
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính bạch Chơn linh Sư,
Trong giờ phút thiêng liêng này, Sư cho phép con được gọi Sư là Sư
như những ngày con được sống bên Sư cũng như dầu Sư đã ra đi nhưng
Sư vẫn hiển hiện trong con.
Kính bạch Sư,
Tuệ Uyển
ngày xưa ấy con không bao giờ quên được Sư ạ, những ngày mà chị em
chúng con từ Cố đô Huế đặt chân đầu tiên trên mảnh đất Sài Gòn xa
lạ. Cái thời mà chúng con ai nấy đều non choẹt như những chú chim non ngỡ
ngàng trước cảnh phồn vinh của phố phường khác hẳn cố đô trầm lắng.
Chúng con có biết đâu, bên góc đường Nguyễn Kiệm, đằng sau cái cổng
sắt muôn đời khép kín ấy là tổ ấm của chúng con trong vòng tay Sư nuôi
dưỡng và ấp ủ: Lớp học Thắng Man trên mảnh đất Tuệ Uyển.
Kính bạch Sư,
Con không thể nào quên được những ngày chị em con quây quần bên
dãy bàn chữ U quanh Sư để nghe Sư chỉ dạy. Có lẽ thời gian đã bao lần
thay đổi, hình dáng lớp học ngày xưa chắc không còn nữa nhưng ký ức
con người vẫn lưu giữ rõ nét nhất những gì mà hầu như thời gian đã
cuốn trôi tất cả.
Thắng Man là nhân vật mà Sư thường yêu thích. Bà đã phát nhiều
Đại nguyện sau khi thành Phật để
độ chúng sanh. Sư cũng muốn chúng con có một tinh thần đại hùng đại lực
như Thắng Man phu nhân vậy. Nếu như có một nam nhi chi chí thì tại sao lại
không có một nữ nhi chi chí. Sự thoát hoá từ một nữ nhi thường tình
để vươn tới bậc đại trượng phu cũng là công việc của nữ nhi vậy.
Đó là lý do lớp học Thắng Man ra đời. Sư thường dạy chúng con tu hành
là phải có nguyện lực. Nguyện lực như cái roi sắt tấn mình, nhất là
những lúc sống độc cư. Lời dạy của Sư giờ đây sao mà thấm thía đến
thế. Sư ơi ! Nếu không có nguyện lực ấy thì làm sao con có thể vượt
qua bao gian khó trong thời gian lâu xa quê như thế này.
Con còn nhớ hồi đó tiếng Anh là môn khó nuốt nhất vì chỉ có
Hán văn mới là quan trọng vì nó đi thẳng vào kinh điển, còn Anh văn được
xem là ngoại điển vì thế có mấy ai học. Sư chăm sóc chúng con từng
chút. Sư hân hoan khi chúng con thuộc bài dù chỉ nhớ có vài ba chữ. Sư lộ
vẻ buồn khi trong số chị em con có người chẳng nhớ chữ nào. Sư đã
dành nhiều thì giờ dạy chúng con Anh văn Phật pháp. Cho đến nay có duyên
đi xa du học thế này con mới hiểu rằng tại sao hồi đó Sư khuyến khích
chúng con học Anh văn. Đạo Phật ngày nay đã trở thành Tôn giáo của giới
thức giả phương Tây. Ở đó, đạo Phật trở về đặc tính nguyên thuỷ
của nó, không mang tính cách lễ bái và cầu nguyện như Đức Phật đã dạy
: “Giáo pháp của ta là dành cho những người đến để thấy, không phải
đến để tin”. Bởi lẽ một niềm tin thì có thể đúng hoặc sai nhưng cái
mà bạn đã thấy bằng chính bạn thì đó phải là cái thấy đúng. Thấy
đúng là cái nhìn tuệ giác về vô thường, vô ngã của cuộc đời. Có lẽ
chính vì tuệ quán này, trong kho tàng nguyên thuỷ, kinh Trung bộ là Sư yêu
thích nhất.
Đối với chúng con hồi đó, kinh Trung bộ khô khan chi lạ, sao mà nó
dài lê thê đến thế, nhưng những vần kinh đó đã trở thành sống động
qua lời giảng của Sư. Sư thường nhắc đến ví dụ Phật dạy dục vọng
như mũi tên, như cục bướu, như bịnh khổ, như hố than hừng. Người thoát
khỏi dục vọng như người được khỏi bệnh, đã ra khỏi ngục tù. Dục
vọng không những dẫn đến đau khổ
và nhục vọng cũng chính là đau khổ. Vì bản thân dục vọng là sự vận
hành của cái tôi về tấm thân ngũ uẩn, một cái tôi thường quen chiếm
hữu. Cũng như đèn cháy do dầu và bấc nhưng ánh sáng của đèn không ở
trong dầu hay bấc, cái thân năm uẩn giả hợp này cũng thế, như huyển hoá,
như ráng nắng, như bọt nước thì làm gì có cái của ta, bởi chính vạn
vật của thế giới hiện tượng tự chúng cũng là duyên sanh, không thật
có. Chỉ có Niết bàn là thực tại duy nhất, là cái thực tại duy nhất,
là cái đang là, cái bạn đang sống. Sự ngấm ngầm của tư tưởng tánh
không này đã mở màn một cuộc cách mạng trong tư tưởng truyền thống.
Phật giáo đại thừa với Trung Quán luận là con đẻ của thai nghén đó.
Vì thế chúng con luôn được học ở Sư một tư tưởng dung hoà của hai
đại bộ mà duyên lý tánh không duyên khởi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt
hai trường phái.
Sư thường dạy chỉ quán phải song tu. Thiền không chỉ quán vô thường
của cảm thọ khi ngồi nhưng cũng phải quán trong lúc đang sống những gì
đang xảy ra chung quanh bởi lẽ sự sống là một điều kỳ diệu.Sự mầu
nhiệm của cuộc sống bạn có thể tìm thấy trong những gì chung quanh bạn,
bởi chúng nói với bạn thật nhiều. Ngắm một buổi chiều sắp tàn bạn
sẽ nhận thấy rằng nó đẹp vì nó phù du. Nếu cuộc đời mà thường thì
vạn vật sẽ đi vào cõi chết. Vẫn biết rằng vô thường là cốt lõi hiện
hữu của cuộc đời, vậy mà sao chúng ta vẫn sợ, sợ đủ thứ trên đời,
sợ mất những gì ta có, sợ lìa những gì ta thương, và nhất là sợ chết.
Có lần Sư bảo, Cô luôn luôn sửa soạn cho mình một cái chết. Trước
khi đi đâu Cô thường dọn phòng ốc sạch sẽ lỡ có khi chết ở đâu
thì người ta không cho mình là một cô Ni ăn ở dơ dáy. Cái chết là đáng
sợ nhất của con người, Sư đã không sợ thì tại sao chúng con lại sợ
khi xa Sư. Sư thích quán tánh không bởi
đó là cái nhìn tuệ giác, trong cái sinh có cái diệt và trong cái diệt có
cái sinh. Sư là bất sanh bất diệt bởi dòng nước có trôi đi nhưng dòng
sông vẫn muôn đời hiện hữu. Đối tượng của tâm thức thực chứng
không phải là siêu việt thế giới hiện tượng nhưng chính là thế giới
hiện tượng. Người ta thường thích gán những từ ngữ kêu vang cho thế
giới tâm linh của những bậc giác ngộ, nhưng có gì đâu, nó chỉ là một
sự tỉnh thức về những gì xảy ra trong bạn và chung quanh bạn. Sư thường
nhắc đến bài thuyết pháp không lời của Đức Phật mở đầu trong kinh
Kim Cương : Sau khi đi khát thực về,
Đức Phật thọ trai, thọ trai xong, Ngài rửa bát và trải toạ cụ ngồi.
Hạnh phúc trong tầm tay tại sao ta lại ra công tìm kiếm như gã cùng từ
không nhà trong kinh Pháp Hoa. Chúng con còn thấy đâu đây trong vườn tuệ
những vần tuyệt hảo của Sư: “Ánh triêu dương mát dịu, thanh bình, lặng
lẽ mà vững chắc như một lời xác quyết vô ngôn: Từ đây không còn
bóng tối. Phải chăng giây phút giác ngộ
cũng bất thần như thế, chỉ cần hội đủ thời tiết nhân duyên. Chân
lý cứng như kim cương mà cũng mềm mại như một đoá hồng và đẹp như
bầu trời mai ở núi rừng sáng hôm nay.”
Vậy thì cái gì vô thường, cái gì thường ? Câu hỏi đó dường
như là không hợp lý. Con còn nhớ lời dạy của lục Tổ Huệ Năng trong
kinh Pháp Bảo Đàn lúc Tổ được hỏi pháp tánh là gì. Lục Tổ đáp: Phật
tánh là vô tường. Nếu Phật tánh mà thường thì Đức Phật đã không ra
đời và giáo lý của Ngài sẽ trở nên vô dụng vì ai cũng giác ngộ cả.
Bởi vô thường là thường hữu nên dù trôi lăn trong ba đường sinh tử cái
bản tính giác ngộ của chúng sanh không bao giờ mất. Thì ra vậy, những lời
dạy của Sư giờ đây con thấy thấm thía vô cùng trong những lúc làm
nghiên cứu. Có phải chăng vì cái không là cái thường hữu nên hôm nay
con thấy Sư hiển hiện khắp nơi. Sư phân thân vô số như cát sông Hằng.
Con thấy Sư đang tươi cười trong lớp học những lúc chúng con thuộc
bài, Sư đang giảng kinh trong chốn đạo tràng, con thấy Sư trong từng nụ
cười trong vắt của đám thiếu nhi Tuệ Uyển, Sư hiển hiện trong từng
trang sách của câu truyện dòng sông. Sư hiện diện trong thế hệ chúng con
và mai sau.
Sư ngưỡng mộ hạnh Bồ Tát. Sư thường nhắc đến câu: “ Ưng vô
sở trú nhi sanh kỳ tâm “ trong kinh Kim Cang. Bồ Tát làm việc lành không
toan tính, không vị tiếng khen. Bồ Tát hiện hữu giữa đời làm đẹp cuộc
đời nhưng không thấy có một cái ta to tướng đã làm. Người có một
nhân cách như thế luôn là đoá hoa hiện hữu giữa cõi đời. Con còn nhớ
những vần thơ mà Sư thường yêu thích khi Sư ví hoa như một Bồ Tát :
Hoa nở không màn những người thờ ơ qua lại bên đường hay lên tiếng
tôn xưng. Bởi hoa là hoa của đất, đất kham chịu những rác bẩn của đời
không hề kêu ca để rồi dâng đời những tặng phẩm muôn mầu. Một khi
bạn đã quản tưởng vô trú như thế để sanh tâm một cách thuần thục
thì bạn sẽ thỏng tay vào chợ, thong dong giữa đời tự tại. Con còn nhớ
hai câu thơ mà Sư thường nhắc: “ Tượng vương hồi xứ lạc hoa hồng,
Sư tử hồng thời phương thảo lục “. Bồ tát đi vào đời làm đẹp cuộc
đời như những con voi chúa quay đầu lại làm những cánh hồng rơi rụng
thành màu hồng rực rỡ, như Sư tử một khi cất tiếng rống làm cỏ làm
cỏ cây trở nên xanh biết. Bồ tát vào đời làm những làm những tâm hồn
khô héo trở nên tràn đầy sức sống, giúp đâm chồi nảy lọc bản tính
giác ngộ của chúng sanh, Bồ tát vào đời là để cho đời sức sống vì
chính cuộc đời cho Bồ tát bài học yêu thương. Có phải chăng yêu thương
là bản chất của cuộc đời như Nietzsche đã nói: “ Chúng ta yêu cuộc
đời không phải chúng ta thường sống nhưng bởi vì chúng ta thường yêu
“. Tình yêu đó đẹp biết bao một khi nó được thoát xác ra khỏi tình
yêu của cái ta tầm thường để hoà nhập vào tình yêu nhân loại.
Sư thích hoa, nhất là các hoa thường toả hương về đêm như Mai chấm
thuỷ. Với những chùm trắng bé xíu, hoa nở cúi mặt xuống đất , không
như những loài hoa khác hướng lên về phía mặt trời như Bồ tát thường
làm việc lành nhưng không ai hay biết và luôn luôn lặng lẽ khiêm nhường
như rác cỏ. Sư thích hạnh Bồ tát là vậy. Và hôm nay Sư đã ra đi trong
hành Bồ tát hạnh. Một vị Bồ tát dù chết dưới hình thức nào thì đâu
có đáng kể. Hạnh nguyện của Sư quá viên toàn tại sao con lại buồn rơi
giọt lệ khi Sư đã ra đi. Sư ơi! Sư đi rồi nhưng lớp học vẫn còn đó,
chiếc bàn ngày xưa Sư thường ngồi trong lớp học ai sẽ là người thay
thế Sư sớm hôm giảng dạy, chẳng biết cây Mai chấm thuỷ sau phòng học
rồi đây ai sẽ chiều chiều thường ra tưới nước, đàn em của chúng
con vẫn đang còn non dại cần sự che chở của Sư , giờ đây như gà con mất
mẹ. Con thật là đau xót.
Kính bạch Sư, ngôn từ không đủ đêặ nói lên nỗi tê tái của
con lúc này cũng như để diễn tả niềm tri ân kính ngưỡng của con đối
với Sư và tình thương bao la dạy dỗ của Sư đối với chúng con. Chỉ
còn vài giây phút nữa thôi là tấm thân tứ đại của Sư sẽ trở về cát
bụi, con cố gắng để quán cái không của thế sự vô thường, cái không
mà Sư thường dạy để thấy rằng Sư vẫn hiện hữu muôn nơi nhưng sao
nước mắt vẫn tuôn trào. Con phải tự nhủ: Vâng, Sư là hoa mà, hoa trang
điểm cuộc đời rồi hoa phải về với đất để giúp cỏ cây đâm chồi
nẩy lộc, cho cuộc đời bất tuyệt mãi xanh tươi.
Kính bạch Sư, con biết rằng khóc lóc lúc này Sư sẽ quở trách như
Đức Phật quở trách chư vị Tỳ kheo trước lúc Ngài nhập Niết bàn. Con
nghe văng vẳng đâu đây những câu kinh Di giáo mà Sư đã từng cùng chúng
con đọc tụng mỗi tối trước khi đi ngủ: “ Này các tỳ kheo, không nên
buồn rầu, nếu Như Lai ở đời lâu đến một đại kiếp nữa, thì sự kết
hợp nào rồi cũng tan rã. Kết hợp mà
không tan rã là điều không thể có được...Sau khi Ta tịch diệt các thầy
hãy lấy giáo pháp của Ta mà làm thầy đẻ tự sách tấn tu hành sớm cầu
tự độ... Làm được như thế là pháp thân của Ta thường trú...”
Vâng, con sẽ nghe theo lời Sư chỉ giáo. Mỗi chúng con nguyện sẽ là
một Thắng Man đi vào đời với đại nguyện độ sanh để báo đáp ân sư
trải thân hành đạo và cũng đểtiếp nối chí nguyện của Sư. Con cũng sẽ
chỉ bày cho đàn em chúng con như thế để những lời dạy và tâm nguyện
của Sư được mãi mãi lưu truyền. Con kính tưởng có lẻ đây là tặng
phẩm cao quý nhất mà hôm nay con đã đê đầu kính dâng Sư trước khi tiễn
Sư về Phật quốc. Con thành kính bái biệt Sư. Ngưỡng mong Chơn linh Sư
thuỳ từ chứng giám.
Dehli, 10.12.2003

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net