
Trao đổi
cùng ông Nhật Nam
Thưa ông Nhật
Nam,
Xin giới thiệu với
ông, tôi là một người ủng hộ thầy Tuệ Sĩ về tất cả những việc mà
thầy đã, đang và sẽ làm cũng như những bài mà thầy đã viết trong thời
gian gần đây. Hay nói cho cụ thể hơn, tôi ủng hộ cuộc tranh đấu hiện
đang diễn ra của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN). Hay
nói cho rõ ràng hơn nữa, tôi là người thuộc phe – tạm gọi là chống Cộng,
hay CCCB, như có người thích gọi như vậy. Cho nó chính danh.
Trong tư thế như vậy thì có lẽ chưa đọc
đến đoạn sau, chắc ông Nhật Nam cũng hình dung ra là tôi sẽ lý luận như
thế nào rồi, phải không ông? Thì biết vậy, nhưng cũng phải nói chứ
sao. Thú thật với ông, càng đọc bài ông viết càng tức anh ách. Không những
tức, còn giận, còn bực, tưởng chừng như có ông đứng đâu đây, tôi sẽ
... thụi ông một cái cho đã tức. Thế mới hay, khi nào cái tâm mình đã
sẵn có định kiến thì ai nói nghe hơi khác là không thể nào chịu được.
Và nói kiểu nào mình thấy cũng sai cả. Không những sai mà còn ... chẳng
ra gì. Cố mà nuốt cho hết cái lập luận của ông rồi “quẵng gánh lo
đi mà vui sống”, xem như lý luận quàng xiên... (Gđ bỏ 5 chữ) Chấm
hết!
Nhưng khi đọc đến đoạn cuối (đoạn kết, xuống giọng
ngậm ngùi), thì lòng tôi có phần dịu đi và tìm thấy, hóa ra, ông với
tôi cũng ... cá mè một lứa. Tôi cũng lớn lên ở một thành phố miền
Nam, cũng đã từng theo bạn đồng học xuống đường chống chế độ Ngô
Đình Diệm, rồi cũng bị bắt, rồi ra tù, rồi cũng lại xuống đường
tranh đấu với những ước mơ vô cùng lãng mạn của thời mới lớn. Và
cũng như ông, tôi mê Phạm Công Thiện, mê nhạc Trịnh Công Sơn, nhạc Phạm
Duy, thơ Phạm Thiên Thư, mê những bài viết dễ thương của thầy Nhất Hạnh,
hãnh diện với trường đại học Vạn Hạnh, và nhiều nữa... Có lẽ chỉ
có một điều hơi khác, đó là biết và “mê” thầy Tuệ Sĩ sau ông. Và
không biết điều này có khác với ông hay không: học xong ra trường, đi làm
cho chính quyền miền Nam, rồi đi lính rồi giải ngũ và trở lại nghề
công chức, rồi Cộng Sản vào, rồi đi ở tù, rồi về, rồi vân vân và
cuối cùng là một thuyền nhân may mắn được định cư ở nước ngoài
và khác với ông, tôi tự cảm thấy mình là dân tị nạn. Tôi không rõ thời
gian trước 1975, ông có hoạt động cho Cộng Sản hay không, hay cũng như tôi,
sống đâu theo đó. Mà đã theo thì phải theo luôn. Tôi yêu không khí miền
Nam, yêu phong thái miền Nam, và tất nhiên, yêu chế độ miền Nam – mặc
dầu trong lòng vẫn cứ xót xa, cắn đắn về
chọn lựa của mình. Mơ một đất nước có dân chủ, hết bất công,
không lệ thuộc nước ngoài mà cũng không Cộng Sản. Ôi chao, một giấc mơ!
Chỉ là một giấc mơ. Cho đến bây giờ!
Thưa ông Nhật
Nam,
Tôi như thế. Thành ra
ông sẽ hiểu tại sao, đọc bài ông viết mà y như thể nhai toàn trái đắng.
Bài viết, tuy tóm gọn trong vài vấn đề, nhưng nếu đem mổ xẻ thì có cả
chục đề tài có thể tranh cãi nhau hoài không hết. Sau đây tôi ghi lại một
số ý kiến riêng về một vài điều mà bài viết gây cho tôi nhiều ấn tượng
nhất.
Ở đoạn cuối của
phần mở đầu, ông viết “...Bạch Thư còn là một nước cờ chiến
lược để đón đầu (preemptive strike) các phản ứng chính trị quyết liệt
có thể sẽ xảy ra của một Nhà nước đã mất hết kiên nhẫn sau nhiều
lần tìm cách ứng phó (kể cả “cảm thông” giữa HT Huyền Quang và người
đứng đầu nhà nước Phan văn Khải mới đây) trước những “vi phạm luật
pháp quốc gia” của GHPGVNTN”. Tôi ngạc nhiên. Ông làm như nhà nước
Cộng Sản đã kiên nhẫn hàng chục năm nay đối với các thầy Huyền
Quang, Quảng Độ, Tuệ Sĩ. Vậy thì cái án tử hình dành cho thầy Tuệ Sĩ,
hàng chục năm giam giữ hai thầy Huyền Quang, Quảng Độ vừa có vừa
không án chẳng phải là những phản ứng chính trị vô cùng quyết liệt
(và bất nhân!) của nhà nước hay sao? Tôi cũng không rõ theo ông thì sắp
tới, phản ứng quyết liệt sẽ là như thế nào nữa? Mang quý vị đó ra
pháp trường chăng? Những người đang trong tình trạng bị quản chế chẳng
khác gì cá nằm trên thớt thì có gì mà một nhà nước quyền lực gần
như tuyệt đối lại phải trù liệu đến những “phản ứng quyết liệt”,
“sau nhiều lần tìm cách ứng phó”? Tôi có cảm giác như ông đang đề
cập tới đế quốc Mỹ không bằng! Một tù nhân như thầy Tuệ Sĩ thân
chỉ còn da bọc xương mà lại có thể đi “một nước cờ chiến lược
đón đầu” với đỉnh cao trí tuệ của đảng Cộng Sản Việt Nam được
sao, thưa ông! Ông viết: “Cho nên khi GHPGVNTN chống lại chính quyền
Việt Nam, một quốc gia bị Mỹ xem là “against us” trên nhiều vấn đề
lớn của thế giới, nhất là ở các điểm nóng bang giao quốc tế, thì đối
với chính quyền Mỹ đương nhiệm, Giáo hội nầy, về mặt chính trị,
đương nhiên trở thành công cụ “của” Mỹ rồi dù Giáo hội muốn hay
không muốn. Thượng tọa Tuệ Sỹ là con tốt đầu trong đạo quân thứ Năm
của Mỹ rồi dù Thượng tọa muốn hay không muốn. Và do đó, như một hệ
luận, Thượng tọa đang làm việc cho Mỹ nhiều hơn là cho GHPGVNTN. Và rất
ít cho tổ quốc Việt Nam”. Thưa ông Nhật Nam, ông có vội vàng không
khi cho rằng “đối với chính quyền Mỹ đương nhiệm” (tức là chính
quyền Bush) thì GHPGVNTN và thầy Tuệ Sĩ trở thành công cụ của Mỹ? Tôi
nghĩ là ông lầm. Đúng ra thì ông đang để cập đến nghị quyết của hạ
viện Mỹ, nghị quyết HR472. (*)
Nếu bảo GHPGVNTH đang là “công cụ”, thì phải là công cụ của Hạ viện
Hoa Kỳ chứ sao lại là của “chính quyền đương nhiệm”. Vì hiện nay,
xu hướng rất rõ ràng và dứt khoát của “chính quyền đương nhiệm” và
cả chính quyền trước đó (Clinton) là thắt chặt quan hệ với nhà nước
Cộng Sản VN. Phải nói thẳng, quan hệ giữa chính quyền Mỹ và nhà nước
CSVN chưa bao giờ nồng ấm như hiện nay và có vẻ như càng ngày càng nồng
ấm. Sau khi bãi bỏ cấm vận, tái lập bang giao với VN, tổng thống Mỹ
qua dạo phố Sài Gòn, Hà Nội, ký hiệp ước thương mại, bộ trưởng quốc
phòng Mỹ ghé thăm VN...và rồi tàu chiến Mỹ ghé cảng Sài Gòn trong lúc bộ
trưởng quốc phòng CSVN bước trên tấm thảm đỏ vào thăm Ngũ Giác Đài.
Hàng loạt phái đoàn VN chính trị cũng như kinh tế liên tiếp đến thăm
Hoa Kỳ mà mới đây nhất là phái doàn do Vũ Khoan cầm đâu. Chưa kể hàng
chục nhà văn, hàng chục nghệ sĩ trình diễn được mời sang và hàng
ngàn sinh viên du học, trong đó rất nhiều người thuộc con cái của các
viên chức cấp cao nhất của nhà nước và đảng CS. Ấy thế mà chính phủ
Mỹ chưa bao giờ nói một tiếng nói nào để gọi là binh vực cho GHPGVNTN,
ngay cả những lúc gian nguy nhất. Mỉa mai nhất là trong lúc xảy ra sự biến
Lương Sơn và các sự việc tiếp sau thì bộ trưởng quốc phòng Việt Nam
lại chén chú chén anh với bộ trưởng quốc phòng rồi ngoại giao và nhiều
viên chức cao cấp của “chính quyền đương nhiệm” Mỹ. Trước đây,
khi quốc hội tiểu bang Virginia thông qua nghị quyết chọn “cờ vàng ba sọc
đỏ” là biểu trưng cho cộng đồng người Mỹ gốc Việt địa phương,
thì bộ ngoại giao Việt Nam áp lực với chính phủ Mỹ và rồi chính bộ
trưởng ngoại giao Mỹ áp lực với tiểu bang Virginia để hủy bỏ một cách
tàn nhẫn nghị quyết trên - một vi phạm thô bạo đối với nền dân chủ
và hiến pháp Mỹ! Vậy thì, ai hiện là “công cụ” của chiến lược toàn
cầu mới của Mỹ đây, CSVN hay GHPGVNTN?
Ông viết: “Vậy
thì Nghị quyết HR472 là vì lợi ích của ai ? Của Giáo hội PGVNTN, của Việt
Nam, hay của Mỹ ? Câu trả lời rõ ràng nhất nằm ngay trong kết quả áp
đảo 409/422 (97%) của các vị Dân biểu trong Hạ viện Mỹ khi thông qua Nghị
quyết, mà trong đó đa số là những Dân biểu chẳng bao giờ thật sự có
một hiểu biết sâu sắc về lịch sử Việt Nam, lịch sử Phật giáo Việt
Nam, lại càng chẳng cần tìm hiểu cặn kẽ vấn đề tôn giáo tại Việt
Nam. Cứ có hại cho Việt Nam, nghĩa là có lợi cho Mỹ, thì họ cùng nhau bỏ
phiếu thuận”. Nhận xét quá hồ đồ. Thứ nhất, ông đánh giá quốc
hội Mỹ quá thấp. Một là ông thiếu hiểu biết về ngành lập pháp Mỹ,
hai là ông tưởng quốc hội Mỹ cũng như quốc hội CSVN, chỉ bầu bán ra
để trang trí cho chế độ, lúc nào cũng bỏ phiếu 100% cho bất cứ chính
sách nào của nhà nước, không cần biết hay dở, không cần quan tâm đến
thực tế và lại không cần biết nhân dân mong muốn những gì. Nghị quyết
HR472 được đệ trình và được thông qua sau khi các dân biểu đã nhận
được hàng ngàn trang tài liệu về các vi phạm nhân quyền và tự do tôn
giáo liên tiếp tại VN – những tài liệu đã được các tổ chức nhân
quyền quốc tế và các phái đoàn Mỹ đúc kết và phổ biến trên toàn thế
giới. Nghị quyết có lợi cho ai? Chắc chắn trước hết phải có lợi cho
GHPGVNTN và phong trào đấu tranh cho dân chủ tại VN, và do đó cũng là có lợi
cho tương lai dân chủ của một nước VN tương lai. Tất nhiên là có hại
cho nhà nước CSVN. Cần nhấn mạnh ở đây, không nên lẫn lộn giữa nhà
nước CSVN – một nhà nước toàn trị được thành hình do cưỡng đoạt
chứ chưa hề thông qua bất kỳ một cuộc bầu cử dân chủ nào – và nước
VN, tức là toàn thể nhân dân VN, trong cũng như ngoài nước.
Nghị quyết HR 472 chỉ
là sự kiện mới đây trong lúc các hòa thượng Huyền Quang, Quảng Độ,
Thượng tọa Tuệ Sĩ, Thượng Tọa Trí Siêu (Lê Mạnh Thát), sư cô Thích Nữ
Trí Hải và hàng trăm vị khác đã bày tỏ quan điểm của họ từ cả gần
30 năm về trước, khi chính quyền Hoa Kỳ và quốc hội Hoa Kỳ hoàn toàn
phủi tay với vấn đề VN, khi cái gọi là cộng đồng hải ngoại chưa thành
hình, khi cả nước đang sống vật vờ trong một nhà tù vĩ đại, khi hàng
triệu người đang tìm cách rời khỏi VN để tìm con đường sống. Quý vị
đó đã lên tiếng từ lương tâm của họ, từ trong thân phận nghiệt ngã
của dân tộc và của giáo hội Phật Giáo – mà không cần phải dựa vào
bất cứ thế lực nào từ bên ngoài. Dù bao phen bị bắt bớ, tù đày, sỉ
nhục, các ngài vẫn bền gan giữ khí tiết của những kẻ sĩ “bần tiện
bất năng di, uy vũ bất năng khuất” trong lúc vẫn tỏ ra độ lượng đối
với những người truy bức. Nói như thế có nghĩa là có hay không có nghị
quyết HR472, GHPGVN vẫn tiếo tục tiến bước trên con đường đã vạch.
Tôi nghĩ, chính quý vị đó – có thể là hơn ai hết trong giai đoạn sau
1975 - mới chính là những người “bám, và bám rất chặt, vào mạch sống
của dân tộc, chia sẻ đến tận cùng truân chuyên của vận nước”
(cụm từ khá hình tượng mà ông dùng, đáng tiếc thay, để chỉ Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam, tức là giáo hội nhà nước). Bạch Thư của thầy Tuệ
Sĩ, về căn bản, chỉ nhắc lại cùng một nội dung như từ hàng chục năm
nay trong lúc kết hợp với những diễn tiến mới, mà thôi.
Ông viết: “Tại
Việt Nam, kể từ sau Đổi Mới, nhất là sau khi nền kinh tế thị trường
phát huy sâu sắc tác dụng của nó (trong đó có tác dụng chính trị và
xã hội) vào cuộc sống của nhân dân trong những năm giữa thập niên 90’,
chế độ chính trị tại Việt Nam không thể còn được gọi là “chế độ
Cọng sản” theo nghĩa kinh điển cũng như theo thực tiễn cuộc sống nữa
(...) Còn sót lại về mặt chính trị chăng là một chế độ độc đảng
toàn trị, có truyền thống yêu nước hơn và có bản lĩnh bảo vệ độc
lập quốc gia hơn những chế độ tại Việt Nam trước đây, tuy nhiên, cho
rốt ráo, thì vẫn cùng bản chất với các chế độ độc tài khác. Như
chế độ Cần lao Công giáo Ngô Đình Diệm ngày xưa hay như chế độ Giáo
trị Saudi Arabia ngày nay. Điều đáng nói là chế độ nầy, dù muốn hay
không, dù chủ động hay bị động, thì cũng đang trong quá trình hóa thân
vươn lên để hội nhập cọng sinh với cộng đồng nhân loại”.
Sau khi xác định tính
“độc đảng toàn trị” của nhà nước VN hiện nay, rồi biện hộ rằng
nhà nước đó đang “hóa thân vươn lên”, cố thoát khỏi ba đại nạn,
ông nhấn mạnh rằng Phật Giáo VN “có nhiệm vụ và đầy đủ sở
trường để khôn ngoan đóng góp. Nếu khôn ngoan!”. Chao ôi, ông Nhật
Nam, ông có sống dưới chế độ Cộng Sản không vậy? Trong một chế độ
toàn trị như Cộng Sản VN, thì mọi “khôn ngoan đóng góp” chỉ là, thứ
nhất, đảng nói gì làm theo nấy, hai là, không làm theo thì im lặng, dấu
kín tận đáy lòng bất kỳ sự bất đồng ý kiến nào. Mấy quý vị đảng
viên Cộng Sản cao cấp, tuổi đảng đầy mình như các ông Trần Độ,
Nguyễn Thanh Giang, Trần Dũng Tiến, những trí thức trẻ “một lòng theo
đảng” như Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn...đã “khôn ngoan đóng góp” đấy
và hậu quả như thế nào, chắc không cần phải nói. Nói là nói kháy với
ông thế thôi chứ tôi biết rõ ông muốn nói gì khi dùng cụm từ “khôn
ngoan đóng góp” rồi! “Khôn ngoan đóng góp” nghĩa là ở trong nước thì
theo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (nhà nước), ngoài nước thì viết bài
cho Giao Điểm. Ngược lại, ở trong
nước mà ủng hộ thầy Tuệ Sĩ, ủng hộ GHPGVNTN, ở ngoài nước mà theo
đám cộng đồng chống Cộng do “Công giáo núp sau bóng tối” giựt dây,
là “không khôn ngoan” hay nói cho đúng thâm tâm ông, là “phản đạo”
và “phản quốc”. Phải thế không, ông Nhật Nam?
Ông viết: “GHPGVNTN
chỉ có hai chọn lựa: Chấp nhận nó và hoạt động trong khuôn khổ luật
pháp đó. Hoặc không chấp nhận thì “nhảy núi” như trước kia sinh viên
thoát ly vào bưng theo Mặt trận Giải phóng chống lại chính quyền miền
Nam, hoặc lưu vong như Giáo hội Tây tạng của Đức Đạt lai Lạt ma bây
giờ. Và đó là một chọn lựa có tính chính trị chứ không còn là một
chọn lựa có tính tôn giáo nữa”. Không hiểu ông nói như thế là kiểu
nói chỉ thị của nhà nước hay là cách lý luận kiểu ông Bush: không theo
tao là chống tao. Chỉ có HAI chọn lựa thôi sao? Các thầy Huyền Quang, Quảng
Độ, Tuệ Sĩ ... đã không chọn một trong hai. Các vị không chấp nhận
các chính sách nhà nước, không nhảy núi mà cũng không lưu vong. Họ CHỌN
ở lại đất nước, ở lại với Giáo Hội và nói lên những gì mà những
người khác muốn nói mà không nói được, tiếp tục tranh đấu để giành
lại những gì mà những người CS đã lấy đi của dân tộc và đạo pháp.
Những vị nào ra được nước ngoài thì tái lập hoạt động của cái
giáo hội đã bị cấm và hỗ trợ cho những gì các vị lãnh đạo làm ở
trong nước. Đó là điều đương nhiên. Hoàn toàn hợp quy luật và hợp đạo
lý. Sự ra đời của GHPGVNTN Hải Ngoại, dù muộn màn và dù chưa được
như mong ước, là kết quả tất yếu của một đất nước nằm dưới sự
khống chế của một chế độ độc quyền toàn trị. Chẳng lẽ đã trốn
ra ngoài này, quý ngài lại đi thành lập một giáo hội ủng hộ giáo hội
của nhà nước, nghĩa là ủng hộ cái chế độ đã bức bách họ phải ra
đi?
Ông cho rằng trong Bạch
Thư, thầy Tuệ Sĩ đã “đánh hạ giá trị và uy tín của Giáo hội Phật
giáo Việt Nam hiện tại trước mắt đồng bào nước ngoài và các thế lực
quốc tế, bằng cách cho rằng Giáo hội nầy chỉ là cái loa phát ngôn của
Mặt trận Tổ quốc, tức là của Đảng Cọng sản Việt Nam”. Vì theo
ông “Giáo hội nầy, như một tổ chức, đã hình thành và phát triển,
ưu tiên xác định nhiệm vụ của mình với đồng đạo và dân tộc hơn là
với chính quyền và quốc tế. Bám, và bám rất chặt, vào mạch sống của
dân tộc, chia sẻ đến tận cùng truân chuyên của vận nước”(...) “kể
từ ngày thành lập vào năm 1981 với sự vận động và tham dự của chính
một số tôn túc thuộc GHPGVNTN chứ không phải là ai khác, Giáo hội Phật
giáo Việt Nam đã tùy duyên mà xây dựng ngôi nhà Phật giáo”(...) “GHPGVNTN
bám vào một danh xưng và một quá khứ ngắn ngủi, rồi vô tình hay cố
ý, trở thành những con sư tử trùng độc hại của Phật giáo Việt Nam”.
Thưa ông Nhật Nam, ông có quyền ủng hộ tổ chức này và không ủng hộ
tổ chức khác, nhưng hơn hết thảy, chúng ta phải chấp nhận sự thật.
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN) là giáo hội do nhà nước Cộng Sản
thành lập, tài trợ, chi phối là điều rõ ràng như ban ngày Trong một xứ
sở dưới chế độ chuyên quyền của một đảng, thì tất cả các tổ chức
đều nằm dưới sự kiểm soát của nhà nước là chuyện thường tình. Phật
Giáo, Công giáo, Cao đài, Hòa Hảo, Tin Lành, Thanh Niên, Phụ nữ...tất cả
đều là công cụ tập hợp quần chúng của Đảng. Gọi đúng tên sự vật
mà lại bảo là “đánh hạ giá trị” và “uy tín” thì là một điều
nghe có gì không ổn. Cũng giống như ông gọi cộng đồng hải ngoại là một
cộng đồng chống cộng, một “nối dài của mô hình chính trị Sài Gòn
cũ” chẳng hạn thì có ai nói quý vị “hạ giá trị” và “uy tín” đâu!
Vả lại như trên ông có viết rất cụ thể ( tôi xin lập lại một lần
nữa) “...Đó là ba đại nạn mà Phật giáo, nhất là Phật giáo Việt
Nam, có nhiệm vụ và đầy đủ sở trường để khôn ngoan đóng góp. Nếu
khôn ngoan !” Thực ra, không cần phải khôn ngoan đâu, ông Nhật Nam ạ.
Chỉ cần nhu mì, làm theo bất cứ những gì mà nhà nước CS muốn làm là
đủ. Làm ít hơn, bị loại. Mà làm nhiều hơn, coi chừng lỡ bước, vào
trại cải tạo như chơi. Trong nhận thức như thế thì lẽ ra ông phải
tán dương công đức của Bạch Thư chứ! Vì BT đã thông báo cho mọi người
biết rằng GHPGVN (nhà nước) là “cái loa phát ngôn của Mặt Trận Tổ
Quốc, tức là của Đảng Cộng Sản Việt Nam”. Được làm cái
loa cho một nhà nước như thế là điều tất phải hãnh diện và là quá
khôn ngoan sao lại gọi là hạ uy tín. Vì như thế, quý vị ấy không những
đã làm “đẹp đạo” và còn làm “đẹp đời”. Bên nào cũng đẹp!
Vả lại về việc này,
Bạch Thư phân tích khá rõ “Có thể một số sư tăng hay Phật tử chấp
nhận lý tưởng xã hội chủ nghĩa, cho rằng chỉ có thể đem lại hạnh
phúc cho xã hội loài người khi mà xã hội xã hội chủ nghĩa được xây
dựng thành công, trong đó không có giai cấp bóc lột và do đó tôn giáo cũng
không còn chức năng lịch sử nữa, nghĩa là không còn tồn tại. Các sư
tăng và Phật tử ấy có quyền tự do, và chắc chắn Phật cũng không cấm,
họp nhau lại lập thành một Giáo hội rồi tự nguyện phó thác sinh mạng
của Giáo hội ấy trong tay các đảng viên cộng sản, những chiến sỹ
xung kích xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh cho một xã hội không
giai cấp và không tôn giáo. Mọi hình thái tổ chức và sinh hoạt của
Giáo hội ấy hoàn toàn tuỳ thuộc sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản. Từ
trên cao, ai được chỉ định làm Pháp chủ, cho đến dưới hạ tầng, ai
được chỉ định làm Chánh đại diện Phật giáo quận huyện; đó hoàn
toàn là công việc nội bộ của đảng Cộng sản. Vì đảng là người duy
nhất lãnh đạo đất nước, cho nên công việc đảng là công viêc của nước”
(...) Những tăng ni
Phật tử khác không chấp nhận điều đó, mặc dù không phủ nhận nhưng
cũng không thừa nhận chủ nghĩa xã hội là cứu cánh chân lý, có quyền tư
duy và sinh hoạt theo những gì mình học và hiểu từ kinh Phật. Không thể
bức ép họ tập họp làm thành một bộ phận của đảng cộng sản. Trong
gần ba thập kỹ qua, giết chóc, tử hình, tù đày, lăng nhục, tất cả vẫn
không làm sờn lòng, thoái chí, của những người quyết tâm đi thẳng theo
con đường mà mình đã lựa chọn”.
Những điều viết
trong BT như thế có điều gì không đúng, thưa ông Nhật Nam? Rõ ràng, cụ
thể, đường hoàng, không chửi bới ai, cũng chẳng lăng nhục ai, cũng không
tự đề cao mình, cũng không bắt buộc ai phải theo mình. Có gì gọi là
“chấp hình tướng”, có gì gọi là “những con sư tử trùng độc hại
của Phật Giáo Việt Nam”. Hay ông cho rằng, trong một nước chỉ nên có
một giáo hội duy nhất, ai không theo giáo hội ấy là trở thành tay sai ngoại
bang, là chấp tướng, là phá hoại? Và nếu ông cho rằng, chỉ cần một
giáo hội duy nhất thì sao ông không thắc mắc việc nhà nước Cộng Sản
vội vàng bức tử GHPGVNTN không kèn không trống để lập nên GHPGVN. Nếu
có một cái gì gọi là chính danh thì GHPGVNTN mới đúng là chính danh, chứ
GHPGVN đâu có chính danh? Trước năm 1975, hai mươi năm xây dựng xã hội chủ
nghĩa ở miền Bắc, có cái gì gọi là Giáo Hội Phật Giáo đâu! Khi chiếm
xong miền Nam, thấy nhân dân miền Nam mộ đạo, nhà nước CS muốn lôi
kéo phật tử ủng hộ họ, cho nên tìm cách “sỡ hữu” GHPGVNTN. Nhưng trái
với ý định, Giáo Hội này không nhu mì, dễ bảo như họ tưởng. Thế là
tìm cách bóp chết. Giết cái này và thành lập cái kia. GHPGVN (nhà nước)
ra đời lúc mà không ai khác ngoài đảng Cộng Sản – đầy quyền lực và
kiêu hãnh - có quyền triệu tập và buộc mọi người phải tham dự và
lúc hầu hết các vị lãnh đạo GHPGVNTN còn chút lương tri, người thì bị
giết, kẻ thì bị tù đày, người thì bị trục xuất khỏi chùa và bao
nhiêu tăng sĩ khác lang thang vô định, có người ầm thầm chết trong tủi
nhục, có người phải hoàn tục để sống còn. Thế mà ông lại cho rằng
GHPGVN “đã hình thành và phát triển, ưu tiên xác định nhiệm vụ của
mình với đồng đạo và dân tộc hơn là với chính quyền và quốc tế”.
Ôi chao, là một phật tử, và là người biết rõ Cộng Sản là gì, thế
mà ông có thể viết được những điều như thế, thì quả ông chẳng có
mắt để nhìn, chẳng có tai để nghe và để cho cái thị kiến riêng khuất
lấp mọi điều suy nghĩ. Cụm từ đó đáng lẽ phải sử dụng cho GHPGVNTN
vì (tôi tạm trích dẫn một đoạn trong bài viết của Nguyễn Đắc Xuân,
dù không phải là hoàn toàn chính xác) “Đoàn sinh viên Phật tử Huế
lúc đó là một trong những đoàn thể Phật giáo có uy tín đã cùng với
nhiều đoàn thể Phật tử khác làm áp lực buộc tướng Nguyễn Khánh phải
ký sắc luật 14/5 chấp nhận Hiến chương ngày 4/1/1964 của Phật giáo và
cho phép tổ chức thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất”. Ra
đời trong hoàn cảnh như thế và cho đến bây giờ, GHPGVNTN chưa bao giờ là
tay sai của bất cứ ai, của chính quyền miền Nam hay Cộng Sản hay Mỹ hay
ai khác.
Ông viết “...chế
độ chính trị, với những thuộc tính xã hội của nó, là một thực tế
mà một tổ chức nào muốn hiện hữu thì đều phải chấp nhận để hành
hoạt dù đồng ý hay không với chế độ đó. Sự chấp nhận đó, tự
thân, là chấp nhận một khế ước xã hội trong mối tương quan giữa các
thực thể xã hội, trong đó có thực thể chính quyền”. Đúng. Nhưng
chấp nhận sống trong khuôn khổ luật pháp không có nghĩa là không được
quyền đòi hỏi, tranh đấu hay lên tiếng về những gì liên quan đến quyền
lợi hay hoạt động của mình. Mấy chục năm qua, tuy tranh đấu, tuy đòi hỏi,
nhưng theo tôi, quý thầy GHPGVNTN hoàn toàn chấp hành nghiêm chỉnh tất cả
quy định (pháp luật) của nhà nước Cộng Sản Việt Nam. Bắt đi tù, thì
đi tù. Bắt quản chế thì chịu quản chế. Thả ra, thì về nơi chỉ định
cư trú. Công an triệu tập thì đi. Kết án tử hình thì chịu tử hình.
Không hề giết hại ai. Không tìm cách trốn trại. Không hô hào đòi lật
đổ chế độ. Không phỉ báng những người lãnh đạo. Ai làm người ấy
chịu. Không vu vạ cho ai. Ôn hòa, bất bạo động. Tất cả những gì quý
vị làm chỉ là viết đơn, viết thư, viết những bản trần tình, để bày
tỏ quan điểm của mình và của tổ chức mà mình thuộc về. Nói trong nước
không ai nghe thì phải trình bày ra trước quốc tế. Như mọi tù nhân lương
tâm khác trên thế giới.
Và nếu có một ai
không hề tôn trọng luật pháp Việt Nam thì đó chính là Đảng Cộng Sản
và Nhà nước Cộng Sản Việt Nam. Từ ngày nắm chính quyền cho đến nay,
có lẽ không nhà nước nào vi phạm luật pháp quốc tế và luật pháp của
chính họ đề ra bằng những nhà nước Cộng Sản trên thế giới nói
chung và Đảng Cộng Sản VN nói riêng. Bao nhiêu hiệp ước bị xé bỏ, bao
nhiêu quy định quốc tế, họ coi như pha. Trong nước thì hiến pháp quy định
một đàng, đảng CS luôn luôn làm ngược lại. Thích bắt ai thì bắt,
thích quy cho ai tội gì thì quy, thích kết án ai bao nhiêu năm thì kết án,
hôm nay thì nói thế này, ngày mai là nói thế khác. Vừa bạn đó, vụt trở
thành thù. Thù đó rồi trở thành bạn. Hôm qua là phản động lưu vong,
nay thì việt kiều yêu nước. Hôm qua mới kết án buôn bán là bóc lột
thì bây giờ là kinh tế thị trường. Mới mời hoà thượng Huyền Quang đến
Phủ thủ tướng bây giờ thì lại quản chế tại địa phương... Thưa
ông Nhật Nam, ai là người tôn trọng luật pháp hơn ai? Hay ông cho rằng họ
là nhà nước họ có quyền đi trên luật pháp?
Phần cuối cùng tôi
muốn đề cập đến là Cộng đồng người Mỹ gốc Việt – phần mà
ông phân tích và đi đến một câu hỏi – mà đồng thời cũng là một
cách kết luận - gây ấn tượng nhất trong bài viết, theo đó “Thượng
tọa Tuệ Sỹ và cả cái GHPGVNTN, cô đơn trong đại khối nhân dân Phật tử
trong nước, lại hồ hởi lấy cộng đồng đó làm hậu phương lớn, làm
thế ỷ dốc chiến lược (...) không biết có bao giờ những vị nầy nói
rõ và nói thật bản chất và giá trị của Cộng đồng người Mỹ gốc
Việt đó cho Thượng tọa Tuệ Sỹ biết không ? Và nếu biết mà Thượng
tọa vẫn viết và phổ biến Bạch Thư để ngụy biện cho hành động của
GHPGVNTN thì Thượng tọa có thấy mình đang bất trí nên vừa phản đạo vừa
phản quốc không ?” Theo ông cái cộng đồng ấy “không những chủ yếu
chống Cộng mà còn là chống Việt Nam mãnh liệt nhất”, là “đánh thẳng
vào đất và dân Việt Nam, không một tình cảm liên đới, không mảy may
động lòng với những tai họa”, có một “lập trường chống Cộng lỗi
thời”, vân vân. Vậy tôi hiểu cái cộng đồng mà ông Nhật Nam lên tiếng
chê bai không tiếc lời ấy là gì?
Trước hết, sự hình
thành cộng đồng này là hậu quả của cuộc chiến tranh VN và kế đó là
hậu quả của chính sách sai lầm và vô cùng bạo ngược của những người
Cộng Sản VN sau khi chiến thắng Hoa Kỳ và VNCH. Chính sự hãnh tiến, kiêu
ngạo, quyết tâm xây dựng chủ nghĩa CS bằng mọi giá, bất chấp truyền
thống dân tộc và xu thế tự nhiên, chính sự truy bức, phân biệt đối xử
giữa người chiến thắng và kẻ chiến bại, giữa nhân dân vùng chiến thắng
và nhân dân vùng chiến bại đã đẩy toàn dân tộc vào một trong những
thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử và đã đẩy hơn 2 triệu người trốn
khỏi đất nước, bất chấp mọi hiểm nguy, gian khổ – đưa đến thảm
trạng thuyền nhân, khuấy động lương tâm toàn nhân loại. Thời kỳ đó,
chắc ông không thể quên, nếu đi được thì cái cột đèn cũng tìm
cách mà đi, chứ đừng nói gì 2 triệu người. Cũng cần ghi nhận rằng,
năm 1981, năm đỉnh cao của chế độ toàn trị Cộng Sản và là năm mà thảm
cảnh thuyền nhân lên đến tột đỉnh, lại là năm GHPGVN thành lập.
Chính nhà nước CS, chứ không phải ai khác mới là kẻ, trong suốt thời
gian dài và vẫn còn tiếp tục “đánh thẳng vào đất và dân Việt
Nam, không một tình cảm liên đới, không một mảy may động lòng với những
tai họa”. Hãy nhớ lại đi ông Nhật Nam, ai là người đã ném dân
đen vào cơn lửa dữ? Ai là sư tử trùng? Đứng trên phương diện đạo lý
cũng như trên pháp lý, những ai chịu trách nhiệm (trực tiếp hay gián tiếp)
gây ra các đại họa kể trên lẽ ra đều phải nhận lãnh những hình phạt
nặng nhất trước toà án lương tâm và tòa án dân tộc. Thế mà, tất cả
đều phủi tay. Nhà nước và đảng CSVN (những người thi hành các chính
sách sai lầm đó) vẫn nhởn nhơ “sửa sai” - sai thì sửa, sai nữa thì sửa
nữa - vẫn ra vẻ ta đây “đổi mới”. Họ trói cả dân tộc lại, hành
hạ – bây giờ họ mở trói ra và xem đó là công trạng của mình. Có ai
mà tráo trở đến như vậy, thưa ông. Mà thôi, tạm dừng ở đây, kẻo rồi
ông Nhật Nam lại bảo là tôi bôi đen thực tế!
Với một quá trình như
thế thì cộng đồng người Việt trên toàn thế giới mang tâm thức chống
cộng là điều hoàn toàn hiển nhiên và hợp quy luật. Chẳng lẽ người
ta gian nan trốn qua đây để mà ...ủng hộ CS?! Vả lại, trong cái thế giới
cởi mở hiện nay (do cách mạng thông tin), thì sự khác biệt quan điểm là
chuyện bình thường, nếu không muốn nói là quá bình thường. Ở Mỹ,
như ông biết, trong lúc Bush là tổng thống, những người chống đối tố
cáo chính quyền ông gấp mấy lần nhà nước VN tố cáo. Họ tiếp tục
bôi đen nước Mỹ của họ không ngơi nghỉ. Tổng thống bị đem ra bêu riếu
hàng ngày (có cả một Website giễu cợt ông tổng thống ăn nói lắp ba lắp
bắp này). Thậm chí cờ Mỹ cũng bị đem ra đốt. Thế mà chẳng ai kết
án là họ phản bội đất nước cả. Như ta biết, tổng thống là một
cái job, chính phủ là một business. Làm tốt thì giữ được job,
làm tệ thì mất job. VN thì khác. Đảng Cộng Sản và nhà nước VN
không bao giờ mất job. Tốt, họ cũng có job, tệ và quá tệ cũng
cứ có job. Chỉ vì họ xem cả dân tộc chẳng khác nào một cái
công ty riêng của họ, làm được hay không chẳng can gì đến ai. Trong mấy
chục năm cầm quyền, chẳng thấy có một chủ tịch nước nào từ chức,
chẳng thủ tướng nào bị bãi nhiệm, chẳng bộ trưởng nào ra tòa, mặc
dầu họ đã đi từ sai lầm này đến sai lầm khác, đẩy dân tộc, có
lúc, nằm bên bờ vực thẳm. Bây giờ, trừ những người đã chết, tất
cả họ vẫn còn đó, thay nhau nắm quyền. Vậy thì tin họ ở chỗ nào,
dù đôi lúc tôi cũng muốn tin!
Vậy thì, đương nhiên, phải có một tập thể
người, không đồng quan điểm với họ, chống lại họ bằng báo chí,
truyền thanh, truyền hình, hội thảo, biểu tình – mà chống thì chê bai,
nói xấu có gì là lạ. Vả lại, so với những lời phát biểu mà những
người bất đồng chính kiến – ở một kênh khác - hiện sống ở trong nước
như Dương Thu Hương, Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Thanh Giang vẫn chưa
bằng. Mà nếu bảo là tập thể này vu vạ, bôi đen thì có lẽ giữa cộng
đồng người Việt chống Cộng và nhà nước CS hiện tại, chưa chắc ai
đã ăn ai, phải không ông Nhật Nam? Hơn nữa, họ chỉ chống cộng bằng
chữ nghĩa. Với một quá khứ đau thương và những kỷ niệm khó phai trên
đường vượt biên, vượt biển bảo rằng họ quên đi quá khứ, xóa bỏ
hận thù ngay lập tức thì quá khó. Vả lại, ai bảo được ai? Cộng đồng
đó là một tập hợp tình cờ, gắn bó với nhau bằng tình cảm và xúc động.
Họ không có chính quyền, không có ngân sách, không có công an, nhà tù.
Cách biểu lộ duy nhất là ... nói, viết và biểu tình. Một khuyết điểm,
vâng. Điều đó làm cho những người có chút suy nghĩ lắm khi bất bình.
Nhưng suy cho cùng, biết làm sao được. Cũng may, tất cả những người cực
đoan đó, bao giờ cũng hành động trong khuôn khổ luật phát của nước
cho phép họ dung thân. Tất cả những cuộc biểu tình từ lớn đến nhỏ
– và dù chính đáng hay không - đều diễn ra trật tự, văn minh và đều
làm bối rối những đầu óc độc đoán ở trong nước. Dù ông chê, ông
khen, ông chưởi, ông lên án hay thù hằn, cái đám người “chống Cộng
đơn điệu” đó cũng làm cho nhà nước CS phải suy nghĩ hàng ngày. Chinh
phục họ? Quá khó. Truy bứt họ? Vô ích. Phân hóa họ? Đâu cần phải đợi
CS phân hóa, bản thân họ, họ cũng đã phân hóa rồi. Họ đấy, vô vô
minh minh. Đố nhà nước chi phối họ bằng cách nào.
Vả lại, nói ông đừng
cười, theo tôi, chính cái không chí chống Cộng đó, dù có vẻ tiêu cực
và cực đoan, “lỗi thời”, lại có cái khía cạnh tích cực của nó.
Nó tạo một cái thế cân bằng đối với chính quyền toàn trị ở trong nước.
Nó tạo nên cái đối cực rất cần thiết để thúc đẩy thay đổi. “Thuốc
đắng dã tật”. Những toa thuốc “cao đơn hoàn tán “ đó (như có người
chế giễu) lại có hiệu quả gấp bội so với những lời tán tụng nhà nước
CS. Dù khiên cưỡng đến mấy, có lúc người CS cũng nhận ra rằng, cái khối
người mà họ đã từng xem như bỏ đi đó, khi ra nước ngoài, đã tạo
nên những ảnh hưởng chính trị đáng kể, vừa trong nước họ đến định
cư mà còn trên các diễn đàn toàn cầu. Họ bắt đầu nói đến khúc ruột
ngàn dặm, tìm cách đưa người tiếp xúc với cộng đồng, tạo dễ dãi
cho những người về nước đầu tư, không kể họ đã trốn ra nước ngoài
bằng cách nào, và thậm chí về sau này, còn làm lơ với những người đã,
đang và tiếp tục tham gia các phong trào chống Cộng hải ngoại. Với sự
lên tiếng tức thời của cộng đồng hải ngoại tố cáo các hành vi bắt
người, đối xứ thô bạo với tù nhân của công an CS, nhà nước CS mỗi
ngày mỗi chùn bước. Số lượng những người dám đứng lên phê phán chế
độ tăng lên. Tiến trình dân chủ, từng bước một, thâm nhập ngay vào
trong hàng ngũ đảng viên, cán bộ. Nếu không có hải ngoại dấy động
phong trào, thì đời nào nhà nước CS VN chịu tiếp người tù lương tâm vĩ
đại Hoà Thượng Huyền Quang. Nếu không có hải ngoại thì các thầy Tuệ
sĩ, Lê Mạnh Thát đã bị ra pháp trường từ đời nảo đời nao, đâu có
còn đó cho ông lên án là vọng ngoại, phản đạo và phản quốc, phải
không ông?
Vâng, thưa ông Nhật
Nam, “Cộng đồng nầy là một nối dài của mô hình chính trị Sài
Gòn cũ với gần 200 tổ chức, 45 tờ báo, 6 đài phát thanh và 4 kênh truyền
hình có lập trường chống Cọng đơn điệu trước hàng trăm ngàn lượt
về thăm quê hương hàng năm của đồng bào tại California” (...) “Trong
môi trường xã hội chính trị đó, sinh hoạt của cộng đồng Phật tử
thật là khó định hình và định tính. Tìm cách tránh né để khỏi bị lôi
cuốn vào các hoạt động chính trị do các hội đoàn áp lực, không thu
hút được giới trẻ và trí thức, mỗi chùa là một ốc đảo, mỗi Thầy
là một tướng quân, trong đó còn có Tướng quân đã phải vác chiếu ra
tòa vị sách nhiễu tình dục nữ tín đồ. Còn thành phần cư sĩ thì chia
năm xẻ bảy, bị Công giáo kiềm tỏa trong cái mặc cảm giả tạo “thân
Cọng chống Ngô Đình Diệm nên làm mất nước” nên thu mình lại tụ tập
trong các Thiền đường tại gia hoặc chỉ tham gia các hoạt động nhân đạo
theo mùa. Hai trong số hơn 15 chùa ở Orange County (của hai Thầy VL và NS) có
khuynh hướng “Thống nhất” có vẻ năng động hơn thì thường thường
là cầm ống loa hoan hô đã đảo dưới ngọn cờ Liên Tôn chống Cọng của
mấy ông Cha, hoặc lâu lâu lại viết Thỉnh nguyện thư gửi cho các quan chức
Mỹ”
Cộng đồng gì mà bết
bát quá ông nhỉ? May là cộng đồng này chưa có thêm Năm Cam, chưa có
thêm Lã Thị Kim Oanh, chưa có dịch vụ bán gái qua Đài Loan, xuất khẩu
lao động qua Đại Hàn, chưa có một ông họ Nông lý lịch rất mơ hồ lên
làm Tổng Bí Thư (xin lỗi, nếu tôi nói điều này có phần xúc phạm đến
ông). Ngược lại, từ bao lâu, cộng đồng này đã và đang là con bò sữa,
hàng năm gửi về quê nhà một số tiền cả 3 tỷ đô la để giúp đỡ thân
nhân thiếu đói, giúp xây chùa, cứu trợ thiên tai bão lụt (mà ông làm bộ
quên đi, cho rằng chỉ có “đồng bào” về thăm quê hương, làm như những
“đồng bào” đó không có quan hệ gì với đám chống Cộng cực đoan, làm
như “đồng bào” đó không phải là dân đã ra đi vì kinh sợ chế độ
và làm như những người chống Cộng đó không bao giờ về thăm quê hương).
Ông cũng quên rằng hàng chục ngàn những “đồng bào” đó đã từng
tham gia cuộc xuống đường vĩ đại chống lại Trần Trường năm nào hay
như mới đây ở Úc, trên một chục ngàn “đồng bào” tham gia chống đài
SBS chiếu chương trình tuyên truyền CS.
Chưa hết, cộng đồng
đó đã tạo nên những khu Việt Nam sầm uất, đã mang văn hóa Việt Nam
xâm nhập các cộng đồng khác trên thế giới, đã bảo tồn tiếng Việt
và văn hóa Việt, đã tạo hẳn cả một giòng văn học, nghệ thuật đa dạng
vừa mang chất Việt Nam vừa mang tính quốc tế. Cộng đồng đó đã tạo
nên một thế hệ trẻ tài ba, đa năng, đa dụng với tinh thần cởi mở,
phóng khoáng sẵn sàng đóng góp với đất nước một khi đất nước hoàn
toàn dân chủ. Như ông thấy, từng bước một thế hệ trẻ này đã thay
thế thế hệ của chúng tôi đứng ra đảm trách các phong trào vận động
dân chủ. Nhân đây, xin mách với ông, nghị quyết HR 472 mà hạ viện Hoa Kỳ
vừa thông qua, cũng như cao trào “Cờ vàng” đang lan khắp đất nước
Hoa Kỳ (khiến ông Vũ Khoan đã cay đắng than phiền với nhà cầm quyền
Hoa Kỳ trong chuyến “công du” mới đây tại Hoa Kỳ) phần lớn là do
công sức vận động hiệu quả và không ngừng nghỉ của thế hệ đó. Với
sự hội nhập, với tài năng, với nhiệt huyết, họ đang càng ngày càng
ảnh hưởng vào các chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Ngày nào mà nhà cầm
quyền VN vẫn còn bướng bỉnh, vẫn tiếp tục con đường độc đoán thì
chắc chắn họ sẽ đụng phải cộng đồng tuổi trẻ đang lớn lên đó.
Chắc ông lại cho rằng các cháu đó đang bị cha anh “đầu độc”? Không
đâu, cháu nào cũng có dịp về VN tham quan và có người đã trực tiếp
làm việc rồi cả đấy! Họ – cũng như mọi người ở đây – thừa, chứ
không thiếu thông tin ở trong nước đâu, ông Nhật Nam ạ.
***
Thưa ông Nhật Nam, thư
bất tận ngôn, lời bất tận ý. Tôi chỉ muốn nói đôi điều nhưng sợ
không trải hết được tấm lòng mình đối với một người mà một thời
“keo sơn gắn bó” với giáo hội (Thống Nhất) “và một đất
nước mà tôi đang hãnh diện và thương yêu vô cùng” là ông, nên buộc
phải dài dòng. Tóm lại, theo ông thì:
- BT của thầy Tuệ Sĩ
dựa trên các thông tin ảo, mê man lụy vào bệnh chấp hình chấp tướng
- Thầy Tuệ Sĩ là bất
trí, phản đạo và phản quốc, tay sai của Mỹ.
- GHPGVNTN là sư tử trùng
- Cộng đồng người
Mỹ gốc Việt là bao gồm những tổ chức hầm bà lằng, nay hợp mai tan, lỗi
thời, mang một căn cước bán nước
- Nhà nước VN không
còn là CS nữa. Họ đang hóa thân, thay đổi xứng đáng để nhân dân tin cậy
và giao phó số mệnh cho họ.
- GHPGVN (nhà nước) xứng
đáng là giáo hội Phật Giáo duy nhất, vừa theo đúng lời Phật dạy và
không phản quốc.
- Những người viết
bài như ông Nhật Nam là yêu nước, yêu đạo.
Vậy thì, con đường
duy nhất để bảo vệ đạo pháp và dân tộc, theo ông là:
- Ủng hộ hết mình
các chính sách của nhà nước CSVN hiện nay.
- Ủng hộ GHPGVN vô
điều kiện, phủ nhận hoàn toàn GHPGVNTN
- Lên án thầy Tuệ Sĩ
- (Gđ bỏ nguyên
dòng)
Tôi thì lỗi thời và
lạc hậu hơn ông. Theo tôi:
- Sự tiến bộ của một
đất nước, không phải dựa trên sự xếp hàng, nhất nhất làm theo một
chỉ thị, một quan điểm mà là dựa trên sự khác biệt và đồng thuận.
- Xây dựng đất nước
không phải là công việc của một thế lực độc quyền nào.
Lý luận của ông,
nói thực, chẳng có gì mới mẻ, chỉ thay đi một số sự kiện và lời lẽ
tương đối nhẹ nhàng hơn so với kiểu viết trên báo Nhân Dân. Lý luận
của tôi cũng chẳng có gì mới, lập lại những gì những người đi trước
đã nói. Thế mà, hiện nay, ông chỉ có thể in bài của ông trên Giao Điểm
và tôi cũng chỉ có thể trả lời ông trên Giao Điểm. Đến khi nào thì
những bài như của ông và của tôi cùng xuất hiện trên báo Nhân Dân hay
Quân Đội Nhân Dân hay Tuổi Trẻ hay Đại Dân Tộc... trong nước nhỉ? Đến
khi nào thì điều 4 Hiến Pháp bị bỏ đi? Đến khi nào thì những sai lầm
mà người CS gây ra cho dân tộc VN được trả giá? Đến khi nào thì công
và tội của những người CS được mang ra soi xét minh bạch trước tòa
án nhân dân? Đến khi nào?
Khi nào những câu hỏi
đại loại như vậy chưa được trả lời trong thực tế thì các phong
trào tranh đấu, dưới hình thức này hay hình thức khác vẫn phải và vẫn
còn cơ hội tồn tại.

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net