08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes) Nghiên cứu & đối thoại tháng 12 quý bốn năm 2003 whiteball.gif (923 bytes)
 
Nơi gởi :       HUYỀN TÂM
                    7A KAMLANAGAR
                    INDIA
Kính dâng :   BAN TỔ CHỨC TANG LỄ
                    HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
                    716 NGUYỄN KIỆM
                    TP HỒ CHÍ MINH

            Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

            Kính bạch Chơn linh Sư,

            Trong giờ phút thiêng liêng này, Sư cho phép con được gọi Sư là Sư như những ngày con được sống bên Sư cũng như dầu Sư đã ra đi nhưng Sư vẫn hiển hiện trong con.

            Kính bạch Sư,

Tuệ Uyển ngày xưa ấy con không bao giờ quên được Sư ạ, những ngày mà chị em chúng con từ Cố đô Huế đặt chân đầu tiên trên mảnh đất Sài Gòn xa lạ. Cái thời mà chúng con ai nấy đều non choẹt như những chú chim non ngỡ ngàng trước cảnh phồn vinh của phố phường khác hẳn cố đô trầm lắng. Chúng con có biết đâu, bên góc đường Nguyễn Kiệm, đằng sau cái cổng sắt muôn đời khép kín ấy là tổ ấm của chúng con trong vòng tay Sư nuôi dưỡng và ấp ủ: Lớp học Thắng Man trên mảnh đất Tuệ Uyển.

            Kính bạch Sư,

            Con không thể nào quên được những ngày chị em con quây quần bên dãy bàn chữ U quanh Sư để nghe Sư chỉ dạy. Có lẽ thời gian đã bao lần thay đổi, hình dáng lớp học ngày xưa chắc không còn nữa nhưng ký ức con người vẫn lưu giữ rõ nét nhất những gì mà hầu như thời gian đã cuốn trôi tất cả.

            Thắng Man là nhân vật mà Sư thường yêu thích. Bà đã phát nhiều Đại  nguyện sau khi thành Phật để độ chúng sanh. Sư cũng muốn chúng con có một tinh thần đại hùng đại lực như Thắng Man phu nhân vậy. Nếu như có một nam nhi chi chí thì tại sao lại không có một nữ nhi chi chí. Sự thoát hoá từ một nữ nhi thường tình để vươn tới bậc đại trượng phu cũng là công việc của nữ nhi vậy. Đó là lý do lớp học Thắng Man ra đời. Sư thường dạy chúng con tu hành là phải có nguyện lực. Nguyện lực như cái roi sắt tấn mình, nhất là những lúc sống độc cư. Lời dạy của Sư giờ đây sao mà thấm thía đến thế. Sư ơi ! Nếu không có nguyện lực ấy thì làm sao con có thể vượt qua bao gian khó trong thời gian lâu xa quê như thế này.

            Con còn nhớ hồi đó tiếng Anh là môn khó nuốt nhất vì chỉ có Hán văn mới là quan trọng vì nó đi thẳng vào kinh điển, còn Anh văn được xem là ngoại điển vì thế có mấy ai học. Sư chăm sóc chúng con từng chút. Sư hân hoan khi chúng con thuộc bài dù chỉ nhớ có vài ba chữ. Sư lộ vẻ buồn khi trong số chị em con có người chẳng nhớ chữ nào. Sư đã dành nhiều thì giờ dạy chúng con Anh văn Phật pháp. Cho đến nay có duyên đi xa du học thế này con mới hiểu rằng tại sao hồi đó Sư khuyến khích chúng con học Anh văn. Đạo Phật ngày nay đã trở thành Tôn giáo của giới thức giả phương Tây. Ở đó, đạo Phật trở về đặc tính nguyên thuỷ của nó, không mang tính cách lễ bái và cầu nguyện như Đức Phật đã dạy : “Giáo pháp của ta là dành cho những người đến để thấy, không phải đến để tin”. Bởi lẽ một niềm tin thì có thể đúng hoặc sai nhưng cái mà bạn đã thấy bằng chính bạn thì đó phải là cái thấy đúng. Thấy đúng là cái nhìn tuệ giác về vô thường, vô ngã của cuộc đời. Có lẽ chính vì tuệ quán này, trong kho tàng nguyên thuỷ, kinh Trung bộ là Sư yêu thích nhất.

            Đối với chúng con hồi đó, kinh Trung bộ khô khan chi lạ, sao mà nó dài lê thê đến thế, nhưng những vần kinh đó đã trở thành sống động qua lời giảng của Sư. Sư thường nhắc đến ví dụ Phật dạy dục vọng như mũi tên, như cục bướu, như bịnh khổ, như hố than hừng. Người thoát khỏi dục vọng như người được khỏi bệnh, đã ra khỏi ngục tù. Dục vọng không những dẫn đến  đau khổ và nhục vọng cũng chính là đau khổ. Vì bản thân dục vọng là sự vận hành của cái tôi về tấm thân ngũ uẩn, một cái tôi thường quen chiếm hữu. Cũng như đèn cháy do dầu và bấc nhưng ánh sáng của đèn không ở trong dầu hay bấc, cái thân năm uẩn giả hợp này cũng thế, như huyển hoá, như ráng nắng, như bọt nước thì làm gì có cái của ta, bởi chính vạn vật của thế giới hiện tượng tự chúng cũng là duyên sanh, không thật có. Chỉ có Niết bàn là thực tại duy nhất, là cái thực tại duy nhất, là cái đang là, cái bạn đang sống. Sự ngấm ngầm của tư tưởng tánh không này đã mở màn một cuộc cách mạng trong tư tưởng truyền thống. Phật giáo đại thừa với Trung Quán luận là con đẻ của thai nghén đó. Vì thế chúng con luôn được học ở Sư một tư tưởng dung hoà của hai đại bộ mà duyên lý tánh không duyên khởi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt hai trường phái.

            Sư thường dạy chỉ quán phải song tu. Thiền không chỉ quán vô thường của cảm thọ khi ngồi nhưng cũng phải quán trong lúc đang sống những gì đang xảy ra chung quanh bởi lẽ sự sống là một điều kỳ diệu.Sự mầu nhiệm của cuộc sống bạn có thể tìm thấy trong những gì chung quanh bạn, bởi chúng nói với bạn thật nhiều. Ngắm một buổi chiều sắp tàn bạn sẽ nhận thấy rằng nó đẹp vì nó phù du. Nếu cuộc đời mà thường thì vạn vật sẽ đi vào cõi chết. Vẫn biết rằng vô thường là cốt lõi hiện hữu của cuộc đời, vậy mà sao chúng ta vẫn sợ, sợ đủ thứ trên đời, sợ mất những gì ta có, sợ lìa những gì ta thương, và nhất là sợ chết. Có lần Sư bảo, Cô luôn luôn sửa soạn cho mình một cái chết. Trước khi đi đâu Cô thường dọn phòng ốc sạch sẽ lỡ có khi chết ở đâu thì người ta không cho mình là một cô Ni ăn ở dơ dáy. Cái chết là đáng sợ nhất của con người, Sư đã không sợ thì tại sao chúng con lại sợ khi xa  Sư. Sư thích quán tánh không bởi đó là cái nhìn tuệ giác, trong cái sinh có cái diệt và trong cái diệt có cái sinh. Sư là bất sanh bất diệt bởi dòng nước có trôi đi nhưng dòng sông vẫn muôn đời hiện hữu. Đối tượng của tâm thức thực chứng không phải là siêu việt thế giới hiện tượng nhưng chính là thế giới hiện tượng. Người ta thường thích gán những từ ngữ kêu vang cho thế giới tâm linh của những bậc giác ngộ, nhưng có gì đâu, nó chỉ là một sự tỉnh thức về những gì xảy ra trong bạn và chung quanh bạn. Sư thường nhắc đến bài thuyết pháp không lời của Đức Phật mở đầu trong kinh Kim Cương :  Sau khi đi khát thực về, Đức Phật thọ trai, thọ trai xong, Ngài rửa bát và trải toạ cụ ngồi. Hạnh phúc trong tầm tay tại sao ta lại ra công tìm kiếm như gã cùng từ không nhà trong kinh Pháp Hoa. Chúng con còn thấy đâu đây trong vườn tuệ những vần tuyệt hảo của Sư: “Ánh triêu dương mát dịu, thanh bình, lặng lẽ mà vững chắc như một lời xác quyết vô ngôn: Từ đây không còn bóng tối. Phải chăng giây phút giác ngộ cũng bất thần như thế, chỉ cần hội đủ thời tiết nhân duyên. Chân lý cứng như kim cương mà cũng mềm mại như một đoá hồng và đẹp như bầu trời mai ở núi rừng sáng hôm nay.”

            Vậy thì cái gì vô thường, cái gì thường ? Câu hỏi đó dường như là không hợp lý. Con còn nhớ lời dạy của lục Tổ Huệ Năng trong kinh Pháp Bảo Đàn lúc Tổ được hỏi pháp tánh là gì. Lục Tổ đáp: Phật tánh là vô tường. Nếu Phật tánh mà thường thì Đức Phật đã không ra đời và giáo lý của Ngài sẽ trở nên vô dụng vì ai cũng giác ngộ cả. Bởi vô thường là thường hữu nên dù trôi lăn trong ba đường sinh tử cái bản tính giác ngộ của chúng sanh không bao giờ mất. Thì ra vậy, những lời dạy của Sư giờ đây con thấy thấm thía vô cùng trong những lúc làm nghiên cứu. Có phải chăng vì cái không là cái thường hữu nên hôm nay con thấy Sư hiển hiện khắp nơi. Sư phân thân vô số như cát sông Hằng. Con thấy Sư đang tươi cười trong lớp học những lúc chúng con thuộc bài, Sư đang giảng kinh trong chốn đạo tràng, con thấy Sư trong từng nụ cười trong vắt của đám thiếu nhi Tuệ Uyển, Sư hiển hiện trong từng trang sách của câu truyện dòng sông. Sư hiện diện trong thế hệ chúng con và mai sau.

            Sư ngưỡng mộ hạnh Bồ Tát. Sư thường nhắc đến câu: “ Ưng vô sở trú nhi sanh kỳ tâm “ trong kinh Kim Cang. Bồ Tát làm việc lành không toan tính, không vị tiếng khen. Bồ Tát hiện hữu giữa đời làm đẹp cuộc đời nhưng không thấy có một cái ta to tướng đã làm. Người có một nhân cách như thế luôn là đoá hoa hiện hữu giữa cõi đời. Con còn nhớ những vần thơ mà Sư thường yêu thích khi Sư ví hoa như một Bồ Tát :

            Đứng yên bên hàng giậu
            Em mỉm nụ nhiệm mầu
           Lặng nhìn em kinh ngạc
            Vừa thoáng nghe em hát
            Lời ca em thiên thu
            Ta lẳng lặng cúi đầu.

            Hoa nở không màn những người thờ ơ qua lại bên đường hay lên tiếng tôn xưng. Bởi hoa là hoa của đất, đất kham chịu những rác bẩn của đời không hề kêu ca để rồi dâng đời những tặng phẩm muôn mầu. Một khi bạn đã quản tưởng vô trú như thế để sanh tâm một cách thuần thục thì bạn sẽ thỏng tay vào chợ, thong dong giữa đời tự tại. Con còn nhớ hai câu thơ mà Sư thường nhắc: “ Tượng vương hồi xứ lạc hoa hồng, Sư tử hồng thời phương thảo lục “. Bồ tát đi vào đời làm đẹp cuộc đời như những con voi chúa quay đầu lại làm những cánh hồng rơi rụng thành màu hồng rực rỡ, như Sư tử một khi cất tiếng rống làm cỏ làm cỏ cây trở nên xanh biết. Bồ tát vào đời làm những làm những tâm hồn khô héo trở nên tràn đầy sức sống, giúp đâm chồi nảy lọc bản tính giác ngộ của chúng sanh, Bồ tát vào đời là để cho đời sức sống vì chính cuộc đời cho Bồ tát bài học yêu thương. Có phải chăng yêu thương là bản chất của cuộc đời như Nietzsche đã nói: “ Chúng ta yêu cuộc đời không phải chúng ta thường sống nhưng bởi vì chúng ta thường yêu “. Tình yêu đó đẹp biết bao một khi nó được thoát xác ra khỏi tình yêu của cái ta tầm thường để hoà nhập vào tình yêu nhân loại.

            Sư thích hoa, nhất là các hoa thường toả hương về đêm như Mai chấm thuỷ. Với những chùm trắng bé xíu, hoa nở cúi mặt xuống đất , không như những loài hoa khác hướng lên về phía mặt trời như Bồ tát thường làm việc lành nhưng không ai hay biết và luôn luôn lặng lẽ khiêm nhường như rác cỏ. Sư thích hạnh Bồ tát là vậy. Và hôm nay Sư đã ra đi trong hành Bồ tát hạnh. Một vị Bồ tát dù chết dưới hình thức nào thì đâu có đáng kể. Hạnh nguyện của Sư quá viên toàn tại sao con lại buồn rơi giọt lệ khi Sư đã ra đi. Sư ơi! Sư đi rồi nhưng lớp học vẫn còn đó, chiếc bàn ngày xưa Sư thường ngồi trong lớp học ai sẽ là người thay thế Sư sớm hôm giảng dạy, chẳng biết cây Mai chấm thuỷ sau phòng học rồi đây ai sẽ chiều chiều thường ra tưới nước, đàn em của chúng con vẫn đang còn non dại cần sự che chở của Sư , giờ đây như gà con mất mẹ. Con thật là đau xót.

            Kính bạch Sư, ngôn từ không đủ đêặ nói lên nỗi tê tái của con lúc này cũng như để diễn tả niềm tri ân kính ngưỡng của con đối với Sư và tình thương bao la dạy dỗ của Sư đối với chúng con. Chỉ còn vài giây phút nữa thôi là tấm thân tứ đại của Sư sẽ trở về cát bụi, con cố gắng để quán cái không của thế sự vô thường, cái không mà Sư thường dạy để thấy rằng Sư vẫn hiện hữu muôn nơi nhưng sao nước mắt vẫn tuôn trào. Con phải tự nhủ: Vâng, Sư là hoa mà, hoa trang điểm cuộc đời rồi hoa phải về với đất để giúp cỏ cây đâm chồi nẩy lộc, cho cuộc đời bất tuyệt mãi xanh tươi.

            Kính bạch Sư, con biết rằng khóc lóc lúc này Sư sẽ quở trách như Đức Phật quở trách chư vị Tỳ kheo trước lúc Ngài nhập Niết bàn. Con nghe văng vẳng đâu đây những câu kinh Di giáo mà Sư đã từng cùng chúng con đọc tụng mỗi tối trước khi đi ngủ: “ Này các tỳ kheo, không nên buồn rầu, nếu Như Lai ở đời lâu đến một đại kiếp nữa, thì sự kết hợp nào rồi cũng tan rã. Kết hợp mà không tan rã là điều không thể có được...Sau khi Ta tịch diệt các thầy hãy lấy giáo pháp của Ta mà làm thầy đẻ tự sách tấn tu hành sớm cầu tự độ... Làm được như thế là pháp thân của Ta thường trú...”

            Vâng, con sẽ nghe theo lời Sư chỉ giáo. Mỗi chúng con nguyện sẽ là một Thắng Man đi vào đời với đại nguyện độ sanh để báo đáp ân sư trải thân hành đạo và cũng đểtiếp nối chí nguyện của Sư. Con cũng sẽ chỉ bày cho đàn em chúng con như thế để những lời dạy và tâm nguyện của Sư được mãi mãi lưu truyền. Con kính tưởng có lẻ đây là tặng phẩm cao quý nhất mà hôm nay con đã đê đầu kính dâng Sư trước khi tiễn Sư về Phật quốc. Con thành kính bái biệt Sư. Ngưỡng mong Chơn linh Sư thuỳ từ chứng giám.   

                                                                             Dehli, 10.12.2003

    Cẩn bái
        Con
 Huyền Tâm

   

Mark_03.gif (833 bytes) Go to top page

half_under_water_sw.gif (3365 bytes)

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net