
Vài lời của Giao Điểm:
Mặc dù GĐ chủ trương mở rộng diễn đàn đối thoại của độc giả,
nhưng những bài viết độc giả gửi tới muốn được phổ biến, nội
dung phải phù hợp với vài quy định căn bản như sau:
Nhận thấy bài viết trả lời nhà
văn Nguyễn Đắc Xuân về ý kiến Bạch Thư của thầy Tuệ Sĩ của ông
Lý Đại Giác đã vi phạm một trong các quy đị nh căn bản nêu trên, nên
chúng tôi dành quyền của tòa soạn mạng lưới GĐ đục bỏ phần I (Tư
tưởng Khổng giáo) và phần II (Sự thật của lịch sử cận đại gồm những
gì?), một đoạn và vài danh từ không thích hợp trong phần III. Giao Điểm
Sử Gia
Không Nên Bẻ Cong Ngòi Bút
Đối thoại cùng “sử
gia” Nguyễn Đắc Xuân
III.
Lời thanh thỏa cùng “sử gia” Nguyễn Đắc Xuân
Thưa
ông Nguyễn Đắc Xuân,
So
với số tuổi 67 của ông, quả thật tôi chưa bằng phân nửa, nhưng tôi cũng
hiểu được sự khó khăn vất vả của cuộc sống. Mưu sinh tân khổ, danh
lợi phù vân, chợt đến chợt đi, chợt còn chợt mất. Kiếp phù sinh như
giấc mộng Hoàng Lương, như vó câu qua cửa, như điện chớp, như bọt bèo.
Với tuổi 67 của ông, hẳn ông đã chịu nhiều đắng cay phù phiếm. Như
trong bài viết của ông, ông thổ lộ tâm tình: “Chín năm kháng chiến vô
cùng ác liệt và gian khổ... đã khóc cười theo vận mệnh của Phật giáo
hơn 40 năm qua...” Và ngày nay, ông đã trở thành chiếc vỏ chanh hết nước,
phải thuận theo định luật đào thải của tự nhiên, định luật vắt
chanh bỏ vỏ của chế độ Cộng Sản. Đương nhiên ông nào hài lòng như
vậy. Hàng ngày, nhìn chuỗi thời gian vô vị trôi qua, ông chợt thấy tiếc
cái thời còn trai trẻ, thời oanh liệt nay còn đâu? Nhìn chung quanh, các
quan chức cao cấp nhà nước ăn đớp giàu sang hơn ông gấp bội, ông chợt
thấy mình phải làm cái gì đó để đánh bóng lại tên tuổi, để ông chủ
bạc bẽo nhà nước kia nhớ đến ông, biết đến ông chưa già lắm đâu,
mặc dù không còn trẻ. Ông chủ nhà nước CS có thể giao cho ông một nhiệm
vụ mới. Nhất là trong giai đoạn hiện tại, nhà nước đang bối rối vì
các Nghị Quyết của Hạ Nghị Viện Hoa Kỳ, của Quốc Hội Châu Âu. Họ
không cần người tài năng xuất chúng, song họ cần người có tên trong bảng
Phong Thần ngày cũ, mở miệng để trấn an lòng dân trong nước. Nhà nước
chắc chẳng có tham vọng là qua bài viết của các ông và một số vị sư
Quốc Doanh như các ngài (Giao Điểm bỏ 6 chữ vì tác giả tự ý đổi tên
các vị tu sĩ)... lôi kéo thuyết phục được đồng bào hải ngoại. Tại
các quốc gia tự do, truyền thông báo chí đầy đủ, ai còn lạ gì trò lừa
đảo, bỏ trắng thay đen của ông chủ CS ông.
Như
bản thân tôi, dù còn trong quốc nội, các trang web có liên quan đến tin tức
Phật Giáo, đều bị nhà nước chặn lại, song đó chỉ là trò tiểu xảo
của trẻ nít ba tuổi, mới tập tành vi tính. Đến các nhà bank tin tức của
chính phủ, các hãng quốc doanh, bọn trẻ chúng tôi vẫn ra vào như chốn
không người. Thành ra, dù nhà nước giở trò gì đi nữa, chúng tôi vẫn
có đầy đủ thông tin một cách chính xác.
Khi đọc bài viết của ông, tôi thấy thương
ông quá. Tôi biết ông cố gắng như kiểu cựu tổng thống Nga Boris Jenzin
cười rũ rượi bên Bill Clinton trong khi trong lòng ruột héo tâm sầu, hay phải
giật Disco như điên khi tranh cử. Ông cũng biết ông Jenzin đau tim, phải không?
Tôi lại nhớ đến một cuốn phim coi cách đây mấy năm. Anh cao bồi Jack có
con chó Binbin, nó đã già lắm, chẳng còn chăn cừu được nữa. Hàng ngày
nó nằm ủ rũ, mắt đổ ghèn, lông rụng gần hết. Một bữa anh Jack thấy
thương con chó quá, muốn hoá kiếp cho nó, anh lắp đạn vào khẩu súng,
con chó hình như cảm được vấn đề nguy hiểm. Nó đảo mắt nhìn quanh,
chợt thấy mấy con cừu đang nhẩn nha ăn cỏ trên đồi, nó bèn phóng ra,
dùng hết sức sủa lên mấy tiếng. Binbin muốn chứng tỏ cho Jack biết nó
vẫn còn hữu dụng, đừng hạ sát nó.... thật đáng thương! Chúng sinh
muôn đời ám ảnh lo âu, nỗi sợ sinh tử theo đuổi mãi.
Trong
bài viết ông đã nêu được ba điểm khả dĩ khiến người đọc còn thấy
được 50% sự thật. Song xin ông đừng mừng vội. Ngạn ngữ Tây Phương có
câu: “Nửa ổ bánh mì là bánh mì, nửa phần sự thật là sự dối trá.”
Điểm thứ nhất, ông viết: “Ảnh hưởng của pháp nạn 1964 còn kéo dài cho đến ngày nay.” Tôi công nhận điểm này đúng, song ông mới chỉ viết có 50%. Một nửa ông chưa viết kia là: Qua tấm gương sụp đổ của chế độ độc tài Ngô Đình Diệm khiến cho Đảng và nhà nước Cộng Sản lo sợ lắm. Hơn hai ngàn năm qua, đất nước Việt Nam bao lần giặc dã điêu linh. Có những lúc tưởng rằng nền tự chủ của non sông không bao giờ có thể phục hồi. Song “mái chùa che chở hồn dân tộc”, từ mái chùa thân yêu kia, bao nhiêu thế hệ nghĩa quân kháng chiến lại được trưởng dưỡng và nền tự chủ độc lập của dân Lạc Việt lại được tái tạo. Khi thực dân Pháp chiếm Việt Nam, chúng dùng phương thức chia để trị, chúng hết sức sợ hãi trước sức mạnh tiềm ẩn của dân tộc dưới mái chuà. Chúng ngấm ngầm tạo ra các hiềm khích giữa các tông phái, gặp phải Pháp nạn năm 1964, các tông phái Phật Giáo thống nhất. Sự thống nhất và chính thống kế thừa tinh thần truyền thống Phật Giáo Việt Nam hơn hai ngàn năm này gây lo sợ cho các chính quyền độc tài thô bạo. Tóm lại sự liên hệ của Pháp nạn 1964 và Pháp nạn hôm nay trải qua tiến trình như sau: Pháp nạn 1963-1964 => GHPGVNTN được thành lập => Uy tín rộng lớn trong quần chúng và quốc tế => Độc tài CS lo sợ => Bức tử GH, cầm tù các nhà lãnh đạo => Đấu tranh đòi tự do tôn giáo => Pháp nạn 2003 => => => Tự do dân chủ, nước giàu dân mạnh...! (Giao Điểm bỏ 11 chữ)
Điều
thứ hai, ông viết: “Nhiều người đọc bạch thư của Thầy nói với
tôi rằng “có lẽ Thầy Tuệ Sỹ thiếu thông tin nên mới viết một lá
thư lạc hậu đến thế?”” Câu
này, tôi không muốn chia ra thành hai tác giả, có nghĩa tác giả của câu
nói kia và tác giả của lá thư. Tôi cho đây là lối hành văn của ông.
Thì thưa ông, câu nói trên cũng có 50% sự thật. Sự thật “Thầy Tuệ Sỹ
thiếu thông tin”! Thầy không thiếu thông tin sao được, khi mấy chục
năm qua Thầy vào tù ra khám, án tử hình đã treo lơ lửng trên đầu Thầy?
Thầy bị quản thúc năm này qua tháng nọ? Các phương tiện thông tin của
Thầy đều bị kiểm soát, cắt xóa tịch thu bởi nhà nước độc tài? Những
lần tuyệt thực, những sự hành hạ thân tâm thô bạo từ chính quyền
CS, những bệnh tật bủa vây, nếu Thầy Tuệ Sỹ không phải là người có
nghị lực siêu phàm thì đừng nói là thiếu thông tin mà phải bảo rằng
Thầy đã thiếu luôn sự sống!
Còn
vế thứ hai “nên mới viết một lá thư lạc hậu đến thế?” thì quả
không đúng một chút nào! Bạch Thư hoàn toàn không lạc hậu, ngược lại
Bạch Thư chuyên chở trọn vẹn tâm tình của 55 triệu đồng bào Phật tử
Việt Nam trong và ngoài nước. Tâm tình của 55 triệu đồng bào, trừ những
người như ông ra, mà dám bảo là lạc hậu ư? Ông nói như thế chẳng khác
nào bảo rằng bát cơm tẻ ông ăn hàng ngày lạc hậu? Tổ tiên Việt Nam
đã ăn bát cơm tẻ ấy từ thuở đất nước sơ khai, nay ông vẫn phải
ăn, tôi vẫn được ăn và con cháu của tôi sẽ tiếp tục ăn. Chỉ khi nào
ông ăn khói ăn nhang, thì khi ấy ông mới có thể gọi bát cơm tẻ kia lạc
hậu! Tâm tình con người Việt Nam cũng vậy, vẫn thao thức, vẫn hướng
thượng, vẫn ưu lo cho sinh mệnh nước nhà, dân tộc và Đạo Pháp. Vì thế
khi nào ông yên nghỉ trong sáu tấm quạnh hưu, thì khi ấy tâm tình Việt
Nam mới là lạc hậu đối với ông. Vì người chết không mang quốc tịch,
không có tâm tình!
Điểm
thứ ba, ông viết: “Đối với chính quyền Việt Nam từ sau 1975 đến nay,
cái thuận phát triển và cái nghịch dần dần teo lại.” Tôi
xin thành tâm tán thán ông trong câu này. Ông đã nêu lên thực trạng độc
tài của chính quyền chuyên chế. Làm gì còn thế lực đối lập! Thuận
theo đảng CS thì tha hồ đớp hút, ngay cả cái gọi là Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam quốc doanh kia cũng vậy. Tại họ thuận theo đảng, chịu sự
sai xử của chính quyền nên phát triển, có Phật to, chùa lớn. Song không
phải đảng và nhà nước CS lo gì đến đời sống tâm linh của Phật tử
Việt Nam đâu, mà chẳng qua là đánh tráo dư luận quốc tế. Lập chùa lớn
để có chỗ cho ma vương ẩn náu. Tôi tin ông cũng có đọc qua sử sách,
dù trước năm 1964 học hành bữa đực bữa cái, thích chơi trò nổi, mới
được vài năm dang dở sinh viên, những năm đi bưng thì thiếu sách vở,
khi trở về còn lo bốc húp, bợ đít chính quyền, ca tụng lãnh tụ... Chắc
ông cũng biết vua Tuỳ Giản Đế Dương Quảng nổi danh bạo chúa bên Tàu,
phải không? Dưới triều đại của Dương Quảng hàng ngàn hàng vạn ngôi
chùa lớn nhỏ được xây dựng. Dương Quảng xây chùa là để trang nghiêm
cõi Phật chăng? Xin ông tự trả lời! Gần đây hơn nữa, khi Chu Nguyên Chương
lên ngôi Minh Thái Tổ, ông ta đã xây bao nhiêu ngôi chuà, đào tạo bao
nhiêu tăng chúng. Song có phải ông ta thật sự vì hoằng dương Phật Pháp
như các triều đại Lý Trần của ta không? Hay ông ta chỉ lợi dụng Phật
Giáo để cai trị, củng cố ngôi vị? Xin ông đừng tự dối lòng! Đảng
và nhà nước không kiểm chứng được tâm thức của ông đâu, có đảng
nào đắc được Pháp Tha Tâm Thông mà ông lo. Cái nghịch dần dần teo lại, ông viết vậy
là khiêm nhường quá chứ. Đâu có phải dần dần, mà teo cái rụp, biến
mất như chớp giật hư không. Người Đức có câu tục ngữ rằng: Kẻ bị
khai tử, là kẻ sống lâu nhất. GHPGVNTN đã dần dần teo lại, bây giờ lại
dần dần nở ra và một ngày không xa nữa Giáo Hội chính thống này sẽ lấy
lại được tầm vóc hơn hai ngàn năm đã có.
Đó
là ba điểm khả dĩ còn chức chấp 50% sự thật, còn những điều khác
ông viết toàn là giả dối.
Điều
thứ nhất, ông viết: “Nếu được giao cầm quyền, Giáo Hội Phật giáo
Việt Nam không đủ sức cầm quyền. Nếu Giáo Hội Phật giáo có thể cầm quyền
thì năm 1964 đã nắm chính quyền ở miền nam rồi” Không khi nào GHPGVNTN có ý cầm quyền cả.
Tôn chỉ của GHPGVNTN, đã được hai vị Đại Lão Hoà Thượng nêu rõ
trong nhiều Thông Bạch: Hoằng Pháp, Lợi Sinh, Giáo Dục và Từ Thiện. Chư
vị cao tăng của GHPGVNTN tuân chỉ theo lời của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu
Ni, không nhúng vào chính trị, không có tham lam thế tục cầm quyền. Từ
ngàn xưa, chưa bao giờ Giáo Hội Phật giáo Việt Nam nắm quyền điều hành
quốc gia cả. Trên thế giới, Tây Tạng là quốc gia duy nhất, đức Dalai
Lama là Giáo Chủ cũng là người lãnh đạo tối cao chính quyền Tây Tạng
lưu vong, còn các quốc gia khác, dù có lấy Phật giáo làm quốc giáo, đức
Quốc Sư vẫn được vua tấn phong. Tại Việt Nam dưới triều đại tiền
Lê, ngài Pháp Sư Pháp Thuận cố vấn cho Lê Hoàn, thay vua tiếp sứ Tàu.
Thiền Sư Vạn Hạnh, Khuông Việt dù có rất nhiều công lao với Đạo Pháp
và Dân Tộc song các ngài không nắm quyền thế tục bao giờ. Ngay cả dưới
triều Trần, hầu hết các Thái Thượng Hoàng đều xuất gia đầu Phật,
song các ngài thường nắm vai trò cố vấn cho vua con, chứ không còn thật
sự nắm quyền. Trong chính quyền CS có những người cầm bút như ông, người
đã có lúc nhận mình là Phật tử, hơn nữa lại đọc thông viết thạo
thế mà không hiểu gì về tôn chỉ của đạo Phật hết. Thật đáng buồn!
Điều
thứ hai, ông viết: “Nhiều người nhân danh Phật giáo, nhận tiền của
ngoại bang để chống phá những tổ chức Phật giáo không ăn cánh với
mình hoặc chống chính quyền Việt Nam (Võ Văn Ái ở Paris)...”
(Giao
Điểm tự ý đục bỏ đoạn này)
Điều
thứ ba, ông viết: “Các thầy là tù binh của ông Võ Văn Ái, không thể
rút được nữa. Một
là tiếp tục tiến, hai là thân bại danh liệt. Thế thôi.” Ông
Xuân ơi, sao ông lại hay lẫn lộn thế. 67 tuổi chưa đến nỗi nào, mà
sao ông sớm bắt chuồn chuồn, ngắt râu ông nọ cắm cằm bà kia thế nhỉ.
Chư Tôn Đức trong hội đồng lưỡng viện GHPGVNTN đang là tù nhân của
chính quyền Cộng Sản Việt Nam đó chứ? Hay của ôngVăn Ái? Chả lẽ ông
Võ Văn Ái thay ông Trần Đức Lương, Phan Văn Khải, Nông Đức Mạnh rồi
sao? Tôi không được biết. Xin ông vui lòng cho tôi biết Việt Nam đổi chủ,
các Thầy đổi cai ngục từ bao giờ thế!? Hơn nữa, có bao giờ vị ngục
chủ lại chạy đôn chạy đáo, quên ăn mất ngủ, van xin người ta can thiệp
để tù binh của mình đừng bị hành quyết. Nếu là người học sử, xin
ông bỏ chút thời gian tìm mấy cuốn Văn Học Phật Giáo Việt Nam, Trần
Nhân Tông Toàn Tập của giáo sư Lê Mạnh Thát biên khảo mà đọc. Những
nghiên cứu này có giá trị vô cùng lớn lao cho nền văn hoá dân tộc. Nhưng
nếu không có sự can thiệp của ông “Ngục Chủ” Võ Văn Ái thì đảng
và nhà nước của ông đã dẫn độ giáo sư Lê Mạnh Thát về Tây Phương
Cực Lạc giao cho Đức Phật A Di Đà “quản lý”, trước khi các tác phẩm
ra đời rồi!
Điều
thứ tư, ông viết: “Người ngoài gây ra Pháp nạn Phật giáo có thể hoá
giải (như năm 1963). Nhưng
nội bộ các nhà tu hành Phật giáo gây ra Pháp nạn chỉ dẫn đến chỗ mạc
vong mà thôi.” Thưa
ông, theo tôi biết thì chữ thứ tư gần chót, ông muốn viết là chữ mạt
chứ không phải chữ mạc. Chắc đó chỉ là lỗi chính tả thông thường.
Song đó không phải là điều quan trọng, mà điều quan trọng là ông dịch
lời dậy của đức Khổng Phu Tử, mà ông không chịu đề chú thích. Sao
mà các ông hay đạo văn thế? Lời dậy của đức Khổng Phu Tử nguyên văn
thế này: “Thiên tác nghiệt do khả vi, tự tác nghiệt bất khả hoạt.”
Có nghĩa “trời làm tai họa còn tránh được, tự mình làm ra tai hoạ
còn tránh vào đâu?” Ông giống Hồ Chí Minh quá, hay dịch tư tưởng cổ
nhân, rồi sau đó để cho người đọc tưởng rằng tư tưởng của ông!
Thưa ông Thuyết Nhân Quả của nhà Phật có khác chi câu này đâu. Ông
đang lấy tư tưởng Phật Giáo để chứng minh, phủ nhận Bạch Thư của
Thượng Tọa Tuệ Sỹ , sao ông không dùng hai chữ Nhân Quả hay ba chữ Sư
Tử Trùng cho tiện? Nhảy qua Khổng Giáo làm gì khi mình bị xếp vào hàng
hai trong ấy? Hay ông cũng chẳng hiểu về giáo lý Phật Thừa, triết học
sâu thẳm vô bờ của đạo lý Kiến Tánh Thành Phật kia? Phải rồi, ông
có nhắc ở phần áp kết hai chữ Tánh Không. Thưa ông, ông có biết Tánh
Không là gì không ạ? Nếu chưa biết, (và tôi chắc là ông chẳng biết
Tánh Không là gì), xin ông vui lòng đến tu viện Quảng Hương Già Lam bên
Gò Vấp, tìm gặp Đại Sư Tuệ Sỹ, xin ngài từ bi giảng cho ông biết
Tánh Không là gì? Tánh Không Luận của Bồ Tát Long Thọ ra sao? Đại Sư Tuệ
Sỹ từ bi và trí tuệ không khác gì ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ đời Trần.
Ngài đã hành thâm Pháp Môn Bất Nhị của ngài Duy Ma Cật. Chắc chắn
Ngài Tuệ Sỹ không phân biệt chúng sinh, không chấp trước các lời bàn
luận phiến diện của ông về Bạch Thư đâu, Ngài sẽ vì ông mà nói
Pháp. Vì ông mà làm sáng tỏ Tánh Không, dù căn cơ của ông ở tầng lớp
nào, thì một lần thọ Pháp từ Thầy Tuệ Sỹ, ông vẫn được hưởng lợi
lạc vô biên.
Thưa
ông “sử gia” Nguyễn Đắc Xuân,
Lời
thanh thoả với ông đã khá dài. Còn hàng chục điều không đúng sự thật
trong bài viết của ông, tôi muốn trình bày để ông tỏ tường, song Đức
Khổng Phu Tử có dạy rằng “Giáo Đa Thành Oán” (Dạy nhiều quá, người
ta oán hận), hoặc “Cái giường có bốn góc, chỉ ba góc, còn góc thứ tư
phải tự tìm lấy!” Nên xin ông hãy tĩnh tâm suy nghĩ, biết đâu ông chẳng
ngộ ra chỗ tôi chưa phân tích. Còn lời bàn của ông về Bạch Thư của
Thầy Tuệ Sỹ, tôi không cần bình luận nữa. Nó cũng giống giống như cậu
học sinh lớp chín phải luận Kiều. Khi người ta đọc bài luận ấy thấy
tức cười, thì người đọc nên cười Nguyễn Du hay cười sự ngớ ngẩn
của cậu học trò đệ tứ kia, ông nhỉ?
Trước
khi tôi chấm dứt bài viết này, tôi chân thành chúc ông và gia quyến trước
thềm năm mới, sức khỏe dồi dào, công danh mỹ mãn, gia đạo êm ấm.
Sài
Gòn, chiều chủ nhật, thượng tuần tháng 12 năm 2003.

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net