
Ý kiến dưới đây là của nhà văn/ nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân từ trong nước, đã đăng trên website VietnamNet ngày 3/12/2003. Chúng tôi đăng lại để độc giả được rộng đường dư luận. Giao Điểm
Những
bài học của lịch sử
LTS (trang nhà VietNamNet) : "Ngôi nhà của Phật giáo Việt Nam đã từng bị pháp nạn xiêu vẹo, đang gượng đứng dậy để xứng đáng với truyền thống dân tộc mình… Ai gây thêm chia rẽ, gây thêm hận thù lúc này là tội ác và phải chịu trách nhiệm với lịch sử". Đó là tâm ý của nhà sử học Nguyễn Đắc Xuân...
Vừa qua, nhiều Phật tử trong và ngòai nước gửi E-mail, giục tôi
đọc Bạch thư của thầy Tuệ Sỹ - “Ðệ nhất Phó Viện trưởng Viện
Hóa Ðạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất” hoan nghênh Nghị quyết
427 của Quốc hội Hoa Kỳ (thông qua ngày 11/19/2003) và Nghị quyết của Quốc
hội Âu châu (thông qua ngày 20/11/2003). Tôi chưa kịp mở web thì đã có
hàng chục bạn khác gửi trực tiếp cái Bạch thư đó đến địa chỉ
E-mail của tôi và yêu cầu tôi cho biết cảm tưởng.
Thật là một chuyện rất khó đối với tôi lúc này. Tôi nguyên là một sinh viên Phật tử, tham gia tranh đấu chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm và bị bắt. Sau ngày chế độ Diệm sụp đổ tôi được tự do. Đoàn sinh viên Phật tử Huế lúc đó là một trong những đoàn thể Phật giáo có uy tín đã cùng với nhiều đoàn thể Phật tử khác làm áp lực buộc tướng Nguyễn Khánh phải ký sắc luật 14/5 chấp nhận Hiến chương ngày 4/1/1964 của Phật giáo và cho phép tổ chức thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Và, cũng chính sinh viên Phật tử chúng tôi cùng với SVHS và đồng bào Phật tử miền Nam đấu tranh chống chiến tranh xâm lược, đòi hòa bình để thống nhất đất nước trong các năm từ 1964 đến 1966. Cuộc đấu tranh gần 100 ngày mùa hè năm 1966 bị dìm trong biển máu. Lúc đầu tôi trốn trong các chùa Từ Đàm, Kim Tiên, Tường Vân, nhưng sau nhiều lần bị lộ và tôi suýt bị quân của Thiệu - Kỳ bắt được. Giữa lúc nguy nan ấy chính đồng bào Phật tử ở chung quanh chùa Tường Vân của Hòa thượng Tăng thống Thích Tịnh Khiết đưa tôi ra chiến khu của Mặt trận Giải phóng. Sau chín năm kháng chiến vô cùng ác liệt và gian khổ, tôi được bình an trở về với nỗi vui mừng Việt Nam hòa bình, độc lập và thống nhất. Khát vọng của dân tộc hơn một trăm năm qua đã trở thành hiện thực. Trong lúc toàn dân đang khắc phục hậu quả chiến tranh, giữ vững an ninh cho Tổ quốc, kiến thiết phát triển xã hội về mọi mặt, từng bước thực hiện nền dân chủ vốn là mục đích của toàn dân đã khởi động từ cách mạng Tháng 8/1945, tôi tự tìm cho mình một chỗ đứng trong xã hội mới. Với tư cách công dân cầm bút, tôi đã góp phần chống lạc hậu - tiêu cực, nghiên cứu tìm tòi những giá trị của lịch sử văn hóa Việt Nam ở Huế để góp phần làm rõ bản sắc văn hóa Việt Nam. Với tư cách là một Phật tử, với kinh nghiệm học được trong lịch sử và những năm tranh đấu, tôi xác định được:
Trong hoạt động chính trị của thế giới hiện nay, với tinh thần từ bi của mình, nếu được giao cầm quyền,
Giáo hội Phật giáo Việt Nam không đủ sức cầm quyền. Nếu Giáo hội Phật
giáo có thể cầm quyền thì năm 1964 đã nắm được chính quyền ở miền
Nam rồi. Nhưng theo tôi - năm 1964 chính là năm pháp nạn trong nội bộ Giáo
hội Phật giáo. Ảnh hưởng của pháp nạn 1964 còn kéo dài cho đến ngày
nay. Thế thì tổ chức Phật giáo phải sống trong một chính quyền. Chính
quyền đó không mang tinh thần Phật giáo cho nên có cái thuận và có cái
nghịch. Đối với chính quyền Việt Nam từ sau 1975 đến nay, cái thuận
phát triển và cái nghịch dần dần teo lại. Và, những gì còn tồn tại
phải khắc phục trong tinh thần “gà cùng một mẹ”. Còn như nhân danh
gì đó của Phật giáo Việt Nam để kêu gọi người ngoài can thiệp vào
thì hậu quả sẽ không lường hết được. Năm 1963, Phật giáo đấu tranh
chống chế độ Ngô Đình Diệm kỳ thị, đàn áp Phật giáo. Người Mỹ sợ
dân chúng (đa số là Phật tử) không theo chính phủ Diệm, ảnh hưởng đến
công việc chống cộng của họ nên người Mỹ đã đồng ý cho các tướng
lãnh Sài Gòn lật đổ chế độ Diệm. Và sau đó, chính người Mỹ lại
ủng hộ các tướng Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ… đàn
áp lại Phật tử Việt Nam một cách khốc liệt. Lịch sử cho thấy người
Mỹ có thương gì Phật tử Việt Nam đâu! Đó là một bài học Phật tử
Việt Nam đã thuộc và rất thấm thía. Chúng ta đã quá đau khổ vì người
ngoài. Với 67 tuổi đời, không già nhưng cũng không còn trẻ nữa, tôi có
thể nói chưa có một thời kỳ nào Phật giáo được phát triển như những
năm gần đây ở Việt Nam: Phật giáo có một hệ thống tổ chức thống
nhất từ Trung ương đến tất cả các tỉnh thành trong cả nước, hàng trăm
ngôi chùa to lớn khang trang được dựng lên trong một thời gian ngắn, hồng
chung, tượng Phật được đúc mới to lớn chưa từng có, các học viện
Phật giáo đào tạo tăng tài có đủ trên ba miền Trung, Nam, Bắc. Nhiều bộ
đại tạng ngày xưa chỉ nghe nói đến bây giờ mới thấy in ra. Tu sĩ được
đào tạo trong nước và cho đi học nước ngòai, Giáo hội Phật giáo đi
thăm viếng, hội nghị, giao lưu với tổ chức Phật giáo nhiều nước trên
thế giới. Các lễ chùa, các tu viện được người trong nước và nước
ngoài thăm viếng ngày càng đông. Tất cả những gì của Phật giáo Việt
Nam tạo dựng được thời gian qua có một phần của Nhà nước (Ví dụ như
công việc trùng tu chùa Thiên Mụ với trên 15 tỷ đồng hiện nay) còn phần
rất lớn là công sức của các thầy và sự đóng góp của Phật tử trong
và ngoài nước. Nhưng nếu chính quyền Việt Nam không tạo điều kiện, không
cho phép thì thử hỏi các tổ chức Phật giáo có thể thực hiện được
những việc to lớn đến như thế không? Tôi là một người nghiên cứu sử,
tôi thấy hiếm có một giai đọan nào mà Phật giáo Việt Nam phát triển
nhanh về mọi mặt như hiện nay.
Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là tôi không thấy chỗ này chỗ
kia còn có nhiều cán bộ thực hiện không đúng chính sách của Nhà nước,
còn làm phiền lòng các thầy và Phật tử. Bản thân tôi cũng từng bị
“chụp mũ” với bài Phỏng vấn Hòa thượng Thích Thiện Siêu hồi tháng
4/1990. Nhưng sự thực rồi cũng được sáng tỏ như tôi đã viết trong
bài HT Thiện Siêu, người không chấp trước
những thị phi thế trị (Tưởng niệm Trưởng lão Hòa thượng Thích
Thiện Siêu, NXB TP.HCM. 2002, tr.124). Đồng thời tôi cũng thấy nội bộ các
thầy chia rẽ nhau (Phật giáo Việt Nam ở Mỹ có ít nhất 5 phe), chửi bới
nhau bằng những lời lẽ xa lạ với đạo Phật, nhiều nhà tu hành mất phẩm
chất (như Hòa thượng Thích Chánh Lạc ở Mỹ bị ra tòa vì quan hệ tình
dục), nhiều người nhân danh Phật giáo nhận tiền của ngoại bang để chống
phá những tổ chức Phật giáo không ăn cánh với mình hoặc chống chính
quyền Việt Nam (Võ Văn Ái ở Paris)... Người Phật tử Việt Nam chân
chính là phải tùy duyên mà khắc phục những điều chưa thuận giữa chính
quyền và tổ chức Phật giáo để phát triển Phật giáo. Đồng thời phải
nỗ lực hóa giải những mâu thuẫn trong nội bộ, lấy lại y áo của những
sư tăng phạm giới, hoạt động phải thượng tôn pháp luật, sống với vật
phẩm của Phật tử trong và ngoài nước cúng dường chứ không phải bằng
đôla của các tổ chức ngoại bang… Bao giờ chưa làm được những điều
ấy Phật giáo vẫn còn trầm luân trong pháp nạn. Người ngoài gây nên
pháp nạn Phật giáo có thể hóa giải (như năm 1963). Nhưng nội bộ các
nhà tu hành Phật giáo gây ra pháp nạn thì chỉ dẫn đến chỗ mạc vong mà
thôi.
Với một tâm thức như thế cho nên tôi không muốn có một tranh luận
nào với nội dung Bạch Thư của thầy Tuệ Sỹ. Nhiều người đọc Bạch
Thư của thầy nói với tôi rằng “Có lẽ thầy Tuệ Sỹ thiếu thông tin
nên mới viết một lá thư lạc hậu đến thế? Phật tử phải tổ chức
cho thầy đi đây đi đó để thầy thấy được sự thực!” Người khác
lại nói “Các thầy Phật giáo Thống nhất đâm lao nên phải theo lao”;
hoặc cũng có người nói : “Các thầy là tù binh của ông Võ Văn Ái,
không thể rút lui được nữa. Một là tiếp tục tiến, hai là thân bại
danh liệt. Thế thôi!” Những bình luận đó đúng hay sai, thời gian sẽ trả
lời. Riêng tôi, với tư cách một người nghiên cứu sử nhà Nguyễn, tôi
xin trao đổi với thầy Tuệ Sỹ một vài vấn đề liên quan đến sử sau
đây.
1. Bạch thư, có đoạn viết: “…,
khi truyền bá vào đất nước nào, Phật giáo thích ứng với phong tục, tập
quán của nước đó, và cũng phải sinh hoạt trong khuôn khổ luật pháp của
nước đó. Nhưng không phải vì vậy mà Phật giáo hoàn toàn lệ thuộc
vào luật pháp của nước đó”. Đọc đoạn thư này tôi liên tưởng
đến những giáo sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha hay Pháp-lang-sa khi họ đem đạo
Thiên Chúa vào Việt Nam cách đây ba bốn thế kỷ. Các giáo sĩ ấy không
phải là người Việt Nam, không phải công dân Việt Nam, ngoài chuyện phải
tuân theo luật pháp Việt Nam, các giáo sĩ ấy còn phải thực hiện những
qui định, luật lệ truyền giáo của Tòa thánh Vatican. Còn thầy Tuệ Sỹ
và các thầy cùng họat động với thầy thì dù là tu sĩ nhưng cũng như mọi
người khác trước tiên các thầy là người Việt Nam, công dân Việt Nam,
mang chứng minh thư của nước CHXHCN Việt Nam, nếu đi nước ngoài thì mang
Hộ chiếu CHXHCN Việt Nam. Nếu đi họp quốc tế các thầy phải mang cờ
đỏ sao vàng - lá cờ giải phóng dân tộc, mang lại độc lập, hòa bình
thống nhất Việt Nam. Chắc chắn các thầy không thể mang cờ vàng ba sọc
đỏ như những tổ chức ủng hộ các thầy ở Mỹ, ở Australia, ở Pháp
hiện nay được. Ngoài ra không có một tổ chức Phật giáo thế giới nào
có trách nhiệm với các thầy cả. Không có một quyền hành nào của Phật
giáo thế giới cho phép các thầy “không cần lệ thuộc vào” pháp luật
Việt Nam cả. Giáo lý đạo Phật phổ biến và được nhân loại tiếp nhận.
Nhưng không có một giáo lý nào của Đức Phật dạy các tu sĩ sống trên
hay ngoài pháp luật của nước sở tại cả. Về hành chính thì nước nào
có luật của nước ấy. Nếu các thầy là tu sĩ Phật giáo mà không có hộ
chiếu Việt Nam và thị thực của nước muốn đến thì các thầy có sang
được các nước lấy Phật giáo làm quốc giáo như Tích Lan, Myanmar, Thái
Lan, Campuchia... được không? Chắc chắn là không. Cho nên tôi có cảm giác
thầy Tuệ Sỹ viết đoạn thư trên trong tâm
thế của một giáo sĩ Thiên chúa giáo phương Tây hoạt động tôn giáo
trên nước Việt Nam cách đây mấy thế kỷ. Quá xa lạ với tâm thức của người Việt Nam bây giờ.
2. Trong Bạch Thư, có đoạn viết: “Luật
pháp của mỗi chế độ đều có chức năng bảo vệ sự tồn tại của chế
độ đó. Ngay trong một chế độ, luật pháp cũng phải thay đổi theo thời
đại, theo tổ chức quản lý xã hội của chế độ trong từng giai đoạn.
Và trên hết, trong lịch sử chính trị, chưa có chế độ chính trị nào tồn
tại vĩnh viễn. Ðiều chắc chắn, chế độ chính trị này có thể sụp
đổ, được thay thế bằng chế độ chính trị khác, và do vậy cũng thay
đổi luôn nội dung của luật pháp.
Trong trường hợp như vậy, Phật giáo vẫn tồn tại. Ðó là sự thực lịch
sử”. Thầy viết đoạn thư này thừa. Một chế độ chính trị bị
thay thế bằng một chế độ chính trị khác (Ví dụ chế độ quân chủ
chuyên chế bị thay đổi bởi chế độ quân chủ lập hiến, chế độ dân
chủ thay thế chế độ quân chủ). Còn Phật giáo hay đạo Phật, bao giờ
còn người dân tin theo là còn đạo Phật. Nếu người dân phát hiện tín
lý của đạo Phật là tàn ác, gây nên chinh chiến, khủng bố, bóc lột, lừa
mị tín đồ… người dân tự ly khai hết thì lúc đó đạo Phật mới tiêu
vong. Còn như người dân còn tin, còn biết tự thắp đuốc để tìm con
đường giải thoát cái khổ cho mình thì tôi đố ai cấm được, đố ai làm
cho nó tiêu vong được. Chế độ chính trị và Phật giáo là hai phạm trù
khác nhau không thể có cùng một tác động phục hưng hay suy vong. Các chế
độ có thể thay thế nhau, nhưng Phật giáo vẫn tồn tại là điều hiển
nhiên. Bất cứ một người nào có chút tư duy đều có thể thấy được
như thế. Có lẽ Bạch thư nêu một một chuyện mà ai cũng biết đó để
đưa ra ý kiến thứ 3 dưới đây.
3. Bạch thư viết: “Cho nên, không
một chế độ nào có thể buộc chặt Phật giáo vào sinh mệnh tồn tại của
mình, để rồi khi nó sụp đổ, kéo theo cả sự sụp đổ của Phật giáo”.
Với kiến thức phổ thông của một người cầm bút, tôi thấy câu Bạch
thư nầy có hai ý nhỏ cần phải hiểu rõ:
3.1. Chế độ “buộc chặt Phật giáo
vào sinh mệnh tồn tại của mình” là như thế nào? Phật giáo là một
hệ thống triết lý dạy cho con người về nhân quả, luân hồi, bi trí dũng,
ở hiền gặp lành.v.v. Nếu có một chính quyền nào đó biết vận dụng
được những điều ấy vào sinh mệnh tồn tại của họ thì tốt quá đi
chứ! Họ vận dụng tốt thì đó là một may mắn cho dân tộc, cho Phật
giáo, còn họ vận dụng sai thì họ bị sụp đổ có ảnh hưởng gì đến
triết lý đạo Phật đâu?
Nhân đây tôi cũng xin nhắc lại một sự thực lịch sử: Theo Châu bản triều Nguyễn, nhà Nguyễn đã bỏ tiền ra xây dựng và trùng tu các chùa như Thiên Mụ, Diệu Đế, Thánh Duyên, Linh Quang… Các tăng can, trụ trì các chùa ấy đều ăn lương nhà nước. Các chùa ấy phải tổ chức nhiều trai đàn theo yêu cầu của triều Nguyễn, các chùa phải phái sư tăng đến hầu các lễ ninh lăng (chôn vua)... Rõ ràng hoạt động của các chùa gắn liền với triều Nguyễn. Lúc ấy có chùa nào dám sống ngoài phạm vi qui định bởi Hoàng Việt luật lệ của triều Nguyễn không? Chắc chắn là không. Nhưng đến năm 1945, nhà Nguyễn cáo chung, các chùa ấy có bị sụp đổ và cáo chung đâu! Đó là một thực tế lịch sử có lẽ thầy Tuệ Sỹ am tường hơn tôi.
3.2. “Để rồi khi nó (tức chế
độ chính trị) sụp đổ, kéo theo cả sự
sụp đổ của Phật giáo”. Trải 2547 năm qua, nhiều quốc gia lấy Phật
giáo làm quốc giáo đã thay đổi chế độ chính trị đến hàng chục lần
nhưng có hề ảnh hưởng gì đến giáo lý đạo Phật (Phật giáo) đâu!
Tôi chỉ thấy Phật giáo ngày càng phát triển và đang được nhân lọai
đón nhận như một lối thoát cho thế giới đầy vọng động và bạo động
này thôi. Xin thầy cho những người trình độ học Phật phổ thông như chúng
tôi được biết các chế độ chính trị nào sụp đổ kéo theo sự sụp
đổ của giáo lý đạo Phật (Phật giáo) trong lịch sử để chúng tôi học
và rút kinh nghiệm. Theo tôi nghĩ cái mà thầy muốn nói sụp đổ ở đây
chính là cái tên tổ chức Phật giáo
nào đó. Chế độ thay đổi, luật pháp thay đổi thì cái tên ra đời
trong chế độ đã sụp đổ phải tiêu vong. Đó là một thực tế lịch sử.
Lịch sử đã như thế thì sau năm 1975 làm gì còn có cái tên Phật giáo Việt
Nam Thống nhất ra đời dưới thời Nguyễn Khánh 1964 nữa? Những người
uyên thâm đạo Phật như các thầy sao lại cứ đeo bám mãi vào những cái
ảo, cái sắc tướng không ảnh hưởng gì đến cái “tánh không” của
Phật giáo như thế ?
Phải chăng cuộc đấu tranh chống nhà nước Việt Nam, chống Giáo hội
Phật giáo Việt Nam của quý thầy không phải vì sự phát triển của Phật
giáo Việt Nam mà vì những động cơ chính trị khác nên không thể dứt
được? Ôi, nếu thế thì những ý nghĩ xuất phát từ tâm can của tôi - một
phật tử khóc cười theo mệnh Phật giáo hơn 40 năm qua, trên đây đứng
trên quan điểm đạo pháp và dân tộc chẳng có một giá trị gì đối với
các thầy cả. Không thể trao đổi bằng tinh thần đạo pháp, thì xin nhắc
lại với quý thầy một bài học về chính trị vừa diễn ra cách đây đúng
40 năm (1963-2003) - Nhờ ngoại bang can thiệp vào chuyện nội bộ nước mình,
hậu quả sẽ không lường hết được.

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net