
Như chúng ta đã
biết, phần đông người Ả Rập sinh sống chủ yếu bằng nghề du mục. Từ
thế kỷ 4, một số bộ lạc Ả Rập bỏ nghề du mục để chuyển sang nghề
buôn bán. Nhưng việc chuyên chở hàng hóa băng qua sa mạc muốn được an
toàn cần phải có người bảo vệ. Một số bộ lạc Bedouin rất giỏi về
quân sự chuyển qua nghề làm trung gian và chuyên chở hàng hóa. Họ lập
thành những đoàn bộ hành (caravans) chở hàng hóa từ miền Nam bán đảo
Ả Rập qua thành phố Petra – thành phố gồm có những căn nhà được đục
sâu trong vách đá ở miền nam Jordan – đến thành phố Zenobia thuộc xứ
Syria. Vào thời gian này, thành phố Zenobia được tôn xưng là Hoàng Hậu của
Phương Đông (Queen of the East).
Do việc buôn bán càng ngày càng phát triển, thành phố Mecca ở phía
nam bán đảo Ả Rập dần dần trở thành một trung tâm thương mại lớn
nhất trong vùng. Ngoài lý do thương mại, Mecca còn là một địa điểm hành
hương của tất cả mọi người theo đạo cổ truyền Ả Rập. Hàng năm,
người Ả Rập từ khắp nơi đổ về Mecca để viếng đền thờ Kaaba mà
họ tin rằng đền thờ này đã được xây cất từ thời ông Adam tổ
tiên loài người và sau đó được xây cất lại bởi ông Abraham và con
trai là Ismael. Số người hành hương Mecca mỗi ngày mỗi đông đã khiến
cho Mecca trở thành một thánh địa thiêng liêng bất khả xâm phạm. Tâm
lý chung của mọi người là phải tự ý thức dẹp bỏ mọi sự xung đột
tại thánh địa để sự an toàn và vẻ trang nghiêm của thánh địa được
bảo đảm. Đây là một yếu tố tâm lý đã góp phần quan trọng vào việc
phát triển thương mại tại thành phố này.
Sau khi Mecca đã trở thành một đô thị sầm uất thì bộ lạc
Quraysh giã từ đời sống du mục để chuyển hẳn sang nghề thương mại vào
cuối thế kỷ 5. Tại Mecca có truyền thuyết kể rằng: Thủ lãnh bộ lạc Quraysh đã đến Syria mua về 3 pho tượng
của 3 nữ thần Al-Lat, Al-Uzza và Manat đem về đặt tại đền thờ Kaaba. Từ
đó, bộ lạc Quraysh làm ăn phát đạt, trở thành giàu có và nắm quyền
kiểm soát toàn thành phố Mecca.
Một thương gia rất nổi tiếng thuộc bộ lạc Quraysh là Hassim Manaf
mỗi năm lãnh đạo hai chuyến lữ hành (caravans) đông tới hàng ngàn người
tải hàng từ Mecca đi Yemen hoặc đi Syria. Ông được hoàng đế Byzantine và
vua xứ Abyssinia tiếp kiến.
Con trai ông là Muttalib cũng là một thương gia giàu có ở Mecca.
Muttalib có 10 người con trai và 6 con gái. Người con trai út tên là Abdallah
rất nổi tiếng là một thanh niên cao lớn đẹp trai. Abdallah chính là cha của
Muhammad. Công cuộc buôn bán của Abdallah thiếu may mắn nên gia sản khánh
kiệt. Abdallah đau buồn sinh bệnh và chết hai tháng trước khi Muhammad ra đời.
Muhammad chỉ được thừa hưởng cái dáng vóc to lớn đẹp trai của cha
nhưng không được hưởng chút gia tài nào của cha để lại cả.
Sau khi sanh Muhammad, bà Anima quá nghèo không nuôi nổi con thơ nên đành
phải bế bé Muhammad đến nhờ ông nội là Muttalib nuôi dùm. Ông già
Muttalib mời một thầy pháp xuất hồn (a kahin) đến nhà coi bói cho
Muhammad. Thầy pháp cho biết sau này đứa bé sẽ cai trị cả thế giới.
Ông già Muttalib quá mừng nên vội vàng bế đứa cháu mới sinh đến đền
thờ Kaaba để tạ ơn Thượng Đế.
Hơn hai năm sau, khi cơn đói kém đã qua đi, bà Anima trở lại nhà
ông già Muttalib đón bé Muhammad về nuôi tại nhà riêng của bà tại Mecca.
Khi Muhammad lên 6 tuổi thì mẹ chết. Một lần nữa Muhammad được đưa trở
lại nhà ông nội Muttalib. Muhammad được đưa đến nhà ông chú là Abu
Talib, thủ lãnh đoàn thương buôn của dòng họ Hassim.
Abu Talib được nhiều người ở Mecca tôn trọng về tư cách và khả
năng thương mại, mặc dầu gia sản của dòng họ Hassim lúc này đã suy kiệt.
Khi Muhammad lên
12 tuổi, ông Abu Talib quyết định cho Muhammad được đi theo các chuyến lữ
hành tải hàng từ Mecca đi Syria. Kể từ đó cho đến năm 25 tuổi, Muhammad
luôn luôn theo sát ông chú trên mọi nẻo đường buôn bán băng qua sa mạc
Syro-Arabia. Suốt 13 năm ròng, Muhammad được học đủ mọi môn về quân sự:
từ cưỡi ngựa, đấu kiếm, bắn cung, đô vật cho đến các mưu lược
chiến thuật và các phương cách bày
binh bố trận chống lại các bọn cướp dọc đường. Từ bẩm sinh,
Muhammad đã vốn có một thân hình cao lớn khỏe mạnh, sau 13 năm tập luyện
trong thực tế sa mạc, Muhammad trở thành một võ sĩ hay một tướng quân.
Vào năm 595,
Muhammad muốn cưới Fakhita, 25 tuổi, con gái của ông chú Abu Talib. Nhưng
ông chú Abu Talib quyết định gả Fakhita cho một người giàu có thuộc
dòng họ Makhzum. Để đền bù cho Muhammad, ông Abu Talib giới thiệu Muhammad
cho bà Khadija là một phụ nữ sang trọng giàu có nhất nhì tại Mecca. Lúc
đó bà Khadija khoảng 40 tuổi, đã có hai đời chồng và 7 người con. Bà
thuộc đoàn thương mại của dòng họ Asad đang lúc gặp thời. Bà rất cần
có một người dũng cảm và có khả năng chỉ huy quân sự để tổ chức
những chuyến buôn từ Mecca vượt qua sa mạc xa xôi đến Syria. Bà Khadija
đề nghị với Muhammad việc hôn nhân và Muhammad đồng ý.
Mặc dầu bà
Khadija lớn hơn Muhammad 15 tuổi nhưng Muhammad vẫn say mê bà. Theo sử sách của
Hồi Giáo ghi chép thì bà Khaidija lúc đó tuy lớn tuổi nhưng vẫn trẻ đẹp
và có dáng vẻ rất sang trọng. Cuộc hôn nhân giữa bà Khadija và Muhammad
kéo dài 24 năm, tức cho đến khi bà Khadija qua đời vào năm bà 64 tuổi.
Cuộc đời của
Muhammad và lịch sử thời sơ khai của đạo Hồi đã mang nhiều dấu ấn về
tài đức của bà Khadija. Trong cách cư xử với bà Khaidija, Muhammad luôn coi
bà như một người mẹ hoặc một người cố vấn hơn là một người vợ
bình thường. Trong suốt 24 năm chung sống, Muhammad đã gặp biết bao sự chống
phá của mọi kẻ thù và nhiều chuyện rắc rối đau buồn, Muhammad thường
bày tỏ tâm sự với bà Khadija và luôn luôn được bà tận tình giúp đỡ
nên Muhammad đã vượt qua tất cả. Sau khi bà Khadija qua đời, Muhammad vẫn
thường ca ngợi và bày tỏ lòng biết ơn bà Khadija cho đến khi ông trút hơi
thở cuối cùng.
Bà Khadija sinh
cho Muhammad 7 người con, gồm 3 trai 4 gái. Nhưng 5 người con đầu đều chết
trẻ, chỉ còn lại 2 người con gái. Cô gái út tên là Fatimah, về sau trở
thành một nhân vật rất nổi tiếng trong thế giới Hồi Giáo. Vào thế kỷ
10, những người Ả Rập tại Ai Cập tự xưng là con cháu của Fatimah đã
lập nên một triều đại hiển hách gọi là Triều Đại Fatimids. Triều đại
này cai trị toàn vùng Bắc Phi, Trung Đông và Thổ Nhĩ Kỳ trong 315 năm
(935-1250).
Ông chú Abu Talif là người đã nuôi dạy Muhammad từ nhỏ
đến lớn, lúc về già bị sa cơ thất thế. Bà Khadija và Muhammad đến xin đứa con út của ông chú là bé
Ali (lúc đó mới 5 tuổi) đem về nuôi. Muhammad hết lòng thương yêu Ali vì
Ali mồ côi mẹ và một phần khác vì ông rất biết ơn ông chú Abu. Về
sau, Muhammad đã gả con gái út của ông là Fatimah cho Ali. Hai mươi bốn năm
sau khi Muhammad qua đời, Ali trở thành vị vua Hồi Giáo thứ tư (The Fourth
Calif). Hiện nay, có một số người Chàm theo đạo Hồi ở Việt Nam tôn thờ
Ali và tôn xưng Ali là con của Thượng Đế (Son of God).
Ngoài việc nhận
nuôi Ali, vợ chồng Muhammad còn nuôi một bé trai nô lệ là Zayd. Khi Zayd lớn
lên, cha mẹ Zayd đem tiền đến chuộc nhưng Zayd xin ở lại. Muhammad trả tự
do cho Zayd và từ đó Zayd trở thành con nuôi. Ali và Zayd sống chung với
nhau như anh em ruột dưới sự chăm sóc của Muhammad. Sau này cả hai thành
đôi bạn khắng khít và đều có quyền lực trong cộng đồng Hồi Giáo sơ
khai.
Vào năm 605, lúc
đó Muhammad 35 tuổi, bộ lạc Quraysh
quyết định xây lại đền thờ Kaaba. Đây là một công việc trọng đại
và tốn kém nên cần phải có sự đóng góp của nhiều người mới thực
hiện được. Khi hội họp thảo luận với nhau, các tập đoàn thương mại
(clans) đưa ra nhiều ý kiến trái ngược. Sau năm ngày tranh cãi, các tập
đoàn không đạt được một sự thỏa thuận nào. Cuối cùng, các tập đoàn
giao ước với nhau rằng: Nếu có một người đàn ông nào đó đến đền
thờ vào lúc này thì chúng ta sẽ hỏi ý kiến của người đàn ông ấy
và ý kiến của người ấy sẽ là ý kiến quyết định.
Thật bất ngờ
vì người đàn ông bước chân vào đền thờ lúc đó chính là Muhammad.
Muhammad vừa mới lãnh đạo một đoàn lữ hành lớn từ Syria trở về
Mecca. Theo thông lệ, sau mỗi một chuyến lữ hành thành công, Muhammad đều
đến đền thờ Kaaba để tạ ơn Thượng Đế. Đại diện của các tập
đoàn thương mại Mecca đến hỏi ý kiến Muhammad. Ông dõng dạc trả lời:
“Tất cả chúng ta hãy tìm mọi cách di chuyển Tảng Đá Đen (The Black
Stone) đến giữa đền thờ rồi cùng nhau đoàn kết xây lại nơi thờ phượng
Thiên Chúa Allah. Chúng ta sẽ biến nơi này thành một trung tâm của thế giới!”
(Tảng Đá Đen
là một thiên thạch đã có sẵn ở bán đảo Ả Rập từ rất lâu đời,
không ai có thể xác định được niên đại của nó. Người Ả Rập từ
ngàn xưa đã tỏ lòng tôn kính tảng đá này và họ coi nó như một biểu
tượng của Đấng Tối Cao. Họ xây đền thờ hình khối phủ lên tảng đá
đen và gọi đền thờ đó là Kaaba. Tiếng Ả Rập Kaaba có nghĩa là “nhà
hình khối” (Cubic Building). Đền thờ Kaaba và tục lệ hành hương đã có
từ nhiều ngàn năm trước Công Nguyên).
Sứ giả của
Thiên Chúa (Messenger of God)
Vào năm 610, lúc
đó Muhammad vừa tròn 40 tuổi, ông thường cầu nguyện, bố thí và thích
tìm đến nơi vắng vẻ một mình để suy tưởng về Thiên Chúa. Vào đêm
thứ Bảy mùa chay Ramadan, Muhammad một mình leo lên đỉnh núi Hira ở ngoại
ô Mecca và tìm đến một cái hang. Bỗng nhiên, một thiên thần hiện ra với
ông và ra lệnh “Hãy thuật lại” (Recite!)
Vào thời đó,
ở Ả Rập có nhiều người làm nghề thầy pháp (soothsayers). Họ thường
nhảy múa lên đồng để xuất hồn xuống âm phủ gặp hồn ma người chết.
Sau đó thầy pháp “thuật lại” những điều người chết muốn nói với
thân nhân còn sống. Vì thế các thầy pháp được gọi là “người thuật
lại” (Reciter/ kahin). Khi thiên thần ra lệnh cho Muhammad thuật lại, ông liền
từ chối và trả lời ngay rằng: “Tôi không phải là một thầy pháp!”
(I’m not a reciter!)
Ngay lúc đó,
thiên thần ôm choàng lấy Muhammad một cách thân mật và nói nhỏ nhẹ bên
tai ông những lời mặc khải đầu tiên:
Muhammad sợ hãi
chạy ra khỏi hang và leo lên đỉnh núi với ý định gieo mình xuống vực
để tự tử – Nhưng vừa mới chạy được nửa đường thì nghe có tiếng
nói từ trên trời xuống: “Hỡi Muhammad, con là Sứ giả của Thiên Chúa.
Ta là thiên thần Gabriel đây!”
Muhammad đứng
trân trân nhìn vị thiên thần và không thể bước tới bước lui. Muhammad
quay mặt đi hướng khác, nhưng dù quay hướng nào cũng vẫn nhìn thấy
thiên thần ở trước mặt. Muhammad kể rằng: vị thiên thần là một người
đàn ông và không đẹp như tranh vẽ của Ki Tô Giáo. Thiên thần tự xưng
là “Thần linh của Chân lý” (The Spirit of Truth). Nhiệm vụ của ngài là
một phương tiện truyền thông của Thiên Chúa xử dụng để truyền mọi
điều của Chúa cho loài người được biết.
Muhammad nghe thiên
thần Gabriel giảng giải những điều như vậy liền cảm thấy yên lòng
nên bỏ ý định tự tử và chạy về nhà thuật lại cho bà Khadija biết.
Khi vừa trông thấy bà Khadija, Muhammad vội quì xuống rồi bò tới bằng
hai tay và hai đầu gối. Muhammad nhào vào lòng bà Khadija như một đứa bé
nhào vào lòng mẹ. Muhammad nói: “Hãy che chở tôi, hãy che chở tôi”. Bà
Khadija ôm lấy Muhammad trong vòng tay và nói những lời âu yếm dịu dàng nhằm
trấn an, vì lúc đó bà nghĩ rằng Muhammad có thể đã bị ma ám
(Jinni-possessed). Vào thời đó, người Ả Rập không biết đến các chứng
bệnh tâm thần. Mỗi khi gặp trường hợp có người mắc bệnh điên loạn
hay khủng hoảng tinh thần, người ta thường gán cho là bị ma ám! Bà
Khadija tin tưởng nơi Thượng Đế nên đã an ủi Muhammad: “Anh là người
tốt đối với mọi người và anh hay giúp đỡ những người nghèo khó. Nhất
định Thượng Đế không bao giờ làm điều gì xấu cho anh đâu, cưng ạ!”
Liền sau đó
bà Khadija dẫn Muhammad đến nhà người anh họ cao niên của bà là Waraqua.
Ông này là một tín đồ Ki Tô Giáo rất thông thạo Thánh Kinh Tân Ước bằng
tiếng Hy Lạp. Khi thấy bà Khadija và Muhammad đến, Waraqua không tỏ vẻ ngạc
nhiên. Ông vui vẻ đón chào: “Thật là một điều thánh thiện! Thiên
Chúa đã ban cho Muhammad một bộ luật lớn như ngài đã ban cho Thánh Mai-sen
xưa kia. Ôi! Muhammad là tiên tri của các dân tộc Ả Rập.” (Holy! Holy!
There has come to him the greatest MANUS who came to Moses aforetime and lo, he is the
prophet of the Arab peoples – Muhammad, a biography of the prophet by Karen
Amstrong. Pages 84, 85).
Waraqua đã dùng tiếng Hy Lạp “MANUS”, có nghĩa là Sách Luật, có
ý ám chỉ Muhammad là môt tiên tri sẽ mang đến cho các dân tộc Ả Rập một
cuốn sách luật vĩ đại như Maisen đã mang đến cho dân tộc Do Thái cuốn
sách Kinh “TORAH”, theo tiếng Hebrew cũng có nghĩa là Sách Luật. Muhammad đã
tiếp thu ý kiến này. Về sau, Muhammad đã đưa vào kinh Koran rất nhiều điều
luật về hình sự, dân sự và cả về các mặt xã hội chính trị, kinh tế
nữa.
Waraqua giải thích cho Muhammad: “Sự mặc khải của Thiên Chúa cho
loài người qua các trung gian là các vị tiên tri (prophets) có tính cách
liên tục từ xưa đến nay: khởi đầu từ tổ tiên loài người là Adam,
sau đó đến Noah, Abraham, Moses, Isaiah, Gioan Baotixita và Jesus”.
Muhammad chấp nhận quan điểm củaWaraqua nên sau này Muhammad khẳng định
đạo Hồi không phải là đạo mới mà chỉ là “Đạo Thiên Chúa Canh Cải”
mà thôi (Islam is a Reformed Religion of God).Waraqua cảnh báo cho Muhammad biết trước
về những mối nguy hiểm sẽ xảy đến cho người được Chúa chọn làm
tiên tri: “Anh sẽ là tiên tri của các dân tộc Ả Rập. Tôi già rồi nhưng
tôi sẽ ráng sống cho đến khi người ta ném anh ra ngoài xã hội.”
Muhammad nghe nói vậy tỏ ra rất bối rối sợ hãi. Waraqua bèn mượn lời của
Chúa Jesus trong Thánh Kinh để giải thích cho Muhammad: “Không có tiên tri
nào được trọng vọng ở quê hương mình!” (A prophet is always without honor
in his own country!).
Waraqua tỏ ra là một người học
thức sáng suốt và rất am tường tình hình của xứ Ả Rập lúc đó, Ông
đã đưa ra những lời khuyên Muhammad rất xác đáng:
1. Rao giảng những điều mới được mặc khải là một sứ mạng hết
sức nguy hiểm nên cần phải có thời gian chuẩn bị mọi việc kỹ càng.
2. Trong thời gian đó, đế quốc Ki Tô Giáo Byzantine đang dòm ngó bán
đảo Ả Rập, Waraqua khuyên Muhammad cần tránh tỏ ra thân Ki Tô Giáo hoặc
Byzantine để khỏi bị quần chúng gán cho tội thông đồng với địch.
3. Waraqua biết Muhammad chủ trương độc thần tuyệt đối nhưng ông
khuyên Muhammad đừng vội triệt phá các tượng thần – Lý do vì dân Ả Rập
dù có thờ ba nữ thần là những con gái của Thiên Chúa Allah thì họ cũng
vẫn là những tín đồ của đạo Abraham (Abrahamic Religion). Đạo Abraham chính
là đạo Do Thái trước thời Moses (Pre-Mosaic Judaism) và cũng là đạo cổ
truyền của dân Ả Rập. Muhammad nghe lời khuyên của Waraqua nên đã hoàn
toàn im hơi lặng tiếng trong hai năm và sau đó thực hiện đúng những điều
Waraqua đã dặn.
Năm 612, tâm lý chung của dân Mecca là chỉ lo làm giàu bằng mọi
cách, bất chấp mọi giá trị đạo đức. Các tập đoàn buôn bán coi nhau
như thù địch nên xã hội Mecca lâm vào tình trạng chia rẽ cùng cực. Tâm
lý quần chúng Ả Rập lúc đó khao khát đi tìm một giải pháp tôn giáo mới
(a new religious solution) đáp ứng nhu cầu chung của dân tộc Ả Rập.
Muhammad cũng như đại đa số dân Ả Rập không thể chấp nhận quan
niệm Thiên Chúa Ba Ngôi của đạo Ki Tô vì nó mang nặng tính chất thần
thoại Hy Lạp. Người Ả Rập đã cảm nhận từ rất lâu đời tinh thần
tôn giáo Abrahamic, tức tinh thần của đạo Do Thái Nguyên Thủy (4000 TCN –
1250 TCN), cho nên Muhammad tìm về gốc đạo Do Thái như tìm về với cội
nguồn tinh thần của cả dân tộc. Chính vì quan niệm này mà trong đạo hồi
Abraham được coi là một tín đồ Hồi Giáo đầu tiên (The First Muslim) là
vị tổ phụ lập đạo và cùng là tổ phụ của dân tộc Ả Rập.
Muhammad không bao giờ tự coi mình là người lập đạo, không bao giờ
tự xưng mình là giáo chủ hoặc là Đấng Cứu Thế. Ông không công nhận
mình có một sứ mạng nào đối với cả thế giới (no universal mission)
cũng không có một nhiệm vụ chính trị nào. Ông chỉ nhấn mạnh một điều
rằng: Ông là tiên tri cuối cùng của Thiên Chúa. Nói cách khác, sau Muhammad
sẽ không có một tiên tri nào cả. Điều này rất quan trọng đối với Hồi
Giáo: Sau khi Muhammad qua đời, tất cả những người kế vị (Caliphs) đều
chỉ là những người kế vị với tư cách lãnh đạo Cộng đồng (Leaders
of Community) chứ không ai có thể kế vị với tư cách tiên tri (prophet). Điều
này ngụ ý: không ai có tư cách sửa đổi giáo lý đạo Hồi hoặc sửa đổi
những điều đã ghi trong kinh Koran.
Muhammad là một người bản tính giản dị, rất ghét lối sống xa
hoa phù phiếm. Ông thường mặc loại quần áo may bằng vải thô. Khi kiếm
được tiền, ông thường chia sẻ rộng rãi với những người nghèo. Ông
có khuynh hướng sống khổ hạnh. Ông không kết án người giàu một cách
quá khích như Jesus “Kẻ giàu vào thiên đàng khó hơn lạc đà chui qua lỗ
kim”. Nói như vậy có nghĩa là mọi kẻ giàu đều phải xuống hỏa ngục.
Muhammad không tin như vậy, ông nói: “Người nghèo vào thiên đàng trước
người giàu”. Ông tin rằng Chúa nhân lành nên không bao giờ phạt một người
nào đời đời trong hỏa ngục. Thậm chí như
quỉ Satan, Muhammad tin rằng Satan sẽ được Chúa tha tội trong ngày Phán
Xét Cuối Cùng. Vào thời Muhammad, hai phần ba phụ nữ trong xã hội là nô
lệ. Muhammad muốn đem đến cho họ một niềm hy vọng trong tôn giáo. Vì thế
đa số những tín đồ Hồi Giáo đầu tiên là những người nô lệ, phụ
nữ và những người khốn cùng trong xã hội.
Muhammad là người khiêm tốn nên ông cũng xác định Kinh Thánh Koran
có một nhiệm vụ cũng rất khiêm tốn: “Koran chỉ làm nhiệm vụ của một
kẻ nhắc lại những điều mà mọi người đã biết” (The Quran claimed to
be a reminder of things that every body knew already – Koran 80: 11).
Tất cả những nghi lễ lớn của đạo Hồi hiện nay như hành hương
Mecca, sự tôn kính thánh tích Tảng Đá Đen ở đền thờ Kaaba, tục lệ bố
thí cho người nghèo, ăn chay trong tháng Ramadan, giết súc vật làm lễ hy
sinh (animal sacrifice)... đều xuất phát từ tôn giáo cổ truyền của các bộ
lạc Ả Rập nhiều ngàn năm trước khi Muhammad ra đời.
Có thể nói mọi người Ả Rập đều đã sẵn có niềm tin vào
Thiên Chúa, Muhammad không phải tốn công thuyết phục đồng bào của mình
về điểm này, chỉ cần làm sao thuyết phục họ tin rằng Muhammad là tiên
tri cuối cùng của Thiên Chúa.
Công việc trọng tâm trong sự thuyết phục đó tưởng đơn giản mà
thật khó khăn. Sau hai năm viết sách Koran và thuyết phục mọi người,
Muhammad chỉ chinh phục được mấy người trong gia đình: vợ, bốn con gái
và hai con nuôi. Ông chú Abu Talib không chịu theo. Tuy nhiên, một người xa lạ
là Abu Bakr chẳng những nhiệt tình theo đạo Hồi mà còn hết lòng bênh vực
che chở cho Muhammad. Abu Bakr là một thương gia rất giàu và có uy quyền đối
với các tập đoàn thương mại ở Mecca. Nhờ uy tín của ông, nhiều thanh
niên và những người có thế lực tại Mecca đã theo đạo Hồi.
Cuộc Tỵ Nạn tại Ethiopia
Người Ả Rập tin Adong – Evà là tổ tiên loài người và tin có một
Thiên Chúa mà họ gọi là Allah, nhưng không biết từ bao giờ họ lại tin
rằng Thiên Chúa Allah có 3 cô con gái tên là Al-Lat, Al-Uzza và Manat. Tại đền
thờ Kaaba ở Mecca, người Ả Rập tôn thờ Thiên Chúa là chính yếu. Thiên
Chúa vô hình vô tượng nhưng ba nữ thần con của Thiên Chúa thì có tượng
thờ tại đền này. Ngoài ra, người dân Mecca còn làm thêm 360 tượng thần
cai quản 360 ngày trong một năm Âm Lịch.
Năm 616, Muhammad giảng đạo tại đền thờ Kaaba và thuyết phục mọi
người hãy phá bỏ các tượng thần, nhất là 3 tượng nữ thần con của
Thiên Chúa.
Muhammad thuyết giảng rằng: đạo thật của Abraham là chỉ tôn thờ
một Thiên Chúa mà thôi. Thiên Chúa không đẻ con nên không có thần nào
là con trai hay con gái của Thiên Chúa cả!
Trước đây 6 năm, Waraqua đã cảnh báo Muhammad về sự nguy hiểm khi
khuyên người ta phá bỏ các tượng thần. Nay Muhammad phải đối diện với
sự nguy hiểm trong thực tại: Muhammad mất hết sự ủng hộ của mọi người.
Các tập đoàn thương mại ở Mecca công khai tuyên bố Muhammad là kẻ thù của
quần chúng. Mọi người kết tội Muhammad đã nhục mạ những vị thần
thiêng liêng của họ. Nhiều người cuồng tín mang theo vũ khí đi lùng bắt
Muhammad. Lúc đó, Muhammad vội chạy trốn để tránh mặt. Bọn người cuồng
tín kéo đến nhà ông chú của Muhammad là Abu Talib để hành hung ông mặc
dù lúc đó ông đã rất già. Cuối cùng bọn cuồng tín bắt hết những người
nô lệ theo đạo Hồi trói vào cọc rồi thiêu sống.
Muhammad biết tình hình rất căng thẳng và không thể hòa giải nên nội
trong đêm hôm đó Muhammad cùng 53 người thân nhân và tín đồ bí mật lẻn
ra khỏi thành phố Mecca đi tỵ nạn tại xứ Abyssinia (tức Ethiopia ngày
nay). Muhammad và mọi người đi theo được vua Negus tiếp kiến và bảo vệ
– Muhammad biết vua Negus và triều đình Abyssinia theo Ki Tô Giáo nên ông bảo
Zayd chọn lựa các đoạn trong kinh Koran nói về Chúa Jesus và bà Maria đọc
to lên cả triều đình cùng nghe. Sau khi nghe những câu thơ của kinh Koran ca
ngợi Chúa Jesus và đức bà Maria, nhà vua khen ngợi Muhammad và nghĩ rằng đạo
Hồi cũng là đạo Ki Tô!
Những Vần Thơ của Quỉ Sa Tăng.-
Trong thế giới Tây Phương thù nghịch với đạo Hồi, người ta đã
phổ biến nhiều chuyện bề ngoài có tính cách lịch sử nhưng bên trong nhằm
chế nhạo hoặc bôi bẩn giáo chủ Muhammad. Một trong những chuyện đó
rút ra từ sách Sử Ký của Ibn Sad và Tabari. Chuyện đó kể rằng: Sau khi
giảng đạo tại Kaaba nhằm thuyết phục mọi người phá bỏ các tượng
thần, Muhammad không ngờ bị mọi người phản đối kịch liệt. Chẳng những
thế, Muhammad còn bị những người cuồng tín phẫn nộ đi lùng bắt để
giết chết. Muhammad bị dồn vào thế kẹt hết sức nguy hiểm. Để tạm
thời đối phó với tình thế, Muhammad viết trong chương 53 của kinh Koran
hai câu thơ nhượng bộ những người đa thần giáo như sau:
Sau đó, Muhammad sai người đưa kinh Koran cho những người ở Mecca đọc,
đặc biệt lưu ý họ về hai câu thơ nói về ba vị nữ thần. Những người
đa thần giáo ở Mecca cho rằng Muhammad đã chịu thừa nhận các nữ thần
của họ và họ bằng lòng bỏ qua cho Muhammad về tội xúc phạm thần
thánh trước đây.
Mấy năm sau, Muhammad kéo 10.000 quân trở lại chiếm Mecca. Đợi đến
lúc hoàn toàn làm chủ tình hình ở Mecca, Muhammad mới dám hủy bỏ hai câu
thơ 19-20 trong Sura 53. Muhammad viết trong chương 5 những câu thơ phủ nhận
các nữ thần, gọi các nữ thần là sản phẩm tưởng tượng không đáng
tôn thờ.
Chương 5 trong kinh Koran còn nói rõ rằng: Các câu thơ trước đây
chấp nhận sự tôn thờ các nữ thần Ả Rập là những câu thơ đã được
gợi ý bởi quỉ Sa Tăng. (The verses inspired by Satan)
Năm 1988, nhà văn Anh gốc Ấn Salman Rushdie đã mượn ý của câu chuyện
trên để viết cuốn tiểu thuyết “The Satanic Verses”. Rushdie sưu tầm các
chuyện huyền thoại của Tây Phương từ xưa đến nay nói về Muhammad nhằm
mục đích tạo ấn tượng nơi độc giả về Muhammad như một gã lừa đảo
với những tham vọng chính trị.
Chủ đích của cuốn tiểu thuyết cũng nhằm chứng tỏ rằng cuốn
kinh Koran của đạo Hồi không phân biệt được điều lành và điều dữ.
Koran chẳng bao giờ là sách ghi lời của Chúa mà hoàn toàn được sáng tạo
bởi cá nhân Muhammad mà thôi.
Chuyến
Du Hành Ban Đêm
(The
Night Journey).-
Trong một buổi
tối năm 620, Muhammad đến thăm cô em họ là Umm Hani (chị ruột của Ali) cư
ngụ ở gần đền thờ Kaaba. Sau đó, Muhammad vào đền thờ để ngủ qua
đêm. Trong lúc đang ngủ thì ông được thiên thần Gabriel đánh thức dậy
rồi đặt ông ngồi trên lưng một con ngựa thần. Tiếng Ả Rập gọi con
ngựa thần là Buruq. Đó là một con ngựa có đầu người và có hai cánh
giống như cánh chim rất lớn. Ngựa thần chở ông từ Mecca đến Jerusalem
rồi đáp trên núi Đền Thờ (Temple Mount). Tại đây, Muhammad được đón
chào bởi các tiên tri Do Thái: Abraham, Mai-sen và Jesus. Thiên thần Gabriel dẫn
Muhammad đến một cái thang và cả hai cùng leo lên. Tại tầng trời thứ nhất,
Muhammad gặp tổ tiên loài người là
Adam. Tầng thứ hai do Jesus và Gioan Baotixita cai quản. Tầng thứ ba có
Joseph. Tầng thứ tư do Enoch chủ trì. Tầng thứ năm do Aaron, tầng sáu do
Mai-sen. Tầng thứ bảy do Abraham. Vòm trời trên cùng là nơi ở của Thiên
Chúa Allah.
Sau khi được yết
kiến Thiên Chúa và được ngài căn dặn phải cầu nguyện mỗi ngày 50 lần,
Muhammad cùng với thiên thần Gabriel xin cáo từ và xuống thang. Khi xuống đến
tầng thứ sáu thì Mai-sen dặn Muhammad rằng: “Không nên bắt tín đồ cầu
nguyện nhiều quá. Thiên Chúa đòi phải cầu nguyện mỗi ngày 50 lần nhưng
chỉ cần cầu nguyện mỗi ngày 5 lần cũng đủ rồi!”
Sau giấc mơ đi
Jerusalem năm 620, Muhammad viết kinh Koran qui định mỗi ngày các tín đồ Hồi
Giáo phải cầu nguyện 5 lần. Mỗi lần cầu nguyện phải quay mặt về hướng
Jerusalem. Năm 627, Muhammad ra lệnh hành quyết tập thể 700 người Do Thái tại
Medina vì những người này có âm mưu chống lại ông. Sau vụ này ông thù
ghét người Do Thái và đạo Do Thái nên ông viết lại kinh Koran qui định
cho các tín đồ khi cầu nguyện phải quay mặt về hướng Mecca chứ không
phải là Jerusalem như trước.
Ngôi vị của
Mai-sen (giáo chủ đạo Do Thái) trước đây cao hơn ngôi vị của Jesus
(Giáo Chủ đạo Ki Tô). Nay Muhammad đảo ngược lại: nâng Jesus lên cao hơn
Mai-sen vì lúc này Muhammad chưa có điều gì thù oán với Ki Tô Giáo. Ngày
nay, các tín đồ Hồi Giáo kính trọng nhất là Tiên tri Muhammad, kế đến
là tiên tri Jesus và tiên tri Mai-sen. Đối với họ, tất cả các tiên tri
này đều là những người trần mắt thịt và đều là đầy tớ của Thượng
Đế (Servants of God).

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net