
GIAI ĐOẠN II TẠI MEDINA (622-632)
Charlie Nguyễn
Năm 619, người
vợ yêu quí của Muhammad là bà Khadija qua đời, hưởng thọ 64 tuổi. Qua
năm sau, Muhammad lấy cô Sawdah, 30 tuổi, là em dâu của ông Suhayl tù trưởng
bộ lạc Amir. Cô Sawdah hiện là một góa phụ. Ba năm về trước, Sawdah đã
cùng chồng đi tỵ nạn tại Ethiopia cùng với gia đình của Muhammad vì vợ
chồng cô đều theo đạo Hồi. Khi trở lại Mecca được ít lâu thì chồng
cô bị bệnh và qua đời. Muhammad cưới cô Sawdah với ý định liên kết
quân sự với tù trưởng Amir, nhưng sau này tù trưởng Amir đã chống lại
Muhammad và bị bắt làm tù binh tại Medina.
Cũng trong năm 620, người bạn giàu có và hết sức thân cận của
Muhammad là Abu Bakr đã gả cô con gái út của ông là Aisha mới lên 6 tuổi
cho Muhammad. Sự hứa gả chỉ có tính cách hình thức vì Aisha vẫn sống với
cha mẹ. Sau này, khi Aisha lên 9 tuổi mới sống với Muhammad như vợ chồng.
Trong thời gian này, tại thành phố Yathrib đã có khoảng 100 gia đình
theo đạo Hồi. Yathrib là một ốc đảo khá lớn, cách Mecca khoảng 200 dặm
về phía bắc. Đây là nơi cư ngụ lâu đời của sáu bộ lạc Ả Rập và
ba bộ lạc Do Thái.
Vào tháng 9 năm 622, một phái đoàn 75 người từ Yathrib đến Mecca mời
Muhammad cùng gia đình và các tín đồ Hồi Giáo di cư về Yathrib để thành
lập cộng đồng Hồi Giáo đầu tiên. Sau một thời gian ngắn chuẩn bị,
Muhammad và khoảng 100 gia đình Hồi Giáo bí mật trốn Mecca để di cư đến
Yathrib. Trong số này có gia đình của Abu Bakr.
Sau mấy ngày băng qua những bãi cát sa mạc, đoàn người di cư của
Muhammad đã tới ốc đảo Yathrib ngày 24 tháng 9 năm 622. Đây là ngày trọng
đại trong lịch sử Hồi Giáo vì đó chính là ngày mở đầu cho cả một
kỷ nguyên Hồi Giáo. Lịch Hồi Giáo bắt đầu từ ngày này chứ không
phải từ ngày sinh của Muhammad. Năm 622 Dương Lịch trở thành năm thứ
nhất của Âm Lịch Hồi Giáo. Danh từ Ả Rập gọi cuộc di cư lịch sử này
là HIJRA. Thành phố Yathrib nguyên là tên gọi theo tiếng Hebrew của người
Do Thái, nay được đổi tên thành Medina, chữ tắt của Madinat Al Rasul có
nghĩa là Thành Phố của Thiên Sứ (City of Messenger). Medina từ một ốc đảo
heo hút giữa sa mạc đã trở thành thánh địa thứ hai sau Mecca. Hiện nay mỗi
năm cũng có khoảng từ 2 đến 3 triệu tín đồ trên khắp thế giới đến
đây hành hương.
Lúc ban đầu mới đến Medina, Muhammad và đoàn người Hồi Giáo chỉ
là những kẻ tỵ nạn rách nát chạy trốn sự ngược đãi của những người
đa thần giáo ở Mecca. Nhưng dần dần, trong vòng 5 năm kế tiếp, cả 6 bộ
lạc Ả Rập ở Medina đều theo đạo Hồi và tất cả thành phố Medina
được đặt dưới quyền lãnh đạo duy nhất của Muhammad.
Cả 6 bộ lạc ở Medina cùng ký với nhau một hiệp ước gọi là “Umma”,
có nghĩa là hiệp ước thành lập một đơn vị xã hội căn bản. Nói đúng
hơn, đó là một cộng đồng Hồi Giáo liên kết với nhau trên nền tảng
tôn giáo chứ không đặt trên nền tảng huyết thống hay chủng tộc. Kinh
Koran nêu lên điều căn bản cho cộng đồng Hồi Giáo như sau: “Quan hệ
giữa các tín đồ Hồi Giáo với nhau là quan hệ anh em ruột thịt” (The
believers are bond of brothers – Koran 49:10).
Một điều đặc biệt là tại Medina, Muhammad ra lệnh cho các tín đồ
phải nghe lời ông như nghe lời Chúa. Tất cả các tín đồ già trẻ lớn
bé đều tuân lệnh của ông răm rắp. Ông viết trong kinh Koran: “Ai vâng lời
tiên tri là vâng lời chính Thiên Chúa” (He that obeys the Apostle, obeys Allah
himself – Koran 4:80).
Không ai có thể phủ nhận được tài thuyết phục của Muhammad. Ông
đã dùng tôn giáo để thống nhất các bộ lạc Ả Rập trước đây luôn
luôn thù nghịch nhau. Tôn giáo đã tập họp họ trong một cộng đồng Hồi
Giáo (umma). Medina đã trở thành khuôn mẫu đầu tiên về umma mà các người
kế vị sau này đã bắt chước để bành trướng đạo Hồi ra khắp thế
giới.
Muhammad trú ngụ tại Medina trong 10 năm. Nhiều sử gia chuyên về Hồi
Giáo đã chia thời gian này làm hai giai đoạn:
GIAI ĐOẠN ĐẦU
TẠI MEDINA (622-627)
Trong thời kỳ 5 năm đầu trú ngụ tại Medina, Muhammad và cộng đồng
Hồi Giáo đầu tiên đã thực hiện rất nhiều cuộc đột kích (raids) nhằm
mục đích tấn công các đoàn lữ hành đi qua sa mạc để cướp lạc đà,
ngựa, vũ khí, hàng hóa và các loại thực phẩm. Cộng đồng Hồi Giáo tại
Medina khó có thể sống còn nếu không tổ chức các vụ cướp nói trên.
Ngoài ra, Muhammad biết trước những người đa thần giáo ở Mecca sớm muộn
cũng sẽ tấn công cộng đồng Hồi Giáo tại Medina. Do đó ông phải lo tăng
cường binh lực bằng cách cướp lạc đà, ngựa, vũ khí và tích lũy
lương thực.
Muhammad luôn luôn kêu gọi cộng đồng Hồi Giáo tại Medina phải sẵn
sàng chiến đấu và tích cực tham gia thánh chiến (Jihad). Ý niệm “thánh
chiến” trong Hồi Giáo không chỉ có nghĩa là sẵn sàng tử đạo mà còn
có nghĩa là một “bổn phận thiêng liêng” của mọi tín đồ phải tham
gia chiến đấu trên mọi mặt trận, từ tinh thần đến vật chất, từ
kinh tế đến chính trị. Do đó, các chương trong kinh Koran được viết tại
Medina đều mang đậm nét về chính trị, xã hội, kinh tế và cả về quân
sự nữa.
Muhammad hoàn toàn khác với Jesus vì ông không bao giờ chấp nhận “đưa
má cho người ta tát”. Ông đưa ra một học thuyết được mệnh danh là
“Thần Học Chiến Tranh Chính Đáng” (Theology of the just ar). “Khi anh gặp
những kẻ không tin đạo gây chiến thì đừng bao giờ quay lưng về phía
chúng” (When you meet those who
disbelieve marching for war, then turn not your back to them – Koran 8:15). Khi viết
những câu thơ này, Muhammad đang phải đối phó với nguy cơ chiến tranh với
Mecca. Muốn chiến thắng Mecca thì trước hết phải tiến hành những cuộc
đột kích những chuyến hàng nhỏ của Mecca để làm suy yếu dần nguồn
nhân lực tài lực của họ. Sau đó tiến đến những cuộc tấn công lớn
để triệt tiêu độc quyền buôn bán của Mecca với Syria. Khi độc quyền
buôn bán đó không còn nữa thì nền kinh tế của Mecca sẽ bị suy sụp. Cuối
cùng sẽ có ngày toàn thành phố Mecca bị Muhammad chinh phục.
1. Những cuộc “thánh chiến” đẫm máu.-
Trong mấy tháng đầu năm 623, Muhammad cho người đi thám thính để
theo dõi tình hình của các đoàn lữ hành Mecca đi Syria. Quân thám thính về
báo cáo có một đoàn lữ hành sắp đi ngang qua Medina và có rất ít người
bảo vệ. Muhammad sai Hamzah dẫn vài chục kỵ binh đi phục kích. Sau khi giết
hết mọi người trong đoàn lữ hành, đoàn kỵ binh của Hamzah dẫn hết lạc
đà, ngựa và toàn bộ chiến lợi phẩm về Medina.
Từ đầu năm 623 đến tháng 9 năm đó, Muhammad đã thực hiện nhiều
cuộc đột kích như vậy. Các thương gia ở Mecca đối phó bằng cách ký
hiệp ước với các bộ lạc ở dọc theo bờ biển Hồng Hải.
Con đường dọc theo bờ biển Hồng Hải là trục lộ chính của các
đoàn lữ hành từ Mecca đi Syria. Đồng thời, các thương gia Mecca tuyển
nhiều kỵ binh ưu tú thuộc bộ lạc Bedouin để tăng cường bảo vệ các
đoàn lữ hành.
Tháng 9 năm 623, sau khi đã tăng cường an ninh mọi mặt, Mecca ủy nhiệm
cho đại thương gia Umayah Juma hướng dẫn một đoàn lữ hành rất lớn gồm
có 2.500 lạc đà chở hàng từ Mecca đi Syria. Muhammad hay tin này đã quyết
định huy động toàn lực và đích thân chỉ huy cuộc tấn công để cướp
số hàng lớn lao này.
Cuộc tấn công thành công mỹ mãn. Mecca bắt đầu cảm thấy phải nể
sợ Muhammad. Sau vụ này, Mecca đành tạm ngưng các chuyến buôn phải qua
Medina. Thay vì đi về phương bắc, họ đi về phương nam để buôn bán với
xứ Yemen.
Mặc dầu Mecca đã bỏ tuyến đường phía bắc và phải đổi về
tuyến đường phía nam buôn bán với Yemen, nhưng Muhammad vẫn không buông
tha. Tháng giêng năm 624, Muhammad sai Abdallah mang quân đi vòng xuống phía nam
của bán đảo Ả Rập, cách Medina tới hơn 400 dặm, để chận đánh đoàn
lữ hành của Mecca đang trên đường tới Yemen. Đoàn quân của Abdallah cướp
trọn số hàng đem về Medina. Vụ này gây phẫn nộ cho mọi người Ả Rập
vì theo truyền thống của đạo cổ truyền thì tháng giêng là tháng thiêng
liêng, mọi việc cướp của giết người phải được kiêng cữ. Dân Mecca
gọi Muhammad là kẻ vô thần.
Sự phẫn nộ của dân Mecca chưa kịp nguôi thì xảy ra vụ kế tiếp.
Đó là vào tháng ăn chay Ramadan, tức tháng 3 năm 624, Muhammad nghe tin một đại
thương gia của Mecca là Abu Sufyan sẽ dẫn một đoàn lữ hành gồm trên
1000 người chở nhiều hàng quí giá của ngoại quốc đem về Mecca.
Muhammad huy dộng 500 quân, gồm có 350 tín đồ Hồi Giáo tình nguyện
và 150 người thuộc các bộ lạc ở Medina. Muhammad dẫn quân đến bố trí
tại các đồi cát ở Badr, một địa danh ở sát bờ Hồng Hải và cách
Medina khoảng 100 cây số về phía tây. Badr là nơi các bộ lạc Ả Rập thường
tổ chức hội chợ để mua bán trao đổi các đặc sản của mình.
Abu Sufyan là một thủ lãnh thông minh và giàu kinh nghiệm. Trước khi
đoàn lữ hành tiến đến một điđiểm nguy hiểm hay khả nghi, Sufyan luôn
luôn cho một toán tiền thám phi ngựa đến đó trước để quan sát hoặc
thăm dò dân địa phương. Toán tiền thám về báo cáo cho biết quân phục
kích của Muhammad hiện có mặt tại Badr. Abu
Sufyan ra lệnh cho đoàn lữ hành tạt ngang sang tay mặt để đi xuống vùng
bãi biển bằng phẳng của Hồng Hải. Đồng thời ông thuê một người
cưỡi ngựa rất giỏi tên là Damdam phi ngựa như bay về Mecca cấp báo và
yêu cầu mang quân ra để hộ tống đoàn lữ hành trên đường về Mecca.
Sau khi được Damdam báo tin về việc Muhammad bố trí quân phục kích
tại Badr, toàn dân Mecca hết sức tức giận vì chuyến hàng do Sufyan điều
khiển là chuyến hàng đắt giá nhất của giới thương gia Mecca. Hơn nữa,
cuộc đột kích diễn ra lúc này đang trong tháng Ramadan chứng tỏ Muhammad bất
chấp tục lệ cổ truyền thiêng liêng của người Ả Rập. Càng ngày
Muhammad càng tỏ ra là một người nguy hiểm!
Do sự tức giận đó nên số người tự nguyện tham gia đoàn quân tiếp
cứu Sufyan ghi tên rất đông và gồm cả những người thân thiết của
Muhammad nữa. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, giới lãnh đạo Mecca đã
qui tụ được trên một ngàn người, trong đó có chú ruột của Muhammad
là Abbas, hai em họ chí thân đã từng sống chung với Muhammad dưới một mái
nhà từ nhỏ (đó là hai con trai của Abu Talif, chú ruột kiêm cha nuôi của
Muhammad từ lúc 8 tuổi), tù trưởng bộ lạc Amir là bạn thân kiêm anh rễ
của vợ Muhammad và có cả Hakim là cháu ruột của bà Khadija (vợ đầu của
Muhammad).
Ngay chiều hôm đó, đoàn quân tiếp cứu rời Mecca tiến về Badr. Họ
phải đi qua Badr đến địa điểm trên bờ biển Hồng Hải để gặp đoàn
lữ hành của Sufyan. Quân số của cả hai đoàn gộp lại lên tới trên
2000 người. Ỷ vào quân số đông gấp bốn lần quân số của Muhammad nên
họ yên tâm lên đường trở về Mecca.
Toán thám báo của Muhammad báo cáo cho biết đoàn quân đông đảo của
Sufyan sắp đi ngang qua Badr. Muhammad kêu gọi mọi người phải quyết tâm
chiến đấu dù phải đối đầu với bạn bè hoặc người ruột thịt.
Muhammad bố trí người tại các giếng nước ở Badr để ngăn chặn mọi
nguồn nước uống. Số quân còn lại núp sau các đụn cát. Muhammad căn dặn
mọi người phải tiêu diệt những người lãnh đạo của Mecca ngay từ đầu
để gây rối loạn hàng ngũ của địch. Muhammad không sợ quân số đông của
Mecca vì ông biết rõ những người chỉ huy của họ chỉ quen chỉ huy những
nhóm nhỏ mà thôi. Khi có quân số đông, họ sẽ không biết điều động
và phối hợp ra sao.
Quân số của Muhammad tuy ít nhưng Muhammad có tài chỉ huy, quân lính dưới
quyền ông tuyệt đối vâng lời và có kỷ luật.
Trưa hôm sau, đoàn lữ hành của Abu Sufyan và đoàn tiếp cứu của
Mecca từ từ tiến vào Badr. Các cung thủ của Muhammad núp sau các đụn cát
đột nhiên xuất hiện và ưu tiên nhắm bắn các cấp chỉ huy của đoàn lữu
hành. Chỉ trong khoảnh khắc, 50 người chỉ huy đoàn lữ hành bỏ xác tại
trận. Đoàn người lữ hành và tiếp cứu hoảng hồn bỏ chạy tán loạn.
Quân của Muhammad từ mọi hướng xông ra chém giết nhiều vô kể. Một số
tàn quân của Mecca sống sót chạy thoát. Muhammad chiếm được hàng trăm lạc
đà và ngựa, tịch thu nhiều vũ khí, quân trang và hàng hóa ngoại nhập đủ
loại. Muhammad cho giải 70 tù binh về Medina. Điều đặc biệt là những tù
binh này hầu hết đều là bạn bè hoặc họ hàng của những người Hồi
Giáo trước đây ở Mecca di cư về Medina.
Trong số đó có Suhayl, tù trưởng bộ lạc Amir là bạn thân của
Muhammad trước đây và là anh chồng cũ của Sawdah, vợ của Muhammad hiện
nay. Quan trọng hơn cả là tù binh Abbas, chú ruột của Muhammad. Sau đó là
Aquil và Nawfal là hai con trai của Abu Talif, chú ruột kiêm cha nuôi của
Muhammad. Còn một người nữa cũng
quan trọng không kém là Abu Alas, con rễ của Muhammad. Abu Alas lấy cô con
gái áp út của Muhammad tên là Zaynab. Vì Abu không chịu theo đạo Hồi và
không di cư đến Medina nên Zaynab phải ở lại Mecca với chồng con.
Khi đoàn quân của Muhammad chiến thắng trở về, tất cả mọi người
Hồi Giáo ở Medina chạy ra đón mừng với niềm hân hoan chưa từng có. Bởi
vì cứ mỗi lần đoàn quân chiến thắng trở về thì tất cả những đồ
cướp được (loots) đều phân phát cho tất cả mọi người. Lần này họ
hy vọng sẽ nhận được nhiều hàng hóa ngoại nhập quí hiếm mà bình thường
họ không thể có được.
Trong lúc đó, ba bộ lạc Do Thái tại Medina tỏ ra hết sức lo ngại
vì những người Ả Rập Hồi Giáo quá hiếu chiến hiếu sát sẽ trở
thành một mối nguy hiểm khó lường trong tương lai.
Tại Mecca cũng như tại khắp nơi trên bán đảo Ả Rập, tin tức về
trận đánh ở Badr đã làm mọi người phải bàng hoàng vì sự tổn thất
lớn lao về người và của mà Muhammad đã gây ra cho Mecca. Không riêng gì
Mecca mà cả những bộ lạc Bedouin và Do Thái cũng phải e dè và chuẩn bị
đối phó với Muhammad.
Muhammad và các tín đồ của ông không quan tâm đến những vấn đề
nói trên. Trái lại, mọi người đều cảm thấy rất phấn khởi sau một
chiến thắng lớn hơn dự tưởng. Muhammad càng thêm tin tưởng rằng Chúa
đã phù hộ một cách đặc biệt cho đoàn quân Hồi Giáo của ông. Chính
Thiên Chúa đã tiêu diệt người Mecca chứ không phải ông diệt họ. Diệt
địch nhân danh Chúa là đặc quyền của người Hồi Giáo. Ông đã diễn
đạt những ý trên trong kinh Koran như sau:
“Anh đã không giết người như anh nghĩ mà là Chúa đã giết họ.
Khi anh quật ngã họ nhưng không phải do anh mà là Chúa đã quật họ. Đó
là đặc quyền mà Chúa đã ban cho những tín đồ của Ngài”. (You did
not slay the ennemies, but God slew them. When thou threw it was not thyself that threw,
but God threw. And that He might confer on the believers a fair benefits – Koran 8:17).
Mặc dầu thực hiện những hành vi cướp của giết người nhưng
Muhammad và các tín đồ vẫn tin tưởng mình có chính nghĩa và luôn luôn
được Thiên Chúa phù hộ, cho nên dù cho quân số ít cũng vẫn có thể đánh
thắng những kẻ địch đông hơn gấp bội.
Kinh Koran viết về điều này như sau:
“Nếu quân số của anh chỉ có hai mươi, nhưng đều là những người
kiên cường, các anh sẽ chiến thắng hai trăm địch. Nếu quân số của
anh có một ngàn, các anh sẽ chiến thắng hai ngàn địch. Đó là sự cho
phép của Chúa”.
Cái ý nghĩ cho rằng Thiên Chúa đứng cùng phe với mình trong các
cuộc chiến tranh là một đặc tính trong truyền thống của các đạo thờ
Thiên Chúa, bao gồm cả đạo Do Thái, đạo Ki Tô và đạo Hồi.
-Thánh kinh Cựu Ước Exodus của đạo Do Thái kể chuyện Mai-sen dẫn
dân Do Thái đến Biển Đỏ thì được Chúa hóa phép cho nước biển rẽ
sang hai bên tạo thành con đường cho dân Do Thái đi qua đáy biển an toàn.
Liền sau đó thì đoàn quân của vua Pharaon Ai Cập ập tới để rượt bắt
những người Do Thái. Khi đoàn quân Ai Cập đi xuống con đường dưới đáy
biển thì Chúa hóa phép cho nước biển từ hai bên ập lại khiến cho đoàn
quân Ai Cập bị chết đuối hết. Mai-sen và dân Do Thái quì xuống cảm ơn Chúa và xưng tụng Chúa là “Thiên Chúa của các đạo binh”
- Người Công Giáo cũng bắt chước người Do Thái tin rằng Thiên
Chúa luôn luôn đứng về phe với họ để giúp họ chống lại mọi kẻ
thù. Tại các buổi lễ ở nhà thờ, người Công Giáo luôn luôn đọc kinh
trong đó có câu: “Thánh, Thánh, Thánh! Chúa là Thiên Chúa các đạo binh,
vinh danh Chúa trên các tầng trời!”
Đối với Muhammad, mặc dầu ông dạy các tín đồ tin tưởng vào sự
phù hộ đặc biệt của Chúa, nhưng ông là người rất thực tế nên làm
việc gì cũng phải tính toán cẩn thận. Sau trận đánh ở Badr, Muhammad biết
Mecca sẽ nhất định trả thù bằng cách kéo quân đến tấn công Medina. Do
đó, việc trước tiên ông phải làm là đối xử tốt với các tù binh.
Trước hết, ông đích thân đi điểm mặt 70 tù binh. Ông nhận ra hai
người trước đây đã nhục mạ ông khi ông giảng đạo tại Mecca. Ông ra
lệnh cho quân lính mang hai người đó ra chợ chém đầu. Sáu mươi tám người
còn lại được cởi trói nhưng đều bị nhốt trong nhà giam. Tất cả đều
được cho ăn uống tử tế.
Trong đêm hôm đó, Muhammad không ngủ được vì cảm thấy thương
ông chú ruột là Abbas và hai người em họ đã sống với ông trên mười
năm tại nhà ông chú Abu Talib, đó là Aquil và Nawfal. Sáng hôm sau Muhammad ra
lệnh phóng thích ba người này. Mấy hôm sau, nhiều thân nhân của các tù
binh mang tiền hoặc vàng bạc đến Medina để xin chuộc mạng cho các tù
binh.
Sau khi nghe tin chồng là Abu-Alas bị bắt làm tù binh ở Medina, Zaynab
(con gái của Muhammad) vội gom tiền bạc và nữ trang rồi đưa cho anh của
chồng là Amir đến Medina nộp tiền chuộc (ransom) cho Muhammad để lãnh
Abu-Alas về. Trong số nữ trang Amir giao nộp có cái vòng đeo tay của bà
Khadija thường đeo lúc còn sống, trước khi chết bà đã trao lại cho
Zaynab. Vừa nhìn thấy chiếc vòng đó, Muhammad nhận ra ngay đó là chiếc
vòng đầy kỷ niệm của người vợ yêu quí nhất đời của ông. Ông xúc
động bật khóc rồi trả lại hết mọi thứ cho Amir. Ông cho gọi Abu Alas
đến để yêu cầu người con rễ phải đưa Zaynab và đứa cháu ngoại đến
Medina sống với ông. Trong lúc này tại Medina chỉ còn lại cô gái út tên
Fatimah, 20 tuổi, là người thân duy nhất sống gần ông mà thôi. Sau khi Abu
Alas hứa thực hiện lời ông yêu cầu, y liền được thả tự do.
Chỉ vài tuần lễ sau trận đánh Badr, tại Medina diễn ra hai đám cưới
linh đình:
- Đám cưới thứ nhất của Fatimah và Ali. Ali là con trai út của ông
chú Abu Talib. Khi ông Talib qua đời thì Ali mới 5 tuổi, Muhammad đem về nuôi
từ đó đến nay. Ali và Fatimah đã sống với nhau chung một nhà từ nhỏ
đến lớn nên rất hiểu nhau.
- Đám cưới thứ hai là của chính Muhammad và cô Hafsah, 18 tuổi, con
gái của bạn Muhammad là Umar.
Năm 625, Muhammad 55 tuổi, cô vợ bé bỏng mà Muhammad yêu quí nhất là
Aisha – con gái út của Abu Bakr – năm nay vừa tròn 11 tuổi. Mặc dầu còn
nhỏ xíu nhưng Aisha cũng biết ghen với các bà vợ khác của Muhammad. Tuy
nhiên, trong đám cưới này, Aisha không ghen với Hafsah mặc dầu Hafsah rất
đẹp. Cô bé Aisha tuy còn nhỏ nhưng rất thông minh. Cô bé hiểu rằng: Cha
cô là Abu Bakr cũng như cha của Hafsah là Umar đều đã gả con gái để kết
thân với Muhammad. Từ mấy năm nay, Abu Bakr và Umar đã là hai cộng sự
viên quan trọng nhất của Muhammad. Vì cùng hiểu như vậy nên Aisha và
Hafsah trở thành đôi bạn chí cốt cho đến chết. Quả nhiên về sau Abu
Bakr và Umar đều trở thành những người kế vị Muhammad và đều là những
người then chốt nắm vận mạng của Hồi Giáo trong thời sơ khai.
Sau những tổn thất nặng nề tại Badr, giới lãnh đạo Mecca quyết
tâm tăng cường binh lực để tiêu diệt căn cứ địa Medina của Muhammad.
Một mặt Mecca thu phục các bộ lạc Bedouin thiện chiến làm đồng minh. Mặt
khác Mecca ngấm ngầm liên lạc với ba bộ lạc Do Thái ở Medina làm nội
ứng.
Điểm yếu của Mecca là nhiều chiến sĩ tài giỏi đã chẳng may tử
trận tại Badr, nay chỉ còn lại một người có khả năng chỉ huy quân sự
là Abu Sufyan.
Abu Sufyan vô cùng căm thù Muhammad vì hai con trai của ông và cha vợ của
ông đều bị tử trận ở Badr. Từ tháng 3 năm 625, Sufyan bắt đầu mở
chiến dịch phục thù. Trong một đêm, Sufyan dẫn 200 quân đến bố trí
bên ngoài thành Medina, sau đó ông một mình đột nhập vào thành liên lạc
với bộ lạc Do Thái Bani Nadir. Ông được bộ lạc này cung cấp nhiều tin
tức về quân số và hệ thống phòng thủ của Muhammad. Trước khi trời sáng,
Sufyan bắt hai người Hồi Giáo đem ra ngoài thành chém đầu rồi nổi lửa
đốt đồng lúa trước khi rút lui. Đến khi Muhammad hay tin, đem quân đuổi
theo thì đoàn quân của Sufyan đã phi ngựa chạy xa.
Sau vụ này, Muhammad cho toán tình báo của ông đi điều tra. Kết quả
tình báo cho biết bộ lạc Do Thái Bani Nadir đã thông đồng với Abu Sufyan.
Bộ lạc này có khoảng một ngàn người chuyên nghề thợ rèn và thợ thủ
công. Mấy hôm sau, nhân một vụ xích mích giữa một nhóm người Do Thái với
một nhóm người Ả Rập Hồi Giáo, kết quả của vụ ẩu đả là một người
Do Thái và một người Ả Rập bị tử thương.
Muhammad nhân cơ hội này đem quân bao vây khu vực của bộ lạc Bani
Nadir. Sau hai tuần lễ bao vây, Muhammad không thấy các bộ lạc Do Thái khác
có phản ứng gì và cũng không thấy quân Mecca tới cứu đồng minh của họ.
Tù trưởng bộ lạc Do Thái Bani Nadir không hy vọng được tiếp cứu nên
phải đầu hàng và xin Muhammad tha mạng. Muhammad ra lệnh toàn thể bộ lạc
Bani Nadir phải rời khỏi Medina và chỉ được mang theo các động sản gọn
nhẹ. Tất cả nhà cửa ruộng vườn đều bị tịch thu.
Sau khi bộ lạc Do Thái Bani Nadir bị đuổi ra khỏi Medina thì tại ốc
đảo này vẫn còn lại hai bộ lạc Do Thái khác là bộ lạc Aws và bộ lạc
Khasraj.
Ngày 11 tháng 3 năm 625, Mecca quyết định mở cuộc tấn công Medina. Tổng
số quân huy động được lên tới 3000 người với 3000 lạc đà và 200 ngựa,
tất cả được đặt dưới quyền chỉ huy của Abu Sufyan. Cuộc chuyển quân
bằng lạc đà đi rất chậm nên mất mười ngày đoàn quân mới tới gần
Medina.
Muhammad hay tin nên đem một ngàn quân đi nghênh chiến tại Uhud, cách
Medina 20 dặm về phía nam. Ngày 23-3-625, quân hai bên đối diện nhau tại
Uhud. Điều đặc biệt là đằng sau đoàn quân của Sufyan còn có một đoàn
quân phụ nữ gồm toàn những người có chồng, con trai hoặc cha bị tử
trận ở Badr. Họ dàn hàng ngang phía sau các đoàn quân vừa đánh trống
tambourines vừa ca hát để khích lệ tinh thần của các binh sĩ Mecca. Đoàn
phụ nữ này được đặt dưới sự chỉ huy của bà Hind là vợ của
Sufyan. Bà Hind thề trước đoàn quân là sẽ mổ bụng ăn gan của Hamzah, một
quân sĩ của Muhammad bị nhận diện là người đã giết cha của bà Hind tại
trận Badr.
Trong trận này, Muhammad và quân sĩ chỉ mãi lo đối phó với đoàn
quân của Sufyan ở phía trước mặt mà không đề phòng ở phi顠sau lưng. Bất
thần đoàn cung thủ của Sufyan đã núp sẵn ở những đụn cát phía sau tiến
lên bắn như mưa vào đoàn quân Hồi Giáo. Sáu mươi lăm quân Hồi chết liền
tại chỗ và hàng trăm người khác bị thương, trong đó có Muhammad. Vì
Muhammad bị bất tỉnh nên quân Hồi lo rút lui để bảo vệ chủ tướng. Rất
may là quân Mecca tuy đông gấp ba lần quân Hồi nhưng đã không truy kích.
Quân Hồi phải để xác đồng đội ở lại chiến trường. Đoàn quân
Mecca trả thù bằng cách cắt xẻo những xác chết của quân Hồi. Riêng
xác của Hamzah bị quân Mecca mổ bụng moi gan để đưa cho vợ của Sufyan là
bà Hind. Mụ này cắn một miếng ăn sống để thực hiện đúng với lời
thề trước hàng quân trước đó.
Sau vụ thất trận bi thảm tại Uhud, tinh thần của cả cộng đồng
Hồi Giáo (Umma) xuống thấp chưa từng thấy. Nhiều tín đồ trước đây
đã nghe Muhammad thuyết giảng là Thiên Chúa đứng về phe của Hồi Giáo: “Hai
mươi người đánh thắng hai trăm – Đó là đặc quyền Chúa ban cho
các tín đồ của Ngài – Koran 8:17”. Nay giáo chủ bị thương bất tỉnh,
quân bị chết nhiều và đoàn quân Hồi chưa kịp đánh đã phải rút chạy.
Nhiều tín đồ tỏ ý thất vọng và coi trận Uhud là một dấu hiệu cho thấy
Thiên Chúa đã bỏ rơi tiên tri Muhammad.
Mấy hôm sau, Muhamamad phục hồi sức khỏe, ông viết vào kinh Koran mấy
câu thơ nhắc nhở tín đồ: “Các tín đồ không nên coi thất bại ở trận
Uhud là dấu hiệu của Thiên Chúa đã ruồng bỏ tiên tri của ngài, hãy coi
đó là dịp để xem ai là tín đồ chân chính và ai không là chân chính –
Koran 3:13, 3:152”.
2. Harem của tiên tri tại Medina.-
Trận đánh Uhud ngày 23 tháng 3 năm 625 đã để lại chiến trường 65
xác người Hồi Giáo và tại Medina 65 người phụ nữ góa chồng. Vài
tháng sau lại có thêm 50 người nữa bị quân Mecca phục kích giết chết.
Kết quả là tại Medina đã có trên một trăm góa phụ. Đứng trước thảm
cảnh này, Muhammad đã viết những câu thơ trong kinh Koran nhằm khuyến khích
đàn ông Hồi Giáo lấy thêm vợ:
Khi viết những câu thơ có tính cách cổ vũ chế độ đa thê,
Muhammad không hề nghĩ đến chuyện thỏa mãn dục tình một cách ích kỷ
mà chỉ nghĩ đến một nhiệm vụ xã hội. Trong hoàn cảnh xã hội Ả Rập
lúc đó các bà góa khó có thể sống một mình vì những người góa bụa
cô đơn thường hay bị các kẻ gian lạm dụng hoặc bắt nạt. Do đó, các
góa phụ rất cần phải có người đàn ông giúp đỡ và che chở.
Kinh Koran đòi hỏi những người đàn ông có nhiều vợ phải dành
cho mỗi người vợ một số lượng thời gian bằng nhau và phải đối xử
công bình như nhau. Trước biến cố này, Muhammad chỉ có 3 người vợ là
Saudah (29 tuổi) Aisha (11 tuổi) và Hafsah (18 tuổi). Để thực hiện điều
ông vừa viết trong kinh Koran, Muhammad lấy bà vợ thứ tư là Zaynab Kuzaymah,
vợ góa của một chiến sĩ mới tử trận trong tháng giêng năm 624 tại
Badr. Vài tháng sau ông cưới bà vợ thứ năm là Salamah 29 tuổi, vợ góa của
người em họ. Nàng rất thông minh và khá xinh đẹp, về sau nàng là một cố
vấn đắc lực cho Muhammad về nhiều phương diện.
Đến lần cưới bà vợ thứ sáu, Muhammad gặp phải những điều tai
tiếng dị nghị và một số chuyện phiền phức khác. Vào đầu năm 626,
Muhammad đến thăm người con nuôi tên là Zayd mà ông đã nuôi từ lúc còn
nhỏ ở Mecca. Vợ của Zayd từ trong nhà chạy ra mở cửa để đón khách.
Vì thấy Muhammad đến thăm bất ngờ nên nàng vỗ tay reo mừng và tỏ ra rất
hân hạnh được đón tiếp Muhammad.
Vợ của Zayd tên Zaynab Jahsh, 30 tuổi, có một nét đẹp đặc biệt là
rất mặn mà duyên dáng. Hôm gặp nàng ra mở cửa đón chào, Muhammad bị
choáng váng trước vẻ đẹp của nàng nên đã nói những lời khen ngợi
khiến cho nàng cảm động. Sau đó Zaynab nói thẳng với chồng là nàng muốn
ly dị để lấy Muhammad nếu Muhammad đồng ý cưới nàng. Zayd rất đau khổ
về chuyện này nhưng vì sau đó bị vợ thúc ép nên Zayd đành phải đến
gặp Muhammad để hỏi xem Muhammad có muốn lấy Zaynab làm vợ không. Muhammad
trả lời đồng ý nên Zayd về làm thủ tục ly dị vợ.
Mấy bữa sau, một đám cưới linh đình được tổ chức, Zaynab Jahsh
từ vị trí con dâu (nuôi) trở thành vợ của người cha nuôi chồng cũ.
Trong tiệc cưới có nhiều người đàn ông đến tham dự đã ở nán
lại quá lâu để chiêm ngưỡng sắc đẹp mặn mà của cô dâu đặc biệt
này. Muhammad muốn đuổi họ về nhưng lại không muốn làm mất lòng họ.
Vì không thấy Muhammad nói gì nên những người đàn ông đó đã đến sát
gần các bà vợ của Muhammad và nói chuyện một cách xàm sỡ. Muhammad thấy cần phải có biện pháp ngăn
cách những người đàn ông đầy dục vọng này tách rời khỏi các bà vợ
trẻ đẹp của ông. Muhammad đã viết những câu thơ để diễn đạt ý
này như sau:
Nếu các người
muốn hỏi những người vợ của Tiên Tri về bất cứ chuyện gì. Hãy nói
chuyện với họ đằng sau tấm mạng che mặt. Điều này làm cho trái tim của
các người và của các nàng được thanh khiết”.
If you ask his
wives for anything, speak to them from behind a curtain (hijab) .This is more chaste for
your hearts and their hearts – Koran 33: 53)
Mấy câu thơ trên
đây rất nổi tiếng trong thế giới Hồi Giáo. Người ta gọi là “Những
câu thơ của bức màn che” (The Verses of the curtain). Bức màn che đó chính
là tấm mạng che mặt (veil) của phụ nữ Hồi Giáo, tiếng Ả Rập gọi
là HIJAB. Thông thường thì tấm vải này có màu đen và đủ rộng để che
kín đầu, tóc, phủ đến vai và che kín cả mặt, chỉ chừa khoảng trống
nhỏ ở đôi mắt để người phụ nữ có thể nhìn đường. Cũng từ khi
có mấy câu thơ đó xuất hiện, các bà vợ của Muhammad đều phải che mạng
mỗi khi bước chân ra khỏi nhà hoặc khi tiếp chuyện với mọi người ngoài
gia đình. Đó cũng là khuôn vàng thước ngọc về việc đeo mạng của phụ
nữ trong thế giới Hồi Giáo sau này!
Đầu năm 627,
Aisha 13 tuổi, nàng bắt đầu đến tuổi dậy thì nên bỗng nhiên trổ mã
lớn vượt lên và đẹp hẳn ra. Muhammad yêu thích Aisha hơn tất cả các
cô vợ khác nên đi đâu ông cũng mang theo Aisha. Thậm chí có một hôm
Muhammad mang quân đi phục kích để chận đánh bộ lạc Do Thái Bani trên bờ
biển Hồng Hải, ông cũng dẫn Aisha đi theo bên mình.
Sau trận tấn
công vũ bão của Muhammad, bộ lạc Do Thái Bani bỏ chạy tán loạn, Lịch sử
không nói tới số thương vong của họ là bao nhiêu, chỉ nói họ đã để
lại chiến trường 2000 lạc đà, 5000 con cừu và 200 phụ nữ. Muhammad tuyển
chọn một cô đẹp nhất tên là Juwayriah để lấy làm vợ. Số phụ nữ
còn lại sẽ được trả tự do sau khi thân nhân của họ mang tiền đến
chuộc.
Trên đường từ
mặt trận trở về Medina, tại một nơi nghỉ chân, Aisha lẻn xuống khỏi
kiệu trên lưng lạc đà để đi vệ sinh. Lúc trở lại chỗ cũ thì đoàn
quân đã đi khỏi. Trong lúc nàng đang lo sợ thì có một thanh niên tên
Safwan là lính hậu vệ của đoàn quân từ phía sau đi tới, Aisha vội lật
cái mạng của nàng ra để Safwan nhận diện. Safwan không còn cách nào khác
hơn là bế nàng lên lưng lạc đà của chàng để cả hai người cùng cữi
về Medina.
Khi thấy Safwan
và Aisha cùng ngồi trên lưng lạc đà về Medina một lúc sau khi cả đoàn
quân đã trở về hết, mọi người ở Medina bắt đầu bàn tán về đức
hạnh của Aisha. Muhammad tức giận nổi ghen và không muốn nhìn mặt Aisha nữa. Aisha quá đau khổ vì bị hiểu lầm nên
sinh bệnh. Trong lúc đang đau khổ mà không thể giải bày thì Aisha nghe thấy
Ali nói với Muhammad rằng: “Trên đời này thiếu gì đàn bà, cha có thể
lấy người vợ khác tốt hơn”. Câu nói của Ali như nhát dao đâm thấu
tim của Aisha và sau này Aisha sẽ không tha thứ cho Ali.
(Ba mươi năm
sau, khi Ali lên làm vua (Caliph) của Hồi Giáo thì Aisha lãnh đạo một cuộc
cách mạng chống Ali).
Mấy hôm sau,
Muhammad suy nghĩ lại và chợt hiểu ra rằng Aisha chỉ là một cô bé ngây
thơ vô tội nên ông đã làm hòa với Aisha. Cha mẹ Aisha thấy vậy rất vui
mừng nên khuyên Aisha cám ơn Muhammad. Aisha thẳng thắn trả lời: “Con không
cám ơn ai hết, kể cả tiên tri Muhammad. Con chỉ cám ơn một người duy nhất
là Thiên Chúa”. Muhammad nghe vậy rất cảm phục Aisha vì nàng tuy nhỏ nhưng
đã tỏ ra là có bản lãnh vững vàng, có đức tin mạnh và không hề sợ
hãi. Từ đó cho đến lúc chết, Muhammad không yêu ai hơn yêu Aisha.
Vì tình cảm
thiên vị của Muhammad dành cho Aisha quá lộ liễu nên các cô vợ khác của
Muhammad ghen tuông và khiếu nại, viện cớ kinh Koran dạy người chồng phải
đối xử công bằng với các bà vợ. Từ đó ông phải theo thứ tự ngủ
đêm tại mỗi phòng với một cô. Mỗi khi đi đâu, ông phải rút thăm để
biết ai là người sẽ cùng đi với ông trong cuộc hành trình. Tuy nhiên, mỗi
khi Muhammad đến đền thờ để giảng đạo thì chỉ có một người duy nhất
luôn luôn ở bên cạnh ông là Aisha. Ông nói với mọi người rằng Aisha
cũng có ơn mặc khải của Thiên Chúa giống như ông. Một hôm cô con gái cưng của Muhammad là
Fatimah khuyên cha không nên quá gần gũi với Aisha. Muhammad hỏi lại: “Chẳng
lẽ con không yêu người cha yêu quí nhất hay sao?”.
Sau khi Muhammad
qua đời, Aisha trở thành người quan trọng nhất về giáo lý và luật
pháp của Hồi Giáo.
3. Vụ thảm
sát 700 người Do Thái tại Medina.-
Tháng 3 năm 627,
Mecca huy động 10.000 quân với dự tính phá tan căn cứ địa Medina của
Muhammad. Trong khi đó, Muhammad cũng đã chuẩn bị đối phó bằng cách mua
chuộc một số quân thiện chiến của bộ lạc Bedouin. Nhờ đó quân số
chiến đấu của Muhammad đã lên tới 3000 người. Điểm lợi nhất cho
Muhammad là căn cứ địa Medina được thiên nhiên bảo vệ ba phía bằng những
sườn núi nham thạch rất dốc. Chỉ còn một phía duy nhất trống trải
là phía bắc của ốc đảo mà thôi.
Vì biết trước
việc Mecca sắp tấn công nên Muhammad ra lệnh cho các tín đồ gặt lúa và
tích trữ lương thực. Sau đó ông huy động toàn dân ở Medina đào một
cái hào thật sâu suốt dọc phía bắc của ốc đảo. Số đất đào được
đắp thành lũy cao. Đây là một phương cách phòng thủ chưa từng thấy
ở Ả Rập. Sáng kiến này do một tín đồ Hồi Giáo gốc Ba Tư là Salman
đưa ra. Hào sâu sẽ chận đứng bước tiến của các đoàn kỵ binh của
địch vì ngựa không thể nhảy qua để tiến vào ốc đảo. Lũy cao sẽ là
cái lá chắn hữu hiệu các loạt tên của địch, trái lại, quân Hồi
Giáo có núp sau lũy để bất thần bắn ra những loạt tên để diệt địch.
Ngày 31-3 năm
627, mười ngàn quân Mecca kéo tới Medina. Khi đến trước cửa ngõ phía bắc
của ốc đảo, các đoàn quân của Mecca đều phải khựng lại vì ngựa cũng
như người đều không thể vượt qua hào sâu lũy cao. Trong khi đó, quân của
Muhammad núp trên lũy cao bắn tên xuống như mưa gây nhiều thương vong cho
quân Mecca. Quân Mecca không còn cách nào khác hơn là rút ra xa khỏi tầm
tên bắn để đóng quân bao vây. Sau 3 tuần lễ bao vây, quân Mecca bị cạn
hết lương thực và nước uống. Người, ngựa và lạc đà đều bị đói
và khát nên không thể ở lại lâu hơn, cuối cùng cả đoàn quân 10.000 người
đành phải âm thầm rút lui.
Trước khi có vụ
tấn công của Mecca, tin tình báo đã cho Muhammad biết về những âm mưu của
bộ lạc Do Thái Aws làm nội ứng cho Mecca để chống lại Hồi Giáo. Sau
khi đoàn quân của Mecca đã rút hết, Muhammad quyết định phải tiêu diệt
bộ lạc Aws để trừ hậu hoạn. Ông ra lệnh cho các tín đồ đào một
cái hố lớn tại chợ Medina. Sau đó ông trực tiếp chỉ huy cuộc bao vây
khu vực của bộ lạc Aws để bắt hết mọi người đàn ông của bộ lạc
này. Chỉ có một số rất ít người Do Thái được các tín đồ Hồi Giáo
xin với Muhammad cho tha mạng, số còn lại khoảng 700 người đàn ông Do
Thái bị trói từng người và bị đưa ra cái hố lớn ở giữa chợ Medina
để chém đầu. Sau đó, các xác chết được xô xuống hố lấp lại
thành một nấm mồ tập thể.
Trong vụ thảm
sát này có một người đàn bà duy nhất bị chém đầu. Đó là người đàn
bà Do Thái bị người Hồi Giáo tố cáo là đã lợi dụng lúc quân Mecca
bao vây Medina để ném đá vào người Hồi Giáo.
Về sau, Aisha đã
kể chuyện về người đàn bà Do Thái này như sau: “Bà ta đến nói
chuyện với tôi trong khi Muhammad đang tàn sát người Do Thái ở chợ Medina.
Rồi đột nhiên người ta đến bắt bà ấy. Tôi ngạc nhiên hỏi:
“Có chuyện gì xảy ra cho bà vậy?” Bà ta bình tĩnh trả lời:
“Người ta đem tôi đi chém đầu”. Tôi liền hỏi: “Về tội gì?”.
Bà ta đáp: “Về một việc mà tôi đã làm”. Liền sau đó bà ta bị chặt
đầu tại chợ. Aisha kể tiếp: “Tôi sẽ không bao giờ quên được
người đàn bà Do Thái can đảm phi thường – Bà ta vẫn cười trong lúc bị
lôi đến pháp trường để chém đầu”.
Vợ con của 700 người bị chém đầu đều bị trói đem đi bán ở
các chợ nô lệ.
(Muhammad, a
biography of the prophet, by Karen Amstrong – Chapter 8, 164-210).
GIAI ĐOẠN SAU
(627-632) TẠI MEDINA
Sau năm năm đầu chiếm cứ Medina (622-627), Muhammad và cộng đồng Hồi
Giáo đã gây ra nhiều cuộc đột kích đẫm máu để tấn công các đoàn
thương buôn của Mecca nhằm mục đích cướp ngựa, lạc đà, vũ khí, tiền
bạc và đủ loại hàng hóa vừa để sống còn tại ốc đảo Medina vừa
để tăng cường lực lượng quân sự. Sau vụ trục xuất bộ lạc Do Thái
Bani và vụ tàn sát bộ lạc Do Thái Aws, danh tiếng của Muhammad được loan
đi khắp vùng và ai cũng phải nể sợ. Các bộ lạc Bedouin trước đây là
đồng minh với Mecca, nay sợ sẽ bị Muhammad trả thù nên tuyên bố không
liên kết với Mecca nữa.
Trong tình hình thuận lợi hiện tại, Muhammad quyết định: Trước hết
thống nhất tất cả các bộ lạc Ả Rập thành một quốc gia. Bộ lạc
nào tách rời sẽ bị trừng phạt. Sau đó sẽ chiếm thành phố Becca làm
thủ đô phát triển đạo Hồi.
Tuy chưa phải là một quốc vương nhưng Muhammad đã viết thư và sửa
soạn những món quà quí giá rồi cử nhiều phái đoàn đến yết kiến các
hoà讧 đế của đế quốc Byzantine và đế quốc Ba Tư, các vua Ai Cập và
Ethiopia.
Sau đó ông gửi thư đến các bộ lạc Ả Rập, không phân biệt họ
theo tôn giáo nào. Trong thư ông nhấn mạnh: “Đạo Do Thái là đạo của
con cháu Jacob, đạo Hồi là đạo của con cháu Ismael. Kinh Thánh Cựu Ước
bằng tiếng Hebrew của Do Thái, Tân Ước bằng tiếng Hy Lạp của Ki Tô
Giáo, Kinh Koran bằng tiếng Arabic là Kinh Thánh của người Ả Rập”. Ông
không yêu cầu mọi người theo đạo Hồi nhưng yêu cầu tất cả các bộ
lạc Ả Rập gia nhập “Cộng Đồng Ả Rập”, tương tự như “umma”
ở Medina. Sau thư mời nói trên, nhiều bộ lạc Ả Rập xin gia nhập “umma”,
đặc biệt là các bộ lạc Bedouine. Chỉ còn lại 3 bộ lạc không chiﵠgia
nhập là các bộ lạc Asad, Thalabah và Sad. Từ cuối năm 627 đến cuối năm
628, Muhammad mang quân đi tấn công để trừng phạt 3 bộ lạc nói trên.
Cũng trong thời gian này, Muhammad mở những cuộc tấn công các đoàn
thương mại Mecca với chủ đích phá vỡ hoàn toàn thế độc quyền
thương mại của thành phố này với các xứ phương Bắc. Để chính thức
cạnh tranh với Mecca, Muhammad lập các đoàn lữ hành tải hàng từ Medina
đi bán ở Syria và Ba Tư, sau đó mua các hàng quí hiếm của ngoại quốc
đem về Medina để biến ốc đảo này trở nên một thành phố sầm uất.
Trong một vụ phục kích cướp hàng của Mecca, không ngờ chuyến
hàng đó là của Abu Alas, con rễ của Muhammad. Trước đây, Abu Alas không
chiﵠtheo đạo Hồi nên vẫn ở lại Mecca và không theo vợ con đến Medina.
Sau vụ bị cướp hết hàng này, Abu Alas buộc lòng phải đến Medina gặp vợ
là Zaynab nhờ can thiệp. Zaynab đến gặp cha để xin lại số hàng cho chồng.
Muhammad đồng ý với điều kiện Abu Alas phải về ở hẳn tại Medina đoàn
tụ với vợ con. Sau đó Abu Alas được trả toàn bộ số hàng hóa đưa về
Mecca bán rồi trở lại Medina theo đạo Hồi để được sống yên ổn với
vợ con.
Đầu năm 628, nhân dịp tháng ba là tháng hành hương đền thờ Kaaba
tại Mecca theo tục lệ cổ truyền của các dân tộc Ả Rập. Muhammad báo
trước cho Mecca biết ông sẽ hướng dẫn 1000 tín đồ đến hành hương tại
đền thờ Kaaba và không mang theo vũ khí, chỉ đem theo 70 con lạc đà để
làm lễ hy sinh (animal sacrifice) mà thôi. Mặc dầu tuyên bố không mang theo vũ
khí nhưng tất cả mọi tín đồ của Muhammad đều dấu trong áo choàng những
đoản kiếm và dao găm đề phòng bất trắc.
Khi đoàn người của Muhammad đến gần Mecca thì bị viên chức cao cấp
của thành phố là Khalid dẫn 200 kỵ binh ra ngăn chặn không cho vào thành
phố. Muhammad cảnh cáo Khalid không nên tấn công đoàn người của ông, nếu
tấn công sẽ bị đánh trả đích đáng. Khalid đành nhượng bộ và để
cho đoàn người của Muhammad tự do đến đền thờ Kaaba.
Đầu năm 629, một số bộ lạc Do Thái ở những ốc đảo phía Bắc
Medina tỏ ra thù ghét Muhammad. Muhammad quyết định mang 600 quân đến bao vây
thị trấn ở gần nhất là Khaybar. Thị trấn này được bảo vệ bởi một
hệ thống thành lũy và 7 pháo đài. Trước hết, Muhammad để quân bao vây
thị trấn này trong một tháng. Sau đó quân Hồi bất thần tấn công và
triệt hạ từng pháo đài một. Cuối cùng mọi bộ lạc Do Thái ở đây
xin đầu hàng, nộp một nửa các huê lợi chà là ngũ cốc và xin được làm
chư hầu của Medina.
Những bộ lạc Do Thái ở kế cận Khaybar đều xin ký hòa ước thần
phục Muhammad. Một tù trưởng Do Thái ở thị trấn Fadak tên là Huyay muốn
cầu thân với Muhammad nên đã gả cho Muhammad cô con gái út 17 tuổi rất đẹp
tên là Safyah.
Cũng trong thời gian này, người anh họ của Muhammad qua đời, Muhammad
lấy vợ của anh ta tên là Ramlah. Do những cuộc hôn nhân xảy ra dồn dập
sau này nên harem của Muhammad đã trở nên khá đông. Các bà vợ của
Muhammad chia thành hai phe. Phe trẻ gồm có Aisha 15 tuổi, Hafsah 17 tuổi và
Safyah 17 tuổi tạo thành bộ ba (The Trio) tách rời và chống lại các “bà
già” của Muhammad!
Tháng 3 năm 629, Muhammad tổ chức cuộc hành hương đền thờ Kaaba với
2600 người tham dự. Lần này đến Mecca, đoàn người của Muhammad không gặp
một sự cản trở nào cả. Nhân dịp này, Muhammad tình cờ gặp lại người
chú họ tên là Abbas cùng đi hành hương với cô em gái rất đẹp tên là
Maymunah. Muhammad xin cưới người cô họ này và tổ chức đám cưới ngay tại
Mecca. Lợi dụng tiệc cưới làm cơ hội giải hòa, Muhammad mời tất cả
các kẻ thù của ông tại Mecca đến dự tiệc cưới. Không ngờ người chỉ
huy quân sự cao cấp nhất ở Mecca là Khalid nhận lời mời đến dự tiệc
cưới của Muhammad. Sau tiệc cưới, Khalid tự nguyện xin theo đạo Hồi. Đây
là thành công bất ngờ và hết sức lớn lao của Muhammad.
Khi phái đoàn 2600 người vào làm lễ tại đền thờ Kaaba, Bilal là
người da đen đầu tiên theo đạo Hồi đã leo lên nóc đền thờ Kaaba kêu
gọi mọi người cầu nguyện ba lần một ngày. Đến đêm cuối cùng của
chương trình hành hương, toàn thể 2600 người lặng lẽ rút êm ra khỏi
thành phố mà không ai hay biết. Muhammad
cố ý thực hiện điều này để cho dân Mecca biết rằng Cộng Đồng Hồi
Giáo là một tập thể gắn bó với nhau bằng đức tin, có tổ chức chu đáo
với tinh thần kỷ luật rất cao.
Khalid đi theo Muhammad về Medina. Trước đây Khalid là vị tướng chỉ
huy quân Mecca đối đầu với Muhammad tại các trận Uhud và trận Trench
(hào lũy). Muhammad hết sức vui mừng đón nhận Khalid. Từ đó Khalid trở
thành một trong những dũng tướng của Muhammad tại Medina.
Cuối năm 629, Muhammad làm một cuộc mạo hiểm đầy tham vọng là đánh
chiếm xứ Syria. Ông sai Khalid, Zayd và Jafar dẫn 3000 quân tinh nhuệ và vũ
trang hùng hậu đi thử thời vận. Khi tới biên giới Syria, quân thám báo của
Khalid cho biết đế quốc Byzantine có 10.000 quân tại đây. Khalid không dám
đối đầu nên đành rút quân về Jordan dừng chân. Đế quốc Byzantine cho
rằng quân Hồi đã dám vô cớ kéo đến khiêu khích nên cho quân truy kích
đến tận Jordan. Sau một trận đánh không cân sức, quân Hồi bị giết rất
nhiều, trong số đó có Zayd (con nuôi của Muhammad) và Jafar. Khalid dẫn đám
tàn quân trở lại Medina. Muhammad rất đau buồn vì đã tính sai nước cờ.
Trong thời gian đó có một chuyện vui cho riêng Muhammad. Vua Muquaquis của Ai
Cập gửi tặng cho Muhammad một cô gái nô lệ gốc Ai Cập rất đẹp tên
là Myriam. Cô này theo đạo Ki Tô Chính Thống (Coptic Christian) Muhammad say mê
sắc đẹp của Myriam đến nỗi ông bỏ bê tất cả các cô khác. Do vậy
mà cơn sóng gió trong harem nổi lên. Ít lâu sau, Myriam mang bầu và sinh ra một
đứa bé trai kháu khỉnh. Muhammad đặt tên là Ibrahim (tức Abraham). Ngoài
Myriam ra không có một cô nào trong harem sinh con cho Muhammad nên ông càng say
mê Myriam hơn nữa.
Aisha, Hafsa và Safyah tổ chức một cuộc nổi loạn trong harem. Mũi dùi
tấn công chĩa vào Myriam. Cuộc chiến tranh giữa những người vợ khiến
cho Muhammad chịu không nổi nên ông đành phải ngủ đêm tại sàn nhà của
đền thờ. Sau đó ông cất một căn gác nhỏ gần nơi đền thờ để mỗi
đêm leo lên đó nằm chèo queo một mình. Ông cảm thấy có nhiều vợ cũng
chẳng vui sướng gì và ông muốn xa rời tất cả các bà vợ trẻ đẹp của
mình. Tuy nhiên, ông cũng không muốn các bà vợ của ông rơi vào tay kẻ
khác sau khi ông qua đời. Do đó, ông viết vào kinh Koran mấy vần thơ để
qui định hai điều sau đây:
(The Prophet has a greater claim on the faithful than they have on themselves and
his wives are their mothers – Koran 33: 6 / Nor that you should marry his wives after
him ever, surely this is grievous in the sight of Allah – Koran 33: 53).
Nhân dịp mùa chay Ramadan trong tháng giêng năm 630, Muhammad tổ chức một
cuộc hành hương vĩ đại tại Mecca với sự tham dự của 10.000 tín đồ có
võ trang. Muhammad báo trước cho Mecca biết điều đó. Lãnh đạo tối cao của
Mecca lúc đó là Abu Sufyan tự xét không đủ sức chống lại Muhammad nên
khuyên mọi người không chống cự. Chỉ có ba tù trưởng của ba bộ lạc
Ả Rập thù ghét Muhammad quyết tâm chống lại. Khi đoàn quân hành hương của
Muhammad đến cổng thành Mecca thì ba tù trưởng Ikrimah, Swafan và Suhayl mang
quân ra nghênh chiến. Nhưng chỉ trong khoảnh khắc, đoàn quân Hồi Giáo dưới
sự chỉ huy của Khalib đã dẹp tan đoàn quân của các bộ lạc thù địch.
Các tù trưởng Ikrimah và Safwan bỏ trốn. Tù trưởng Suhayl đầu hàng. Đoàn quân 10.000 người của Muhammad tràn
vào chiếm thành phố Mecca không tốn một giọt máu.
Muhammad căng lều sát cạnh đền thờ Kaaba để làm chỗ trú ngụ cho
ông cùng với hai người vợ. Ngoài ra còn có Fatimah là con gái út của ông
và chồng là Ali.
Sau khi tất cả mọi người đều tắm rửa sạch sẽ, Muhammad cùng với
10.000 chiến sĩ đi vòng quanh đền thờ Kaaba 7 vòng. Bảy vòng này tượng
trưng cho 7 tầng của Thiên Đàng. Trong đền thờ có Tảng Đá Đen linh thiêng, cứ đi một vòng thì Muhammad chạm
tay vào hòn đá đen một lần. Mỗi lần chạm tay vào hòn đá đen như vậy,
Muhammad kêu to lên: “Al-lah Akbar” (Vinh Danh Thiên Chúa). Mười ngàn tín đồ
hô theo vang dội như lời reo mừng chào đón chiến thắng cuối cùng của
đạo Hồi trên thành phố Mecca.
Sau khi đi hết 7 vòng quanh đền thờ Kaaba, Muhammad và tùy tùng leo
lên nóc đền thờ đập nát 360 tượng thần. Bên trong đền thờ có một
số tranh vẽ trên tường cũng bị phá hủy, ngoại trừ những bức tranh vẽ
hình Chúa Jesus được giữ lại mà thôi. Những bức hình Chúa Jesus có thể
đã được những người Ki Tô Giáo vẽ trong đền thờ dưới thời vương
quốc Abyssinia cai trị bán đảo Ả Rập từ 525 đến 570.
Sau khi chiếm Mecca bằng một phương cách hòa bình, Muhammad ban hành lệnh
ân xá cho tất cả mọi người đã chống Hồi Giáo, ngoại trừ 10 người
có nợ máu quá nặng, trong số đó có mụ Hind (vợ của Sufyan) đã từng mổ
bụng ăn gan Hamzah (một chiến sĩ Hồi Giáo bị tử thương ở Uhud).
Khi mụ Hind bị bắt đưa đến trình diện Muhammad, mụ đã khôn khéo
thưa rằng: “Kính thưa tiên tri, ngài là sứ giả của Thiên Chúa, bây
giờ ngài không thể lên án phạt tôi vì tôi đã tuyên xưng đức tin
Hồi Giáo”. Muhammad tươi cười trả lời: “Tất nhiên là mụ đã
được trả tự do”.
Muhammad đã tha tội chết cho mụ Hind một phần vì mụ đã nhận theo
Hồi, nhưng phần quan trọng hơn là vì chồng của mụ (Abu Sufyan) đã có
công lớn trong việc thuyết phục thành phố Mecca không chống cự Muhammad
nên ông mới có thể chiếm Mecca một cách dễ dàng như vậy. Muhammad đã thưởng công rất lớn cho kẻ
thù cũ là Abu Sufyan bằng cách giao cho y và gia đình nắm giữ các chức vụ
quan trọng của thành phố Mecca. Sau này con cháu của Sufyan đã lập nên triều
đại Ummayad, đóng đô tại Damacus (Syria) và truyền ngôi qua 14 đời vua.
Một nhân vật khác bị Muhammad thù ghét và lên án tử hình là
Abdallah, anh nuôi của Uthman. Khi biết mình có tên trong sổ đen của
Muhammad, Abdallah đã đến nhờ Uthman can thiệp xin tha mạng. Uthman là người
thân tín của Muhammad đã dẫn Abdallah đến gặp chủ tướng. Muhammad chẳng
những tha mạng mà còn tin dùng Abdallah. Về sau, Abdallah trở thành một
nhân vật quan trọng trong Hồi Giáo.
Sau khi chiếm thành phố Mecca vào tháng giêng năm 630, Muhammad sáp nhập
quân của thành phố này với quân của Medina để thành lập một đạo quân
Hồi Giáo lên tới 30.000 ngưòi. Tháng 10 năm 630, Muhammad cùng Abu Sufyan dẫn
đoàn quân này đến thành phố Tabuk, cách Medina 250 dặm về phía bắc.
Muhammad cho quân nghỉ dưỡng sức 10 ngày tại thành phố này. Sau đó,
Muhammad và Sufyan xua quân tấn công một tiểu quốc của đế quốc
Byzantine. Vua của tiểu quốc này là Yuhunna xin đầu hàng và xin thần phục
Muhammad. Các cộng đồng Ả Rập và Do Thái tại Jarba và Adruh (tức xứ
Jordan ngày nay), đều xin làm chư hầu của Muhammad.
Tháng giêng năm 631, tất cả các bộ lạc trên bán đảo Ả Rập bao
la (gấp 8 lần diện tích Việt Nam) đều được đặt dưới sự cai trị của
Muhammad.
Đến đầu năm 632, nhiều chiến sĩ Hồi Giáo cảm thấy mỏi mệt
vì những cuộc chinh chiến liên miên trong nhiều năm qua. Muhammad cổ võ
tinh thần mọi người với lý luận cho rằng những cuộc chinh chiến đó cốt
để thực hiện Ý Chúa (God’s Will). Việc thực hiện ý Chúa trong lịch sử
loài người không bao giờ ngừng nên người Hồi Giáo phải luôn luôn tiếp
tục chiến đấu.
Cuộc chiến đấu để truyền đạo lúc đầu luôn luôn bằng phương
tiện quân sự và chính trị để dẫn đến sự phục tòng tôn giáo. Hồi
Giáo có nghĩa là phục tòng (Islam means submission). Khi Hồi Giáo toàn trị
trên một xã hội phục tòng tôn giáo thì đó là một xã hội hòa bình,
nói đúng hơn là Hoà Bình Hồi Giáo (Pax Islamica). Muhammad chú ý thực hiện
cuộc chiến đấu trên cả hai mặt: quân sự và tôn giáo.
Về quân sự, Muhammad trông cậy vào Abu Sufyan và Khalid. Về tôn giáo,
Muhammad chú trọng thuyết giảng cho bốn người chủ yếu là Abu Bakr, Umar,
Uthman và Ali. Trong bốn người này, Muhammad yêu thương nhất Ali vì Ali là
con út của ông chú Abu Talib đã nuôi Muhammad từ nhỏ đến lớn. Cũng vì
yêu thương Ali nên ông đã gả con gái út là Fatimah cho Ali. Vợ chồng Ali
có hai đứa con trai tên là Hassan và Husayn. Muhammad cũng rất yêu thương hai
đứa cháu ngoại này. Ông thường làm ngựa cho hai đứa cháu cưỡi trên lưng
chạy khắp nhà. Sau này, hai đứa cháu ngoại của Muhammad bị phe Hồi Giáo
Sunni giết chết và trở thành hai vị đại thánh tử đạo của giáo phái
Shiite. Người Chàm ở Việt Nam theo đạo Hồi có nơi thờ Ali và đọc kinh
cầu nguyện xưng tụng Ali là con của Thiên Chúa (Son of God).
Đầu năm 632, đứa con trai út của Muhammad với cô gái Ai Cập Myriam
bị bệnh chết. Muhammad khóc lóc thảm thiết. Ông cũng linh cảm sắp chết
nên nói với mọi người: “Tôi sắp đoàn tụ với đứa con trai yêu quí
của tôi”. Cuối tháng 2 năm 632, Muhammad yêu cầu mọi người cùng các bà
vợ đưa ông đến viếng đền thờ Kaaba ở Mecca lần cuối cùng.
Sau khi viếng Kaaba, ông yêu cầu mọi người đưa ông lên núi Arafat.
Tại đây ông giảng bài giảng giã từ (Farewell Sermon) nhấn mạnh: Mọi
tín đồ Hồi Giáo là anh em (Muslims are brethen).
Sau đó, Muhammad được đưa trở về Medina.
Từ đó ông bị chứng đau đầu liên miên. Chứng đau đầu có thể
do hậu quả của lần ông bị thương nơi đầu trong trận Uhud trước đây.
Các bà vợ đều lo lắng chăm sóc Muhammad nhưng ông yêu cầu đưa ông về
phòng của Aisha. Lúc này Aisha vừa tròn 18 tuổi. Nàng đặt ông gối đầu
lên đùi của nàng và nàng yêu cầu cha ruột là Abu Bakr đọc kinh cầu nguyện
cho tiên tri.
Ngày 18 tháng 6 năm 632, Muhammad trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay
của Aisha.
Khi hay tin Muhammad qua đời, nhiều phụ nữ tại Medina than khóc thảm
thiết, nhiều người khác hướng mặt vừa đền thờ cầu nguyện.
Trước khi Muhammad qua đời, ông không hề dự liệu cắt cử người
kế nhiệm. Nay sự việc ông mất xảy ra quá đột ngột đã khiến cho cả
cộng đồng lúng túng không biết phải bầu chọn ai. Ali là người thân của
Muhammad nhưng vì quá trẻ nên không được bầu. Abu Badr lớn tuổi và có
uy tín nhất đã được cộng đồng bầu lên làm người đầu tiên kế vị
Muhammad. Abu Badr được coi như là vị giáo chủ giáo phái Sunni (Đa Số) của
Hồi Giáo.


© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net