08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes) Nghiên cứu & đối thoại tháng 12 quý bốn năm 2003 whiteball.gif (923 bytes)

Nhận định về bài nhận định của Ông Trần Chung Ngọc

Nguyễn Khanh Diễm

Duy Tùng, bạn trai của Phương Hạnh, em gái tôi, ghé qua đưa cho tôi một tập giấy 24 trang A4. Tùng cười cười bảo:

Chị Khanh Diễm nè, có tài liệu này hay lắm, em mới copy ở internet xuống, in ra mang cho chị đọc. Trong đó có người hùng của lòng chị!

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

Người hùng của lòng chị à? Ai vậy?

Duy Tùng tỏ ra vẻ bí mật:

Thì chị cứ đọc, rồi tự kiếm ra. Có 4 nhân vật trong đó. Chị nghĩ coi ai là hoàng tử của lòng mình!

Sau tràng cười sảng khoái, Duy Tùng bước đi. Tôi nhìn theo dáng người thanh niên mảnh khảnh, thư sinh, đầy nhiệt tâm và biết chăm lo hôm sớm học hành, trau dồi nhân cách. Tôi quý mến Duy Tùng, vì biết Tùng là chàng trai với tương lai đầy hứa hẹn, từ tâm, và Phật tử thuần thành. Phương Hạnh chắc chắn sẽ tìm thấy hạnh phúc bên chàng.

Cầm xấp tài liệu trên tay, tôi bước đến bàn viết và bắt đầu đọc. Tập tài liệu được chia ra làm 4 phần và đánh theo số thứ tự. Quả thật như Duy Tùng nói, đề tài hết sức hấp dẫn, tôi không thể ngưng ngang để đi làm bất cứ việc gì.

Bài đầu tiên của ông Nguyễn Đắc Xuân “Những bài học của lịch sử”.

Bài thứ hai của ông Lý Đại Giác "Sử gia không nên bẻ cong ngòi bút", bài này được in hai lần, một lần dài 8 trang trọn vẹn, một lần dài 4.5 trang kèm theo lời giới thiệu của Giao Điểm.

Bài thứ ba của ông Trần Chung Ngọc “Vài nhận định về bài “Đối Thoại” của Lý Đại Giác”

Bài thứ tư của ông Đoan Hùng NL Tiến. Đây không thể gọi là bài viết, vì tác giả viết dưới dạng một điện thư.

Tất cả bốn bài viết trên đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến Bạch Thư của Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (VHD - GHPGVNTN) do Thượng Tọa (TT) Tuệ Sỹ theo ủy nhiệm của Hoà Thượng Viện Trưởng VHD biên soạn.

Trước đây ba tuần, Duy Tùng đã mang đến tôi Bạch Thư của Thượng Tọa Tuệ Sỹ. Khi đọc Bạch Thư tôi đã khóc ròng. Những tâm tình TT Tuệ Sỹ nhắn nhủ trong Bạch Thư cứ khơi dậy trong lòng tôi suốt mấy ngày. Tôi nhớ mãi hình ảnh khổ hạnh, gầy gò ốm yếu của Thầy, tôi có lần tình cờ thấy trên internet. Lâu nay, tôi rất yêu thích các bài viết của của Thầy Tuệ Sỹ. Từ “Thanh sắc thi ca” qua “Lô Sơn chân diện mục”, tản mạn tới “Thơ vô đề”, đến “Thắng Man Giảng Luận”, “Duy Ma Cật Sở Thuyết”, hay “Tánh không luận là gì?” vv. dẫn dắt độc giả cảm nhận được những âm thanh huyền diệu của thi ca, tánh “bất khả tư nghì” của Phật giáo đại thừa. Gần đây, Tùng thường xuyên mang tới cho tôi các bài viết của Thầy Tuệ Sỹ về GHPGVNTN. Những Pháp nạn mà GH đang gánh chịu. Đọc “Sự biến Lương Sơn”, “Tâm thư gửi tăng sinh Thừa Thiên Huế”, đến “Bạch Thư” không khi nào tôi cầm được nước mắt vì lòng thương cảm bi mẫn thay cho chư Hoà Thượng, TT trong hội đồng lưỡng viện. Mỗi lần như thế, tôi thường ra trước bàn thờ Phật đảnh lễ và cầu nguyện chư Phật Tổ, chư Bồ Tát, chư Hộ Pháp Thiên Tôn từ bi gia hộ cho quý Thầy và Giáo Hội.

Có những lúc, tôi mơ ước mình là con trai, hoặc có khả năng trí tuệ và viết lách hơn, để có thể dấn thân hộ Pháp.

Nay thấy có nhiều vị trong trong nước cũng như hải ngoại, đang thực hiện nửa phần sau của  câu ngạn ngữ  “Quốc gia lâm nguy, thất phu hữu trách” (ở đây tôi chỉ thấy toàn là thất phu “đáng trách” không hà) lên tiếng bênh vực chính quyền Việt Nam, bênh vực cái gọi là Giáo Hội Phật Giáo Quốc Doanh, bênh vực những người phản lại Giới Luật của Đức Thế Tôn, lừa trên gạt dưới. Câu chuyện lường gạt 1'300 tân Giới Tử tại Giới Đàn Thiện Hoa vào 2-4 tháng 12 vừa qua, là một bằng chứng không thể chối cãi nổi. Giáo Hội Quốc Doanh chính là công cụ của nhà nước, các thầy Quốc Doanh chính là cán bộ Cộng Sản. Người anh họ tôi là một Giới Tử trong Giới Đàn Thiện Hoà. Anh đã kể cho tôi nghe những cảm giác đau buồn xâu xé ý nguyện xuất gia, khi các tân Giới Tử khám phá bị chính chư tôn đức truyền Giới lường gạt một cách bất lương, trắng trợn.

Lại nữa, nhà nước Việt Nam, lần đầu tiên sau 28 năm “giải phóng” đất nước, bị đồng bào Hải Ngoại và VHĐ VPII với sự hậu thuẫn của các nước tự do trên thế giới dồn vào thế bị động, bối rối. Trước đến giờ, nhà nước luôn luôn thô bạo đối với con dân, xử ức với Phật Giáo thuần túy, theo lời của ông Mai Chí Thọ, chủ tịch ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh: “Các thầy chỉ có hai con đường, theo hoặc chống. Các thầy theo, chúng tôi tạo điều kiện cho sinh hoạt. Các thầy chống, chúng tôi còn đủ xe tăng thiết giáp đó” . Vâng, nhà nước vẫn còn đủ xe tăng thiết giáp, sẵn sàng nghiền nát một Thiên An Môn.

Nếu thật sự, xe tăng thiết giáp nghiền nát Tòa Sen, thì cố Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương phải làm bài thơ ra sao? Liệu xe tăng thiết giáp có nghiền nát Trái Tim Bất Diệt của Bồ Tát Quảng Đức không?

Những bài viết của các ông Nhật Nam, Trần Thanh Hải (được Tùng trao từ trước) và Nguyễn Đắc Xuân bình luận (Gđ bỏ 2 chữ) Bạch Thư của TT Tuệ Sỹ. Dẫu biết rằng người Phật tử đối cảnh sinh tâm không tốt, song đọc những bài (của các ông) trên, dù những lời ngụy biện rất tài tình khéo léo, (Gđ bỏ 6 chữ) tâm tình Việt Nam truyền thống, lòng tôi cũng phừng lên lửa giận. Tôi ước mình có được cái khí khái của bà Triệu Thị Trinh, để “đạp làn sóng dữ, chém chết cá... (Gđ bỏ 5 chữ) !” Nhưng nghĩ đến việc sát sanh tạo nghiệp, chẳng tốt lành gì. Nên tôi đành bắt chước câu nói của các chị du kích trước đây: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, đánh giặc mà không cần giết hại chúng sinh. Nhà nước gọi là giặc đói, giặc dốt, còn Phật Giáo gọi là giặc vô minh, giặc phiền não.

Bài viết của ông Lý Đại Giác, không được Giao Điểm đăng trọn vẹn, ông Trần Chung Ngọc sử dụng phần còn lại với những chữ bị đục bỏ loang lổ, để viết bài nhận định. Tôi ca ngợi ông Trần Chung Ngọc, vì bài viết của ông hết sức tài tình. Ngay cả cách mượn lời của ông Lý Đại Giác để kết thúc bản nhận định của ông đã là một nghệ thuật hành văn tuyệt cao rồi. Chiêu này của ông rất giống võ công “gậy ông đập lưng ông” của nhà Mộ Dung Cô Tô. Nhưng tôi hơi thắc mắc, không biết rồi đây ông Lý Đại Giác sẽ viết bài gì để đối thoại với ông, song tôi cảm tưởng rằng cái kiểu võ của Mộ Dung Phục, không thể là đối thủ của Bắc Kiều Phong....(Gđ bỏ 10 chữ)

Trong khi chờ đợi phản ứng của ông Lý Đại Giác, tôi mạo muội viết bài này để nhận định về bài nhận định của ông Trần Chung Ngọc. Tôi cũng có lời thưa rằng, tôi phận nữ, chân yếu chân mềm, sở học chẳng được là bao, sở tri chỉ biết trong xó bếp, nồi niêu, xoong, chảo. Thế thành ra trong bài này, nếu tôi có lỡ từ lỡ chữ, thì xin chư ông đừng trách mắng nặng nề, (Gđ bỏ 3 chữ) ...để tôi hết lối lấy chồng thì tội lắm. Tôi cũng thưa với ông Trần Chung Ngọc rằng tôi chẳng phải là người trí thức như ông. Thưa trước, để ông Trần Chung Ngọc khỏi phải  giành thời gian viết đi viết lại nhiều lần (Gđ bỏ 2 chữ)  Khanh Diễm không phải là dân trí thức. (Gđ bỏ 3 dòng)

Trước khi được giãi bày suy nghĩ cùng ông Trần Chung Ngọc, tôi xin phép ông vài phút để có đôi hàng thưa cùng ông Lý Đại Giác, cho tôi được đưa ra ý kiến của mình, khi thấy một người thứ ba viết bài nhận xét văn phong nội dung bài đối thoại của ông Lý Đại Giác với ông Nguyễn Đắc Xuân. Kẻo không, ông Lý Đại Giác lại mắng tôi “vô giáo dục”, “ai mướn mi tài lanh” hay “đàn bà bép xép”, ông ấy (LĐG) cũng biết viết trả lời kia mà! Chẳng biết ông Nguyễn Đắc Xuân có cùng suy nghĩ như tôi hay suy nghĩ giống ông Lý Đại Giác khi mắng tôi không nhỉ???

Kính thưa ông Lý Đại Giác, em xin phép ông được đôi lời nhận xét đối với ông Trần Chung Ngọc, khi ông ta viết bài nhận định về bài viết của ông. Thưa ông, bài viết của ông đã cho em niềm tin vào ngày mai, niềm tin vào sự thật lịch sử, niềm tin vào khả năng của thanh niên Việt Nam hiện tại, dù rằng chương trình của nhà nước giáo dục chúng ta ra sao thì ông thấy đó. Một cậu Cử, chẳng biết Uy Viễn Tướng Công là ai. Một cô Tú, chẳng biết Bà Huyện Thanh Quan sống ở thời nào! Nhưng nhờ có internet, những con người hiếu học, có thể cập nhật hóa kiến thức toàn cầu, truy cứu kiến thức bách khoa từ ngàn năm trước. (Gđ bỏ 1 dòng)

Kính thưa ông Trần Chung Ngọc,

Trong phần đầu bài viết, ông phàn nàn “Rất tiếc là trang chủ Giao Điểm đã đục bỏ một số đoạn trong bài viết của ông Lý Đại Giác nếu không chúng ta đã có thể biết rõ hơn về con người của Lý Đại Giác.”  Bình thường, nếu một người trí thức như ông, chắc hẳn đã viết qua những bài khảo cứu khoa học. Để viết bài khoa học thì người viết phải làm research. Vấn đề có đầy đủ tài liệu tham khảo là điều kiện cần và đủ để viết bài nhận xét nghiêm chỉnh. Ngược lại không có tài liệu đầy đủ mà đã đưa ra lẽ nọ lời kia, thì không tránh khỏi ấu trĩ. Hơn nữa trong thế giới hiện tại việc tìm kiếm tài liệu không hề khó khăn. Bài viết của ông Lý Đại Giác có đăng trên nhiều trang chủ khác và ông Lý Đại Giác có để email ở phần cuối bài viết. Nếu ông không kiếm đâu ra tài liệu, thì ông có thể gửi điện thư cho ông Lý Đại Giác, yêu cầu ông ta gửi cho ông bài viết đầy đủ. Nên tôi khuyên ông, lần sau muốn viết lách, ông nên truy tầm tư liệu đầy đủ. Chỉ có vậy ông mới xứng danh trí thức. Chính ông có viết rằng: “thiếu thông tin tất nhiên đưa đến những sai lầm và lạc hậu. Sai lầm là không đúng sự thật...”

Nhiều đoạn trong bài, ông chỉ trích ông Lý Đại Giác về tật “đoán mò” nhưng chính ông cũng đã đoán mò nhiều chỗ. Ông cho rằng ông Lý Đại Giác phải là “đệ tử ruột” hay tối thiểu là “Một Hạt Lúa Chắc” của Thầy Tuệ Sỹ. Cái đó không phải là đoán mò sao? Ông có thể bảo sau khi phân tích, ta có thể rút ra kết luận, tam đoạn luận, rất logic và đơn giản. Thì ông Lý Đại Giác cũng có thể phân tích việc thật, con người thật của ông Nguyễn Đắc Xuân, để đưa ra giả thiết và kết luận. Tôi xin điển hình cho ông một mạch suy nghĩ như vầy: Nếu các tu chính luật của Hoa Kỳ và Liên Âu không quan trọng và đúng là “ấm ớ” như ông viết, thì ông Nhật Nam không phải viết   Nỗ lực biện giải này, một cách gián tiếp, cũng nhằm tìm cách hóa giải lời cáo buộc thành văn của Nhà nước Việt Nam trước đó là GHPGVNTN đã “có quan hệ với các lực lượng thù nghịch nước ngoài” mà hệ quả mới nhất và tác hại nhất là hai Nghị quyết tại Mỹ và Âu châu nói trên.’ Chính ông Nhật Nam cũng phải nhận xét là “hệ quả mới và tai hại”, còn ông lại cho là ấm ớ, thế thì qua lời nhận định này ông đã gián tiếp xúc phạm đến ông Nhật Nam và nói ông Nhật Nam là cường điệu hóa vấn đề. Hơn nữa, nếu hai nghị quyết này không quan trọng thì nhà nước CHXHCNVN đã chẳng nhảy dựng lên qua các bài báo phản bác, cũng như lời phát biểu của ông Lê Dũng, phát ngôn nhân bộ Ngoại Giao, có ảnh hưởng trầm trọng đến vấn đề ngoại giao song phương giữa Việt Nam, Hoa Kỳ và Liên Âu. Nhà nước đã không phải nhờ đến ngài Trí Quảng dối gạt 1'300 Giới Tử tại Giới Đàn Thiện Hoa ký tên phản bác nghị quyết HR 427! Vậy cho nên, tôi thấy hai việc làm và hai kiểu “đoán mò” của ông và ông Lý Đại Giác không khác gì nhau, đều dựa trên tinh thần phân tích khoa học. Thế tại sao ông có thể “đoán mò”, trong khi ông lại chỉ trích người khác không được đoán mò? Phải rồi ông cũng giống như Đảng CSVN, giành riêng cho mình quyền yêu nước, ông thì giành riêng quyền đoán mò!

Bài nhận định của ông cũng như điện thư của ông Đoan Hùng NL Tiến đều đưa ra những giả thuyết cụ thể (ông Đoan Hùng NLT) hoặc gián tiếp (ông Trần Chung Ngọc) cho rằng ông Lý Đại Giác là một lão trượng, giả dạng thanh niên, lọm khọm thắp sáng niềm tin. Vì các ông cho rằng một người trẻ không thể nào biết đến quá khứ của ông Nguyễn Đắc Xuân, đến tính cách của ông Xuân... khi tác giả chưa sanh ra đời. Nhưng các ông quên một câu nhân gian truyền khẩu: “nếu không muốn người ta biết thì đừng có làm”. Chuyện hiện tại bao nhiên người cùng thời với ông Xuân còn sống, đã tạo điều kiện để tác giả Lý Đại Giác tìm hiểu về ông Xuân. (Gđ bỏ 6 chữ) song các ông nêu lên những giả thuyết hết sức nông cạn. Cứ theo hai ông trong những giả thuyết trên thì nếu ngày nay khi đọc những câu nói bất hủ của tiền nhân: “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc” (Trần Bình Trọng), hoặc là “Nếu bệ hạ muốn hàng, hãy chém đầu thần trước đã” (Hưng Đạo Vương), các ông sẵn sàng bảo đó là lời phịa đặt sao? Các soạn giả Trần Trọng Kim, Phạm Văn Sơn nào có sanh vào đời Trần đâu mà biết? Cái bệnh “đoán mò” phiến diện của các ông giống nhau không thể tưởng được.

Những vấn đề thuộc về văn hiến, lập quốc của Việt Nam còn đang là những đề tài thảo luận. Người Việt Nam thường bảo: với nền văn hóa bốn ngàn năm, song không ít người cho rằng Việt Nam mới thật sự có được nền văn hiến tự chủ từ khi Đinh Tiên Hoàng dẹp tan loạn Thập Nhị Sứ Quân mà thôi. Lối nói ấy quen rồi! Đạo Phật truyền bá vào Việt Nam có phải là 2000 hay mới 1850 năm, không phải là cốt lõi để thảo luận. Muốn tham khảo thêm ý kiến và kiến thức về chuyện này, xin ông đọc thêm các tài liệu của viện nghiên cứu sử học Hà Nội, hay các sách mới xuất bản của GS Lê Mạnh Thát.

Phần kế tiếp trong đoạn văn xóa bỏ tính truyền thống của GHPGVNTN, ông viết rằng “thứ ba, Phật Giáo có 8'400 Pháp môn, có nhiều tông phái khác nhau, nên cái gì gọi là thống nhất, cái gì gọi là chính thống? Tự cho mình là chính thống hàm ý gạt bỏ môi tông phái, tổ chức Phật Giáo khác, một quan điểm cống cao ngã mạn không thể chấp nhận trong tinh thần Phật Giáo.”  Điểm này ông nêu lên hoàn toàn xác đáng. Tôi thầm nghĩ ông cũng hiểu tại sao Phật Giáo có đến 8'400 Pháp môn. Và đúng như ông nói, mỗi người tùy theo căn cơ của mình, nương theo mà tu tập. Thế sao nhà nước Việt Nam không thể chấp nhận cho GHPGVNTN được phục hoạt như một Pháp môn? Quan điểm cống cao ngã mạn của nhà nước CS và GHPGVN Quốc Doanh theo ông có thể chấp nhận được sao? Theo bài “Thưa với TT Tuệ Sĩ” của một ông Công Dân Việt Nam, ông ta cho biết: “Song một điều không thể chối cãi được là dù không tuyên bố nhưng ai cũng phải thừa nhận rằng Phật giáo ngày nay đã gần như trở thành quốc giáo của nước Việt Nam thống nhất.” Thế quốc giáo mà chỉ có quốc doanh thôi sao? 8'400 Pháp môn quy nguyên (quốc doanh) cả hỉ? (Vạn Pháp Quy Nguyên). Và xin ông “cũng đừng hạ thấp Phật Giáo qua cái tâm chất (Gđ bỏ 4 chữ) của mình” để bắt Phật Giáo làm công cụ sai xử của chính quyền.

Ông đã trích dẫn đoạn đối đáp giữa Ngài Văn Thù Sư Lợi và Ngài Duy Ma Cật về Pháp môn bất nhị, kinh văn trong Duy Ma Cật Sở Thuyết. Thật khéo! Ông cũng muốn rằng Ngài Tuệ Sỹ nếu hành thâm Pháp môn bất nhị thì phải im lặng như ngài Duy Ma Cật phải vậy không ạ? Nếu ông cũng là Phật tử, hẳn bài chú Bát Nhã Ba La Mật Tâm Kinh không còn lạ gì với ông cả. Mở đầu bài chú viết : ‘Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa, thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, đoạn nhất thiết khổ ách..’ (Bồ Tát Quán Tự Tại sau khi hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa, thì thấy được ngũ uẩn là không, qua được tất cả khổ nạn). Dù biết Ngũ Uẩn là Không, song hạnh nguyện của Ngài Quán Tự Tại như thế nào chắc ông cũng hiểu. Nhưng xin ông cũng không nên quên bài Chú Đại Bi, trong bài Chú này đều là những tên của các hoá thân của ngài Quán Tự Tại. Trong đó, có các hoá thân là Hộ Pháp mặt đen, cầm búa lớn, dữ dằn để hàng phục ma vương, ma quân, ma con, ma cháu. Thế thì dù Ngài Tuệ Sỹ có hành thâm Pháp Môn Bất Nhị, như ông Lý Đại Giác viết, thì ngài cũng có thể thực hiện các hạnh nguyện của Bồ Tát như ngài Quán Tự Tại chứ? Bạch Thư, Tâm Thư, Sự Biến Lương Sơn, Văn Minh Tiểu Phẩm, theo tôi (không phải là TT Tuệ Sỹ) chỉ là con thuyền Bát Nhã, phương tiện diệu dụng để chuyên chở chúng sinh qua bờ giác. Bến mê là sự che lừa dối giá của cộng sản. Bờ giác là sự sáng tỏ của chân pháp. Khi qua đến bờ giác rồi, thì con thuyền Bát Nhã phải bỏ đi! Đừng ôm theo kè kè, mệt lắm. Chính vì Nhập Thể Tánh Không, nên Bồ Tát không bị vướng chấp. Và thật thấy rằng ‘Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắt tức thị không, không tức thị sắc... Thị chư pháp không tướng, bất tăng bất giảm, bất sanh bất diệt...’ (Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc chính là không, không chính là sắc...  Tất cả các Pháp đều không tướng, không tăng, không giảm, không sanh không diệt). (Gđ bỏ 5 chữ)

Kính thưa ông Trần Chung Ngọc, để kết thúc bài này, tôi xin mượn ... lời kết của ông Lý Đại Giác và của ông để đóng những lời nghị luận lại:

“Còn hàng chục điều không đúng sự thật trong bài viết của ông, tôi muốn trình bày để ông tỏ tường, song Đức Khổng Phu Tử có dạy rằng “Giáo Đa Thành Oán” (Dạy nhiều quá, người ta oán hận), hoặc “Cái giường có bốn góc, chỉ ba góc, còn góc thứ tư phải tự tìm lấy!” Nên xin ông hãy tĩnh tâm suy nghĩ, biết đâu ông chẳng ngộ ra chỗ tôi chưa phân tích.”  (Gđ bỏ 3 dòng)

Sài Gòn, 19.12.2003
Nguyễn Khanh Diễm
khanhdiem_nguyen@yahoo.com

          * Những dòng chữ bị đục bỏ do sự vi phạm những quy định của GĐ. Thành thật cáo lỗi cùng tác giả.

Mark_03.gif (833 bytes) Go to top page

half_under_water_sw.gif (3365 bytes)

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net