
Nhận
định về bài nhận định của Ông Trần Chung Ngọc
Nguyễn
Khanh Diễm
Duy
Tùng, bạn trai của Phương Hạnh, em gái tôi, ghé qua đưa cho tôi một tập
giấy 24 trang A4. Tùng
cười cười bảo:
Chị
Khanh Diễm nè, có tài liệu này hay lắm, em mới copy ở internet xuống, in
ra mang cho chị đọc. Trong đó có người hùng của lòng chị!
Tôi
ngạc nhiên hỏi lại:
Người
hùng của lòng chị à? Ai vậy?
Duy
Tùng tỏ ra vẻ bí mật:
Thì
chị cứ đọc, rồi tự kiếm ra. Có 4 nhân vật trong đó. Chị nghĩ coi ai
là hoàng tử của lòng mình!
Sau
tràng cười sảng khoái, Duy Tùng bước đi. Tôi nhìn theo dáng người thanh
niên mảnh khảnh, thư sinh, đầy nhiệt tâm và biết chăm lo hôm sớm học
hành, trau dồi nhân cách. Tôi quý mến Duy Tùng, vì biết Tùng là chàng trai
với tương lai đầy hứa hẹn, từ tâm, và Phật tử thuần thành. Phương
Hạnh chắc chắn sẽ tìm thấy hạnh phúc bên chàng.
Cầm
xấp tài liệu trên tay, tôi bước đến bàn viết và bắt đầu đọc. Tập
tài liệu được chia ra làm 4 phần và đánh theo số thứ tự. Quả thật
như Duy Tùng nói, đề tài hết sức hấp dẫn, tôi không thể ngưng ngang để
đi làm bất cứ việc gì.
Bài
đầu tiên của ông Nguyễn Đắc Xuân “Những bài học của lịch sử”.
Bài
thứ hai của ông Lý Đại Giác "Sử gia không nên bẻ cong ngòi
bút", bài này được in hai lần, một lần dài 8 trang trọn vẹn, một
lần dài 4.5 trang kèm theo lời giới thiệu của Giao Điểm.
Bài
thứ ba của ông Trần Chung Ngọc “Vài nhận định về bài “Đối Thoại”
của Lý Đại Giác”
Bài
thứ tư của ông Đoan Hùng NL Tiến. Đây không thể gọi là bài viết, vì
tác giả viết dưới dạng một điện thư.
Tất
cả bốn bài viết trên đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến Bạch
Thư của Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (VHD -
GHPGVNTN) do Thượng Tọa (TT) Tuệ Sỹ theo ủy nhiệm của Hoà Thượng Viện
Trưởng VHD biên soạn.
Trước
đây ba tuần, Duy Tùng đã mang đến tôi Bạch Thư của Thượng Tọa Tuệ Sỹ.
Khi đọc Bạch Thư tôi đã khóc ròng. Những tâm tình TT Tuệ Sỹ nhắn nhủ
trong Bạch Thư cứ khơi dậy trong lòng tôi suốt mấy ngày. Tôi nhớ mãi
hình ảnh khổ hạnh, gầy gò ốm yếu của Thầy, tôi có lần tình cờ thấy
trên internet. Lâu nay, tôi rất yêu thích các bài viết của của Thầy Tuệ
Sỹ. Từ “Thanh sắc thi ca” qua “Lô Sơn chân diện mục”, tản mạn tới
“Thơ vô đề”, đến “Thắng Man Giảng Luận”, “Duy Ma Cật Sở Thuyết”,
hay “Tánh không luận là gì?” vv. dẫn dắt độc giả cảm nhận được
những âm thanh huyền diệu của thi ca, tánh “bất khả tư nghì” của Phật
giáo đại thừa. Gần đây, Tùng thường xuyên mang tới cho tôi các bài viết
của Thầy Tuệ Sỹ về GHPGVNTN. Những Pháp nạn mà GH đang gánh chịu. Đọc
“Sự biến Lương Sơn”, “Tâm thư gửi tăng sinh Thừa Thiên Huế”, đến
“Bạch Thư” không khi nào tôi cầm được nước mắt vì lòng thương cảm
bi mẫn thay cho chư Hoà Thượng, TT trong hội đồng lưỡng viện. Mỗi lần
như thế, tôi thường ra trước bàn thờ Phật đảnh lễ và cầu nguyện
chư Phật Tổ, chư Bồ Tát, chư Hộ Pháp Thiên Tôn từ bi gia hộ cho quý Thầy
và Giáo Hội.
Có
những lúc, tôi mơ ước mình là con trai, hoặc có khả năng trí tuệ và viết
lách hơn, để có thể dấn thân hộ Pháp.
Nay
thấy có nhiều vị trong trong nước cũng như hải ngoại, đang thực hiện
nửa phần sau của câu ngạn ngữ “Quốc gia lâm nguy, thất phu hữu trách”
(ở đây tôi chỉ thấy toàn là thất phu “đáng trách” không hà) lên tiếng
bênh vực chính quyền Việt Nam, bênh vực cái gọi là Giáo Hội Phật Giáo
Quốc Doanh, bênh vực những người phản lại Giới Luật của Đức Thế Tôn,
lừa trên gạt dưới. Câu chuyện lường gạt 1'300 tân Giới Tử tại Giới
Đàn Thiện Hoa vào 2-4 tháng 12 vừa qua, là một bằng chứng không thể chối
cãi nổi. Giáo Hội Quốc Doanh chính là công cụ của nhà nước, các thầy
Quốc Doanh chính là cán bộ Cộng Sản. Người anh họ tôi là một Giới Tử
trong Giới Đàn Thiện Hoà. Anh đã kể cho tôi nghe những cảm giác đau buồn
xâu xé ý nguyện xuất gia, khi các tân Giới Tử khám phá bị chính chư tôn
đức truyền Giới lường gạt một cách bất lương, trắng trợn.
Lại
nữa, nhà nước Việt Nam, lần đầu tiên sau 28 năm “giải phóng” đất
nước, bị đồng bào Hải Ngoại và VHĐ VPII với sự hậu thuẫn của các
nước tự do trên thế giới dồn vào thế bị động, bối rối. Trước đến
giờ, nhà nước luôn luôn thô bạo đối với con dân, xử ức với Phật
Giáo thuần túy, theo lời của ông Mai Chí Thọ, chủ tịch ủy ban nhân dân
TP Hồ Chí Minh: “Các thầy chỉ có hai con đường, theo hoặc chống.
Các thầy theo, chúng tôi tạo điều kiện cho sinh hoạt. Các thầy chống,
chúng tôi còn đủ xe tăng thiết giáp đó” . Vâng, nhà nước vẫn còn
đủ xe tăng thiết giáp, sẵn sàng nghiền nát một Thiên An Môn.
Nếu
thật sự, xe tăng thiết giáp nghiền nát Tòa Sen, thì cố Thi Sĩ Vũ Hoàng
Chương phải làm bài thơ ra sao? Liệu xe tăng thiết giáp có nghiền nát
Trái Tim Bất Diệt của Bồ Tát Quảng Đức không?
Những
bài viết của các ông Nhật Nam, Trần Thanh Hải (được Tùng trao từ trước)
và Nguyễn Đắc Xuân bình luận (Gđ bỏ 2 chữ) Bạch Thư của TT Tuệ
Sỹ. Dẫu biết rằng người Phật tử đối cảnh sinh tâm không tốt, song
đọc những bài (của các ông) trên, dù những lời ngụy biện rất tài
tình khéo léo, (Gđ bỏ 6 chữ) tâm tình Việt Nam truyền thống, lòng
tôi cũng phừng lên lửa giận. Tôi ước mình có được cái khí khái của
bà Triệu Thị Trinh, để “đạp làn sóng dữ, chém chết cá... (Gđ bỏ
5 chữ) !” Nhưng nghĩ đến việc sát sanh tạo nghiệp, chẳng tốt lành
gì. Nên tôi đành bắt chước câu nói của các chị du kích trước đây:
“Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, đánh giặc mà không cần giết hại
chúng sinh. Nhà nước gọi là giặc đói, giặc dốt, còn Phật Giáo gọi
là giặc vô minh, giặc phiền não.
Bài
viết của ông Lý Đại Giác, không được Giao Điểm đăng trọn vẹn, ông
Trần Chung Ngọc sử dụng phần còn lại với những chữ bị đục bỏ
loang lổ, để viết bài nhận định. Tôi ca ngợi ông Trần Chung Ngọc, vì
bài viết của ông hết sức tài tình. Ngay cả cách mượn lời của ông
Lý Đại Giác để kết thúc bản nhận định của ông đã là một nghệ
thuật hành văn tuyệt cao rồi. Chiêu này của ông rất giống võ công “gậy
ông đập lưng ông” của nhà Mộ Dung Cô Tô. Nhưng tôi hơi thắc mắc, không
biết rồi đây ông Lý Đại Giác sẽ viết bài gì để đối thoại với
ông, song tôi cảm tưởng rằng cái kiểu võ của Mộ Dung Phục, không thể
là đối thủ của Bắc Kiều Phong....(Gđ bỏ 10 chữ)
Trong
khi chờ đợi phản ứng của ông Lý Đại Giác, tôi mạo muội viết bài
này để nhận định về bài nhận định của ông Trần Chung Ngọc. Tôi cũng
có lời thưa rằng, tôi phận nữ, chân yếu chân mềm, sở học chẳng được
là bao, sở tri chỉ biết trong xó bếp, nồi niêu, xoong, chảo. Thế thành
ra trong bài này, nếu tôi có lỡ từ lỡ chữ, thì xin chư ông đừng trách
mắng nặng nề, (Gđ bỏ 3 chữ) ...để tôi hết lối lấy chồng thì
tội lắm. Tôi cũng thưa với ông Trần Chung Ngọc rằng tôi chẳng phải
là người trí thức như ông. Thưa trước, để ông Trần Chung Ngọc khỏi
phải giành thời gian viết đi viết lại
nhiều lần (Gđ bỏ 2 chữ) Khanh
Diễm không phải là dân trí thức. (Gđ bỏ 3 dòng)
Trước
khi được giãi bày suy nghĩ cùng ông Trần Chung Ngọc, tôi xin phép ông vài
phút để có đôi hàng thưa cùng ông Lý Đại Giác, cho tôi được đưa ra
ý kiến của mình, khi thấy một người thứ ba viết bài nhận xét văn
phong nội dung bài đối thoại của ông Lý Đại Giác với ông Nguyễn Đắc
Xuân. Kẻo không, ông Lý Đại Giác lại mắng tôi “vô giáo dục”, “ai
mướn mi tài lanh” hay “đàn bà bép xép”, ông ấy (LĐG) cũng biết viết
trả lời kia mà! Chẳng biết ông Nguyễn Đắc Xuân có cùng suy nghĩ như tôi
hay suy nghĩ giống ông Lý Đại Giác khi mắng tôi không nhỉ???
Kính
thưa ông Lý Đại Giác, em xin phép ông được đôi lời nhận xét đối với
ông Trần Chung Ngọc, khi ông ta viết bài nhận định về bài viết của
ông. Thưa ông, bài viết của ông đã cho em niềm tin vào ngày mai, niềm tin
vào sự thật lịch sử, niềm tin vào khả năng của thanh niên Việt Nam hiện
tại, dù rằng chương trình của nhà nước giáo dục chúng ta ra sao thì
ông thấy đó. Một cậu Cử, chẳng biết Uy Viễn Tướng Công là ai. Một
cô Tú, chẳng biết Bà Huyện Thanh Quan sống ở thời nào! Nhưng nhờ có
internet, những con người hiếu học, có thể cập nhật hóa kiến thức
toàn cầu, truy cứu kiến thức bách khoa từ ngàn năm trước. (Gđ bỏ 1
dòng)
Kính
thưa ông Trần Chung Ngọc,
Trong
phần đầu bài viết, ông phàn nàn “Rất tiếc là trang chủ Giao Điểm đã
đục bỏ một số đoạn trong bài viết của ông Lý Đại Giác nếu không
chúng ta đã có thể biết rõ hơn về con người của Lý Đại Giác.” Bình thường, nếu một người trí thức
như ông, chắc hẳn đã viết qua những bài khảo cứu khoa học. Để viết
bài khoa học thì người viết phải làm research. Vấn đề có đầy đủ tài
liệu tham khảo là điều kiện cần và đủ để viết bài nhận xét
nghiêm chỉnh. Ngược lại không có tài liệu đầy đủ mà đã đưa ra lẽ
nọ lời kia, thì không tránh khỏi ấu trĩ. Hơn nữa trong thế giới hiện
tại việc tìm kiếm tài liệu không hề khó khăn. Bài viết của ông Lý Đại
Giác có đăng trên nhiều trang chủ khác và ông Lý Đại Giác có để email
ở phần cuối bài viết. Nếu ông không kiếm đâu ra tài liệu, thì ông
có thể gửi điện thư cho ông Lý Đại Giác, yêu cầu ông ta gửi cho ông
bài viết đầy đủ. Nên tôi khuyên ông, lần sau muốn viết lách, ông nên
truy tầm tư liệu đầy đủ. Chỉ có vậy ông mới xứng danh trí thức.
Chính ông có viết rằng: “thiếu thông tin tất nhiên đưa đến những
sai lầm và lạc hậu. Sai lầm là không đúng sự thật...”
Nhiều
đoạn trong bài, ông chỉ trích ông Lý Đại Giác về tật “đoán mò” nhưng
chính ông cũng đã đoán mò nhiều chỗ. Ông cho rằng ông Lý Đại Giác phải
là “đệ tử ruột” hay tối thiểu là “Một Hạt Lúa Chắc” của Thầy
Tuệ Sỹ. Cái đó không phải là đoán mò sao? Ông có thể bảo sau khi phân
tích, ta có thể rút ra kết luận, tam đoạn luận, rất logic và đơn giản.
Thì ông Lý Đại Giác cũng có thể phân tích việc thật, con người thật
của ông Nguyễn Đắc Xuân, để đưa ra giả thiết và kết luận. Tôi xin
điển hình cho ông một mạch suy nghĩ như vầy: Nếu các tu chính luật của
Hoa Kỳ và Liên Âu không quan trọng và đúng là “ấm ớ” như ông viết,
thì ông Nhật Nam không phải viết ‘Nỗ
lực biện giải này, một cách gián tiếp, cũng nhằm tìm cách hóa giải lời
cáo buộc thành văn của Nhà nước Việt Nam trước đó là GHPGVNTN đã “có
quan hệ với các lực lượng thù nghịch nước ngoài” mà hệ quả mới
nhất và tác hại nhất là hai Nghị quyết tại Mỹ và Âu châu nói trên.’
Chính ông Nhật Nam cũng phải nhận xét là “hệ quả mới và tai hại”,
còn ông lại cho là ấm ớ, thế thì qua lời nhận định này ông đã gián
tiếp xúc phạm đến ông Nhật Nam và nói ông Nhật Nam là cường điệu hóa
vấn đề. Hơn nữa, nếu hai nghị quyết này không quan trọng thì nhà nước
CHXHCNVN đã chẳng nhảy dựng lên qua các bài báo phản bác, cũng như lời
phát biểu của ông Lê Dũng, phát ngôn nhân bộ Ngoại Giao, có ảnh hưởng
trầm trọng đến vấn đề ngoại giao song phương giữa Việt Nam, Hoa Kỳ và
Liên Âu. Nhà nước đã không phải nhờ đến ngài Trí Quảng dối gạt
1'300 Giới Tử tại Giới Đàn Thiện Hoa ký tên phản bác nghị quyết HR
427! Vậy cho nên, tôi thấy hai việc làm và hai kiểu “đoán mò” của
ông và ông Lý Đại Giác không khác gì nhau, đều dựa trên tinh thần phân
tích khoa học. Thế tại sao ông có thể “đoán mò”, trong khi ông lại chỉ
trích người khác không được đoán mò? Phải rồi ông cũng giống như Đảng
CSVN, giành riêng cho mình quyền yêu nước, ông thì giành riêng quyền đoán
mò!
Bài
nhận định của ông cũng như điện thư của ông Đoan Hùng NL Tiến đều
đưa ra những giả thuyết cụ thể (ông Đoan Hùng NLT) hoặc gián tiếp
(ông Trần Chung Ngọc) cho rằng ông Lý Đại Giác là một lão trượng, giả
dạng thanh niên, lọm khọm thắp sáng niềm tin. Vì các ông cho rằng một
người trẻ không thể nào biết đến quá khứ của ông Nguyễn Đắc Xuân,
đến tính cách của ông Xuân... khi tác giả chưa sanh ra đời. Nhưng các
ông quên một câu nhân gian truyền khẩu: “nếu không muốn người ta biết
thì đừng có làm”. Chuyện hiện tại bao nhiên người cùng thời với
ông Xuân còn sống, đã tạo điều kiện để tác giả Lý Đại Giác tìm
hiểu về ông Xuân. (Gđ bỏ 6 chữ) song các ông nêu lên những
giả thuyết hết sức nông cạn. Cứ theo hai ông trong những giả thuyết
trên thì nếu ngày nay khi đọc những câu nói bất hủ của tiền nhân: “Ta
thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc” (Trần Bình Trọng),
hoặc là “Nếu bệ hạ muốn hàng, hãy chém đầu thần trước đã” (Hưng
Đạo Vương), các ông sẵn sàng bảo đó là lời phịa đặt sao? Các soạn
giả Trần Trọng Kim, Phạm Văn Sơn nào có sanh vào đời Trần đâu mà biết?
Cái bệnh “đoán mò” phiến diện của các ông giống nhau không thể tưởng
được.
Những
vấn đề thuộc về văn hiến, lập quốc của Việt Nam còn đang là những
đề tài thảo luận. Người Việt Nam thường bảo: với nền văn hóa bốn
ngàn năm, song không ít người cho rằng Việt Nam mới thật sự có được
nền văn hiến tự chủ từ khi Đinh Tiên Hoàng dẹp tan loạn Thập Nhị Sứ
Quân mà thôi. Lối nói ấy quen rồi! Đạo Phật truyền bá vào Việt Nam
có phải là 2000 hay mới 1850 năm, không phải là cốt lõi để thảo luận.
Muốn tham khảo thêm ý kiến và kiến thức về chuyện này, xin ông đọc
thêm các tài liệu của viện nghiên cứu sử học Hà Nội, hay các sách mới
xuất bản của GS Lê Mạnh Thát.
Phần
kế tiếp trong đoạn văn xóa bỏ tính truyền thống của GHPGVNTN, ông viết
rằng “thứ ba, Phật Giáo có 8'400 Pháp môn, có nhiều tông phái khác
nhau, nên cái gì gọi là thống nhất, cái gì gọi là chính thống? Tự
cho mình là chính thống hàm ý gạt bỏ môi tông phái, tổ chức Phật Giáo
khác, một quan điểm cống cao ngã mạn không thể chấp nhận trong tinh thần
Phật Giáo.” Điểm này ông nêu
lên hoàn toàn xác đáng. Tôi thầm nghĩ ông cũng hiểu tại sao Phật
Giáo có đến 8'400 Pháp môn. Và đúng như ông nói, mỗi người tùy theo căn
cơ của mình, nương theo mà tu tập. Thế sao nhà nước Việt Nam không thể
chấp nhận cho GHPGVNTN được phục hoạt như một Pháp môn? Quan điểm cống
cao ngã mạn của nhà nước CS và GHPGVN Quốc Doanh theo ông có thể chấp nhận
được sao? Theo bài “Thưa với TT Tuệ Sĩ” của một ông Công Dân Việt
Nam, ông ta cho biết: “Song một điều không thể chối cãi được là dù
không tuyên bố nhưng ai cũng phải thừa nhận rằng Phật giáo ngày nay đã
gần như trở thành quốc giáo của nước Việt Nam thống nhất.” Thế quốc
giáo mà chỉ có quốc doanh thôi sao? 8'400 Pháp môn quy nguyên (quốc doanh) cả
hỉ? (Vạn Pháp Quy Nguyên). Và xin ông “cũng đừng hạ thấp Phật Giáo
qua cái tâm chất (Gđ bỏ 4 chữ) của mình” để bắt Phật Giáo
làm công cụ sai xử của chính quyền.
Ông
đã trích dẫn đoạn đối đáp giữa Ngài Văn Thù Sư Lợi và Ngài Duy Ma Cật
về Pháp môn bất nhị, kinh văn trong Duy Ma Cật Sở Thuyết. Thật khéo!
Ông cũng muốn rằng Ngài Tuệ Sỹ nếu hành thâm Pháp môn bất nhị thì phải
im lặng như ngài Duy Ma Cật phải vậy không ạ? Nếu ông cũng là Phật tử,
hẳn bài chú Bát Nhã Ba La Mật Tâm Kinh không còn lạ gì với ông cả. Mở
đầu bài chú viết : ‘Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật
Đa, thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, đoạn nhất thiết khổ ách..’
(Bồ Tát Quán Tự Tại sau khi hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa, thì thấy
được ngũ uẩn là không, qua được tất cả khổ nạn). Dù biết Ngũ Uẩn
là Không, song hạnh nguyện của Ngài Quán Tự Tại như thế nào chắc ông
cũng hiểu. Nhưng xin ông cũng không nên quên bài Chú Đại Bi, trong bài Chú
này đều là những tên của các hoá thân của ngài Quán Tự Tại. Trong đó,
có các hoá thân là Hộ Pháp mặt đen, cầm búa lớn, dữ dằn để hàng phục
ma vương, ma quân, ma con, ma cháu. Thế thì dù Ngài Tuệ Sỹ có hành thâm
Pháp Môn Bất Nhị, như ông Lý Đại Giác viết, thì ngài cũng có thể thực
hiện các hạnh nguyện của Bồ Tát như ngài Quán Tự Tại chứ? Bạch Thư,
Tâm Thư, Sự Biến Lương Sơn, Văn Minh Tiểu Phẩm, theo tôi (không phải là
TT Tuệ Sỹ) chỉ là con thuyền Bát Nhã, phương tiện diệu dụng để chuyên
chở chúng sinh qua bờ giác. Bến mê là sự che lừa dối giá của cộng sản.
Bờ giác là sự sáng tỏ của chân pháp. Khi qua đến bờ giác rồi, thì
con thuyền Bát Nhã phải bỏ đi! Đừng ôm theo kè kè, mệt lắm. Chính vì
Nhập Thể Tánh Không, nên Bồ Tát không bị vướng chấp. Và thật thấy rằng
‘Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắt tức thị không, không tức
thị sắc... Thị chư pháp không tướng, bất tăng bất giảm, bất sanh bất
diệt...’ (Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc chính là
không, không chính là sắc... Tất cả
các Pháp đều không tướng, không tăng, không giảm, không sanh không diệt).
(Gđ bỏ 5 chữ)
Kính
thưa ông Trần Chung Ngọc, để kết thúc bài này, tôi xin mượn ... lời kết
của ông Lý Đại Giác và của ông để đóng những lời nghị luận lại:
“Còn
hàng chục điều không đúng sự thật trong bài viết của ông, tôi muốn
trình bày để ông tỏ tường, song Đức Khổng Phu Tử có dạy rằng “Giáo
Đa Thành Oán” (Dạy nhiều quá, người ta oán hận), hoặc “Cái giường
có bốn góc, chỉ ba góc, còn góc thứ tư phải tự tìm lấy!” Nên
xin ông hãy tĩnh tâm suy nghĩ, biết đâu ông chẳng ngộ ra chỗ tôi chưa phân
tích.” (Gđ
bỏ 3 dòng)

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net