ Đông Ba, các bà mẹ hay mua làm tôm chấy cho món bánh
bèo, thịt tôm rằn đỏ au, ăn vào chỉ biết “ngậm mà nghe”. Gạo Cầu Hai cũng thơm ngon không thua chi
gạo de An Cựu. Vùng đất nơi đây vừa trù mật vừa đa dạng như một
ân huệ của trời và đất nên có tên là Phú Lộc với ngọn Bạch Mã
bên cạnh biển khơi và đồng lúa phì nhiêu nằm sát đầm phá nước ngọt
và nước mặn. Phong cảnh an nhàn tự
tại với những chú trâu đang thi nhau cùng những đảo đá đen “vô ngôn”, im lìm ngâm mình trong nước
mát hoá thành những ốc đảo nên thơ như từ thuở khai thiên. Đồng bằng
trong buổi ban mai thanh bình vô sự dưới bầu trời thanh thoát, ánh hồng
quang quyện lẫn với hơi mây xanh nhạt trong gió sáng hây hây, nhẹ như một
cánh mộng vừa lay.
“Huế có Cầu Hai làm nơi tiền trạm hay hậu cần làm sao lại nói Huế
nghèo ?”. Ý nghĩ táy máy thành lời này của H. trong xe thành một đề tài cho cả bọn xoay quanh
phân tích “cái nghèo” của Huế rộn ràng. Lý thuyết bi thảm của ai đó
quả quyết “Huế thơ Huế mộng, nhưng Huế tộng bộng hai đầu” bị phản
bác vỏn vẹn bằng cái chỉ tay hùng hồn lên những nhánh lúa trĩu nặng
hai bên đường, lên ngọn núi Bạch Mã vời vợi, lên những thuyền đánh
cá ngoài khơi…
“Nhưng Huế vẫn ‘nghèo’
xơ rơ”, VK bường bỉnh kiểu Bình Định, “nếu Huế không nghèo
thì Huế không đẹp.”
Lại
thêm một lý thuyết “vai em gầy guộc” bi thảm thứ hai “quê hương em nghèo lắm ai ơi… Phạm
Duy đến Huế mà có ghé Cầu Hai không hè ?” ai đó hỏi, có thể là
anh tài vui vẻ góp chuyện.
T.
lắc đầu “ Tại sao phải nghèo mới đẹp, giàu còn đẹp hơn , nì
cái thời ‘quân tử ăn chẳng cần no’ đã bị con trâu VN cười rớt
hết cả răng rồi !”.
H.
xen vào “Nóai rứa thì còn chi là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm với ‘an
bần lạc đạo ? giàu bụng bự, má phính thì còn đẹp cái nỗi chi’ ?”.
“Đúng, cái nghèo của Huế là nghèo thanh, nghèo lịch, nghèo cao thượng,
nghèo sinh tử, cả một triết lý sống nội tâm, niềm hãnh diện của Huế,
cái đẹp muôn đời của Huế, xin bạn
chớ quên nhé”. N. sinh viên Hán học
nảy giờ ngồi im mới lên tiếng.
“Và luôn cả ‘nghèo mà ham’ nữa chơ”, anh tài hóm hĩnh thêm
vào, cười hể hả lỏng buông tay lái trên con đường thẳng. Cả bọn bật
cười phụ họa : “còn giàu thì ham hung !”
“Mà ‘reng’, anh K muốn kéo tôi vào cuộc, ‘mà răng mình không hỏi
nhà triết gia định nghĩa chữ nghèo trước khi cãi nhau hè !’” Mọi
người quay nhìn chờ đợi. Tôi chưa kịp chống chế thì mẹ tôi đã bảo
anh tài dừng xe lại trước chợ cá bên đường để mua tôm và cá về nấu
cơm trưa. Quyết định rõ ràng, dứt khoát và thực tiễn làm cả bọn trẻ
hết huyên thuyên trời biển, ngoan ngoãn xuống xe, lẽo đẽo tấm thân “dài
lưng tốn vải” theo mẹ tôi đến những gánh cá sát vệ đường. Những
con tôm rằn tôm sú còn sống đang cong mình búng nhảy trên những mẹt tre
lốp đốp, cá nục chuối, cá nục gai, cá cơm, cá sòng ngân, cá thu, cá ngừ còn tươi rói, lưng cá óng ánh
màu xanh nước biển, bụng lấp lánh màu bạc dưới ánh mặt trời buổi
sáng gây một ấn tượng sinh động lạ lùng. Chợ cá vừa mới nhóm còn
nóng hổi như bước chân của những o bán cá nhanh nhảu miệng mời vừa lấy
những mẻ cá đánh được dưới đầm thoăn thoắt chạy lên. Tôi không thể
giải thích rõ chút nao lòng thú vị len lõi trong tim mỗi khi đứng giữa những
con chợ nhỏ bé lao xao tại quê nhà, nón lá chen với vai người, tôm cá nhảy
rộn ràng cùng với tiếng người nói thách trả giá tưng bừng. Nỗi xúc
động gây nên một thứ hạnh phúc làm cho sinh khí bừng lên, đến từ cảm
giác gần gủi với cuộc sống thật sự của con người giữa thiên nhiên,
cảm giác đứng “giữa chợ” ta với người đang dấn thân trong một cuộc
“nói thách và làm đày”, không ỏn ẻn làm dáng tiểu thư, kích thích
và sống động. Mấy mươi năm ở xứ người “văn minh”, thường mua tôm
cá thịt thà được ướp lạnh trong các quầy hàng sạch sẽ, mỗi khi trở
về Huế, đi “lội chợ” cá, bùn vẫy thấu nón, vẫn còn là một cái
thú “bình sinh” của tôi, nghe cuộc
sống tươi mươi chảy quanh mình, thấy được hơi thở của thiên nhiên kề
vai, nghe (chứ chưa ăn) bụng “no”
trên từng rỗ cá tôm, thấy dạ dày yên ổn nơi từng thùng rau, cà, mướp
với lòng tin chắc chắn vào nguồn suối thiên nhiên đang nuôi dưỡng con
người. Hạnh phúc đơn sơ và tự nhiên, đến nỗi tôi không ngần ngại
thú nhận nỗi vui sướng ấy mà chẳng sợ mang tiếng là người “Phật tử”
chưa quán triệt hết ngũ giới, vẫn còn ham “ngả mặn”, và nếu ai có hỏi thì tôi cũng sẽ sân
si hay rất giác ngộ mà trả lời như Tuệ Trung Thượng Sĩ :
“Khiết thảo dữ khiết nhục, chúng sinh các sở thuộc. Xuân lai bách thảo
sinh, hà xứ kiến tội phúc”. (Ăn cỏ
với ăn thịt, chúng sinh loại nào thuộc loại ấy. Mùa xuân đến, trăm cỏ
nẩy mọc, nơi đâu thấy họa phúc ?) (Thượng Trung Huệ Sĩ, Nguyễn Đăng Thục,
Phật giáo Việt nam, tr. 170).
Chúng tôi trở lại xe với giỏ cá nục, tôm rằng, rau dền, ớt chìa vôi,
hành lá, ngò, rau răm dậy mùi biển cả và vườn rau xanh. Xe rời Cầu Hai
khi mặt trời đã nồng hơi trên ruộng muối. Cả bọn bỗng nhiên im lặng,
không còn mồm năm miệng mười náo nhiệt nữa. Có lẽ một phần dạ dày
của ai cũng đã bắt đầu trống trải và hình ảnh diã cá kho thơm mùi
ớt, chén tôm kho đánh chấm rau dền của buổi cơm trưa sắp tới hấp dẫn
đang trở nên rõ rệt trong đầu.
Riêng tôi bỗng vẩn vơ bận tâm với đề tài “nghèo” mà anh em vừa
kháo nhau lúc nãy. Muốn biết “nghèo là chi hay bản chất của cái nghèo”
chắc hẳn phải đọc lại lịch sử Việt Nam, từ Nguyễn công Trứ, Tản
Đà, Tú Xương, Nguyễn Bỉnh Khiêm và ngược dòng lịch sử, có cái nghèo
mất nước và cái nghèo dựng nước, có nỗi buồn nhược tiểu và nỗi
kiêu hãnh Phù Đổng kiêu hùng. Tôi thầm xấu hổ tự thú là với đầu
óc lãng mạn mơ mộng thời ấy đã chưa có một lần nghĩ đến “sự nghèo
khổ của đất nước” đến tột cùng. Nhưng có lẽ lần đầu tiên trong quãng đời
thanh niên, hai chữ “Huế nghèo”
hôm ấy đã âm vang trong tim tôi với dấu nhấn mới mẻ. Từ trước những
cảnh nghèo khổ thường xuyên bày ra trước mắt, trong gia đình thân quyến,
ngoài đường phố, trong thôn xóm trên đường quê, tôi đã sống và nhìn có chút thờ ơ, ích kỷ. Cánh cửa gia đình
khép lại sau lưng, bỏ lại thế giới bên
ngoài mưa hay nắng, nóng cháy da hay giá rét co ro, chỉ còn lại khuê phòng
yên ổn trong vòng tay của bà và mẹ, - những người như tất cả các bà và mẹ Việt nam có
biệt tài dấu cái “nghèo” cái “khổ” chỉ dành riêng “một
mình mình biết, một mình mình hay”. Những
ước mơ của chúng tôi chỉ quanh quẩn nơi mấy chữ no thân ấm áo cho bản
thân và cho gia đình. Nhưng hôm ấy trên quãng đường đi cùng với bạn
bè, nói về quê hương nghèo khó, tôi cảm nghe một nỗi xúc động mới,
nghe tim mình nhạy cảm một thứ tình khác lạ, mơ hồ, mường tượng như mối tình quê hương. Tôi không muốn nói
đến hai chữ “yêu nước” to tát, mà
với nó cả dòng lịch sử Việt nam đã được viết lên từ khi câu thơ
“Nam quốc sơn hà, Nam đế cư” vang dội trên bờ sông Hát. Có lẽ thứ
tình ấy có chút chi lãng đãng như cảm
xúc của Huyền Trân Công chúa trong chuyến “nước
non nghìn dặm ra đi. Cái tình chi…”. Đến
khi đất nước thành hình trong tim mới biết “cái tình chi…” ấy
riêng chung mấy độ. Và chỉ có sự
ra đi nghìn dặm mới định hình âm ba của tình yêu xứ sở là ao tù hay
biển rộng.
“Người con gái Việt nam da vàng, yêu quê hương như yêu đồng lúa chín,
người con gái Việt nam da vàng, yêu quê hương như biết yêu mình…” Mấy năm sau Trịnh Công Sơn hát như thế,
về tình yêu quê hương trong những buổi hội thảo của sinh viên, như âm
vang của tâm trạng thanh niên thời ấy mà phong trào sinh viên phật tử là
bước khởi đầu. Có thể nói lần đầu tiên trong quãng đời thanh niên,
ở miền Nam, câu hỏi “vì đời” được
dấy lên cùng với pháp nạn 63 đã trở nên những thao thức trăn trở rõ
rệt hơn bao giờ. Với bạn bè chúng tôi đã cùng nhau đọc lại lịch sử
với một tâm trạng thức tỉnh sôi nổi. Sau một nghìn năm thuộc Tàu một
trăm năm thuộc địa Tây, lịch sử VN xuất hiện như một nước “Việt
buồn” mang nặng chữ “nghèo”
kèm theo với chữ “nhược tiểu”, “thế giới thứ ba” “chậm
tiến” trên vai. Đối với tuổi trẻ của thế hệ 30, 40, 50 nó trở
thành một tiền đề thách đố suy nghĩ đi
tìm những giải đáp. Từ đó hoài bão dấn thân xây dựng đất nước bằng
tài năng và kiến thức của người thanh niên trở nên giấc mơ Phù Đổng
mà pháp nạn 63 đã là chiếc nôi nuôi dưỡng ý chí nóng bỏng ấy. Chính
trong những giờ phút ngồi tuyệt thực hay những giờ thao thức về lẽ
công bằng, tình quê hương đã nẩy mầm như nhánh lúa trên quãng đường
Đà Nẳng ra Huế đơn giản và bình dị chín với mặt trời và gió ban
mai. Không luận thành hay bại, những trăn trở của 63 là những hiện tượng
sống động của thế hệ thanh niên đang định hình trách nhiệm xã hội của
mình. Chúng không thuộc vào một chủ nghiã nào cả, không có một chủ
nghiã yêu nước hay một ý thức hệ đàng sau. Có chăng một tình tự yêu
quê huơng như một sự thức tỉnh lương tri tuổi trẻ. Đến nay nhìn lại,
nhớ lại những thao thức trên chặn
đường trở về Huế, sau mấy mươi năm trầm luân hay được xem là chiến
thắng của đất nước, trong bao nhiêu nỗi vui buồn của người Việt, chợt
nhận ra mình có được duyên may đã bắt gặp quê hương trên con đường
dấn thân cho đạo pháp, đã hình thành tình tự quê hương từ cương vị
của một người Phật tử, đã gặp đời qua đạo với những hạnh nguyện
nhân ái từ bi của Đức Phật. Một duyên may như một diễm phúc ! Bởi
vì từ chỗ đứng ấy trong suốt 40 năm tôi đã thấu hiểu sâu xa hơn lòng
ái quốc của Lý Thường Kiệt, Vạn Hạnh Thiền Sư, Trần Nhân Tôn, Trần
Hưng Đạo … đã không đến từ tham
vọng thế lực cá nhân hay gia đình, họ đã chiến thắng kẻ xâm lăng, xây
dựng đất nước, nhưng có lẽ chiến thắng oanh liệt nhất của những vị
này là đã không để lại một “cái tôi vị ngã” hằn vết cay đắng
trên đất nước cũng như trong lòng mỗi người Việt nam. “Dân tộc và
đạo pháp” ! Từ 1963 bốn chữ
ấy tôi đã bắt đầu đọc với sự chú ý. Hình như chúng đã trở thành
nhẵn nhụi và bóng bẫy rất nhiều khi ! Như một bích chương thấy hoài
đâm chán trong những buổi đại hội tưng bừng. Những chữ ấy cũng theo
nước cuốn trôi đi nếu không có những ngày 1963 níu lại, để thành một
công án nghiền ngẫm và thể nghiệm. Có lẽ gạch nối giữa dân tộc và
đạo pháp nằm vỏn vẹn trong câu kinh Kim Cương “ưng vô sở trụ nhi sanh
kỳ tâm”, cái tâm yêu nước sẽ chan hoà nếu không bị sự bám víu vào
lòng tham thế lực hay lòng tin giáo điều làm tắt nghẽn. 49 năm giảng Pháp,
một điều nghe như rất thường mà lại quan trọng nhất và khó nhất Đức
Phật dạy là ở sự hành thâm chiến thắng tham vọng thế lực, bỏ chấp
mê để từ bi bao dung và nhân ái được phát triển. Chỉ một câu “ta
xem ngôi vàng như chiếc dép”, Trần Thái Tôn đã thể hiện lời dạy ấy
trong tình tự dân tộc và từ đó tình tự dân tộc cùng với sức mạnh của
trí tuệ chảy ra rộng khắp. Lần đầu tiên trở lại Huế sau 1975, tôi đã
bị một cú “schock” khi gặp lại người anh họ biệt tích từ hồi tôi
còn bé,- thời ấy nghe gia đình lén lút kể như một chuyện bí mật li kỳ
là anh đi kháng chiến – Chưa kịp hỏi han anh đã bảo tôi lấy giấy ghi
khẩu hiệu “yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa”, tôi nghe như có một
cuộc cháy rừng thiêu trụi cả một chặn đường nước non nghìn dặm
lúa reo phơi phới là quê hương yêu dấu của anh của tôi, của mọi người
Việt nam, thấy sen khô hồ cạn giữa hai gọng kềm kẹp hai vế chữ. Tôi
đã trả lời anh, bất giác xử dụng công án “cây trắc bá ở ngoài sân”
với câu hỏi “anh có biết rặng tre ở Truồi xanh đến chừng mô
không ?”. Có lẽ anh cũng bị schock
về câu hỏi vớ vẩn của tôi trong lúc anh đang ‘khẩn trương’ thi hành
chỉ thị đường lối… Chắc chắn anh đã đi khắp đất nưóc, đã nằm
gai nếm mật, đã yêu núi rừng Bắc bộ vĩ đại, nhưng anh có hiểu hay cảm
được rung cảm của tôi trên chuyến xe từ Đà Nẳng trở về Huế tháng
6 năm 1963, khi nhìn thấy đầu cầu sông Truồi vòm tre xanh phất phơ bên
đường ? Việt Nam có hàng vạn khóm tre trên vạn nẻo đường, nhưng
không hiểu sao trên đường đi cũng như đường ve, rặng tre cầu Truồi
ấy đã trở nên tín báo “đi - về , gần - xa” xứ Huế cho tôi. Mười
năm mười lăm năm hai mươi năm sau, (chỉ mới gần đây mới chấm dứt
vì rặng tre không còn nữa) nỗi vui như một lời reo nhỏ trong tim khi chùm
tre phe phẩy ở đàng xa hiện rõ trước lồng kính xe hơi, báo hiệu Huế
đã gần kề cũng như nỗi buồn bỗng rưng rức khi ngoái lại đàng sau qua
kính xe vòm tre dần dần khuất mắt, bao lần như một ! Chẳng có chi vĩ đại, chỉ vài nét lá
tre run rẩy trên vòm trời quê hương, nhưng vị lại đậm như bát chè Truồi nổi
tiếng ở vùng Thuận hoá.-
“Chè Truồi ngon có tiếng ! Bà ơi bà có muốn dừng xe lại mua chè
không ?”, câu hỏi nhanh nhảu của
anh tài cùng lúc với cú thẩy mạnh của bánh xe làm mọi người bật tung
lên rồi rơi xuống chỗ ngồi, tôi nhìn ra cửa kính – bánh xe đang lăn lóc
chóc trên chiếc cầu gỗ gập ghềnh bắc qua giòng sông nhỏ xanh màu lục
thúy. Khác với Cầu Hai Đá Bạc rộng rãi trời mây, cảnh Truồi có chút
chi nhỏ nhắn êm đềm với giòng sông quanh co giữa hai bờ tre rủ bóng, với
nhà cửa xúm xít quanh phố chợ hiền hoà mộc mạc, một bức tranh quê cảm
động. Có lẽ vì vậy mà dến Truồi bỗng thấy mình đã gần “nhà”, sắp
đến Huế. Hình như anh tài nào –
anh tài dạo ấy và những anh tài trong những chuyến xe sau – khi qua cầu
Truồi cũng cùng một tâm trạng háo hức của người gần đến đích, nên
nhấn thêm ga và chiếc xe ngon trớn lăn nhanh trên đường tráng nhựa, sau
cái lắc đầu không muốn dừng xe của mẹ vì bà cũng đang nóng lòng mau về
đến nhà. Sự yên chí đã đến đích sau cuộc hành trình làm cho người
đi không còn chú tâm đến phong cảnh hai bên đường. Không nói nhưng mỗi
người hình như đang cùng tập trung vào câu hỏi không biết anh em trong Đoàn
hiện nay những ai còn ở Huế, và chùa Từ Đàm có còn bị rình rập hay
không. Khi xe băng qua ngã quẹo “Giàng xay”, chúng tôi đã đến An Cựu tấp
nập người đi. Chợ An Cưụ nằm bên bờ sông An Cựu “nắng đục mưa
trong” gần gủi thân thiết như dáng dấp của một bà cô Huế ruột thịt.
Trong xe mọi người đang giải thích cho anh tài đường về nhà của mỗi
người. Cánh đồng An Cựu thơm mùi luá hoàng gia, đem đến cho kinh đô
tài tử này một thoáng duyên quê bất ngờ như nét môi cắn chỉ cau trầu,
với mạ xanh muà xuân và lúa de vàng rộm cuối hè. Thuở bé cùng mẹ đi
thăm cô “bên An Cựu”, cánh đồng này đã là một hành trình dài dằng
dặc cho kẻ bộ hành say nắng. Huế lạ lùng như một bài thơ đô thị,
mà cánh đồng An Cựu là một điệp khúc thôn giả với tiếng chim gọi
lúa buổi sáng, tiếng đập cánh vù vù của châu chấu buổi trưa và tiếng
ếch trong hoàng hôn.
Hôm ấy Thành phố có vẻ rộn ràng và náo động. Từ khi biến cố Phật
Đản xảy ra, Huế trở thành thành trì kiên cố của cuộc vận động Phật
giáo. Trong không gian nỗi kinh hoàng của thảm cảnh ngày Phật Đản vẫn
đang giăng mắc đó đây. Khi chúng tôi qua cầu Gia Hội dọc theo con sông Bạch
Đằng về nhà, đến chùa Diệu Đế thì cảnh tượng đã rõ : người
ra vào tấp nập, trong sân các anh chị huynh trưởng gia đình Phật tử
đang giữ trật tự, trong chùa tiếng tụng kinh tập thể vang vang, người vào
ra không ngớt, lính tráng công an chìm lảng vảng
quanh chùa. Trong đợt vận động lần thứ hai, sau khi Thích Quảng Đức
tự thiêu, hoà thượng Thích Tịnh Khiết cùng với qúi Thầy trí Quang và
Thích Thiện Minh đi vào Sài gòn, chùa Diệu Đế được ủy nhiệm lám trụ
sở thứ hai của cuộc vận động do Thầy Thích Đôn Hậu đảm nhận. Chùa
Diệu Đế sau này cũng là trụ sở hoạt động của Đoàn Học Sinh Phật tử
được thành lập.
Về
đến nhà, mẹ tôi và tôi đều ngạc nhiên thấy trong nhà lố nhố nhiều
người. Hỏi ra mới biết những bạn trai của em tôi đang gặp nhau để bàn
chuyện vận động Phật giáo. Từ lúc tôi đi vắng H. em tôi bỗng trở
nên hăng say và cả nhóm học sinh đệ tam đệ nhị, đệ nhất đã quần
xe đạp từ Diệu Đế lên Từ Đàm không ngớt. Nhớ lại thời ấy T.V.
Sinh đã viết cho tôi năm 2001 (*)
Có lẽ
em hơi đường đột khi kêu chị bằng chị trong lúc chị không có một
chút ấn tượng nào về em cả. Riêng em thì biết chị rất nhiều và rất
rõ nữa. Để em nhắc lại một ít quá khứ và sự việc thì chị sẽ nhớ
lại những gì đã qua nhưng sẽ không bao giờ quên. Tuy vậy em vẫn tin chắc
chị không nhớ em là ai. Ngược thời gian cách đây 38 năm, hồi Phật giáo
tranh đấu chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, chị là sinh viên Phật
tử của đại học Huế, gồm Phan Đình Bính, Vĩnh Kha, Hoàng Văn Giàu, Tôn
Thất Kỳ, chị và một số anh chị khác nữa. Em, lúc đó còn là một học
sinh đệ nhị và thuộc nhóm học sinh Phật tử gồm Tôn Thất Mạnh Lương,
Thái Nguyên Hạnh,
Nguyễn Văn Nhơn, Trần Duy Vái, Niên, Hoàng và em. Có lẽ bây giờ chị có
thể hình dung lại thời gian của quá khứ mấy mươi năm về trước phong
tỏa chùa Từ Đàm, mà đêm đó em đã có mặt, và nhất là trước đó, vụ
thảm sát ở đài phát thanh Huế mà em cũng có mặt, suốt đem chạy theo xe
của thầy Thích Trí Quang không biết mệt. Thế rồi thời gian trôi qua, thế
sự thăng trầm, chị đi du học ở Đức, tuị em mỗi người một hoàn cảnh,
biền biệt mấy chục năm không gặp lại nhau. Sang tới đất Mỹ này, em
đọc báo Giác Ngộ có bài chị viết, nhớ chị và không biết chị có
thay đổi nhiều không, nhưng một điệu văn không thay đổi, chị vẫn là
một Phật tử thuần thành đầy lòng nhân ái, luôn luôn ưu tư cho đồng bào
nghèo khổ, các em bé mồ côi thiếu học hành và mái ấm gia đình của xứ
Huế thân yêu nói riêng và của đất nước nói chung. Đây là điều càng
làm em kính phục chị nhiều hơn. Thưa chị, hồi tháng 6 này em về thăm Huế,
đến cô nhi viện Đức Sơn thăm sư cô Minh Tú cùng các em cô nhi, em có
quay một đoạn phim về sinh hoạt của các em đồng thời trao cho cô nhi viện
một số tiền nhỏ. Bên này, chúng em có lập một nhóm bảo trợ cô nhi viện
Đức Sơn và hàng tháng đều gới tiền về, mặc dầu không nhiều nhưng tụi
em đã cố gắng hết sức mình. Em rất muốn phổ biến thêm về hình ảnh
của cô nhi viện nên rất mong được chị giúp đỡ. Em muốn gởi chị một
cuốn băng video nếu chị đồng ý, cho em xin địa chỉ. Khi nào có dịp
sang Mỹ, em có thể mời chị đến nhà chơi. Rất mong gặp lại chị.
(*)
Thư qua @
Co le em hoi duong dot khi keu chi bang chi trong luc chi khong co mot chut an tuong nao
ve em ca. Rieng em thi biet chi rat nhieu va rat ro nua. De em nhac lai mot it qua khu va
su viec thi chi se nho lai nhung gi da qua nhung se khong bao gio quen. Tuy vay em van tin
chac chi khong nho em la ai. Nguoc thoi gian cach day 38 nam, hoi phat giao tranh dau
chong che do doc tai Ngo Dinh Diem chi la sinh vien phat tu cua dai hoc Hue gom Phan Dinh
Binh, Vinh Kha, Hoang Van Giai, Ton That Ky, chi va mot so anh chi nua. Em, luc do con la
mot hoc sinh de nhi va thuoc nhom hoc sinh phat tu gom Ton That Manh Luong, Thai Nguyen
Hanh, Nguyen Van Nhon, Tran Duy Vai, Nien, Hoang va em. Co le bay gio chi co the hinh dung
lai thoi gian cua qua khu may muoi nam ve truoc phong toa Chua Tu Dam. Dan ap luu dan cay
Hoa thuong Tieu Dieu tu thieu o chua Tu Dam ma dem do em da co mat va nhat la truoc do, vu
tham sat dai phat thanh Hue ma em cung co mat, suot dem chay theo xe cua thay Tri Quang
khong biet met. The roi thoi gian troi qua, the su thang tram, chi di du hoc o Duc, tui em
moi nguoi mot hoan canh, bien biet may chuc nam khong gap lai nhau. Sang toi dat My nay,
em doc bao Giac Ngo co bai chi viet, nho chi va khong biet cho co thay doi nhieu hay
khong, nhung mot dieu van khong thay doi, chi van la mot phat tu thuan thanh day long nhan
ai luon luon uu tu cho dong bao ngheo kho, cac em be mo coi thieu hoc hanh va mai am gia
dinh cua xu Hue than yeu noi rieng va cua dat nuoc noi chung. Day la dieu lam em cang kinh
phuc chi nhieu hon. Thua chi hoi thang 6 nay em ve tham Hue, den co nhi vien Duc Son tham
su co Minh Tu cung cac em co nhi, em co quay mot doan phim ve sinh hoat cua cac em
dong thoi trao cho co nhi vien mot so tien nho. Ben nay chung em co lap mot nhom bao tro
co nhi vien Duc Son va hang thang deu goi tien ve, mac dau khong nhieu nhung tui em da co
gang het suc minh. Em rat muon pho bien them ve hinh anh cua co nhi vien nen rat mong duoc
chi giup do. Em muon goi chi mot cuon bang video neu chi dong y, cho em xin dia chi. Khi
nao co dip sang My, em moi chi ghe nha em choi, rat mong duoc gap lai chi.

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net