
II.
PHẦN DẪN NHẬP
VIỆC
LÀM CỦA VNCH FOUNDATION
"Chiều ngày 20/7/2003, kỷ niệm 49 năm ký
Hiệp Định Genève, hội Việt Nam Cộng Hòa Foundation đã tổ chức một buổi
hội thảo tại Civic Center của thành phố Wesminster
(California) để "Phát Động Chiến Dịch Yêu Cầu Liên Hiệp Quốc bắt
buộc CSVN Thi Hành Hiệp Định Ba Lê".
Người ta thấy có khoảng 100 "nhân sĩ lớn" từ khắp nơi về họp và đọc diễn văn, chẳng
hạn như cựu Chủ Tịch Hạ Viện và Thủ Tướng 8 Ngày Nguyễn Bá Cẩn,
lãnh tụ Đại Việt Nguyễn Văn Canh, Tướng Lý Tòng Bá, "ngục sĩ"
Nguyễn Chí Thiện, v.v..
Trong
lời chào mừng khai mạc cuộc hội thảo, Bác sĩ Nguyễn Xuân Vinh, Chủ Tịch
VNCH Foundation, cho biết sở dĩ có cuộc hội thảo này là vì tình hình chiến
tranh Iraq có dấu chỉ thuận lợi cho việc đấu tranh cho người Việt không
cộng sản, xét lại Hiệp Định Paris và đòi hỏi quốc tế phải có
trách nhiệm trong việc để CSBV cưỡng chiếm VNCH vào năm 1975.
Nhân
vật chính trong cuộc hội thảo này là ông Nguyễn Bá Cẩn. Ông Cẩn cho biết
có nhiều người cho rằng chuyện này đã cũ, hai mươi tám năm qua rồi, nhắc
lại chẳng lợi ích gì, nhưng theo ông."lý luận này không đứng vững,
lý do là vì vấn đề đặt ra là nghĩa vụ pháp lý của một tổ chức quốc tế tối cao là
Liên Hiệp Quốc, chứ vấn đề không phải là dễ hay khó, và lập trường
của người yêu nước chúng ta là phải tranh đấu chứ không phải ngồi
đó lo âu giùm cho LHQ.... Ông coi việc Mỹ
đem quân "giải phóng Iraq" như một dấu hiệu tốt. Sau Iraq sẽ đến
phiên Cộng Sản Việt Nam....
Kết
thúc buổi hội thảo, những người tham dự đã ký vàoThỉnh Nguyện Thư gửi
Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc. Thỉnh Nguyện Thư có những lời thỉnh cầu
như sau:
"Chúng tôi, những Quân, Dân, Cán, Chính của Nước
Việt Nam Cộng Hòa trân trọng yêu cầu Liên Hiệp Quốc và các Nước Thành
Viên liên hệ đã ký kết hay chứng kiến Hiệp Định Paris 27/1/1973. Hãy
vì lương tâm nhân loại, vì trật tự cho một thế giới mới của thế kỷ
21 mà mạnh dạn can đảm lên tiếng cũng như can thiệp buộc nhà cầm quyền
Cộng Sản Hà Nội phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp Định 1973 như sau:
Thứ nhất: Phải rút quân toàn bộ về lại
phía Bắc vĩ tuyến 17 như Hiệp Định Genève 1954 đã quy định, cũng như
giữ đúng vị trí lằn mức phân biệt biên giới lãnh thổ Nam, Bắc Việt
Nam chiếu theo Hiệp Định 1973. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mà nay là Cộng
Hòa Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, phải hoàn toàn trả lại tất cả các phần
đất bị chiếm giữ của Việt Nam Cộng Hòa cho nhân dân Việt Nam Cộng
Hòa.
Thứ
hai:
Tôn trọng quyền tự quyết thiêng liêng bất khả xâm phạm của nhân dân
miền Nam, tự quyết định tương lai chính trị của mình thông qua cuộc tổng
tuyển cử tự do, dân chủ có giám sát quốc tế. Các nước ngoài như Hoa
Kỳ và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nay đã đổi tên thành Cộng Hòa Xã Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam, không được áp đặt bất cứ xu hướng chính trị
nào hoặc cá nhân nào đối với nhân dân miền Nam, như đã quy định trong
Hiệp Định Paris Chương 3 điều 9.
Thứ
ba:
Việt Nam Cộng Hòa sẵn sàng hợp tác để tiến tới việc thống nhất đất
nước và đồng ý không bên nào cưỡng ép hay thôn tính bên nào như
Chương 5 điều 15 trong Hiệp Định đã quy định.
Thứ tư::
Việt Nam Cộng Hòa đề nghị một giải pháp dung hòa tránh xung đột và đổ
máu đó là: Toàn bộ Việt Nam sẽ đặt dưới sự giám sát và bảo vệ
hòa bình của Liên Hiệp Quốc trong thời hạn ít nhất là hai năm trước
khi tiến tới một cuộc bầu cử dân chủ trong sạch để nhân dân hai miền
Nam, Bắc tự quyết định lấy vận mạng của mình như:
a.-
Chọn một thể chế chính trị áp dụng trên đất nước Việt Nam
b.-
Chọn người lãnh đạo và có cơ chế điều hành quốc gia có nhiệm kỳ
rõ rệt và do dân cử.
Thứ năm: Trong mọi trường hợp, nếu Cộng
Sản Hà Nội vẫn cố tình xem thường Liên Hiệp Quốc và các nước đã
ký kết cũng như giám sát Hiệp Định Paris 27/1/1973. Cũng như bất hợp tác
với Liên Hiệp Quốc trong thiện chí xây dựng hòa bình cho Việt Nam. Chúng
tôi, Quân, Dân, Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa tha thiết kêu gọi sự hỗ trợ
của các nước đồng minh, từng tham gia cuộc chiến bảo vệ tự do cho Việt
Nam Cộng Hòa trước đây. Hãy hỗ trợ cuộc chiến đấu chính nghĩa của
chúng tôi dưới mọi hình thức, nhằm giải phóng quê hương đã bị Cộng
Sản Hà Nội xâm lược một cách trắng trợn."
[1]
(Có
một vài chỗ chấm câu không đúng với
nguyên tắc văn phạm, nhất là đoạn văn trong mục thứ năm của bản thỉnh
nguyện thư. Hy vọng đây là một sơ ý. Có
thể là sơ ý của nhân viên biên sọan của hội VNCH Foundation, và cũng có
thể là sơ ý của ông Tú Gàn. Dù
Tước
khi trình bày những tác hại đến quyền
lợi tối thượng của dân tộc Việt Nam, do việc làm của tổ chức Việt
Nam Cộng Hòa Foundation gây ra, người viết
xin khẳng định [sẽ được chứng minh trong tập sách này cũng như trong các
ấn phẩm khác của người viết] rằng danh xưng "Việt Nam Cộng Hòa"
Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa) chỉ là ngụy danh giống như một bức bình
phong để che đậy cho chế độ đạo phiệt Gia-tô tay sai của Giáo Hội La
Mã tại miền Nam Việt Nam trong thời kỳ 1954-1975.
Khi
hè nhau gửi thỉnh nguyện thư trên đây cho ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc
[có thể là cũng gửi cho Tổng Thống và Quốc Hội Hoa Kỳ], những người trong tổ chức Việt
Nam Cộng Hòa Foundation có chủ tâm muốn
phục hồi miền Nam Việt Nam [tức là
muốn phục hồi chế độ đạo phiệt Gia-tô tay sai của Giáo Hội La Mã tại
miền Nam Việt Nam] với hy vọng là Giáo Hội La Mã và chính bản thân họ sẽ
được trở lại nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền để
rồi lại được ăn trên ngồi trước, hét ra lửa mửa ra khói, tác oai
tác quái như thời kỳ 1954-1975.
Nhìn
vào bản chất của vấn đề, chúng ta thấy việc làm của tổ chức Việt
Nam Cộng Hòa Foundation có chủ đích phục hồi quyền lực của Giáo Hội La Mã tại Việt Nam mà chính bản thân họ
là bọn tay sai cho Giáo Hội La Mã. Đây là một việc làm mưu đồ "cõng
con rắn độc Vatican về cắn gà nhà Việt Nam". Việc làm này giống như:
1.-
trường hợp Nguyến Phúc Ánh giao Hoàng Tử Cảnh cho Giám--mục Bá Đa Lộc
mới có 4 tuổi vào năm 1784 sang Pháp xin viện binh đánh nhà Tây Sơn,
2.-
giống như Lê Chiêu Thống chạy sang
Trung Hoa vào năm 1788 xin nhà Thanh đem
quân vào Việt Nam để phục hồi vương quyền cho ông ta,
3.-
giống như Pétrus Trương Vĩnh Ký viết thư khẩn khoản quan đại Pháp đem quân tiến đánh Việt Nam để giúp cho giáo dân Gia-tô chống
lại tổ quốc Việt Nam. Nguyên văn lá thư của ông Việt gian Gia-tô Trương
Vĩnh Ký được ghi lại trong sách Các Vua Cuối Nhà Nguyễn Tập 1 của tác
giả Nguyên Vũ với nguyên văn như sau:
"SHM
(Vincennes), GG2 99.2. Petrus Key, tức Trương
Vĩnh Ký sau này, cũng cùng một nhận xét. Tháng 3.1859, Pétrus Key viết cho
Grand chef et vous tous, très honorables officers de la flotte francaise": Ayez
pitié de nous. Ayez étés nous. Vou êtes nos libérateurs et la main des enemis nous a
touchés! Hala! The wearer knows very well where the shoe pincheth. Nous avons auusi que
qui trop embarsse mal étreint." Et cependant nos souffrances nous pousssent à
invoquer votre puissance et à vous exposer du
fond du coeur tout ce que je viens de soumettre à votre prudence et à votre
sagesse.". Thư tháng 3/1859 Petrus Key gửi Grand Chef; SHM (Vincenné), GG2 99:2."
[2]
Qua
lá thư trên đây, chúng ta thấy vai trò của tổ chức Việt Nam Cộng Hòa
Foundation sẽ giống như vai trò của bọn tín đồ Gia-tô Trương Vĩnh Ký,
Trần Lục, Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài, Trần Bá Lộc, Lê Hoan, v.v...
đã làm trong thế kỷ 19 để củng cố quyển lực của Giáo Hội tai Việt
Nam qua việc tiếp tay cho liên quân giặc xâm lăng Pháp-Vatican đánh chiếm
và thống trị Việt Nam vào cuối thế
kỷ 19. Nền thống trị của liên minh
giặc tồn tại đến mùa hè năm 1954
thì đế quốc Pháp phải cuốn gói ra đi, trong khi đó, nhờ cây dù của
Hoa Kỳ mà Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican mới có thể ở lại miền
Nam Việt Nam [qua các chính quyền đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và
quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu] cho đến ngày 30/4/1975.
Tổ
chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation không thấu hiểu chính sách đối ngọai
của Hoa Kỳ nói chung, và cũng không biết chủ tâm của Tổng Thống Bush
trong việc dùng sức mạnh quân sự tiến vào lãnh thổ Iraq đập tan hệ thống quyền lực đã
có sẵn của quốc gia này để thành lập một chính quyền hành xử theo ý
muốn của Hoa Kỳ. Có lẽ vì thế họ mới hồ hởi nhân cơ hội này viết
lá thỉnh nguyện thư trên đây để thúc đẩy Hoa Kỳ tiến tới làm như vậy
ở Việt Nam với dã tâm như đã nói ở trong đọan văn 2 trong tiểu mục này.
Nhận
thấy việc làm này của tổ chức Việt
Nam Cộng Hòa Foundation nếu thực hiện được thì sẽ trở thành một đại
thảm họa cho dân tộc Việt Nam, người viết cố gắng biên sọan tập
sách này để trình bày một số vấn đề sau đây với hy vọng quý vị
trong tổ chức Viêt Nam Cộng Hòa Foundation đọc rồi sẽ thức tỉnh và suy
tư về những vấn đề dưới đây:
1.-
Cần phải ý thức sự tồn vong của đất nước là tối thượng để phân
biệt phân biệt sự khác nhau giữa một
bên là công cuộc giải phóng
dân tộc thoát khỏi ách thống trị của người ngoại bang (Liên minh đế
quốc thực dân xâm lược Pháp - Vatican, rồi Liên
Minh Mỹ -Vatican) cùng với công cuộc thống nhất đất nước và một bên là
chống lại hay lật đổ chế độ độc tài chuyên chính Cộng Sản.
2.-
Ý chí đánh đuổi quân cướp xâm lăng để giành lại chủ quyên độc lập cho dân tộc cũng như khát vọng đoàn kết toàn dân và thống nhất đất nước là ý chí và
khát vọng của tất cả các dân tộc trên thế giới, nếu chẳng may đất
nước rơi vào thảm họa này bất kể vì động lực hay nguyên nhân nào.
Riêng về nước Việt Nam ta đã trải qua tới 4 lần qua phân là :
Lần
thứ nhất
xẩy ra vào thế kỷ 10 kéo dài từ năm 945 đến năm 967. Sách sử gọi thời
kỳ này là thời Thập Nhị Sứ Quân. Thật là vô cùng may mắn cho đất nước ta, người anh hùng dân tộc
Đinh Tiên Hòang đã dẹp tan bọn lãnh chúa địa phương, đem lại thống nhất đất nước cho dân tộc vào
năm 967.
Lần
thứ hai xẩy ra vào
thế kỷ thứ 16 kéo dài từ năm 1533 cho đến 1592. Sách sử gọi là thời kỳ này gọi là Nam Triều Bắc Triều. Nam Triều do ông Nguyễn Kim
lãnh đạo thế lực mưu đồ phục hưng nhà Lê và Bắc triều là Mạc
Đăng Dung và con cháu của ông. Sau này, ông vua chót của nhà Mạc là Mạc
Ngọc Liễn bị đại bại và chạy sang Tầu tị nạn. Cũng may cho đất nước
ta, trước khi nhắm mắt lìa đời, Mạc Ngọc Liễn lai di ngôn dặn con là
Mạc Kính Cung rằng:
"Nay họ Lê lại dây lên được, ấy là số trời đã định; còn dân ta thì có tội gì, mà ta nỡ để khổ sở mãi về việc chiến tranh? Vậy ta nên đành phận lánh mình ở nước ngoài, chứ đừng có đem lòng cạnh tranh mà lại mời người Tàu sang làm hại nước mình." [3]
Vì
thế mà con cháu nhà Mạc không còn tính chuyện phục hồi cơ nghiệp nhà Mạc
nữa. Nhờ vậy mà đất nước ta được thống
nhất.
Lần
thứ ba kéo dài từ năm 1627 cho đến năm 1775. Sách
sử gọi là Thời Kỳ Trịnh Nguyễn Phân Tranh. Vào đầu thập niên 1770,
anh em ông Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ nổi lên đập tan chế
độ phong kiến ở miền Nam của Chúa Nguyễn lập ra nhà Tây Sơn, rồi lợi
dụng tình hình, kép quân ra Bắc đánh tan thế lực phong kiến của họ Trịnh
khởi tiến cho việc thống nhất đất nước vào cuối thập niên 1770.
Lần
thứ tư xẩy
ra vào giữa thập niên 1950 hậu quả cuộc chiến tranh giải phóng do Mặt
Trận Việt Minh lãnh đạo và kết thúc bằng Thỏa Hiệp Genève 1954. Hiệp
định này quy định việc chia đôi Việt Nam từ ngày 20 tháng 7 năm 1954 cho đến ngày 20 tháng 7
năm 1956 và sẽ được thống nhất bằng một cuộc tổng tuyển của được
tổ chức vào khỏang tháng 7 năm 1956.
A.-
Hoa Kỳ nắm quyền thống trị Miền Nam và biến thành tiền đồn chống của
Thế Giới Tự Do, và liên kết với
Giáo Hội La Mã thiết lập chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và
sau đó là chế độ quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu đế bao thầu công
việc quản lý công việc nội trị.
B.-
Miền Bắc thuộc quyền cai trị của Mặt Trận Việt Minh theo chủ nghĩa Cộng
Sản do Liên Sô lãnh đạo.
Vì
Hoa Kỳ và Giáo Hội La Mã cấu kết với nhau đưa ông Ngô Đình Diệm cầm
quyền ở miền Nam, vi phạm điều khoản trên đây, không cho tổ chức tổng
tuyển cử để thống nhất đất nước. Vì thế miền Bắc mới quyết đình
thống nhất đât nước băng cuộn tranh đấu vũ trang và cho đến ngày
30/4/1975 mới hoàn thành sứ mạng dân tộc này.
Bốn
lần đất nước bị phân chia trên đây đều do các thế lực quân phiệt
phong kiến và đế quốc thực dân xâm lược chủ trương. Bốn lần đất
nước chúng ta thống nhất được trở lại là do ý chí và công lao của
nhân dân ta trong những giai đọan lịch sử bi thảm này quyết tâm chiến
đấu chống lại mọi thế lực chủ trương chia cắt để đem giang sơn về một mối. Nhờ vậy
mà đất nước ta mới được thống nhất như ngày nay.
Mỗi
lần đất nước bị phân chia là là đât nước lại rơi vào tình trạng
chiến tranh triền miên, tiêu hao không biết bao nhiêu công của và xương máu
mới thống nhất lại được đất nước. Ấy thế mà quý ông trong tổ chức
Việt Nam Cộng Hòa Foundation đều là những người trí thức có cấp bằng
đại học mà sao lại quên được những bài học đau thương về thảm họa đất nước bị phân chia
trong lịch sử nước nhà, mà nỡ đành
lòng tính chuyện mưu đồ chia đô đất
nước ta một lần nữa lấy một nửa giang sơn
đem dâng cho Giáo hội La Mã?
Xin
hỏi quý vị có còn lương tâm hay không mà đành lòng làm cái chuyện vô
liêm sỉ như vậy?
Chắc
vị vị còn nhớ vào những năm 1999-2001, tín đồ Gia-tô của nước
Indonesia ở trong hòn đảo East Timor dã tìm đủ mọi cách kể cả việc cầu cứu Liên Hiệp Quốc
và nhiều cường quốc khác để tách rời hòn đảo này ra khỏi nước
Indonesia với dã tâm biến hòn đào này thành một quốc đảo theo đạo
Gia-tô phụ thuộc vào Giáo Hội La Mã
hay không?
Đem
việc làm của những tín đồ Gia-tô trong tổ chức Việt Nam Cộng Hòa
Foundation so sánh với việc làm của tín đồ Gia-tô Indonésia tách rời hòn đảo East Timor, chúng ta thấy rằng một
khi đã trở thành tín đồ Gia-tô ngoan đạo của Giáo Hội La Mã thì họ bất
cần đến sự tồn vong của đất nước và quyền lợi của dân tộc
ÔN
CỐ TRI TÂN.
Qua
mưu đồ phản quốc của nhóm tín đồ Gia-tô trong cái gọi là Việt Nam Cộng
Hòa Foundation trên đây, chúng ta nhớ lại trong quá khứ:
Khi
Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp - Vatican đem quân tấn chiếm
và thóng trị đất nước chúng ta từ năm 1858 thì tín đồ Gia-tô người
Việt đứng trong hàng ngũ giặc, tình nguyên đưa đường dẫn lối làm chỉ
điểm cho giặc, xin giặc võ trang rồi kéo nhau đi tiếp viện cho giặc
trong những chiến dịch tiêu diệt các căn cứ kháng chiến của nhân dân
ta.,
Trong
cuộc kháng chiến chống liên minh giặc Pháp - Vatican 1945-1954, toàn dân ta từ
em bé 15 tuổi cho đến cụ già đầu bạc phơ
trong toàn lãnh thổ từ Cà Mâu đế ải Nam Quan quyết tâm lên
đường chống giặc cứu nước thì
tín đồ Gia-tô người Việt xin giặc vũ trang, biến các giáo khu Phát Diệm,
Bùi Chu và các xóm đạo thành những đạo quân thập tự, tiếp tay với giặc,
đem quân tiến đánh làng lương, đốt nhà , phá đình, phá miếu, cướp của,
bắn giết đàn ông, hãm hiếp đàn bà con gái. (Đã nói rỏ trong sách Tội
Ác Của Giáo Hội Ở Việt Nam)
Và
bây giờ, lại cũng các ông Gia-tô Nguyễn Bá Cẩn, Nguyễn Văn Canh, Lý
Tòng Bá, v..v.. mưu đồ phản quốc như trên nữa. Đặc tính vong phản, phản
quê hương, phản dân tộc này quả thật là sản phẩm của Giáo Hội La
Mã.
3.-
Cuộc Kháng Chiến 1945 -1954 đòi lại quê hương cho dân tộc từ trong tay giặc
do Mặt Trận Việt Minh lãnh đạo chỉ là sự tiếp nối của các cuộc
kháng chiến của dân tộc ta đã khởi đầu từ khi Liên Quân Xâm Lược Pháp - Vatican tấn chiếm nước ta vào năm
1858. Rút kinh nghiệm xương máu của
những người đi trước, Mặt Trận Việt Minh
đã học được những bài hoc cần phải huy động đại khối nhân dân
tích cực tham gia vào cuộc chiến, nhờ thế mới hoàn thành được sứ mạng
lịch sử mà tiền nhân ta đã liên tục theo đuổi và còn bỏ dở. Chiến
thắng Điện Biên Phủ 1954 đã làm cho Đế Quốc Pháp phải cúi đầu nhận
tội, công nhận quyền độc lập của dân tộc Việt Nam và phải cuốn
gói ra đi.
4.- Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican tức
Giáo Hội La Mã vẫn còn tiếc rẻ và cố bám lấy thân xác Việt Nam như
loài đỉa đói, chưa chịu bỏ cuộc, cho nên
mới cho người dẫn ông Ngô Đình Diệm sang Mỹ, trao cho Hồng
Y Francis Spellman lo việc chạy chọt và vận động với các nhân vật có
quyền thế trên sân khấu chính trị Hoa Kỳ để làm áp lực với chính
quyền Pháp và Quốc Trưởng Bảo Đại
đưa ông Ngô Đình Diệm về Việt Nam cầm quyền. Vatican đưa ông Diệm
sang Hoa Kỳ ăn chực nằm chờ từ cuối tháng 9 năm 1950. Vì hòan cảnh lúc
đó cho thuận lợi cho Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam. Mãi đến đầu nắm
1954, tình hình Đoiong Dương mới thuận lợi, Hoa Kỳ mới thực sự thuận theo lời cầu khẩn của Tòa Thánh
Vatican, chấp thuận cho ông Ngô Đình Diệm về Việt Nam cầm quyền đóng
vai trò làm bung xung cho Vatican và Hoa Kỳ trong việc vi phạm Thỏa Hiêp
Geneve 1954 với dã tâm là duy trì Việt Nam mãi mãi ở vào tình trạng Nam Bắc
chia đôi. (Phần II sẽ trình bày rõ
ràng vấn đề này). Cũng vì thế mà dù
là Đế Quốc Thực Dân Xâm lược Pháp phải cuốn gói ra đi vào tháng 7 năm
1954, nhưng cái vòi của con Bạch Tuộc
Vatican vẫn còn tồn tại ở miền Nam cho
đến ngày 30/4/1975 mới coi như là bị chặt đứt.
5-
Bản chất của hai chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt
Gia tô Nguyễn Văn Thiệu được ngụy
trang bằng những danh xưng trá hình Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa Việt
Nam. Hai chế độ đạo phiệt Gia-tô này quản lý nhân dân bằng chính sách
cảnh sát trị với 13 tổ chức công an, mật vụ an ninh quân đội như thiên
la địa võng. Thành tích tàn ngược và dã man của các tổ chức công an
và mật vụ này tkhông kém gì thành
tích tàn ngược và dã man của Tòa Án Dị Giáo (Inquisitions) của Giáo Hôi
La Mã, của Tây Ban Nha trong thời Trung Cổ, không kém gì chế độ đạo phiệt
Gia-tô Ante Pavelich ở Croatia trong thời Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945) cũng
như chế độ đạo phiệt Gia-tô Augustin Misago tại Rwanda (Phi Châu) trong
mấy tháng giữa năm 1994 (sẽ được trình bày rõ ràng ở phần sau).
Thành
tích tham nhũng của hai chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và
quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu còn vượt lên trên cả thành tích tham
nhũng của các chế độ đạo phiệt Gia-tô
Batista ở Cuba trong những năm 1952-1959 và chế đô đạo phiệt
Gia-tô Marcos tại Phi Luật Tân trong gần ba thập niên kể từ năm 1965 kéo
dài cho đến năm 1992. Điều này cũng dễ hiểu vì rằng tất cả các chế
độ đạo phiệt Gia-tô trên đây đều là con để của Giáo hội La Ma, và
Giáo Hội La Mã vốn dĩ là cha đẻ của đủ mọi thứ tội ác, trong đó tội
tham nhũng mà sách sách sử gọi là tội "bán thánh" (simony) được
xếp vào bậc ngàng hàng với tội ác
của các Tòa Án Dị Giáo.
6.-
Những bài học đau thương trong lịch sử về những thế lực đã phục hồi
được quyền lực cũ.
7.-
Giáo Hội La Mã là kẻ thù số 1 của nhân Loại.và phong trào nhân dân thế
giới chống lại chính sách xâm thực vô cùng thâm độc và dã man của Giáo Hội.
ĐỀ
NGHỊ XÂY DỰNG
Nếu cho rằng chính quyền Việt Nam hiện
nay là một chế độ độc tài hà khắc
cần phải được thay đổi, người viết khẩn khoản đề nghị quý vị hãy tranh đấu bằng cách:
GIAI
ĐỌAN I.- Gửi thỉnh nguyện thư đến cơ quan lãnh đạo chính quyền Việt
Nam hiện nay trong đó nêu lên những điểm nào sai lầm cần phải thay đổi
rồi yêu cầu chính quyền cứu xét. Việc làm này giống như nhóm trí thức
"Tự Do Tiến Bộ" ở miền
Nam Việt Nam đã làm khi họ gửi bản
Tuyên Ngôn lên Tổng Thống Gia-tô Ngô Đình Diệm vào ngày 26 tháng 4 năm 1960.
GIAI
ĐỌAN II.- Sau khi đã làm như trên mà
không được chính quyền Việt Nam hồi âm hay từ chối, quý vị phải tiến
hành sọan thảo một kế hoạch thiết lập
các căn cứ nghĩa quân với những tổ chức như một tổ chức cách mạng
gồm ban lãnh đạo, ban quân sự, ban
thông tin, ban tiếp vận, ban kinh tế và ban tài chánh, v. v.. giống như các
tổ chức nghĩa quân kháng chiến của các bậc tiền nhân trong thời chống
quân Minh, và chống liên quân giặc Pháp -Vatican từ đầu thập niên 1860
cho đến tháng 7 năm 1954.
GIAI
ĐỌAN III- Công bố bản tuyên cáo với quốc dân Việt Nam để
1.-
Nói rõ mục tiêu tranh đấu để thành lập:
A.- Một chính
quyền dân chủ thực sự (do dân mà có, vì dân mà làm, và làm
việc cho dân). Tuyệt
đối không phải là một chính quyền
tay sai cho o Giáo Hội La Mã như các chế
độ đạo phiệt Gia-tô ở miền Nam Việt Nam trong thời 1954-1975 và được
che đậy băng danh xưng Việt Nam Cộng Hòa]
B.-
-Một lá
cờ mới [chứ không phải lá cờ vàng ba sọc đỏ do liên quân xâm lăng Pháp - Vatican cho ra đời vào
1948].
C.-
Một quân
đội hoàn toàn mới từ trong nhân
dân mà ra, chiến đấu cho dân, sống với dân và bảo vệ dân [chứ không
phải là hậu thân của đám lính của
liên quân giặc cướp xâm lăng Pháp-Vatican và thập tự quân trong các xóm
đạo trong thời kháng chiến 1945-1954
mà nhân dân ta đã có kinh nghiệm về thành tích đốt nhà, phá đình, phá
chùa, tàn sát đàn ông, hãm hiếp đàn
bà con gái, vơ vét của cải mang đi .(Sẽ được nói rõ hơn ở Phần III)]
2.- Nêu cao mục tiêu tranh đấu bằng cách
công bố và phổ biến rộng rãi bản tuyên cáo trên đây bằng tất cả mọi
phương tiện truyền thông và tung cán bộ dấn thân vào trong đại khối nhân
dân ở Việt Nam cũng như ở hải ngọai để
giải thích tường tận mục tiêu tranh
đấu và những gì mà nhân dân còn thắc mắc. Có như vậy thì mới làm an
lòng đại khối nhân dân đã từng là nạn nhân thảm khốc của Giáo Hội
La Mã từ năm 1858 đến tháng 7 năm 1954 trong toàn quốc và riêng nhân dân
miền Nam Việt Nam cho đến ngày 30/4/1975..
GIAI
ĐỌAN IV.- Công bố một bản cáo trạng kể rõ tội ác của Giáo Hội La
Mã đối với dân tộc Việt Nam, trong đó có những tội ác :
1.-
Chủ mưu và thuyết phục Đế Quốc Pháp xuất quân đánh chiếm đất nước
ta từ giữa thế kỷ 19 để cùng thống trị toàn cõi Đông Dương cho đến
1954.
2.-
Dựa hơi chính quyền Bảo Hộ Pháp -
Vatican từ năm 1862 cho đến 1945 để
chiếm đọat tài nguyên quốc gia, bóc lột nhân dân bằng nhiều hình thức
thuế khóa (thuế thân, thuế muối,.thuế rượu, v.v...), bằng của lễ dâng
cúng qua sự bố trí và xúi giục của các tu sĩ tay sai.Nhờ vậy mà Giáo Hội
trở thành một địa chủ giầu có nhất ở Việt Nam và nhân dân ta rơi vào
thảm họa chết đói cả hai triệu người vào mùa Xuân năm Ất Dậu 1945
.(Sé được trình bày rõ ràng trong sách Tội Ác Của Giáo Hội La Mã Tại
Việt Nam).
3.-
Thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội. Chính
sách này đã tạo nên những loại người có bằng cấp, có tước vị rồi
cho nắm giữ những chức vụ lớn, chức vụ nhỏ hoặc là trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội,
hoặc là trong các chính quyền bù
nhìn Bảo Đại và các chế độ đạo phiệt
Gia-tô ở miền Nam. Tác hại của chính sách ngu dân và giáo dục
nhồi sọ này thật là ghê gớm. Chúng ta có thể nhìn thấy rõ những tác
hại này qua những sự kiện sau đây
3.1.-
Những người có bằng cấp đại học, có tước vị trong hệ thống quyền
lực của Giáo Hội La Mã hay đã từng nắm giữ những chức vụ quan trọng
trong các chế độ đạo phiệt Gia-tô ở miền Nam, nhưng họ lại không biết
sử dụng lý trí để lý luận và
phân tách hầu có thể nhận ra sự khác biệt giữa::
a.-
điều phải và điều trái,
b.-
ý kiến (opinons), và sự kiện (facts),
c.-
lương tri, lương tâm, quy luật đao đức, quy luật nhân đạo và tín lý bịp bợm của Giáo Hội La Mã,
d.- quyền lợi tối thượng của đất nước, của dân tộc và quyền lợi của quân cướp xâm lăng
được tàng hình bằng danh xưng tôn giáo.
3.2.--
Nhiều người đã có bằng cử nhân
luật, đã từng giữ chức vụ thẩm phán tại tòa án Sàigòn, hoặc đã
được cho làm thượng nghị sĩ trong cái quốc hội bù nhìn tại miền Nam
trước tháng 4 năm 1975, có những người đã tốt nghiệp trước Quốc Gia
Hành Chánh và đã từng nắm giứ các chức vụ chỉ huy trong chính quyền
miền Nam trước đây, nhưng lại không biết viết một bài "điểm sách".
Khi viết "điểm sách" của một tác giả nói lên những sự thật
lịch sử của liên hệ tới Giáo Hội hay các chính quyền tay sai của Giáo
Hội thì họ lại viết bài "điểm mặt" nhằm chửi bới và hạ
nhục tác giả để tâng công với Giáo Hội. Trong các ấn phẩm của họ
thường có những tình trạng "câu sau đá ngược câu trước",
"đọan văn sau đá ngược đọan văn
trước", "lý luận cuội",
"cãi cố, cãi chày", v.v..
3.3.-
Linh- mục Hoàng Quỳnh tuyên bố "Thà mất
nước, chứ không thà mất Chúa". Thật ra, nếu quả thật có Chúa
thì Chúa ở trong tâm hồn của tin đồ thì
làm sao có thể mất được. Chủ tâm của họ là muốn dâng nước Việt
Nam cho Giáo Hội La Mã
3.4.-
Tổng Thống Gia-tô Ngô Đình Diêm tuyên bố rằng, "ông tin tưởng vào quyền lực Vatican và ông
chống Cộng một cách cực lực" [3] khi ông nói chuyện với với
nhiều nhân vật cao cấp của Bộ Ngọai Giáo Hoa Kỳ trong bữa tiệc được
tổ chức tại Khách Sạn Mayflower Washington D.C. vào một buổi chiều trong
tháng 10 năm 1950, và sau khi được đưa lên cầm quyền trong một
thời gian ngắn, ông liền cho tổ chức một buổi đại lễ vô cùng long trọng
tại trước nhà thờ chính tòa
Sàigòn vào tháng 2 năm 1959 để chính ông nhân danh Tổng Thống Việt Nam Cộng
Hòa dâng nước Việt Nam cho Giáo Hội La Mã được ngụy trang là "Đức
Mẹ Vô Nhiễm" với sự hiện diện của Hồng Y Agianian, Khâm Sứ đại
diện của Tòa Thánh Vatican (Giáo Hội La Mã) đứng ra tiếp nhận. [4]
3.5.-
Giáo Hội La Mã dạy dỗ các ông linh mục rằng nếu cần phải chọn lựa
giữa quê hương và Giáo Hội thì họ phải
từ bỏ quê hương. Lời tự
thú công khai của Linh-mục Trịnh Văn
Phát với nguyên văn như sau:
"Trong suốt thời gian ở Việt Nam tôi đã suy
nghĩ và tự hỏi mình phải làm gì cho quê hương và Giáo Hội. Giúp quê hương
không phải là bổn phận trực tiếp của tôi, nhưng tôi có bổn phận với
Giáo Hội vì tôi là người của Giáo Hội và được đào tạo để sau này
phục vụ cho Giáo Hội. Có nhiều anh em yêu cầu tôi về giúp cho địa phận,
tôi thẳng thắn trả lời là tôi không có tự do chọn lựa, tôi được huấn
luyện để phục vụ theo nhu cầu của Giáo Hội." [5] .
3.6.-
Pétrus Trương Vĩnh Ký viết thư yêu cầu quân Pháp tấn công vào Việt Nam
để giúp cho giáo dân Gia-tô nổi lọan chống triều đình nhà Nguyễn.
3.7.-
Linh-mục Trần Lục dẫn hơn 5 ngàn quân lính thập tự và giáo dân tiếp
viện cho liên quân giặc Pháp Vatican tiến
đánh tiêu diệt căn cứ kháng chiến nghĩa quân ở Ba Đình (Thanh Hóa) dưới
quyền chỉ huy của cụ Đinh Công Tráng vào những năm 1894-1895.
3.8.-
Ông Gia-tô Nguyễn Văn Chức viết lá thư đề ngày 25 tháng 2 năm 1955 thỉnh
cầu Thủ Tướng Ngô Đình Diệm thành lập đạo quân thập tự Việt Nam
để củng cố và bảo vệ chế độ đạo phiệt Gia-tô tại miền Nam Việt
Nam.
3.9.-
Những hành động của tu sĩ và tín
đồ Gia-tô
tiếp tay cho liên quân giặc Pháp -Vatican trong suốt thời kỳ
1858 cho đến tháng 7 năm 1954.
3.10.-
Những hành động của tú sĩ và tín đồ Gia-tô tích cực bảo vệ các chế
độ đạo phiệt Gia-tô ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 và
bào chữa những rặng núi tộc ác của các chế độ này..
4- Liên kết với Hoa Kỳ để thi hành sách lược
"cú đội lông công" và "cáo đội lốt hùm", dựa hơi siêu cường
Hoa Kỳ để thống tri miền Nam Việt Nam qua hai chế đô đạo phiệt Gia-tô
Ngô Đình Diệm và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu. [Nói cho đúng sự
thật là Giáo Hội La Mã đã được Hoa Kỳ cho nắm độc quyền bao thầu dịch
vụ Chống Cộng tại miền Nam Việt Nam.]
5.- Tiến hành Kế Họach Kitô Hóa được nguy
trang bằng cụm từ "chiến dịch Tố Cộng" tại các tỉnh Liên khu
V, sát hại tới cả 300 ngàn nạn nhân ở vùng này trong những năm 1955-1963 qua những chiến dịch làm sáng danh Chúa
được ngụy trang bằng luật số 47
ban hành ngày 21 tháng 8 năm 1956 và luật 10/59
ban hành ngày 6 tháng 5 năm 1959.
6.-
Dựa thế chính quyền cướp đọat tài sản quốc gia trên lãnh thổ miền
Nam và bóc lột nhân dân miền Nam bằng trăm phương ngàn kế. [6]
7.-
Đòi hỏi Giáo Hội La Mã phải bồi thường chiến tranh cho Việt Nam giống
như Đế Quốc Pháp và Đế Quốc Nhật Bản đã phải làm đối với nước
ta trước đây.
8.
Đòi hỏi Giáo Hội La Mã có trách nhiệm
phải hoàn trả lại cho dân tộc Việt
Nam tất cả những gì mà Giáo Hội đã dựa vào bạo lực của chính quyền
bảo hộ trong suốt thời gian từ 1862 cho đến tháng 7 năm 1954 trên toàn
lãnh thổ Việt Nam và từ tháng 7 năm 1954 cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975
ở miền Nam Viêt Nam. Đó là những
khoản tài sản quốc gia mà Giáo Hội chiếm đoạt, tiền của đã bóc lột
của nhân dân [đã được vận chuyển về Tòa Thánh Vatican (động sản) và
còn ở Việt Nam (tất cả các bất động sản)]
9.-
Đòi hỏi Giáo Hội La Mã phải bồi thường những thiệt hại về phương
diện tinh thần mà Giáo Hội đã gây ra cho quốc gia và nhân dân Việt Nam
trong suốt thời gian nắm vai trò đồng thống tri với Đế Quốc Pháp và
Hoa Kỳ từ năm 1862 cho đến ngày 30/4/1975.
GIAI
ĐOẠN V.- Chính qúy vị phải dấn thân về nước tuyển mộ người vào tổ
chức để thành lập chiến khu cách mạng và các đạo quân xung kích,.
Chính quý vị phải dấn thân về Việt Nam sống chung và đồng cam cộng khổ
với anh em chiến sĩ để cùng tranh đấu, cùng chìm nồi với đồng bào
ở trong nước, và cùng quyết tâm hy sinh liều chết cho đại cuộc giống như các lực lượng kháng chiến của tiền nhân ta đã làm từ cuối
thập niên 1850 cho đến ngày 20/ 7/1954.
VI.-
Công bố một bản tuyên ngôn nói rằng nếu Cách Mạng thành công thì sẽ
triệu tập một quốc hội hay hội
nghi lập hiến. Nhiệm vụ của Quốc Hội hay
Hội Nghị Lập Hiến là điều nghiên
các bản hiến pháp của Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản, Ấn Độ và các nước dân
chủ thực sự khác ở trên thế giới để biên soạn một bản hiến pháp
đặt nền tảng cho một chính quyền dân chủ tự do giống như các nước
dân chủ tư do tiền tiến (Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản), phải thích hợp cho hoàn cảnh đất nước Việt
Nam với một quốc hội độc viện hay lưỡng viện và có quan hành pháp theo chế độ tổng
thống hay chế độ đại nghị, nhưng điều quan trọng là phải có những
điều căn bản dưới đây:
1.-
Công nhận những quyền bất khả nhượng và những quyền tự do khác của người dân,
2.-
Hạn chế nhiệm kỳ Tống Thống không quá hai nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ
là 4 năm.
3.-
Phải có những biện pháp chế tài đối với các viên chức cao cấp trong
chính quyền từ tổng thống trở xuống tới các chức vụ tổng bộ trưởng cho đến mấy ông phường
trưởng và khóm trưởng giống như điều khỏan
"Impeachment" trong hiến pháp Hoa Kỳ
4.-
Tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền,
5.-
Lập một hiến chế cho các tu sĩ phải
tuân hành hiến pháp và luật lệ quốc gia. Tu sĩ phải do chính quyền Việt
Nam bổ nhậm và bãi chức, không bị chi phối hay phải tuân hành một thế
lực tôn giáo nào ở ngòai lãnh thổ Việt Nam, giống như chính quyền Cách
Mạng Pháp 1789 đã làm đối với Giáo Hội La Mã..
Thời
hạn tối đa là 6 tháng kể từ ngày khởi họp.
GIAI
ĐOẠN VII.- Sau khi sọan thảo xong hiến
pháp, công bố ngày tổ chức bầu cử tổng thống và phó thổng thống và
quốc hội lập pháp cách mạng. Quốc hội lập pháp có nhiệm vụ phải
làm những luật lệ cách mạng để đối phó với Giáo hội La Mã giống như Cách Mạng Pháp 1789, Cách Mạng
Ý Đại Lợi 1890 và Cách Mạng Mễ Tây Cơ 1857, v...v.. đã làm ngay khi cách
mạng vừa lên nắm chính quyền (sẽ được trinh bày rõ ràng ở trong tập
sách này ở Phần IV).
Quý
vị đừng quên rằng không phải chỉ có
dân tộc Việt Nam mà hầu như tất cả các dân tộc trên thế giới đều
coi Giáo Hội La Mã là kẻ thù nguy hiếm nhất, thâm độc nhất, bạo ngược
nhất và dã man nhất. Xin kể ra những kinh nghiệm của các dân tộc trên đối với Giáo Hội La Mã:
1.-
Tất cả các nước theo Hồi Giáo, Do Thái Giáo, Chính
Thống Giáo và Tin Lành bất cộng đái
thiên với Giáo Hội La Mã.
2.-
Tất cả các nước theo Phật Giáo, Ấn Độ Giáo, Khổng Giáo và Thần Đạo
(Nhật Bản) thì khinh rẻ Giáo Hội La Mã như là một tổ chức chính trị
lưu manh mượn danh nghĩa những tín
lý bịp bợm để lừa bịp người đời trong mưu đồ bành trướng chủ
nghĩa bá quyền.
3.-
Còn các nước theo đao Gia-tô mà đại đa số vốn là tín đồ của Giáo Hội
như Cuba, Ba Lan, Pháp, Tây Ban Nha, Mễ Tây Cơ, Ý Đại Lợi, Tiệp Khắc thì
cũng nghỉ chơi với Giáo Hội và đều có điều khỏan "tôn giáo tách rời khỏi chính quyền"
được ghi trong hiến pháp của nước họ. Phần IV của tập sách này sẽ
trình bày rõ ràng lòng thù ghét và ghê tởm của nhân dân thế giới đối
với Giáo Hội La Mã.
4.-
Riêng đối với nhân dân miền Nam Việt Nam, muốn biết lòng dân đối với
Giáo Hội La Mã và chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm như thế nào,
xin hãy coi lại khúc phim thời sự Việt
Nam vào buổi sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963. Xem
xong rồi, quý vị sẽ thấy nhân dân Sàigòn lũ lượt kéo nhau ra ngoài đường
phố như những dòng thác với cả
hàng rừng người hân hoan hò reo vui mừng và chen chúc nhau để được bắt
tay những người lính làm Cách Mạng
lật đổ chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm trong ngày 1/11/1963.
Xem xong rồi, quý vị hãy suy nghĩ xem có nên tiếp tục làm cái việc phục
hồi miền Nam Việt Nam hay không?
PHẢI
CÓ THỰC TÂM
Nếu
việc làm của quý vị thực sự có chính nghĩa vì dân tộc, vì tổ quốc
và vì giống nòi thì quý vị phải làm như vậy.Có làm như vậy thì mới
có thể tạo được thực lực, mới được nhân dân hậu thuẫn và ủng hộ,
rồi sẽ nô nức hăng say đi theo qúy vị như họ đã đi theo Mặt Trận Việt
Minh trong thời Kháng chiến 1945-1954.
Trái
lại, nếu quý vị cứ khăng khăng đòi PHỤC HỒI Việt Nam Cộng Hòa tức
là quý vị có mưu đồ phá vỡ nền
thống nhất đất nước và tái lập chế
độ đạo phiệt Gia-tô giống như chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình
Diệm hay chế độ quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu trong những năm
1954-1975, tức là phục hồi quyền lực cho Giáo Hội La Mã ở miền Nam Việt
Nam như trước ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Trước
khi muốn tiến hành xây một căn nhà mới, quý vị phải lo đào bới những đống phân còn lại lúc nhúc những côn trùng giòi bọ còn lại
[do đàn giòi bọ lãnh chúa áo đen ở
hậu trường như Ngô Đình Thục, Phạm Ngọc Chi, Nguyễn Văn Thuận, Mai Ngọc
Khuê, Hoàng Quỳnh, Đinh Xuân Hải, Trần Đình Vận, Tô Đình Sơn, Phan Lạc
Hóa, Nguyễn Bá Lộc, v.v.. sinh sản ra hay bọn hậu duệ hoặc tàn tích của
đàn giòi bọ này] ở trong đó mà đem đi
đổ lên bờ biển Địa Trung Hải để cho "Châu về Hợp Phố",
sau đó đem bột DTT và những loại
thuốc sát trùng cực mạnh khác về tẩy uế, cho sạch mùi hôi thối. Có
như thế căn nhà mới [chế độ hoàn
toàn mới ] mới có giá trị. (Chế
độ mới này phải thực sự dân chủ, chứ không phải dân chủ giả hiệu
như chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu trong thời
1954-1975) với một lá cờ hoàn toàn mới
(chứ không phải lá cờ vàng ba sọc của cái thời liên quân giặc Pháp -
Vatican làm ra vảo năm 1948 mạ kền cho chính quyền bù nhìn Bảo Đại) và một
quân đội hoàn toàn mới, (chứ không phải là một thứ quân đội hậu thân của liên
quân giặc xâm lăng Pháp - Vatican và
quân thập tự cướp của giết người
hãm hiếp đàn bà con gái của thời Kháng
Chiến 1945-1954)]?.
Quân
đội mới phải là quân đội từ nhân dân mà ra, chiến đấu cho nhân
dân, bảo vệ và che chở cho nhân dân, chứ không phải là quân lính ăn cướp
như bọn lính trong liên quân giặc
Pháp - Vatican và các đạo quân thập tự Việt
Nam ở các các xóm đạo và giáo khu
trong thời Kháng Chiến 1945-1954,
Cần
phải nhận thức rằng suốt trong thời gian từ năm 1945 cho đến tháng 4 năm 1975, những người Việt Nam tình
nguyện hay bị cưỡng bách phải cầm súng chiến đấu trong hàng ngũ của
Liên Minh Đế Quốc Xâm Lăng Pháp
Vatican (1945-1954) và dưới chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và
quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu không có chính nghĩa và cũng không thể
tạo ra chính nghĩa. Lý do rất đơn giản là cả hai Đế Quốc Pháp và Đế
Quốc Vatican (tức Giáo Hội La Mã) cùng với tập đoàn tu sĩ Gia-tô người
Âu và người Việt đều là kẻ thù của tổ quốc và dân tộc Việt Nam
vì hành động tấn chiếm và thống trị Việt Nam của Vatican và Pháp từ năm 1858.
Trong
thời kỳ Kháng Chiến 1945-1954, chính Đế Quốc Pháp, Đế Quốc Vatican và
phần lớn tập đòan tu sĩ Gia-tô người Âu và người Việt cấu kết với
nhau tiến hành cuộc chiến chống lại tổ quốc
và dân tộc Việt Nam để duy trì nền thống trị của Pháp và
của Vatican tại Đông Dương nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Trong thời
kỳ 1954-1975, chính Đế Quốc Vatican và tập
đoàn tu sĩ Gia -tô người Việt được chính quyền Hoa Kỳ đỡ
đầu nặn ra hai chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt
Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu để làm tay sai cho cả Hoa Kỳ và Vatican (sẽ nói
rõ trong Phần II và Phần III trong tập sách này). Những sự kiện trên đây
cho chúng ta thấy rõ là những người chiến đấu dưới lá cờ vàng ba sọc
đỏ trong suốt thời kỳ 1945-1975 chỉ
là chiến đấu cho kẻ thù của dân tộc là
Đế Quốc Vatican và các quốc gia đồng minh của đế quốc này mà thôi. Thử hỏi như vậy thì làm sao
mà có chính nghĩa được?
Cần
phải nhận thức rằng trong bất kỳ tổ chức chính trị hay cuôc chiến
nào mà có bóng dáng của Giáo Hội La Mã hay
bóng dáng bọn tay sai của Giáo Hội
(những người còn giữ lòng trung thành với Vatican) ở trong đó
thì sẽ hoàn toàn không có chính nghĩa.
Vì
thế mà chúng ta cần phải dứt khoát
để quyết định chủ trường chiến đấu để có một chế độ dân chủ
thực sự (không có bóng dáng của Giáo Hội La Mã) với mới cho một quân
đội hoàn toàn mới và một lá cờ mới. Có như vậy thì chúng ta mới có
hy vọng lấy lại được niềm tin đối với quốc dân Việt Nam.
Giáo
Hội La Mã với một hệ thống tín
lý tích bịp bợm trắng trợn ngoài sức
tưởng tượng của lòai người, với những kỷ lục về những hành động
bạo ngược và dã man nhất trong lịch sử nhân loại, với những thành
tích gian dối, quay quắt, lắt léo, quanh co và lươn lẹo vô địch cổ kim,
với một tập đòan tu sĩ có những
đời sống bê bối thối tha lừng danh trên thế giới, tất cả đã trở thành một đóng rác lúc nhúc những
giòi bọ nằm bên cạnh dẫy cầu tiêu công cộng sặc mùi xú uế tại một
thành phố lớn trong một quốc gia chậm tiến, thiếu người quản lý công
việc vệ sinh chung.
Kiến
tạo một nền dân chủ thực sự tai một quốc gia cũng giống như một cặp
uyên ương mới thành đôi tính đến chuyện kiếm một căn nhà làm tổ ấm. Không có một cặp uyên ương mới thành
đôi nào lại nghĩ đến xây tổ ấm trên một đống rác bên cạnh đống
phân đầy những côn trùng, giòi bọ và sặc mùi xú uế. Một em bé vừa học xong bậc tiểu học cũng nhận thức
được điều này.. Phải chăng những người khoa bảng như quý vi không ại
không nhìn thấy vấn đề này cho nên
mới tính chuyện "Phục Hồi Miền Nam Việt Nam", "Phục Hồi Việt Nam Cộng Hòa", "Phục Hồi Niềm Tin"
"Phục Hồi Tinh Thần Ngô Đình Diệm" và "Phục Hồi
Quyền Lực cho Giáo Hội La Mã ở Việt
Nam" như vậy?
1.-
Là những người khoa bảng chẳng lẽ mà quý vi lại không biết trong hiến
pháp của các quốc gia theo chế độ dân chủ ở
khắp nơi trên thế giới đều có điều khỏan "Tôn Giáo phải tách rời
khỏi chính quyền" hay sao?
2.
- Là những người khoa bảng, chẳng lẽ quý vị lại không biết các nước
Anh, Pháp, Ý, Mễ Tây Cơ, Tây Ban Nha, Nhât Bản,
Trung Hoa, Hoa Kỳ và dân tộc Việt Nam ta đã phải mất bao nhiêu công lao
và xương máu trong những cuộc chiến đẫm máu chống lại Giáo Hội La Mã
để bảo toàn nền độc lập và khỏi bị
Giáo Hội phá vỡ nền thống nhất đất nước của họ, hay sao?[ Phần IV của tập sách này sẽ trình
bày vấn đề này để quý vị và độc giả nhìn thấy rõ bộ mặt thật
của Giáo Hội nó ghê tởm như thế nào!]
Người
viết tạm thời nêu lên mấy vấn đề trên đây với hy vọng quý vị động
não và tìm ra những lời giải đáp cho những vấn đề này để rồi quyết
định có nên làm việc này không..
Là
người Việt Nam, quý vị phải nên biết rằng tiền nhân ta trong đó có Mặt
Trận Việt Minh đã khổ công lắm mới hoàn thành được sự nghiệp đánh
đuổi liên quân cướp ngọai xâm
Pháp - Vatican để giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc và sự nghiệp
thống nhất đất nước. Vần đề còn lại là phải tranh đấu để có một chế độ dân chủ
thực sự. Tranh đấu để có một chế độ dân chủ, chứ không phải phế bỏ chế độ độc tài
hiện tại để tái lập chế độ đạo phiệt Gia-tô , một chế độ đạo
phiệt còn tệ hại gấp cả hàng
ngàn lần so với chính quyền Việt
Nam hiện bây giờ. Bằng chứng
là :
1.- Nước Cuba
với tỉ lệ tín đồ Gia-tô của Giáo Hội chiếm tới gần 100%, ấy thế mà họ thà cương
quyết sống với chế độ độc tài của ông Fidel Castro còn hơn là phục
hội chế độ đạo phiệt Gia-tô Batista của thời 1952-1959.
2.- Nước Ba Lan
với tỉ lệ tín đồ Gia-tô của Giáo
Hội chiếm tới 95% và đã có kinh
nghiệm hơn 40 năm sống trong chế độ Cộng Sản, ấy thế mà khi có cuộc
bầu cử tự do được tổ chức vào ngày 19/11/1995 thì họ thà chọn một
ứng cử viện cựu đảng viên Cộng Sản là ông
Aleksander Kwasniewski còn hơn là chọn ông Gia-tô Lech Walesa, một tín đồ
ngoan đạo tay sai đắc lực của Giáo Hội La Mã.
3.-
Nước Nicaragua (Trung Mỹ) với tỉ lệ
tín đồ Gia-tô của Giáo Hội chiếm tới 95% cũng đã cố gắng giẫy dụa
cả thập niên 1980 để thoát khỏi cái ách thống trị tham tàn bạo ngược của băng dản "quạ
đen" tay sai của Giáo Hội.
4.-
Các nước Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Tiệp Khắc và Mễ Tây Cơ đều có tỉ lệ
tín đồ Gia-tô chiếm tới trên 90 % nhưng đều ghê tởm Giáo Hội La Mã và đều phải dùng biện pháp mạnh để
đối phó với Giáo Hội.
Phục
hồi Miền Nam Việt Nam tất nhiên là phải có một chính quyền lâm thời thay thế chính quyền hiện tại
để quản lý nhân dân, tổ chức và quản lý
công việc bầu cử tuyển chọn người thành lập tân chính quyền
thực sự vì dân, do dân và bởi dân. Vậy thì chính quyền lâm thời đó sẽ
như thế nào?
1.-
Người lên nắm quyền lãnh đạo chính quyền sẽ phải có những điều kiện
như thế nào?
2.-
Những người được đưa lên nắm giữ những chức vụ quan trọng trong
chính quyền phải có những điều kiện như thế nào?
3.-
Liệu có những tổ chức công an, mật vụ, cảnh sát giống như 13 tổ chức
công an mật vụ khác nhau giống như thời chế độ đạo phiệt Gia-tô ngô
Đình Diệm không?
4.-
Liệu có diền trò bầu cử bịp bợm như thời chế độ đạo phiệt Gia-tô
Ngô Đình Diệm và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu không?
5.-
Liệu có tránh được cái tệ nạn chụp mũ Cộng Sản gống như chế độ đạo phiệt Gia-tô
Ngô Đình Diệm đã làm trong các tỉnh Liên Khu V trong những năm 1955-1963 không?
6.-
Liệu có tránh được tệ trạng chụp
mũ cho những người bất đồng chính kiến với mình như tình trạng các
ông các bà thao túng các cơ quan truyền thông Việt ngữ và thao túng các đồng
người Việt ở hải ngoại đang làm hay không?
7.-
Liệu có tránh khỏi thảm họa trả
thù giống như những thảm họa trả thù trong lịch sử như những trường
hợp dưới đây:
7.1.- Nạn "Khủng Bố Trắng" (La Terreur
Blanche) trong những năm 1815-1830 ở Pháp sau khi Liên Minh Thánh (Holy Alliance) [do Giáo Hội La Mã vận động thành lập gồm các nước Áo,
Phổ, Anh và Nga] kéo quân vào nước Pháp tiêu diệt chính quyền của Hoàng
Đế Napoléon I và phục hồi vương quyền cho dòng họ Bourbons với hai ông
vua Louis XVIIII (1814-1824) và Charles X
(1824-1830)
7.2.-
Thảm họa trả thù của Vua Lê Chiêu Thống được quân Thanh đưa về
Thăng Long vào những tháng cuối năm 1788..
7.3.-
Thảm họa trả thù của vua Gia Long vào những năm tiếp theo khi ông vừa
chiếm được Bắc Hà vào năm 1802.
7.4.-
Thảm họa trả thù trong thời chế độ đạo phiệt Gia tô Ngô Đình Diệm
ở Liên Khu V và sau ngày Chính Biến 11/11/1960.
Trong
thời chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm, riêng các tỉnh Thừa
Thiên, Huế, Quảng Nam, Quảng Nghĩa, Bình Định và Tuy Hòa, con số nạn
nhân bị chụp mũ là Cộng Sản và bị thủ tiêu lên đến khoảng 300.000
(300 ngàn) người. Nếu kể cả những nạn nhận bị thủ tiêu ở miền
Nam, con số nạn nhân lên tới trên dưới 400 ngàn (sẽ nói rõ ở phần
sau), trong đó nổi tiếng nhật là vụ
tàn sát người tập thể trong trại giam Phú Lợi. Nói về trại giam Phú Lợi, sách Việt Nam Niên Biểu
1939-1975 Tập I - C: 1955-1963 của Chính Đạo ghi nhận sắc lệnh này như
sau:
"11/1/1956: SÀIGÒN:
Diệm ký Sắc Lệnh số 6, bắt giữ bất cứ ai có hành động làm hại đến
an ninh công cộng.[ 17/1/1956]
Theo
tài liệu chính phủ, trong năm 1956, có khỏang 20 ngàn cán bộ Cộng Sản
bị cải huấn tại các trại tập trung. Đáng kể nhất là trung tâm Phú Lợi
(6 ngàn).
Tài
liệu Pháp ghi nhận khoảng 50
ngàn (Gravel,
I:311). [Xem 21/8/1956 (7)]
Những
bài học lịch sử trên đây cho phép chúng ta tiên liệu rằng NẾU Thỉnh
Nguyện Thư trên đây của quý vị được Liên Hiệp Quốc và Hoa Kỳ chấp
thuận và được thể hiện ra thành sự
thực như ý muốn của quý vị thì chắc chắn sẽ có thảm họa tắm máu
vô cùng khủng khiếp. Con số nạn nhân tiên đóan không phải là 400 ngàn (như thời chế độ đạo phiệt Gia-tô
Ngô Đình Diệm) và cũng không phải là 1 triệu, mà sẽ lên đến nhiều
triệu người. Với những sách báo của các tác giả Gia-tô tràn ngập những lời sỉ vả những người
có liên hệ đến các phong trào chống lại nhà Ngô và chửi rủa các tác giả có ấn phẩm
nói lên những sự thật về những việc làm bất chính, bất nhân và dã man của Giáo hội La Mã và của chế
độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm, người viết tiên liệu sẽ có
hàng triệu nạn nhân là ít. Khi đó, những người như cựu Tướng Nguyễn
Chánh Thi, Cựu Đại Tá Phạm Văn Liễu, Cựu Trung Tá Nguyễn Kiên Hùng, tất
cả những người liên hệ vói cuộc chính biến 11/11/1960, cựu Đại Úy
Nguyễn Văn Cử và tất những người liên hệ đến vụ bỏ bom Dinh Độc
Lập vào sáng ngày 27/2/1962, tất cả
các nhân sĩ Tiến Bộ ký tên trong bản Tuyên Ngôn đề ngày 26/4/1960 gửi Tổng
Thống Ngô Đình Diệm yêu cầu sửa sai chính sách, tất cả những người
liên hệ đến cuộc Cách Mạng 1/11/1963, tất cả các Phật Tử liên hệ đến
phong trào Phật Giáo đòi thực thi công bằng tôn giáo trong năm 1963, tất cả những người đã tham gia phong trào học
sinh và sinh viên chống chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm trong
mùa Hè và mùa Thu năm 1963, sử gia Vũ Ngự Chiêu, nhà văn kiêm nghề MC Nguyễn
Ngọc Ngạn, các ca sĩ Thanh Lan, Hương
Lan, Phương Trinh, Hoài Linh, Thanh Tuyền, Ngọc Huyền, tất cả những người ưa thích nghe nhạc Trịnh Công Sơn, tất cả những người có
cảm tình và tỏ ra quý mên nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tất cả những tác
giả trong nhóm Giáo Điểm và những độc giả các ấn phẩm của nhóm
Giáo Điểm v. v..., và tất cả những
công nhân viên nhà nước hiện nay và thân nhân của họ ở miền Nam Việt Nam NẾU phải
sống dưới chế độ khốn nạn này thì chắc chắn cũng sẽ trở
thành những nạn nhân giống như trên dưới 400 ngàn nạn nhân của chế độ
đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm trong các tỉnh thuộc Liên Khu V vào những
năm 1955-1963.
Nói
tóm lại, hai chế đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Gia-tô
Nguyễn Văn Thiệu khốn nạn như thế đó. Nó giống như cái cầu tiêu đã
bị ngọn lửa căm thù của nhân dân Việt Nam thiêu
rụi mất rồi.
Phần
lớn những người nằm trong giai cấp thống trị của hai chế độ đạo
phiệt Gia-tô Ngô Đình và quân phiệt
Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu là những tín đồ ngoan đạo và một số những
người khác chưa hẳn là tín đồ Gia-tô nhưng là cảm tình viên và là đồng
minh của Giáo Hội ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Vì thế
ta gọi họ là những người "trung thành" với Giáo hội hay Tòa
Thánh Vatican. Trong chính quyền cũng như trong quân đội, hai loại người trên
đây được trao cho nắm giữ các chức vụ chỉ huy hay có quyền sinh sát
(công an, mật vụ, an ninh, và cảnh sát) đối với nhân dân. Có khi
chỉ là nhân viên thư ký trong một cơ quan, nhưng vì có sự đỡ đầu của một cán bộ có quyền lực của Giáo Hội hay của một
ông linh mục, họ cũng có quyền ăn
hiếp cả những người nắm giữ chức vụ lớn
hơn nhưng chỉ là hữu danh vô thực. Là tín đồ Gia-tô, họ có cả trăm
phương ngàn kế được hoãn dịch hay miễn đi lính, sau đó được đưa vào
học các trường Quốc Gia Hành Chánh hay các trường đại học khác, rồi
bàn tay phù thủy của bọn lãnh chúa áo đen giúp cho họ tốt nghiệp ra trường
và được bổ nhâm vào các chức vụ chỉ huy trong chính quyền. Trong các
ngành cảnh sát, công an, mật vụ và an ninh, nhan nhản những tin đồ Gia-tô.
Người viết làm con tính, tại mấy tỉnh miền Tây tiểu bang Washington, khoảng gần 300 tín đồ Gia-tô ở vào lứa tuổi phải
đi lính trong thời chiến tranh 1960-1975, nhưng chưa bao giờ đi lính. Phần lớn
họ là dân tu xuất, tốt nghiệp trường
Quốc Gia Hành Chánh hay các trường đại học khác, nắm giữ những chức
vụ chỉ huy trong chính quyền miền Nam ngày xưa. Một số lớn khác cũng
chưa bao giờ đi lính, được đưa vào làm vịệc trong các cơ quan công an,
cảnh sát hay mật vụ. Độc giả có
thể kiểm chứng vấn đề này ở ngay địa phương của quý vị.
Trong
những năm chiến tranh còn tiếp diễn, có nhiều thanh niên tuy không phải
là tín đồ Gia-tô, nhưng vốn là con em các gia đình khá giả mà phần lớn
ở các thành thị, được ăn học, [có khi theo học tại các trường đạo
(do Giáo Hội làm chủ)], rồi vì có bằng tú tài I hay tú tài II, hoặc là
bị động viên đưa vào trường Sĩ
Quan Thủ Đức, hoặc là tình nguyện
thi vào học các trường Võ Bị Đà Lạt, sĩ quan không quân, sĩ quan hải
quân, khi tốt nghiệp họ trở thành sĩ quan. Trước ngày 30/4/1975, có rất
nhiều người trong số những người này thường tỏ ra vô cùng bất mãn với
chính sách Gia-tô trị và tệ nạn tham nhũng của hai chế độ đạo phiệt
Gia-tô Ngô Đình Diệm.và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu, nhất là họ đã nhìn ra những việc làm tội ác của
các ông linh mục Gia-tô, của giới chức
lãnh đạo chính quyền trong Dinh Đôc Lập, Dinh Gia Long, và các viên chức khác trong các cơ quan chính quyền
từ trung ương cho đến các địa phương. Lúc đó, là một sĩ quan cấp nhỏ, họ cũng nắm quyền chỉ huy ít nhất từ 50 người
lính trở lên. Nếu nắm giữ chức vụ đại đội trưởng hay quận trưởng
trở lên, họ còn có ít nhất là một quân xa hay công xa và tài xế để sử
dụng riêng cho cá nhân, và có thể
có cả công xa hay quân xa riêng cho
gia đình, và ít nhất là hai hoặc ba
hay bốn người lính hầu tại gia. Cuộc sống của họ thất là vương giả,
thật là huy hoàng. Đúng là cái thời oanh liệt của họ.
NHỚ
TIẾC CÁI THỜI OANH LIỆT
Thế
rồi, sau biến cố 30/4/1975, họ mất hết tất cả và trở về làm phó thường dân. Khổ hơn nữa,
họ còn bị đưa vào trong các trại học tập sống kiếp tù tội dưới
quyền quản lý của các ông quản giáo. Thân phận của họ dĩ nhiên là
còn tệ hơn thân phận người lình hầu cận của Tướng Vĩnh Lộc mà
chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau. Tình trạng này khiến cho họ uất ức,
không còn nhớ gì đến tội ác của Giáo Hội La Mã và các chính quyền đạo
phiệt tay sai của Giáo Hội tại miền Nam trước ngày 30/4/1975. Khi được
ra hải ngọai sống lưu vong, trong không khí bừng bừng "chống Cộng miệng" qua một thế lực
tàng hình đạo diễn, thao túng các cơ quan truyền thông và các hội đoàn
tại các cộng đồng địa phương, dần dần họ trở thành những người
"trung thành" hay "bán trung thành" với Giáo Hội La Mã
hay Tòa Thánh Vatican.
Ngoài
ra, còn một số người khác nữa vốn không phải là tín đồ Gia-tô, cũng là con em các gia đình khá giả và phần
lớn cũng là dân thành thị hay vốn thuộc các gia đình giầu có ở nông
thôn và đã
sống ở đô thị nhiều năm để theo học tại các trường
trung học đệ nhị cấp [trước năm 1963 chỉ ở các thành phố lớn mới
có các trường trung học đệ nhị cấp]. Những người này vì gia đình
hay chính bản thân có nhiều mánh mung, giao thiệp với các nhân vật có thế
lực hay các ông linh mục, cho nên không những đã không phải đi lính mà lại
có những cơ sở làm ăn hái ra bạc. [Nhờ lúc đó đồng tiền của Hoa Kỳ
tung vào miền Nam Việt Nam và tỏa ra theo quy luật kinh tế dây chuyền, hay nhờ
ơn mưa móc của chính quyền]. Họ là những người đứng ngòai cuộc
chiến và đã làm giầu nhờ chiến tranh, và có khi còn đồng lõa với tham
nhũng trong các dịch vụ bao thầu cung cấp quân lương, quân nhu hay xây cất
các công sở của chính quyền.
Thể
rồi, sau ngày 30/4/1975, Hoa Kỳ cuốn gói bỏ chạy, chính quyền đạo phiệt
Gia-tô không còn nữa, quyền lực của mấy ông linh mục cũng không còn nữa,
đồng tiền của Hoa Kỳ tung vãi ra ở Miền
Nam Việt Nam cũng không còn nữa. Ơn mưa móc của chính quyền đạo phiệt
Gia-tô hay của mấy ông linh mục cũng không còn nữa. Thêm vào nữa, họ
(những người rất giỏi mánh mung làm ăn) lại bị chiến dịch đánh tư sản của chính quyền mới làm cho gia đình mất
hết cả tài sản.. Thân phận của họ bây giờ không khác gì những người
dân vô sản cùng đinh trong xã hội miền Nam trước ngày 30/4/1975 . Không phải
chỉ có thế, mối hận mất đi cuộc sống huy hoàng của ngày nào khiến cho họ sinh lòng uất
ức thù ghét chế độ đương thời. Rồi khi được ra hải ngọai sống
lưu vong, giống như những sĩ quân đi theo diện H.O. như đã nói ở trên, dần
dần họ trở thành những người bán Gia-tô và cũng tỏ lòng "trung thành" hay "bán trung thành" với Giáo Hội La Mã
hay Tòa Thánh Vatican.
Người
viết nghĩ rằng tất cả những người
trên đây ở vào trường hợp nào đi nữa thì kể từ ngày 30/4/1975 trở đi hòan cảnh
và thân phận của họ [những người còn giữ lòng trung thành với Vatican]
giống y hệt như hòan cảnh của những
người dân tại 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ chiến đấu bên cạnh Đế
Quốc Thực Dân Anh vào khi cuộc chiến
Cách Mạng Hoa Kỳ 1776-1783 thành công vào năm 1783..Câu chuyện như sau:
Năm
1776, nhân dân 13 thuộc địa Anh tại
Bắc Mỹ tuyên bố độc lập thành lập Liên Bang Hoa Kỳ, và quyết tâm đánh
đưổi quân Anh ra khỏi nước thì có một số dân ở 13 thuộc địa đứng
về phía đế quốc Anh, chiến đấu chống lại tân quốc gia Hoa Kỳ. Cuộc
chiến kéo dài gần tám năm thì quân Anh bị đại bại, phải cuốn gói ra
đi và cuối cùng phải ký Thỏa Hiệp Paris 1783, công nhận nền độc lập
của Hoa Kỳ. Khi cuốn gói ra đi khỏi các thụôc địa cũ ở Bắc Mỹ,
người Anh thu xếp cho những người dân thuộc địa trung thành với họ hoặc là di cư sang Anh quốc sinh sống hoặc
là di cư đến Canada lập nghiệp. Dưới đây là mấy đọan văn sử nói về
sự kiện này:
"Những người
dân thuộc địa trung thành với Anh quốc đi Nova Scotia (Canada).- Dù rằng
Canada không liên kết với các thuộc địa (Anh tại Bắc Mỹ) nhưng cũng bị ảnh hưởng sâu xa bởi cuộc
Cách Mạng Hoa Kỳ. Như các bạn đã thấy, không phải tất cả mọi người
trong 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ đều ủng hộ cuộc tranh đấu giành độc
lập tách ròi khỏi mẫu quốc (Anh). Có lẽ có tới 1 phần ba (1/3) dân thuộc
địa là những người "trung thành" với Anh quốc. Sau khi chiến
tranh chấm dứt, người ta (dân Hoa Kỳ) vẫn còn căm thù những người
"trung thành" này. Một số những người "trung thành" này
di cư đên Anh quốc. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người ở lại Mỹ Châu. Tại
sao họ lại không đi đến vùng đất thuộc nước Anh ở phía Bắc Hoa Kỳ?
Chình quyền Anh ở vùng đất này (Canada) sẵn sàng đón nhận và thu xếp
công việc chuyển vận họ di chuyển tới đó. Ở đó, họ sẽ được cấp
phát ruộng đât, nông cụ và các đồ tiếp liệu hàng ngày để họ có thể
lập nghiệp và ổn định cuộc sống ở nơi quê hương mới này.
Sau
khi thổa hiệp hòa bình được ký kết (giứa Anh và Hoa Kỳ) vào năm 1783,
nhiều người dân thuộc địa "trung thành" với Anh quốc [từ đây
gọi vắn tắt là những người "trung thành"] lũ lượt lên tầu
ở New York để đi về quê hương mới. Có cả những người quí tộc ăn mặc
sang trọng mang theo cả nô lệ và tài sản mà họ có thể mang đi được.
Cũng có những thương gia, bác sĩ, luật sư, quân nhân, công nhân và nông
dân. Đợt di cư của những người "trung thành" này khiến cho Hoa Kỳ
mất đi nhiều người giầu có nhất và học thức nhất.
Ba chục ngàn người tị nạn khỏe mạnh lên
tầu thuyền đi Nova Scotina. Đoàn tầu tị nạn tiến vào bỏ neo ở Halifax,
thành phố thủ đô của Nova Scotía.
Thành phố này vốn đã đông đúc từ trước, bấy giờ lại phải chứa thêm hàng ngàn người, phải có lương thực, nhà ở và ruộng đất
cho họ sinh nhai....
Sau
khi chiến tranh Cách Mạng 1776-1783 chấm
dứt, tiểu bang New York có tới 10 ngàn người "trung thành" vượt
biên giới chạy sang Canada. Phần lớn những người này định cư ở phía
Bắc hồ Ontario và dọc theo thượng lưu sông Saint Lawrence ở phía Tây Montréal, Vùng đất này vốn
là một phần của tỉnh Quebec của người Pháp trước đó. Những người
"trung thành" đến đây định cư được chính quyền Anh cấp phát đất đai, nông cụ và chẳng
bao lâu những căn nhà gỗ mọc lên và các làng thôn mở rộng đến các
vùng đất hoang vu."
[8]
Sự
kiện người Anh bị đại bại vào năm 1781, phải cuốn gói ra đi khỏi 13
thuộc địa của họ ở Bắc Mỹ và phải ký Thỏa Hiệp Paris 1783 công nhận
nền độc lập của Hoa Kỳ giống y hệt như quân Pháp đại bại tại Điện
Biên Phủ, phải lý Thỏa Hiệp Genève 1954 và công nhận nền độc lập của
các nước Đông Dương, và cũng giống
y như người Hoa Kỳ phải ký Thỏa Hiệp Paris 1973 cuốn gói ra đi để cho đất nước Viêt
Nam được thống nhất vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 .
Khi
người Anh cuốn gói ra đi khỏi 13 cựu
thuộc địa của họ ở Bắc Mỹ vào năm 1783, họ thu xếp cho những người
dân Bắc Mỹ còn trung thành với họ
đi sang định cư ở vùng đất Nova Scotia
thuộc Canada.
Khi
quân Thanh bị đại bại tại trận Đống Đa vào đầu năm 1789 phải chạy
về Tầu thì ông vua Việt gian Lê
Chiêu Thống cùng bọn gia nô kéo nhau chạy trốn
sang Tầu. Họ được triều đình nhà Thanh cho tá túc, cấp nhà
cho ở và
tháng tháng được cấp dưỡng ẩm thực cho đến khi chết. Khi người Pháp cuốn gói ra đi vào năm
1954, họ cũng thu xếp cho những người Việt đã chiến đấu bên cạnh họ
trong cuộc chiến 1945-1954, di cư sang Pháp lập nghiệp. Khi người Hoa Kỳ cuốn
gói ra đi khỏi miền Nam Việt Nam vào cuối tháng 4 năm 1975, họ cũng thu xếp
cho một số người Việt Nam đã làm việc trong các sở làm của họ tại
Việt Nam và những thành phần tay sai đắc lực của họ trong chính quyền
miền Nam Việt Nam để sang định cư và lập nghiệp ở Hoa Kỳ. Sau đó họ
lại còn mở ra những chương trình đặc biệt
với những quy chế đặc
biệt nhằm đãi ngộ những người Việt miền
Nam nhập cảnh vào Hoa Kỳ dễ dàng. Trong số những người
Việt được Hoa Kỳ đãi ngộ cho nhập cảnh vào Hoa Kỳ và được hưởng
quý chế tị nạn, có rất nhiều người chỉ là những thành phần tị nạn
kinh tế.
Ngoài
ra, trong số người Việt được hưởng quy chế tị nạn ở Hoa Kỳ, còn
có những người theo chủ thuyết "nơi
nào có tự do, nơi đó là quê hương". Họ không thích sống dưới
bất kỳ một chế độ đôc tài chuyên chính nào và rất thích được sống
dưới chế độ dân.chủ tự do thực sự như ở Hoa Kỳ. Nhân dịp
"ngàn năm một thuở" này, họ không bỏ lỡ cơ hội, cũng vượt
biển để xin được vào Hoa Kỳ với danh nghĩa là "tị nạn", hy vọng
sẽ có một tương lai khá giả về vật chất và có cơ hội tốt cho con cái
học hành, giống như những đợt người Việt đến Hoa Kỳ lập nghiệp vào
năm 1975..
Những
người trung thành với đế quốc Vatican hay Giáo Hội La Mã nếu còn một
chút liêm sỉ tối thiểu thì phải
nên dứt khoát:
1.-
Nếu nhận là người Việt Nam thực sự yêu nước Việt Nam hoặc tự phong
hay rêu rao là người yêu nước Việt Nam thì hãy
tuyên bố công khai dứt khoát ly khai với cái đạo cướp nước
có danh xưng là Giáo Hội La Mã và long trọng xác nhận rằng chỉ biết có
quyền lợi của tổ quốc và dân tộc Việt Nam như ông Charlie Nguyễn tức
Bùi Văn Chấn (tác giả các ấn phẩm
Công Giáo, Huyền Thọai và Tội Ác, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm, Thực Chất
Đạo Công Giáo Và Các Đạo Chúa), Linh-mục
Trần Tam Tỉnh (tác giả cuốn Thập Giá Và Lưỡi Gươm), ông Phạm Hữu Tạo
(Chủ bút tờ Đông Dương Thời Báo P.O. Box 671091, Houston, TX 77267-1091), ông
Phan Đình Diệm (Hội Trưởng Hội Giêsu Giáo
(11614 High Star Dr. Houston, TX 77072),
Bác-sĩ Nguyễn Văn Thọ * (Tác giả cuốn Khổng Học Tinh Hoa và nhiều ấn
phẩm khác), và rất nhiều tín đồ Gia-tô khác đã công khai đứng vào
hàng ngũ dân tộc trong các lực kháng
chiến của nhân dân ta từ cuối thập niên 1850 cho đến giữa thập niên
1970 và cho dến nay.
2.-
Nếu còn tiếp tục nhận là tín đồ Kitô của Giáo Hội và còn giữ lòng
trung thành với Giáo Hội La Mã hay Tòa Thánh Vatican thì quý vị ở vào trường
hợp của những người mà Linh-mục Hòang Quỳnh đã thành thực và công
khai hô hào giáo dân rằng "Thà mất nước chứ không thà mất
Chúa" hoặc là hạng người như ông Ngô Đình Diệm đã công khai
tuyên bố với các nhân viên cao cấp của Bộ Ngoai Giao Hoa Kỳ rằng, "ông tin tưởng vào quyền lực Tòa Thánh
Vatican và ông chống Cộng cực lực" [9].
Những
sự kiện này nói lên cái bản chất
của những còn giữ lòng trung thành với
Giáo Hội La Mã, tức là trung thành với kể thù cố cựu đã từ chủ động và vận động đế
quốc Pháp đánh chiếm và thộng trị Việt Nam từ giũa thế kỷ 19, và hiện
nay vẫn còn là kẻ thù nguy hiểm nhất của dân tộc Việt Nam. Phục vụ
cho một đế quốc thực dân xâm lược đã từng đánh chiếm và thống trị
Việt Nam tức là Việt gian đó, quý vị có biết không? Đã là Việt gian
thì không thể nào là những người yêu nước được. Lịch sử cho thấy rằng
Giáo Hội La Mã không những là tội đồ của tổ quốc và dân tộc Việt
Nam mà còn là tội đồ của rất nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó
có các nước Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Tiệp Khắc, Hoa Kỳ, tất cả các nước
ở Châu Mỹ La Tinh, Trung Hoa, Nhật Bản, Phi Luật Tân và Việt Nam.
MỘT
VÀI DỮ KIỆN CẦN BIẾT:
Có
một số sự kiện trong thời các chế độ đạo phiệt Gia-tô ở miền Nam
trong thời 1954-1975 mà ít có người
biết. Dưới đây là một số những sự kiện này:
Thứ nhất.-
Ông Ngô Đình Nhu treo giải thưởng một triệu đồng cho công an, mật vụ
Nguyễn Văn Y, Nguyễn Văn Hay, Khưu
Văn Hai, Trần Hữu Liêm, Đào Quang Hiển mỗi khi
thủ tiêu một
nhân vật chính tri đối lập như các ông Nguyễn Bảo Tòan (cũng là tín đồ
Gia-tô), Phạm Xuân Gia, Tạ Chí Diệp, Vũ Tam Anh,v.v. [9]
Thứ hai.-
Mật phí chính trị dành cho nhà lãnh đạo quá
lớn. Có lẽ là để chi cho bọn công an
và mật vu để đàn áp những thành phần đối lập, nhất là để làm
quà thưởng cho những tên tay sai trực tiếp nhúng tay vào những vụ thủ
tiêu người. Nói về mật phí chính trị dành cho hai ông Tổng
Thống Gia-tô miền Nam Việt Nam, Cụ Đỗ Mậu ghi lại trong cuốn Việt Nam
Máu Lửa Quê Hương Tôi như sau:
“Qua cuốn nhật ký chi tiêu tiền bạc của ông
Diệm do Võ Văn Hải nắm giữ, tôi được biết ông Diệm có mỗi năm 98 triệu tiền mật phí chính trị. So
sánh mật phí chính trị của Nguyễn Văn Thiệu vào năm 1974 là 450 triệu đồng thì số tiền của ông Diệm
(1963) vẫn lớn hơn rất nhiều mặc dầu tình hình chính trị thời Thiệu
nặng nề và phức tạp hơn thời Diệm, và mặc dù giá đô la cho đến cuối
thời Diệm chỉ có 100 đồng bạc Việt Nam trong lúc thời Thiệu giá đến
gần 1000 đồng. Cuốn nhật ký cho thấy mỗi tháng ông Diệm xuất ra một triệu đồng cho Ngô Đình Nhu, mười ngàn đồng cho cựu Đại Tá Pháp
ở Paris là ông Mingant (mật báo viên của ông Diệm tại Pháp), năm ngàn đồng cho một người có tên là
Phan Công Chành, một chiến hữu của ông Diệm trước năm 1945 mà ông Võ
Như Nguyện biết rõ, một số tiền lớn khác cho một linh mục người
Canada để chuyển ngân ra nước ngoài và những món chi tiêu lặt vặt như
mua máy hình phim ảnh, thuốc Tây, những món tiền biếu xén trong các cuộc
kinh lý. Đặc biệt trong nhật ký chi tiêu năm 1963 có số tiền nửa triệu,
xuất ra cho ông Tôn Thất Thiết, Giám Đốc sở Nội Dịch Phủ Tổng Thống
(ông Thiết hiện ở Los Angeles) để trang hoàng thiết trí khách sạn Hương
Giang tại Huế nằm ở đầu Cầu Đập Đá mà Ngô Đình Cẩn đã mua cho
ông Diệm. Ngoài số tiền mật phí chính trị hàng năm là 98 triệu đồng
và khách sạn Hương Giang, tài sản của ông Diệm còn có mấy mẫu đất
ở Gia Định mà ông đặt tên là “Phượng Hòang” do Tỉnh Trưởng Nguyễn
Đức Xích (nguời Thiên Chúa Giáo Cần Lao) trông nom trồng trọt. Ngoài ra
hàng năm, ông Diêm còn nhận được một số lợi tức do hãng tôm Long Hải
cung cấp. Hãng tôm Long Hải này do Nguyễn Văn Bửu, một người bà con của
ông (Diệm) ở Phú Cam làm quản lý.” [10].
Qua
những bản văn nói về những khoản
tiền ông Ngô Đình Nhu ban thưởng cho bọn công an mật vụ trong viêc truy
lùng, tra tấn và thủ tiêu những thành phần chính trị đối lập, chúng
ta nhìn thấy rõ những khoản tiền gọi là “Mật Phí
Chính Trị” quá lớn có liên hệ chặt chẽ với việc chi dùng cho việc treo giải thưởng truy lùng
và thủ tiêu những nạn nhân mà chế độ coi là những thành phần đối lập
chính trị [11]. Cũng nhờ mấy đoạn văn này mà chúng ta có dịp nhìn thấy
rõ cái mức độ tàn ác và dã man của bọn hung thần ác
quỷ của 13 tổ chức mật vụ, công an và cảnh sát của chế độ đạo phiệt
Gia-tô Ngô Đình Diệm.[12]
Trong
thực tế, sau ngày 30/4/1975, hoàn cảnh và số phận của những người nằm
trong giai cấp thống trị trong các
chính quyền đạo phiệt Gia-tô ở miền
Nam không khác hoàn cảnh và số phận của những người dân "trung
thành" với Anh quốc trong cuộc
chiến Cách Mạng Hoa Kỳ (1776-1783). Nó cũng giống như hoàn cảnh và thân
phận của vua Lê Chiêu Thống và bọn gia nô tòng vong của ông vua Việt
gian này khi chạy sang lưu vong ỏ Trung Hoa sau Trận Đống Đa 1789, và cũng
giống như những người Việt Nam "trung thành" với nước Pháp
trong thời kỳ Liên Minh giặc Pháp -Vatican đô hộ Đông Dương 1862-1954 khi
họ bỏ nước ra đi sang Pháp định cư vào mùa thu năm 1954.
Có
rất nhiều người Việt hải ngoại định cư ở Bắc Mỹ vốn là những
người nằm trong giai cấp thống trị của các chế độ đạo phiệt gia tô
ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 và cũng là những người
"trung thành" với mẫu quốc Vatcian. Tuy là một đế quốc thực dân
xâm lược kỳ cựu nhất, thâm độc nhất và chủ trương dùng vũ lực xâm lăng các vùng đất ngòai
Âu Châu để làm thuộc địa khai thác tài nguyên, cưỡng bách các dân tộc
dân tộc nạn nhân phải theo đạo Gia-tô. Đế Quốc Vatican không có đủ
đất đai để chứa được hết những người "trung thành" với
Vatican [ngọai trừ Tổng Gián Mục Nguyễn
Văn Thuận một vài cán bộ khác của
Giáo Hội La Mã]. Vì thế cho nên các nước đồng minh với Vatican trong việc
đánh chiếm và thống trị Việt Nam là
Pháp và Hoa Kỳ đã trót dại nghe lời
xúi gịuc của Vatican mang thân làm con hổ
cho con cáo già Vatican mượn oai để ăn hiếp dân tộc Việt Nam, mới phải lãnh trách nhiệm tiếp nhận những
người Việt "trung thành" với
Vatican đến Pháp và đến Mỹ định cư để thanh tóan món nợ lương tâm
.
Vốn
là những người hết lòng trung thành với đế quốc
thực dân xâm lược Vatican, nhưng họ lại thường tự xưng và rêu rao là
những người trí thức yêu nước Việt Nam. Có điều trớ trêu và nghịch
lý là họ không hề quyết tâm dấn
thân liều chết để làm những
điều I, II, III, IV. V. VI và VII trên đây, mà lại còn mưu đồ cầu cứu
người ngoại bang để PHỤC HỒI chế
độ Việt Nam Cộng Hòa của thời kỳ
1954-1975, mưu đồ bơi ngược dòng lịch sử, mơ tưởng tái lập một chế độ đạo phiệt Gia-tô giống như thời
Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa. Làm như vậy thì có khác nào làm cộng
việc "Ẩy chó bụi rậm" để
"há miệng chờ sung rụng". Đây
cũng là sách lược "cáo đội lốt hùm"
để "theo voi ăn bã mía", "theo đóm ăn tàn" và "mượn gió bẻ măng" mà Giáo Hội La
Mã vẫn thường sử dụng từ thời Trung Cổ cho đến ngày nay.
Khi
còn ở miền Nam Việt Nam, từ cuối thập niên 1960, nhân dân miền Nam đã
từng được nghe các ông tín đồ Gia-tô cuồng tín rêu rao cụm từ quái đản "PHỤC HỒI TINH THẦN
NGÔ ĐÌNH DIỆM". Cách đấy mấy
năm lại được nghe nhóm tín đồ Gia-tô người Việt hải ngọai rêu rao cụm
từ quái đản "PHỤC HỒI NIỀM TIN". Và giờ đây, chúng ta lại thấy Nhóm Gia-tô của
ông Giáo Sư Nguyễn Văn Canh cho ra đời cái tổ chức quái thai "PHỤC HỒI
CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HÒA."
Không
ai chối cãi được khi gửi thỉnh nguyện thư yêu
cầu Liên Hiệp Quốc dùng quyền lực cưỡng bách chính quyền Việt Nam hiện
nay phải tuân hành Hiệp Định Paris 1973, tổ chức Việt Nam Cộng Hòa
Foundation có ý mong muốn Hoa Kỳ đem
quân đội với những vũ khí tối tân nhất, hiện đại nhất tấn công
vào Việt Nam như Hòa Kỳ đã làm ở Irak trong năm 2003 hiện nay để."phục hồi Việt Nam Cộng Hòa" của
thời 1954-1975. Ai cũng biết biết rằng Phục Hồi Việt Nam Cộng Hòa tức
là phục hồi tình trạng chia đôi nước
Việt Nam như trước và cũng là "phục
hồi quyền lực của Giáo Hội La Mã" tại Việt Nam.
Quý
vị có biết rằng:
1.-
Yêu cầu Hoa Kỳ đem quân đội vào tấn công vào Việt Nam để phục hồi
quyền lực cho Giáo Hội La Mã và cho chính bản thân của các ông là mang tội
"cõng rấn căn gà nhà". Như vậy thì đâu có khác gì Vua Lê Chiêu
Thống Yêu cầu triều đình Nhà Thanh đem quân vào Việt Nam tái lập vương
quyền cho cá nhân nhà vua? Lịch sử đã lên án Vua Lê Chiêu Thống trong việc
cầu viện quân Thành để phục hồi vương quyền như thế nào chắc quý vị
dư thừa kiến thức để biết. Thảm họa của sự hiện diện quân đội Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam
trong những năm trước năm 1975 như thế nào quý vị có biết không? Nếu
không bíết, xin quý vị hãy lấy lương tâm mà đọc mấy đọan trong bài
thơ Tiếng Ca Đen của nhà thơ dân tộc Phan Trước Viên các sau đây:
2.-
PHỤC HỒI MIỀN NAM VIỆT NAM như trước
ngày 30/4/1975 là phá vỡ nền thống nhất đât nước hay không? Quý vị có biết rằng làm như thế là
mang tội phản quốc, phản dân tộc và sẽ bị hậu thế đời đời nguyền
rủa hay không?.
Người
viết thành khẩn yêu cầu quý vị (những người còn trung thành với Tòa
Thánh Vatican) kể cả quý vị trong tổ chức Việt Nam Cộng Hòa
Foundation hãy để cho lương tâm sống lại và hãy theo gương Mạc Ngọc
Liễn ngày xưa đã để lai di ngôn dặn
con là Mạc Kính Cung như đã nói ở
trên
Nếu
quý không có can đảm hay không có khả năng làm những điều mà nngười
viết đã nêu lên trong mục ĐỀ NGHỊ
XÂY DỰNG ở trên, và cũng không chịu theo gương của Mạc Ngọc Liễn ngày xưa,
mà cứ tiếp tục làm như vậy thì chỉ là một lũ phường tuồng diền một
vở hài kịch rẻ tiền mà thôi, chứ không làm được cái trò trống gì hết,
đúng như nhà thơ Hồ Công Tử (CONGTAMHO@aol.com
đã diễn tả trong bài thơ thất ngôn bát cú dưới đây:
Nghiêm
túc mà nói, quý vị đang diễn một vở hài kịch phản vệ sinh và phản văn
hóa. Thú thực, người viết cảm thấy lợm giọng quá, như muốn buồn nôn,
xin mượn bài thơ của cô sĩ Da Xoa
dưới đây để tặng cho quý vị. Nguyên văn bài thơ này như sau:
-GIỮ
VỆ SINH CHUNG, nào !!!
3.-
Ai cũng biết rằng cái màn ảo thuật "Phục
Hưng Tinh Thân Ngô Đình Diệm"
là do Giám-mục Ngô Đình Thuận (lúc gần chết được thăng lên tước hồng
y) lập ra trong lúc đang mơ màng trong giấc mộng
sống lại cái thời hoàng kim trong những năm chế độ đạo phiệt
Gia-tô Ngô Đình Diệm và cũng là
thúc đẩy chế độ quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu đẩy mạnh chính
sách Kitô hóa chính quyền từ trên xướng dưới. Vì bị Hoa Kỳ cầm
cương, không để cho quá trớn và trắng trợn như thời chế độ đạo
phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm, chính quyền quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu
chỉ có thể để cho các ông tu sĩ
Gia-tô đóng vai trò lãnh chúa tung tác làm mưa làm gió tại các địa
phương, để cho tướng tá Gia-tô nắm quyền chỉ huy trong các chức vụ
quan trọng trong quân đội và một số tín đồ Gia-tô khác múa may diễn
trò hề cái quốc hội bù nhìn mà thôi. Hai cái màn "Nhóm Phục Hồi Niềm Tin" và
"Việt Nam Cộng Hòa Foundation" (mà thực chất là Phục Hồi Miền Nam Việt
Nam) do sáng kiến của phe cực hữu trong giáo triều Vatican và một số tu sĩ
Gia-tô người Việt thuộc loại siêu
cuồng tín đưa ra, được Giáo Hội
chấp thuận và cho tiến hành theo sách lược hành động cổ điển của Giáo
Hội. Sách lược hành động cổ điển này là:
Bước
1.- Dùng các xóm đạo và giáo khu tại
quốc gia bị chiếu cố làm những sào huyệt của
các đạo quân thứ 5 nằm vùng. Tùy theo hòan cảnh, các xóm đạo hay giáo
khu này sẽ nổi dậy đánh phá gây rối làm cho tình hình mất ổn định,
khiến cho chính quyền phải dùng đến biện pháp mạnh (quân đội hay cảnh
sát hoặc lực lượng an ninh) để duy trì trật tự và ổn định tình thế.
Đây là sách lược cổ điển "quậy cho nước đục để thả câu"
của Giáo Hội đã áp dung từ thế kỷ 16.
Bước
2.- Ngay khi chính quyền quốc gia nạn nhân bắt đầu sử dùng biện pháp mạnh
để duy trì trật tự và ổn định tình thế, Giáo Hội La Mã liền ra lệnh
cho bộ máy tuyên truyền (các đài phát thanh, truyền hình, báo chí và
websites internet) mở một chiến dịch đại quy mô
la lối và tố cáo chính quyền
quốc gia nạn nhân đang đàn áp tôn giáo. Đây là sách lược cổ điển
"vừa ăn cướp vừa la làng" gắn
liền với sách lược "quậy cho nước
đục để thả câu" ở trên.
Bước
3.- Song song với chiến dịch la lối vu khống cho chính quyền tại quốc gia
nạn nhân cái tội "đàn áp tôn giáo", những cán bộ cao cấp của
Tòa Thánh Vatian được phái đi bí mật tiếp xúc với những nhân vật quyền
thế của một hoặc nhiều cường quốc hay siêu quyền mà hy vọng có thể thuyết phục cùng cấu kết với Giáo Hội xuất quân tấn
chiêm hay cưỡng ép hoặc dồn chính quyền quốc gia nạn nhân vào thế
cùng để tạo cơ hội đưa bọn tín đồ tay sai của Giáo Hội lên nắm
chính quyền và thiết lập chế độ đạo
phiệt Gia-tô . Đây là sách lược cổ
truyền "cáo đội lốt hùm" và
"cú mang lông công" mà Giáo Hội
đã áp dụng từ thế kỷ 16.
Tại
Trung Hoa, Bước 1 đã được đem ra thi hành trong thời Vua Khang Hi
(1662-1722), nhưng bị triều đình Mãn Thanh sử dụng các biện pháp mạnh thẳng
tay đàn áp. Vì hòan cảnh ở Trung Hoa khác với hoàn cảnh ở Việt Nam và tình hình ở Âu Châu vào thời điểm đó
cũng không có lợi cho Giáo Hội trong
mưu đồ bành trướng thế lực ở Á Châu, cho nên không thể tiến đên Bước
2 và Bước 3 được.
Tại
Việt Nam, Bước 1 đã được áp dụng từ giữa thập niên 1820, ngay sau khi
vua Minh Mạng không để cho các nhà truyền giáo của Giáo Hội được tự do truyên giáo. Bước 2 cũng được áp dụng liền ngay khi triều
đình nhà Nguyễn bắt đầu áp dụng các biện pháp mạnh đối với các
nhà truyền giáo và với những giáo dân đã
nổi lọan vì ngu xuẩn nghe theo lời xúi giục của các ông truyền
giáo. Về Bước 3, có lẽ mãi đến đầu
thập 1840, Giáo Hội mới thực sự tiến hành công việc vận động chính
quyền Pháp trong thời Vua Louis Philippe (1830-1848) và mãi tới thời Hoàng Đế
Napoléon III (1852-1870) mới thực hiện được.
Nhìn
vào sách lược hành động trên đây, chúng ta thấy:
1.-
Các tổ chức chính trị của người
Việt tay sai của Giáo Hội La Mã thường
thường (nếu không phải là luôn luôn) không có cưỡng lĩnh chính trị
trình bày rõ ràng cho toàn thể nhân dân thấu hiểu đường lối chính trị,
cùng phương cách hay lược đồ tổ chức chính quyền và phương cách phục
vụ quốc gia dân tộc. Điều này cũng dễ hiểu vì chủ trương của Giáo Hội
là cướp nước hay chiếm đoạt được
chính quyền với mục đích thiết lập một chế độ đạo phiệt Gia-tô
theo đó thì tôn giáo (tức Giáo Hội) phải chỉ đạo chính quyền để
theo đuổi chính sách bất khoan dung đối với những người thuộc các tôn
giáo khác bằng những chiến dịch "làm
sáng danh Chúa" với tất cả những phương tiện của nhà nước mà
hứu hiệu nhất là bộ máy công an, mật vu, quân đội của chính quyền
và các đạo quân chữ thập nằm ở
trong các xóm đạo và các giáo khu.
2.-
Không có các chiến khu và cũng không có lực lượng xung kích. Điều này cũng dễ hiểu vi rằng chủ yếu của Giáo Hội là hoàn toàn trông
cậy vào sức mạnh của một cường quốc hay siêu cường mà Giáo Hội vận
động cấu kết để xuất quân tiến vào mục tiêu hay dùng áp lực cưỡng
bách quốc gia nạn nhân phải nhân nhượng để cho Giáo Hội đưa đám tín
đồ bản địa tay sai lên cầm quyền.
Tại Việt Nam, Giáo Hội đã áp dụng quái
chiêu này vào giữa thế kỷ 19 và đã thành công
trong việc vận động chính quyền Pháp xuất quân đánh chiếm và thống
trị Việt Nam cho đến năm 1945. Cũng tại Việt Nam, vào mấy năm chót trong
thời Đệ Nhị Đế Chiến, Giáo Hội đã cho
ra đời Đảng Việt Nam Quang Phục với ông Gia-tô Cường Để làm lãh tụ nằm hờ chờ sẵn ở Nhật và ông Gia-tô Ngô Đình Diệm làmđại diện
ở trong nước. Cường quốc mà lúc đó Giáo Hội hoàn toàn trông cậy để giúp đỡ Giáo Hội
là Nhật Bản. Thế nhưng, thiên bất dung gian. Vì rằng biết rõ bộ mặt
thật của Giáo Hội từ đầu thế 17 (xin xem ở phần Phong Trào Nhân Dân
Thế Giới Chống Đối Giáo Hội La Mã ở sau), cho nên sau khi lật đổ Pháp
vào đêm 9 tháng 3 năm 1945, Nhật sử dụng
ông Bảo Đại và ông Trần Trọng Kim, chứ không dùng hay ông Gia-tô Cường
Để và Ngô Đình Diệm của Giáo Hội. Đầu
thập niên 1950, Giáo Hội lại cũng sử dụng quái chiêu này và thành công trong việc vận động
với Hoa Kỳ đưa ông Gia-tô Ngô Đình Diệm về Việt Nam cầm quyền vào giữa
năm 1954.
Ngày
nay, Giáo Hội La Mã đang có mưu đồ
sử dụng quái chiêu này và mấy ông
tín đồ Gia-tô người Việt đang tìm cách phô trương trình diễn khả năng
lãnh đạo chính trị của họ với hy vọng sẽ được cả giáo triều
Vatican và Hoa Kỳ chiếu cố để được bồng về Việt Nam cầm quyền giống
như trường hợp ông Ngô Đình Diệm trong
năm 1954. Đây là lý do tại sao tất cả các tổ chức Việt Nam Cộng Hòa
Foundation, Đại Hội Toàn Quân hay bất cứ tổ chức chính trị nào của
các ông Gia-tô người Việt hải ngọai
đều được các cơ quan truyền thông của
người Việt hải ngọai quảng bá rầm rộ qua
các đài truyền thanh, truyền hình, báo chí Việt ngữ, diễn đàn internet,
nhưng tất cả các tổ chức này đều không có đảng cương chính trị,
không có chiến khu, và cũng không có một đội quân xung kích nào cả.
Rõ
ràng là các tổ chức này là những tổ
chức chính trị không có quân sự. Như trên đã nói, chính trị không có
quân sự là chính trị què. Thực sự đây là thứ chính trị vọng ngọai,
chính trị há miệng chờ sung rụng. No cũng cho chúng ta thấy rõ đây là mưu đồ cướp nước hay lật đổ một chế
độ đương quyền tại một quốc gia bị chiếu
cố theo sách lược hành động trên đây của Giáo Hội hoàn toàn khác hẳn
với sách lược hành động trong mưu đồ phục quốc của các lực lượng
kháng chiến chống quân giặc ngoại xâm của
dân tộc Việt Nam ta trong suốt chiều dài lịch sử từ đầu thập
niên 1860 cho đến 1945. Nó cũng hoàn toàn khác hẳn với các lực lượng cách
mạng lật đổ ách thống trị đạo
phiệt Gia-tô như Cách Mạng Pháp 1789,
Cạch Mạng Ý 1870, Cách Mạng Cuba 1959, Cách
Mạng tháng 1945 của dân tộc Việt, v..v.. Chúng ta thấy tất cả các lực
lương kháng chiến chống ngọai xâm hay lực lượng nghĩa quân cách mạng của bất kỳ dân tộc nào cũng đều phải phát triển cả hai phương diện chính
trị và quân sự song phương và đan kết với nhau như hình với bóng,
không thể nào tách rời nhau được.
Chinh
trị mà không có quân sự là chính trị què, một thứ chính trị Bolsa ở trong các quán cà phê của mấy ông H.O,
của các hội đoàn tại các địa phương ở Bắc Mỹ hiện nay, chuyên môn
chụp mũ Cộng Sản cho những người đồng hương đồng cảnh ngộ tị nạn,
nhưng bất đồng chính kiến với họ. Và quân sự mà không có chính trị
là quân sự mù, và sớm muộn nó sẽ trở thành những băng đảng ăn cướp
đi tống tiền những người dân lương thiện bằng nhiều hình thức khác
nhau.
Tóm
lại, một tổ chức của một lưc lượng
nghĩa quân kháng chiến chủ trương đánh đưổi quân thù xâm lược để
giành lại quyền tự chủ cho dân tộc hay một tổ chức cách mạng có chủ
trương lật đổ một chế độ độc tài chuyên chính hay đạo phiệt Gia-tô thì phải
1.-
Có một cương lĩnh chính trị trong đó nêu rõ mục tiêu tranh đấu
2.-
Đặt quyền lợi của tổ quốc và dân tộc lên trên hết.
3.-
Lấy đại khối nhân dân bị trị làm đối tượng phục vụ
4.-
Lọai bỏ hết mọi tàn tích phong kiến và thực
dân xâm lược
5.-
Lọai bỏ hết mọi ảnh hưởng tôn giáo và tu sĩ ra khỏi chính quyền.
7.-
Có thành phần lãnh đạo có khả năng lãnh đạo và thành tích dấn thân
hy sinh cho đại cuộc.
8.-
Có thành phần cán bộ cách mạng
chuyên nghiệp quyết tâm dấn thân và
hy sinh cho đại cuộc.
9.- Có ban tuyên truyền, tuyển mộ và huấn luyện
10.-
Có chiến khu đóng quân của các lực
lượng xung kích
ÔN
CỐ TRI TÂN
Người
Việt Nam ta thường nói:
Không
làm được hay không chịu làm mà đi nhờ cậy người ngòai làm giùm, nhất
là đi cầu viện thế lực ngọai bang
về đánh phá và tiêu diệt chính quyền đương thời, [một thế lực đã
từng có công đánh đuổi liên quân xâm
lược Pháp -Vatican, giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc và đã
hoàn thành được sự nghiệp thống
nhất đât nước] để PHỤC HỒI quyền
lợi cho phe nhóm thì hậu quả sẽ vô cùng thảm hai, ấy là chưa kể đến
sẽ bị lịch sử và hậu thế lên án là "cõng rắn về cắn gà nhà" hay "rước voi về giày mả tổ". Người
viết tin rằng quý vị còn nhớ những chuyện lịch sử dưới đây:
1.- Năm 1788, Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu cầu
cứu nhà Thanh đem quân vào Việt Nam để PHỤC HỒI vương quyền cho cá
nhân ông ta . Hậu quả như thế nào,
chắc quý vị cũng đã biết.
2.-
Năm 1784, Nguyễn Ánh trao Hòang Tử Cảnh mới 4 tuổi cho Giám-mục
Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện binh đem về tiêu diệt nhà Tây Sơn để PHỤC
HỒi Vương quyền cho cá nhân và dòng họ. Hậu quả như thế nào, chắc
quý vị ông cũng đã biết!
3.-
Năm 1789, Cách Mạng Pháp bùng nổ đạp đồ chế độ quân chủ đạo phiệt
Gia-tô của Vua Louis XVI, tịch thu toàn bộ tài sản của Giáo Hội La Mã,
tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền, lập hiến chế dân sự cho giới
tu sĩ bắt họ phải tuyên thệ trung
thành với hiến pháp, tuân hành luật lệ quốc gia, chứ không phải trung
thành với Giáo Hoàng, không phải tuân
hành giáo luật và lệnh truyền của Tòa Thánh Vatican. Giáo Hội La Mã xúi
giục giới tu sĩ và giáo dân Pháp nổi lên chống đối Cách Mạng
Pháp 1789 và hè nhau đi cầu cứu ngọai bang, rồi vận động các nước
Áo, Phổ, Nga và Anh thành lập Liên Minh Thánh (The Holy Alliance) kéo quân đến
đánh phá tổ quốc Pháp, xóa bỏ công trình Cách Mạng 1789 để PHỤC HỒI
quyền lực của Tòa Thánh Vatican ở Pháp, PHỤC HỒI vương quyền của dòng
họ Bourbons, PHỤC HỒI cho giới tu sĩ
và một thiểu số tay sai của Giáo Hội cái quyền ăn trên ngồi trước,
đè đầu cỡi cổ đại khối nhân dân bị trị. Hậu quả của việc làm phản dân tộc Pháp này như
thế nào, chắc quý vị cũng đã biết.[Vấn đề này sẽ được nói rõ Chương
3 (Phần I) và trong mục nói về "Cách Mạng Pháp 1789 nằm trong Phần IV nói về
"Phong Trào Chống Đối Giao Hội La Mã và Nỗ Lực Xây Dựng
Dân Chủ Cỉa Nhân Dân Thế Giới" ở trong tập sách này..
4.-
Trong thế kỷ 19, kể từ triều Vua Minh Mạng, tín đồ Gia-tô nghe lời xúi giục của các tu sĩ Gia-tô nổi
lọan chống chính quyền Việt Nam [Cố Marchand và lọan Lê Văn Khôi, lọan
Tạ Văn Phụng và những hành động của các đạo quân thập tự Việt Nam
kéo quân đi đánh phá các làng lương ở gần các xóm đạo] rồi viết
thư cầu cứu quân Pháp đến đánh chiếm Việt Nam. Hậu quả như thế nào,
chắc quý vị cũng biết.
5.-
Năm 1950, ông Ngô Đinh Diệm được Giáo Hội La Mã bốc đi dẫn sang Hoa Kỳ
để lo lót và chạy chọt cho về Việt Nam cầm quyền, và tới năm 1954 cả
Giáo Hội La Mã cũng như anh em ông Ngô Đình Diệm và giáo dân người Việt
"ngoan đạo" đều được hài lòng như ý muốn. Và sau đó, hậu quả
như thế nào, chắc quý vị cũng biết.
Trên
đây là những sự thật lịch sử đã
bị các chính quyền bảo hộ Pháp - Vatican và
các chế độ đạo phiệt Gia-tô ở miền Nam Việt Nam liên tục bưng bít.
Tập sách này, ngoài việc trình bày những vấn đề trên đây, còn có mục
đích giúp cho độc giả nhìn ra:
1.-
Những hậu quả tai hại của những
việc làm cầu viện hay dựa vào thế lực của ngoại bang để củng có
quyền lực cho cá nhân cùng phe đảng,
2.-
Sự thật lịch sử có lỉên hệ với những vấn đề trên đây cùng những
bài học đau thương về những thế lực đã phục hồi được quyền lực
cũ, và
3..-
Dã tâm thâm độc của Giáo Hội La Mã trong chủ trương nô lệ hóa nhân loại
bằng chiêu bài tôn giáo khiến cho nhân dân thế giới phải dùng đến những
biện pháp mạnh để đối phó với cái "tôn giáo ác ôn" này.
CHÚ
THÍCH
[1]
Tú Gàn. "Chúc Thành Công." Sàgon Nhỏ Ngày 29/8/2003]
[2]
Vũ Ngự Chiêu. Các Vua Cuối Nhà Nguyễn 1883-1945 - Tập 1 (Houston, TX: Văn Hóa,
1999), trg 130
[3]
Trần Trong Kim. Việt Nam Sử Lược - Quyển
II (Sàgon: Bộ Quốc Gia Giáo Dục, 1972), trang 25
[4]
Trần Tam Tình. Thập Giá Và Lưỡi Gươm
(Paris: Sudestasie, 1978), trang 126-127
[5]
Trịnh Văn Phát. "Cảm Nghĩ Một Chuyến Đi." Liên Lạc Giáo Hòang Học
Viện Piô X Đàlạt số 2, tháng 7/1995: 66.-73.
[6]
Đỗ Mậu. Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (Westminster, CA: Văn Nghê, 1993),
trang 403-489]
[7]
Chính Đạo. Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 Tập
I C: 1955-1963 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000), trg 85-86
[8]
Brown, Harriett McCune &Ludlum, Rbert P,
& Wilder, Howard B. This Is America's Story
(Atlanta, GA: Houghton Mifflin Company: 1975), trang 187-188
[9]
Lương Minh Sơn. "Bài Học Chiến Tranh Việt Nam Nhìn Từ Hậu Trường Chính
Trị Hoa Kỳ.".Người Việt. Ngày 9 tháng [11 năm 1996, trang B1
[10]
Đỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi,
(Westminster, Văn Nghệ, 1993), trang 442
[12]
Cửu Long Lê Trọng Văn, Những Bí Ẩn Lịch
Sử Dưới Chế Độ Ngô Đình Diệm (San Diego, California: Mẹ Việt
Nam1989), trang250-252 và các trang kế tiếp
[13]
Thế Uyên. Đọan Đường Chiến Binh (Saigòn: Lá Bối, 1970), trang 97-98
Bộ
sách Lịch Sử Và Tội Ác Của Giáo Hội La Mã gồm có nhiều tập, mỗi tập
có một tựa đề riêng: (1) Tiền Thân Của Giáo Hội La Mã, (2) Một Chế
Độ Đạo Phiệt Bạo Ngược và Man Rợ, (3) Giới Lãnh Đạo và Tu Sĩ
Thanh Toán Lẫn Nhau Và Đời Sống Bê Bối Thối Tha Của họ, (4 ) Tội Ác Hủy
Diệt Văn Minh Nhân Loại, Tình Yêu Giá Đình và Tình Yêu Tổ Quốc,(5): Tội Ác Của Giáo Hội La Mã Tại Việt
Nam và (6) Phong Trào Chống Đối Giáo
Hội La Mã và Nỗ Lực Xây Dựng Dân Chủ của Nhân Dân Thế Giới.

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net