08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes) Nghiên cứu & đối thoại tháng 12 quý bốn năm 2003 whiteball.gif (923 bytes)
 

II. PHẦN DẪN NHẬP

VIỆC LÀM CỦA VNCH FOUNDATION

                  Nguyễn Mạnh Quang

 Gần đây các mạng thông tin cho biết có một số người Việt hải ngọai  mới cho ra đời một tổ chức gọi là Việt Nam Cộng Hòa Foundation. Những người này vừa là trí thức khoa bảng vừa là những người đã từng nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chế độ  Ngô Đình Diệm hay chế độ  Nguyễn Văn Thiệu tổ chức này nhóm họp vào ngày 20/7/2003 có khoảng  100 nhân sĩ (lớn?) tham dự để bàn nhau tìm cách PHỤC HỒI MIỀN NAM VIỆT NAM như trước ngày 30/4/1975 và đã đúc kết được một một bản thỉnh nguyện thư gửi ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc khẩn khoản yêu cầu Liên Hiệp Quốc (hiểu ngầm là có Hoa Kỳ) dùng  quyền lực cưỡng bách chính quyền Việt Nam hiên nay phải trao trả miền Nam Việt Nam lại (không biết cho ai?)  như tình trạng trước ngày 30/4/1975. Cuộc họp "mưu đồ bán nước" và "lá thư phản quốc" này được ông Tú Gàn ghi lại và nhận xét trong bài "Chúc Thành Công" đăng trong tờ Sàigòn Nhỏ số ra ngày 29 tháng 8 năm 2003. Xin ghi lại đây một phần của bài viết trong đó có nguyên văn lá thư quái đản này.

"Chiều ngày 20/7/2003, kỷ niệm 49 năm ký Hiệp Định Genève, hội Việt Nam Cộng Hòa Foundation đã tổ chức một buổi hội thảo tại Civic Center của thành phố  Wesminster (California) để "Phát Động Chiến Dịch Yêu Cầu Liên Hiệp Quốc bắt buộc CSVN Thi Hành Hiệp Định Ba Lê". Người ta thấy có khoảng 100 "nhân sĩ lớn" từ khắp nơi về họp và đọc diễn văn, chẳng hạn như cựu Chủ Tịch Hạ Viện và Thủ Tướng 8 Ngày Nguyễn Bá Cẩn, lãnh tụ Đại Việt Nguyễn Văn Canh, Tướng Lý Tòng Bá, "ngục sĩ" Nguyễn Chí Thiện, v.v..

Trong lời chào mừng khai mạc cuộc hội thảo, Bác sĩ Nguyễn Xuân Vinh, Chủ Tịch VNCH Foundation, cho biết sở dĩ có cuộc hội thảo này là vì tình hình chiến tranh Iraq có dấu chỉ thuận lợi cho việc đấu tranh cho người Việt không cộng sản, xét lại Hiệp Định Paris và đòi hỏi quốc tế phải có trách nhiệm trong việc để CSBV cưỡng chiếm VNCH vào năm 1975.

Nhân vật chính trong cuộc hội thảo này là ông Nguyễn Bá Cẩn. Ông Cẩn cho biết có nhiều người cho rằng chuyện này đã cũ, hai mươi tám năm qua rồi, nhắc lại chẳng lợi ích gì, nhưng theo ông."lý luận này không đứng vững, lý do là vì vấn đề đặt ra là nghĩa vụ pháp lý  của một tổ chức quốc tế tối cao là Liên Hiệp Quốc, chứ vấn đề không phải là dễ hay khó, và lập trường của người yêu nước chúng ta là phải tranh đấu chứ không phải ngồi đó lo âu giùm cho LHQ.... Ông coi việc Mỹ đem quân "giải phóng Iraq" như một dấu hiệu tốt. Sau Iraq sẽ đến phiên Cộng Sản Việt Nam....

Kết thúc buổi hội thảo, những người tham dự đã ký vàoThỉnh Nguyện Thư gửi Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc. Thỉnh Nguyện Thư có những lời thỉnh cầu như sau:

"Chúng tôi, những Quân, Dân, Cán, Chính của Nước Việt Nam Cộng Hòa trân trọng yêu cầu Liên Hiệp Quốc và các Nước Thành Viên liên hệ đã ký kết hay chứng kiến Hiệp Định Paris 27/1/1973. Hãy vì lương tâm nhân loại, vì trật tự cho một thế giới mới của thế kỷ 21 mà mạnh dạn can đảm lên tiếng cũng như can thiệp buộc nhà cầm quyền Cộng Sản Hà Nội phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp Định 1973 như sau:

Thứ nhất: Phải rút quân toàn bộ về lại phía Bắc vĩ tuyến 17 như Hiệp Định Genève 1954 đã quy định, cũng như giữ đúng vị trí lằn mức phân biệt biên giới lãnh thổ Nam, Bắc Việt Nam chiếu theo Hiệp Định 1973. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mà nay là Cộng Hòa Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, phải hoàn toàn trả lại tất cả các phần đất bị chiếm giữ của Việt Nam Cộng Hòa cho nhân dân Việt Nam Cộng Hòa.

Thứ hai: Tôn trọng quyền tự quyết thiêng liêng bất khả xâm phạm của nhân dân miền Nam, tự quyết định tương lai chính trị của mình thông qua cuộc tổng tuyển cử tự do, dân chủ có giám sát quốc tế. Các nước ngoài như Hoa Kỳ và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nay đã đổi tên thành Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, không được áp đặt bất cứ xu hướng chính trị nào hoặc cá nhân nào đối với nhân dân miền Nam, như đã quy định trong Hiệp Định Paris Chương 3 điều 9.

Thứ ba: Việt Nam Cộng Hòa sẵn sàng hợp tác để tiến tới việc thống nhất đất nước và đồng ý không bên nào cưỡng ép hay thôn tính bên nào như Chương 5 điều 15 trong Hiệp Định đã quy định.

Thứ tư:: Việt Nam Cộng Hòa đề nghị một giải pháp dung hòa tránh xung đột và đổ máu đó là: Toàn bộ Việt Nam sẽ đặt dưới sự giám sát và bảo vệ hòa bình của Liên Hiệp Quốc trong thời hạn ít nhất là hai năm trước khi tiến tới một cuộc bầu cử dân chủ trong sạch để nhân dân hai miền Nam, Bắc tự quyết định lấy vận mạng của mình như:

a.- Chọn một thể chế chính trị áp dụng trên đất nước Việt Nam

b.- Chọn người lãnh đạo và có cơ chế điều hành quốc gia có nhiệm kỳ rõ rệt và do dân cử.

Thứ năm: Trong mọi trường hợp, nếu Cộng Sản Hà Nội vẫn cố tình xem thường Liên Hiệp Quốc và các nước đã ký kết cũng như giám sát Hiệp Định Paris 27/1/1973. Cũng như bất hợp tác với Liên Hiệp Quốc trong thiện chí xây dựng hòa bình cho Việt Nam. Chúng tôi, Quân, Dân, Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa tha thiết kêu gọi sự hỗ trợ của các nước đồng minh, từng tham gia cuộc chiến bảo vệ tự do cho Việt Nam Cộng Hòa trước đây. Hãy hỗ trợ cuộc chiến đấu chính nghĩa của chúng tôi dưới mọi hình thức, nhằm giải phóng quê hương đã bị Cộng Sản Hà Nội xâm lược một cách trắng trợn." [1]

(Có một vài chỗ  chấm câu không đúng với nguyên tắc văn phạm, nhất là đoạn văn trong mục thứ năm của bản thỉnh nguyện thư. Hy vọng đây là một sơ ý. Có thể là sơ ý của nhân viên biên sọan của hội VNCH Foundation, và cũng có thể là sơ ý của ông Tú Gàn. Dù sao đi nữa, điều này không quan trọng.)

VỀ CHỦ TÂM CỦA NHỮNG NGƯỜI
TRONG TỔ CHỨC VNCH FOUNDATION
KHI VIẾT LÁ THỈNH NGUYỆN THƯ NÀY

Tước khi trình bày những tác hại  đến quyền lợi tối thượng của dân tộc Việt Nam, do việc làm của tổ chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation gây ra, người  viết xin khẳng định [sẽ được chứng minh trong tập sách này cũng như trong các ấn phẩm khác của người viết] rằng danh xưng "Việt Nam Cộng Hòa" Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa) chỉ là ngụy danh giống như một bức bình phong để che đậy cho chế độ đạo phiệt Gia-tô tay sai của Giáo Hội La Mã tại miền Nam Việt Nam trong thời kỳ 1954-1975.

Khi hè nhau gửi thỉnh nguyện thư trên đây cho ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc [có thể là cũng gửi cho Tổng Thống và Quốc Hội  Hoa Kỳ], những người trong tổ chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation có chủ tâm  muốn phục hồi miền Nam Việt Nam [tức là muốn phục hồi chế độ đạo phiệt Gia-tô tay sai của Giáo Hội La Mã tại miền Nam Việt Nam] với hy vọng là  Giáo Hội La Mã và chính bản thân họ sẽ được trở lại nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền để rồi lại được ăn trên ngồi trước, hét ra lửa mửa ra khói, tác oai tác quái như thời kỳ 1954-1975.

Nhìn vào bản chất của vấn đề, chúng ta thấy việc làm của tổ chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation  có chủ đích phục hồi  quyền lực của Giáo Hội La Mã  tại Việt Nam mà chính bản thân họ là bọn tay sai cho Giáo Hội La Mã. Đây là một việc làm mưu đồ "cõng con rắn độc Vatican về cắn gà nhà Việt Nam". Việc làm này giống như:

1.- trường hợp Nguyến Phúc Ánh giao Hoàng Tử Cảnh cho Giám--mục Bá Đa Lộc mới có 4 tuổi vào năm 1784 sang Pháp xin viện binh  đánh nhà Tây Sơn,

2.- giống như Lê Chiêu Thống  chạy sang Trung Hoa  vào năm 1788 xin nhà Thanh đem quân vào Việt Nam  để phục hồi  vương quyền cho ông ta,

3.- giống như Pétrus Trương Vĩnh Ký viết thư khẩn khoản  quan đại Pháp đem quân tiến đánh  Việt Nam để giúp cho giáo dân Gia-tô chống lại tổ quốc Việt Nam. Nguyên văn lá thư của ông Việt gian Gia-tô Trương Vĩnh Ký được ghi lại trong sách Các Vua Cuối Nhà Nguyễn Tập 1 của tác giả Nguyên Vũ với nguyên văn như sau:

"SHM (Vincennes), GG2 99.2. Petrus Key, tức Trương Vĩnh Ký sau này, cũng cùng một nhận xét. Tháng 3.1859, Pétrus Key viết cho Grand chef et vous tous, très honorables officers de la flotte francaise": Ayez pitié de nous. Ayez étés nous. Vou êtes nos libérateurs et la main des enemis nous a touchés! Hala! The wearer knows very well where the shoe pincheth. Nous avons auusi que qui trop embarsse mal étreint." Et cependant nos souffrances nous pousssent à invoquer votre puissance et à vous exposer  du fond du coeur tout ce que je viens de soumettre à votre prudence et à votre sagesse.". Thư tháng 3/1859 Petrus Key gửi Grand Chef; SHM (Vincenné), GG2 99:2." [2]

Qua lá thư trên đây, chúng ta thấy vai trò của tổ chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation sẽ giống như vai trò của bọn tín đồ Gia-tô Trương Vĩnh Ký, Trần Lục, Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài, Trần Bá Lộc, Lê Hoan, v.v... đã làm trong thế kỷ 19 để củng cố quyển lực của Giáo Hội tai Việt Nam qua việc tiếp tay cho liên quân giặc xâm lăng Pháp-Vatican đánh chiếm và  thống trị Việt Nam vào cuối thế kỷ  19. Nền thống trị của liên minh giặc tồn tại  đến mùa hè năm 1954 thì đế quốc Pháp phải cuốn gói ra đi, trong khi đó, nhờ cây dù của Hoa Kỳ mà Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican mới có thể ở lại miền Nam Việt Nam [qua các chính quyền đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu] cho đến ngày 30/4/1975.

Tổ chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation không thấu hiểu chính sách đối ngọai của Hoa Kỳ nói chung, và cũng không biết chủ tâm của Tổng Thống Bush trong việc dùng sức mạnh quân sự tiến vào lãnh thổ  Iraq đập tan hệ thống quyền lực đã có sẵn của quốc gia này để thành lập một chính quyền hành xử theo ý muốn của Hoa Kỳ. Có lẽ vì thế họ mới hồ hởi nhân cơ hội này viết lá thỉnh nguyện thư trên đây để thúc đẩy Hoa Kỳ tiến tới làm như vậy ở Việt Nam với dã tâm như đã nói ở trong đọan văn 2 trong tiểu mục này.

MỤC ĐÍCH CỦA NGƯỜI VIẾT
KHI BIÊN SỌAN ẤN PHẨM NÀY

Nhận thấy  việc làm này của tổ chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation nếu thực hiện được thì sẽ trở thành một đại thảm họa cho dân tộc Việt Nam, người viết cố gắng biên sọan tập sách này để trình bày một số vấn đề sau đây với hy vọng quý vị trong tổ chức Viêt Nam Cộng Hòa Foundation đọc rồi sẽ thức tỉnh và suy tư về những  vấn đề dưới đây:

1.- Cần phải ý thức sự tồn vong của đất nước là tối thượng để phân biệt phân biệt sự khác nhau giữa một bên là   công cuộc giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thống trị của người ngoại bang (Liên minh đế quốc thực dân xâm lược Pháp - Vatican, rồi Liên Minh Mỹ -Vatican) cùng với công cuộc thống nhất đất nước và một bên  chống lại hay lật đổ chế độ độc tài chuyên chính Cộng Sản.

2.- Ý chí đánh đuổi quân cướp xâm lăng để giành lại chủ quyên độc lập  cho dân tộc cũng như khát vọng  đoàn kết toàn dân và  thống nhất đất nước là ý chí và khát vọng của tất cả các dân tộc trên thế giới, nếu chẳng may đất nước rơi vào thảm họa này bất kể vì động lực hay nguyên nhân nào.

Riêng về nước Việt Nam ta đã trải qua tới 4 lần qua phân là :

Lần thứ nhất xẩy ra vào thế kỷ 10 kéo dài từ năm 945 đến năm 967. Sách sử gọi thời kỳ này là thời Thập Nhị Sứ Quân. Thật là vô cùng may mắn cho  đất nước ta, người anh hùng dân tộc Đinh Tiên Hòang đã dẹp tan bọn lãnh chúa địa phương, đem lại  thống nhất đất nước cho dân tộc vào năm 967.

Lần thứ hai  xẩy ra  vào thế kỷ thứ 16 kéo dài từ năm 1533 cho đến 1592. Sách sử gọi là  thời kỳ này gọi là Nam Triều  Bắc Triều. Nam Triều do ông Nguyễn Kim lãnh đạo thế lực mưu đồ phục hưng nhà Lê và Bắc triều là Mạc Đăng Dung và con cháu của ông. Sau này, ông vua chót của nhà Mạc là Mạc Ngọc Liễn bị đại bại và chạy sang Tầu tị nạn. Cũng may cho đất nước ta, trước khi nhắm mắt lìa đời, Mạc Ngọc Liễn lai di ngôn dặn con là Mạc Kính Cung rằng:

"Nay họ Lê lại dây lên được, ấy là số trời đã định; còn dân ta thì có tội gì, mà ta nỡ để khổ sở mãi về việc chiến tranh? Vậy ta nên đành phận lánh mình ở nước ngoài, chứ đừng có đem lòng cạnh tranh mà lại mời người Tàu sang làm hại nước mình." [3]

Vì thế mà con cháu nhà Mạc không còn tính chuyện phục hồi cơ nghiệp nhà Mạc nữa. Nhờ vậy mà đất nước ta được  thống nhất.

Lần thứ ba  kéo dài từ năm 1627 cho đến năm 1775. Sách sử gọi là Thời Kỳ Trịnh Nguyễn Phân Tranh. Vào đầu thập niên 1770, anh em ông Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ nổi lên đập tan chế độ phong kiến ở miền Nam của Chúa Nguyễn lập ra nhà Tây Sơn, rồi lợi dụng tình hình, kép quân ra Bắc đánh tan thế lực phong kiến của họ Trịnh khởi tiến cho việc thống nhất đất nước vào cuối thập niên 1770.

Lần thứ tư xẩy ra vào giữa thập niên 1950 hậu quả cuộc chiến tranh giải phóng do Mặt Trận Việt Minh lãnh đạo và kết thúc bằng Thỏa Hiệp Genève 1954. Hiệp định này quy định việc chia đôi Việt Nam từ ngày  20 tháng 7 năm 1954 cho đến ngày 20 tháng 7 năm 1956 và sẽ được thống nhất bằng một cuộc tổng tuyển của được tổ chức vào khỏang tháng 7 năm 1956.

A.- Hoa Kỳ nắm quyền thống trị Miền Nam và biến thành tiền đồn chống của Thế Giới Tự Do, và  liên kết với Giáo Hội La Mã thiết lập chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và sau đó là chế độ quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu đế bao thầu công việc quản lý công việc nội trị.

B.- Miền Bắc thuộc quyền cai trị của Mặt Trận Việt Minh theo chủ nghĩa Cộng Sản do Liên Sô lãnh đạo.

Vì Hoa Kỳ và Giáo Hội La Mã cấu kết với nhau đưa ông Ngô Đình Diệm cầm quyền ở miền Nam, vi phạm điều khoản trên đây, không cho tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Vì thế miền Bắc mới quyết đình thống nhất đât nước băng cuộn tranh đấu vũ trang và cho đến ngày 30/4/1975 mới hoàn thành sứ mạng dân tộc này.

Bốn lần đất nước bị phân chia trên đây đều do các thế lực quân phiệt phong kiến và đế quốc thực dân xâm lược chủ trương. Bốn lần đất nước chúng ta thống nhất được trở lại là do ý chí và công lao của nhân dân ta trong những giai đọan lịch sử bi thảm này quyết tâm chiến đấu chống lại mọi thế lực chủ trương chia cắt  để đem giang sơn về một mối. Nhờ vậy mà đất nước ta mới được thống nhất như ngày nay.

Mỗi lần đất nước bị phân chia là là đât nước lại rơi vào tình trạng chiến tranh triền miên, tiêu hao không biết bao nhiêu công của và xương máu mới thống nhất lại được đất nước. Ấy thế mà quý ông trong tổ chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation đều là những người trí thức có cấp bằng đại học mà sao lại quên được những bài học đau thương  về thảm họa đất nước bị phân chia trong lịch sử nước nhà, mà  nỡ đành lòng  tính chuyện mưu đồ chia đô đất nước ta một lần nữa lấy một nửa giang sơn   đem dâng cho Giáo hội La Mã?

Xin hỏi quý vị có còn lương tâm hay không mà đành lòng làm cái chuyện vô liêm sỉ như vậy?

Chắc vị vị còn nhớ vào những năm 1999-2001, tín đồ Gia-tô của nước Indonesia ở trong hòn đảo East Timor dã tìm đủ mọi cách  kể cả việc cầu cứu Liên Hiệp Quốc và nhiều cường quốc khác để tách rời hòn đảo này ra khỏi nước Indonesia với dã tâm biến hòn đào này thành một quốc đảo theo đạo Gia-tô  phụ thuộc vào Giáo Hội La Mã hay không?

Đem việc làm của những tín đồ Gia-tô trong tổ chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation so sánh với việc làm của tín đồ Gia-tô Indonésia tách rời  hòn đảo East Timor, chúng ta thấy rằng một khi đã trở thành tín đồ Gia-tô ngoan đạo của Giáo Hội La Mã thì họ bất cần đến sự tồn vong của đất nước và quyền lợi của dân tộc

ÔN CỐ TRI TÂN.

Qua mưu đồ phản quốc của nhóm tín đồ Gia-tô trong cái gọi là Việt Nam Cộng Hòa Foundation trên đây, chúng ta nhớ lại trong quá khứ:

Khi Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp - Vatican đem quân tấn chiếm và thóng trị đất nước chúng ta từ năm 1858 thì tín đồ Gia-tô người Việt đứng trong hàng ngũ giặc, tình nguyên đưa đường dẫn lối làm chỉ điểm cho giặc, xin giặc võ trang rồi kéo nhau đi tiếp viện cho giặc trong những chiến dịch tiêu diệt các căn cứ kháng chiến của nhân dân ta.,

Trong cuộc kháng chiến chống liên minh giặc Pháp - Vatican 1945-1954, toàn dân ta từ em bé 15 tuổi cho đến cụ già đầu bạc phơ   trong toàn lãnh thổ từ Cà Mâu đế ải Nam Quan quyết tâm lên đường chống  giặc cứu nước thì tín đồ Gia-tô người Việt xin giặc vũ trang, biến các giáo khu Phát Diệm, Bùi Chu và các xóm đạo thành những đạo quân thập tự, tiếp tay với giặc, đem quân tiến đánh làng lương, đốt nhà , phá đình, phá miếu, cướp của, bắn giết đàn ông, hãm hiếp đàn bà con gái. (Đã nói rỏ trong sách Tội Ác Của Giáo Hội Ở Việt Nam)

Và bây giờ, lại cũng các ông Gia-tô Nguyễn Bá Cẩn, Nguyễn Văn Canh, Lý Tòng Bá, v..v.. mưu đồ phản quốc như trên nữa. Đặc tính vong phản, phản quê hương, phản dân tộc này quả thật là sản phẩm của Giáo Hội La Mã.

3.- Cuộc Kháng Chiến 1945 -1954 đòi lại quê hương cho dân tộc từ trong tay giặc do Mặt Trận Việt Minh lãnh đạo chỉ là sự tiếp nối của các cuộc kháng chiến của dân tộc ta đã khởi đầu từ khi Liên Quân Xâm Lược Pháp  - Vatican tấn chiếm nước ta vào năm 1858. Rút kinh nghiệm xương máu  của những người đi trước, Mặt Trận Việt  Minh đã học được những bài hoc cần phải huy động đại khối nhân dân tích cực tham gia vào cuộc chiến, nhờ thế mới hoàn thành được sứ mạng lịch sử mà tiền nhân ta đã liên tục theo đuổi và còn bỏ dở. Chiến thắng Điện Biên Phủ 1954 đã làm cho Đế Quốc Pháp phải cúi đầu nhận tội, công nhận quyền độc lập của dân tộc Việt Nam và phải cuốn gói ra đi.

4.-  Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican tức Giáo Hội La Mã vẫn còn tiếc rẻ và cố bám lấy thân xác Việt Nam như loài đỉa đói, chưa chịu bỏ cuộc, cho nên   mới cho người dẫn ông Ngô Đình Diệm sang Mỹ, trao cho Hồng Y Francis Spellman lo việc chạy chọt và vận động với các nhân vật có quyền thế trên sân khấu chính trị Hoa Kỳ để làm áp lực với chính quyền Pháp và  Quốc Trưởng Bảo Đại đưa ông Ngô Đình Diệm về Việt Nam cầm quyền. Vatican đưa ông Diệm sang Hoa Kỳ ăn chực nằm chờ từ cuối tháng 9 năm 1950. Vì hòan cảnh lúc đó cho thuận lợi cho Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam. Mãi đến đầu nắm 1954, tình hình Đoiong Dương mới thuận lợi, Hoa Kỳ mới thực sự  thuận theo lời cầu khẩn của Tòa Thánh Vatican, chấp thuận cho ông Ngô Đình Diệm về Việt Nam cầm quyền đóng vai trò làm bung xung cho Vatican và Hoa Kỳ trong việc vi phạm Thỏa Hiêp Geneve 1954 với dã tâm là duy trì Việt Nam mãi mãi ở vào tình trạng Nam Bắc chia đôi. (Phần II  sẽ trình bày rõ ràng vấn đề này). Cũng vì thế mà  dù là Đế Quốc Thực Dân Xâm lược Pháp phải cuốn gói ra đi vào tháng 7 năm 1954, nhưng  cái vòi của con Bạch Tuộc Vatican vẫn còn tồn tại ở miền Nam  cho đến ngày 30/4/1975 mới coi như là bị chặt đứt.

5- Bản chất của hai chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Gia  tô Nguyễn Văn Thiệu được ngụy trang bằng những danh xưng trá hình Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam. Hai chế độ đạo phiệt Gia-tô này quản lý nhân dân bằng chính sách cảnh sát trị với 13 tổ chức công an, mật vụ an ninh quân đội như thiên la địa võng. Thành tích tàn ngược và dã man của các tổ chức công an và mật vụ này tkhông kém gì  thành tích tàn ngược và dã man của Tòa Án Dị Giáo (Inquisitions) của Giáo Hôi La Mã, của Tây Ban Nha trong thời Trung Cổ, không kém gì chế độ đạo phiệt Gia-tô Ante Pavelich ở Croatia trong thời Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945) cũng như chế độ đạo phiệt Gia-tô  Augustin Misago tại Rwanda (Phi Châu) trong mấy tháng giữa năm 1994 (sẽ được trình bày rõ ràng ở phần sau).

Thành tích tham nhũng của hai chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu còn vượt lên trên cả thành tích tham nhũng của các chế độ đạo phiệt Gia-tô   Batista ở Cuba trong những năm 1952-1959 và chế đô đạo phiệt Gia-tô Marcos tại Phi Luật Tân trong gần ba thập niên kể từ năm 1965 kéo dài cho đến năm 1992. Điều này cũng dễ hiểu vì rằng tất cả các chế độ đạo phiệt Gia-tô trên đây đều là con để của Giáo hội La Ma, và Giáo Hội La Mã vốn dĩ là cha đẻ của đủ mọi thứ tội ác, trong đó tội tham nhũng mà sách sách sử gọi là tội "bán thánh" (simony) được xếp  vào bậc ngàng hàng với tội ác của các Tòa Án Dị Giáo.

6.- Những bài học đau thương trong lịch sử về những thế lực đã phục hồi được quyền lực cũ.

7.- Giáo Hội La Mã là kẻ thù số 1 của nhân Loại.và phong trào nhân dân thế giới chống lại chính sách xâm thực vô cùng thâm độc và  dã man của Giáo Hội.

ĐỀ NGHỊ XÂY DỰNG

 Nếu cho rằng chính quyền Việt Nam hiện nay là một chế độ độc tài  hà khắc cần phải được thay đổi, người viết khẩn khoản  đề nghị quý vị hãy tranh đấu bằng cách:

GIAI ĐỌAN I.- Gửi thỉnh nguyện thư đến cơ quan lãnh đạo chính quyền Việt Nam hiện nay trong đó nêu lên những điểm nào sai lầm cần phải thay đổi rồi yêu cầu chính quyền cứu xét. Việc làm này giống như nhóm trí thức "Tự Do Tiến Bộ"  ở miền Nam Việt Nam đã làm khi họ  gửi bản Tuyên Ngôn lên Tổng Thống Gia-tô Ngô Đình Diệm vào ngày  26 tháng 4 năm 1960.

GIAI ĐỌAN II.-  Sau khi đã làm như trên mà không được chính quyền Việt Nam hồi âm hay từ chối, quý vị phải tiến hành sọan thảo một kế hoạch thiết  lập các căn cứ nghĩa quân với những tổ chức như một tổ chức cách mạng gồm  ban lãnh đạo, ban quân sự, ban thông tin, ban tiếp vận, ban kinh tế và ban tài chánh, v. v.. giống như các tổ chức nghĩa quân kháng chiến của các bậc tiền nhân trong thời chống quân Minh, và chống liên quân giặc Pháp -Vatican từ đầu thập niên 1860 cho đến tháng 7 năm 1954.

GIAI ĐỌAN III- Công bố bản tuyên cáo với quốc dân Việt Nam để

1.- Nói rõ mục tiêu tranh đấu để thành lập:

A.-  Một chính quyền dân chủ thực sự (do dân mà có, vì dân mà làm,  và làm    việc cho dân).  Tuyệt đối không phải  là một chính quyền tay sai cho o Giáo Hội La Mã như  các chế độ đạo phiệt Gia-tô ở miền Nam Việt Nam trong thời 1954-1975 và được che đậy băng danh xưng Việt Nam Cộng Hòa] 

B.- -Một  lá cờ mới [chứ không phải lá cờ vàng ba sọc đỏ do  liên  quân  xâm lăng Pháp - Vatican cho ra đời vào 1948].

C.- Một  quân đội hoàn toàn mới từ  trong nhân dân mà ra, chiến đấu cho dân, sống với dân và bảo vệ dân [chứ không phải là hậu thân của đám lính của liên quân giặc cướp xâm lăng Pháp-Vatican và thập tự quân trong các xóm đạo  trong thời kháng chiến 1945-1954 mà nhân dân ta đã có kinh nghiệm về thành tích đốt nhà, phá đình, phá chùa, tàn sát đàn  ông, hãm hiếp đàn bà con gái, vơ vét của cải mang đi .(Sẽ được nói rõ hơn ở Phần III)]

2.-  Nêu cao mục tiêu tranh đấu bằng cách công bố và phổ biến rộng rãi bản tuyên cáo trên đây bằng tất cả mọi phương tiện truyền thông và tung cán bộ dấn thân vào trong đại khối nhân dân ở Việt Nam cũng như ở hải ngọai  để giải thích tường tận mục tiêu  tranh đấu và những gì mà nhân dân còn thắc mắc. Có như vậy thì mới làm an lòng đại khối nhân dân đã từng là nạn nhân thảm khốc của Giáo Hội La Mã từ năm 1858 đến tháng 7 năm 1954 trong toàn quốc và riêng nhân dân miền Nam Việt Nam cho đến ngày 30/4/1975..

GIAI ĐỌAN IV.- Công bố một bản cáo trạng kể rõ tội ác của Giáo Hội La Mã đối với dân tộc Việt Nam, trong đó có những tội ác :

1.- Chủ mưu và thuyết phục Đế Quốc Pháp xuất quân đánh chiếm đất nước ta từ giữa thế kỷ 19  để cùng  thống trị toàn cõi Đông Dương cho đến 1954.

2.- Dựa hơi chính quyền Bảo Hộ  Pháp - Vatican từ năm 1862  cho đến 1945 để chiếm đọat tài nguyên quốc gia, bóc lột nhân dân bằng nhiều hình thức thuế khóa (thuế thân, thuế muối,.thuế rượu, v.v...), bằng của lễ dâng cúng qua sự bố trí và xúi giục của các tu sĩ tay sai.Nhờ vậy mà Giáo Hội trở thành một địa chủ giầu có nhất ở Việt Nam và nhân dân ta rơi vào thảm họa chết đói cả hai triệu người vào mùa Xuân năm Ất Dậu 1945 .(Sé được trình bày rõ ràng trong sách Tội Ác Của Giáo Hội La Mã Tại Việt Nam).

3.- Thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội. Chính sách này đã tạo nên những loại người có bằng cấp, có tước vị rồi cho nắm giữ những chức vụ lớn, chức vụ nhỏ hoặc  là trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội, hoặc là  trong các chính quyền bù nhìn Bảo Đại và các chế độ đạo phiệt   Gia-tô ở miền Nam. Tác hại của chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ này thật là ghê gớm. Chúng ta có thể nhìn thấy rõ những tác hại này qua những sự kiện sau đây

3.1.- Những người có bằng cấp đại học, có tước vị trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã hay đã từng nắm giữ những chức vụ quan trọng trong các chế độ đạo phiệt Gia-tô ở miền Nam, nhưng họ lại không biết sử dụng lý trí  để lý luận và phân tách hầu có thể nhận ra sự khác biệt giữa::

a.- điều phải và điều trái,

b.- ý kiến (opinons), và sự kiện (facts),

c.- lương tri, lương tâm, quy luật đao đức, quy luật nhân đạo  và tín lý bịp bợm của Giáo Hội La Mã,

d.-  quyền lợi tối thượng của  đất nước, của dân tộc  và quyền lợi của quân cướp xâm lăng được tàng hình bằng danh xưng tôn giáo.

3.2.-- Nhiều người đã  có bằng cử nhân luật, đã từng giữ chức vụ thẩm phán tại tòa án Sàigòn, hoặc đã được cho làm thượng nghị sĩ trong cái quốc hội bù nhìn tại miền Nam trước tháng 4 năm 1975, có những người đã tốt nghiệp trước Quốc Gia Hành Chánh và đã từng nắm giứ các chức vụ chỉ huy trong chính quyền miền Nam trước đây, nhưng lại không biết viết một bài "điểm sách". Khi viết "điểm sách" của một tác giả nói lên những sự thật lịch sử của liên hệ tới Giáo Hội hay các chính quyền tay sai của Giáo Hội thì họ lại viết bài "điểm mặt" nhằm chửi bới và hạ nhục tác giả để tâng công với Giáo Hội. Trong các ấn phẩm của họ thường có những  tình trạng "câu sau đá ngược câu trước", "đọan văn sau đá ngược đọan văn trước", "lý luận cuội", "cãi cố, cãi chày", v.v.. 

3.3.- Linh- mục Hoàng Quỳnh tuyên bố "Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa". Thật ra, nếu quả thật có Chúa thì Chúa ở trong tâm hồn của tin đồ  thì làm sao có thể mất được. Chủ tâm của họ là muốn dâng nước Việt Nam cho Giáo Hội La Mã

3.4.- Tổng Thống Gia-tô Ngô Đình Diêm tuyên bố rằng, "ông tin tưởng vào quyền lực Vatican và ông chống Cộng một cách cực lực" [3] khi ông nói chuyện với với nhiều nhân vật cao cấp của Bộ Ngọai Giáo Hoa Kỳ trong bữa tiệc được tổ chức tại Khách Sạn Mayflower Washington D.C. vào một buổi chiều trong tháng 10 năm 1950,    sau khi được đưa lên cầm quyền trong một thời gian ngắn, ông liền cho tổ chức một buổi đại lễ vô cùng long trọng tại trước nhà thờ chính  tòa Sàigòn vào tháng 2 năm 1959 để chính ông nhân danh Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa dâng nước Việt Nam cho Giáo Hội La Mã được ngụy trang là "Đức Mẹ Vô Nhiễm" với sự hiện diện của Hồng Y Agianian, Khâm Sứ đại diện của Tòa Thánh Vatican (Giáo Hội La Mã) đứng ra tiếp nhận. [4] 

3.5.- Giáo Hội La Mã dạy dỗ các ông linh mục rằng nếu cần phải chọn lựa giữa quê hương và Giáo Hội thì họ phải   từ bỏ quê hương. Lời  tự thú  công khai của Linh-mục Trịnh Văn Phát với nguyên văn như sau:

"Trong suốt thời gian ở Việt Nam tôi đã suy nghĩ và tự hỏi mình phải làm gì cho quê hương và Giáo Hội. Giúp quê hương không phải là bổn phận trực tiếp của tôi, nhưng tôi có bổn phận với Giáo Hội vì tôi là người của Giáo Hội và được đào tạo để sau này phục vụ cho Giáo Hội. Có nhiều anh em yêu cầu tôi về giúp cho địa phận, tôi thẳng thắn trả lời là tôi không có tự do chọn lựa, tôi được huấn luyện để phục vụ theo nhu cầu của Giáo Hội." [5] .

3.6.- Pétrus Trương Vĩnh Ký viết thư yêu cầu quân Pháp tấn công vào Việt Nam để giúp cho giáo dân Gia-tô nổi lọan chống triều đình nhà Nguyễn.

3.7.- Linh-mục Trần Lục dẫn hơn 5 ngàn quân lính thập tự và giáo dân tiếp viện cho liên quân giặc Pháp Vatican  tiến đánh tiêu diệt căn cứ kháng chiến nghĩa quân ở Ba Đình (Thanh Hóa) dưới quyền chỉ huy của cụ Đinh Công Tráng vào những năm 1894-1895.

3.8.- Ông Gia-tô Nguyễn Văn Chức viết lá thư đề ngày 25 tháng 2 năm 1955 thỉnh cầu Thủ Tướng Ngô Đình Diệm thành lập đạo quân thập tự Việt Nam để củng cố và bảo vệ chế độ đạo phiệt Gia-tô tại miền Nam Việt Nam.

3.9.- Những hành động của tu sĩ  và tín đồ  Gia-tô   tiếp tay cho liên quân giặc Pháp -Vatican trong suốt thời kỳ 1858 cho đến tháng 7 năm 1954.

3.10.- Những hành động của tú sĩ và tín đồ Gia-tô tích cực bảo vệ các chế độ đạo phiệt Gia-tô ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 và bào chữa những rặng núi tộc ác của các chế độ này..

4-  Liên kết với Hoa Kỳ để thi hành sách lược "cú đội lông công" và "cáo đội lốt hùm", dựa hơi siêu cường Hoa Kỳ để thống tri miền Nam Việt Nam qua hai chế đô đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu. [Nói cho đúng sự thật là Giáo Hội La Mã đã được Hoa Kỳ cho nắm độc quyền bao thầu dịch vụ Chống Cộng tại miền Nam Việt Nam.]

5.-  Tiến hành Kế Họach Kitô Hóa được nguy trang bằng cụm từ "chiến dịch Tố Cộng" tại các tỉnh Liên khu V, sát hại tới cả 300 ngàn nạn nhân ở vùng này trong những năm 1955-1963  qua những chiến dịch làm sáng danh Chúa được ngụy trang bằng  luật số 47 ban hành ngày 21 tháng 8 năm 1956 và luật  10/59 ban hành ngày 6 tháng 5 năm 1959.

6.- Dựa thế chính quyền cướp đọat tài sản quốc gia trên lãnh thổ miền Nam và bóc lột nhân dân miền Nam bằng trăm phương ngàn kế. [6]

7.- Đòi hỏi Giáo Hội La Mã phải bồi thường chiến tranh cho Việt Nam giống như Đế Quốc Pháp và Đế Quốc Nhật Bản đã phải làm đối với nước ta trước đây.

8. Đòi hỏi  Giáo Hội La Mã có trách nhiệm phải  hoàn trả lại cho dân tộc Việt Nam tất cả những gì mà Giáo Hội đã dựa vào bạo lực của chính quyền bảo hộ trong suốt thời gian từ 1862 cho đến tháng 7 năm 1954 trên toàn lãnh thổ Việt Nam và từ tháng 7 năm 1954 cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 ở miền Nam Viêt Nam. Đó là  những khoản tài sản quốc gia mà Giáo Hội chiếm đoạt, tiền của đã bóc lột của nhân dân [đã được vận chuyển về Tòa Thánh Vatican (động sản) và còn ở Việt Nam (tất cả các bất động sản)]

9.- Đòi hỏi Giáo Hội La Mã phải bồi thường những thiệt hại về phương diện tinh thần mà Giáo Hội đã gây ra cho quốc gia và nhân dân Việt Nam trong suốt thời gian nắm vai trò đồng thống tri với Đế Quốc Pháp và Hoa Kỳ từ năm 1862 cho đến ngày 30/4/1975.

GIAI ĐOẠN V.- Chính qúy vị phải dấn thân về nước tuyển mộ người vào tổ chức để thành lập chiến khu cách mạng và các đạo quân xung kích,. Chính quý vị phải dấn thân về Việt Nam sống chung và đồng cam cộng khổ với anh em chiến sĩ để cùng tranh đấu, cùng chìm nồi với đồng bào ở trong nước, và cùng quyết tâm hy sinh liều chết cho đại cuộc  giống như các lực lượng kháng  chiến của tiền nhân ta đã làm từ cuối thập niên 1850 cho đến ngày 20/ 7/1954.

VI.- Công bố một bản tuyên ngôn nói rằng nếu Cách Mạng thành công thì sẽ triệu tập một  quốc hội hay hội nghi lập hiến. Nhiệm vụ của Quốc Hội  hay Hội Nghị Lập Hiến là  điều nghiên các bản hiến pháp của Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản, Ấn Độ và các nước dân chủ thực sự khác ở trên thế giới để biên soạn một bản hiến pháp đặt nền tảng cho một chính quyền dân chủ tự do giống như các nước dân chủ tư do tiền tiến (Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản), phải  thích hợp cho hoàn cảnh đất nước Việt Nam với một quốc hội độc viện hay lưỡng viện  và có quan hành pháp theo chế độ tổng thống hay chế độ đại nghị, nhưng điều quan trọng là phải có những điều căn bản dưới đây:

1.- Công nhận những quyền bất khả nhượng và những quyền  tự do khác của người dân,

2.- Hạn chế nhiệm kỳ Tống Thống không quá hai nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ là 4 năm.

3.- Phải có những biện pháp chế tài đối với các viên chức cao cấp trong chính quyền từ tổng thống trở xuống tới các chức vụ tổng bộ trưởng cho đến mấy ông phường trưởng và khóm trưởng giống như điều khỏan "Impeachment" trong hiến pháp Hoa Kỳ

4.- Tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền,

5.- Lập  một hiến chế cho các tu sĩ phải tuân hành hiến pháp và luật lệ quốc gia. Tu sĩ phải do chính quyền Việt Nam bổ nhậm và bãi chức, không bị chi phối hay phải tuân hành một thế lực tôn giáo nào ở ngòai lãnh thổ Việt Nam, giống như chính quyền Cách Mạng Pháp 1789 đã làm đối với Giáo Hội La Mã..

Thời hạn tối đa là 6 tháng kể từ ngày khởi họp.

GIAI ĐOẠN VII.-  Sau khi sọan thảo xong hiến pháp, công bố ngày tổ chức bầu cử tổng thống và phó thổng thống và quốc hội lập pháp cách mạng. Quốc hội lập pháp có nhiệm vụ phải làm những luật lệ cách mạng để đối phó với Giáo hội La Mã  giống như Cách Mạng Pháp 1789, Cách Mạng Ý Đại Lợi 1890 và Cách Mạng Mễ Tây Cơ 1857, v...v.. đã làm ngay khi cách mạng vừa lên nắm chính quyền (sẽ được trinh bày rõ ràng ở trong tập sách này ở Phần IV).

TẠI SAO LẠI ĐẶT NẶNG VẤN ĐỀ
TÔN GIÁO PHẢI TÁCH RỜI CHÍNH QUYỀN?

Quý vị đừng quên rằng không phải chỉ  có dân tộc Việt Nam mà hầu như tất cả các dân tộc trên thế giới đều coi Giáo Hội La Mã là kẻ thù nguy hiếm nhất, thâm độc nhất, bạo ngược nhất và dã man nhất. Xin kể ra những kinh nghiệm của các  dân tộc trên đối với Giáo Hội La Mã:

1.- Tất cả các nước theo Hồi Giáo, Do Thái Giáo, Chính Thống Giáo và Tin Lành  bất cộng đái thiên với Giáo Hội La Mã.

2.- Tất cả các nước theo Phật Giáo, Ấn Độ Giáo, Khổng Giáo và Thần Đạo (Nhật Bản) thì khinh rẻ Giáo Hội La Mã như là một tổ chức chính trị lưu manh  mượn danh nghĩa những tín lý bịp bợm để lừa bịp người đời trong mưu đồ bành trướng chủ nghĩa bá quyền.

3.- Còn các nước theo đao Gia-tô mà đại đa số vốn là tín đồ của Giáo Hội như Cuba, Ba Lan, Pháp, Tây Ban Nha, Mễ Tây Cơ, Ý Đại Lợi, Tiệp Khắc thì cũng nghỉ chơi với Giáo Hội và đều có điều khỏan "tôn giáo tách rời khỏi chính quyền" được ghi trong hiến pháp của nước họ. Phần IV của tập sách này sẽ trình bày rõ ràng lòng thù ghét và ghê tởm của nhân dân thế giới đối với Giáo Hội La Mã.

4.- Riêng đối với nhân dân miền Nam Việt Nam, muốn biết lòng dân đối với Giáo Hội La Mã và chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm như thế nào, xin  hãy coi lại khúc phim thời sự Việt Nam vào buổi sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963.  Xem xong rồi, quý vị sẽ thấy nhân dân Sàigòn lũ lượt kéo nhau ra ngoài đường phố như những dòng thác với  cả hàng rừng người hân hoan hò reo vui mừng và chen chúc nhau để được bắt tay  những người lính làm Cách Mạng lật đổ chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm trong ngày 1/11/1963. Xem xong rồi, quý vị hãy suy nghĩ xem có nên tiếp tục làm cái việc phục hồi miền Nam Việt Nam hay không?

PHẢI CÓ THỰC TÂM

Nếu việc làm của quý vị thực sự có chính nghĩa vì dân tộc, vì tổ quốc và vì giống nòi thì quý vị phải làm như vậy.Có làm như vậy thì mới có thể tạo được thực lực, mới được nhân dân hậu thuẫn và ủng hộ, rồi sẽ nô nức hăng say đi theo qúy vị như họ đã đi theo Mặt Trận Việt Minh trong thời Kháng chiến 1945-1954.

Trái lại, nếu quý vị cứ khăng khăng đòi PHỤC HỒI Việt Nam Cộng Hòa tức là  quý vị có mưu đồ phá vỡ nền thống nhất đất nước và tái lập  chế độ đạo phiệt Gia-tô giống như chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm hay chế độ quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu trong những năm 1954-1975, tức là phục hồi quyền lực cho Giáo Hội La Mã ở miền Nam Việt Nam như trước ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Trước khi muốn tiến hành xây một căn nhà mới, quý vị  phải lo đào bới những đống phân còn lại  lúc nhúc những côn trùng giòi bọ còn lại [do đàn giòi bọ  lãnh chúa áo đen ở hậu trường như Ngô Đình Thục, Phạm Ngọc Chi, Nguyễn Văn Thuận, Mai Ngọc Khuê, Hoàng Quỳnh, Đinh Xuân Hải, Trần Đình Vận, Tô Đình Sơn, Phan Lạc Hóa, Nguyễn Bá Lộc, v.v.. sinh sản ra hay bọn hậu duệ hoặc tàn tích của đàn giòi bọ này] ở trong đó mà đem  đi đổ lên bờ biển Địa Trung Hải để cho "Châu về Hợp Phố", sau đó đem bột DTT và những  loại thuốc sát trùng cực mạnh khác về tẩy uế, cho sạch mùi hôi thối. Có như thế căn nhà mới [chế độ hoàn toàn mới ] mới có giá trị. (Chế độ mới này phải thực sự dân chủ, chứ không phải dân chủ giả hiệu như chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân  phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu trong thời 1954-1975) với một lá cờ hoàn toàn mới (chứ không phải lá cờ vàng ba sọc của cái thời liên quân giặc Pháp - Vatican làm ra vảo năm 1948 mạ kền cho chính quyền bù nhìn Bảo Đại)  một quân đội hoàn toàn mới, (chứ không phải là  một thứ quân đội hậu thân của liên quân  giặc xâm lăng Pháp - Vatican và quân thập tự  cướp của giết người hãm hiếp đàn bà con gái của thời  Kháng Chiến 1945-1954)]?.

Quân đội mới phải là quân đội từ nhân dân mà ra, chiến đấu cho nhân dân, bảo vệ và che chở cho nhân dân, chứ không phải là quân lính ăn cướp như bọn lính trong liên quân  giặc Pháp - Vatican và các đạo quân thập tự  Việt Nam ở các  các xóm đạo và giáo khu trong thời Kháng Chiến 1945-1954,

Cần phải nhận thức rằng suốt trong thời gian từ năm 1945 cho đến  tháng 4 năm 1975, những người Việt Nam tình nguyện hay bị cưỡng bách phải cầm súng chiến đấu trong hàng ngũ của Liên  Minh Đế Quốc Xâm Lăng Pháp Vatican (1945-1954) và dưới chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu không có chính nghĩa và cũng không thể tạo ra chính nghĩa. Lý do rất đơn giản là cả hai Đế Quốc Pháp và Đế Quốc Vatican (tức Giáo Hội La Mã) cùng với tập đoàn tu sĩ Gia-tô người Âu và người Việt đều là kẻ thù của tổ quốc và dân tộc Việt Nam vì hành động tấn chiếm và thống trị Việt Nam của  Vatican và Pháp từ năm 1858.

Trong thời kỳ Kháng Chiến 1945-1954, chính Đế Quốc Pháp, Đế Quốc Vatican và phần lớn tập đòan tu sĩ Gia-tô người Âu và người Việt cấu kết với nhau tiến hành cuộc chiến chống lại tổ quốc   và dân tộc Việt Nam để duy trì nền thống trị của Pháp và của Vatican tại Đông Dương nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Trong thời kỳ 1954-1975, chính Đế Quốc Vatican và tập   đoàn tu sĩ Gia -tô người Việt được chính quyền Hoa Kỳ đỡ đầu nặn ra hai chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu để làm tay sai cho cả Hoa Kỳ và Vatican (sẽ nói rõ trong Phần II và Phần III trong tập sách này). Những sự kiện trên đây cho chúng ta thấy rõ là những người chiến đấu dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ  trong suốt thời kỳ 1945-1975 chỉ là chiến đấu cho kẻ thù của dân tộc là   Đế Quốc Vatican và các quốc gia đồng minh của đế quốc này  mà thôi. Thử hỏi như vậy thì làm sao mà có chính nghĩa được?

Cần phải nhận thức rằng trong bất kỳ tổ chức chính trị hay cuôc chiến nào mà có bóng dáng của Giáo Hội La Mã hay   bóng dáng bọn tay sai của Giáo Hội   (những người còn giữ lòng trung thành với Vatican) ở trong đó thì sẽ hoàn toàn không có chính nghĩa.

Vì thế mà  chúng ta cần phải dứt khoát để quyết định chủ trường chiến đấu để có một chế độ dân chủ thực sự (không có bóng dáng của Giáo Hội La Mã) với mới cho một quân đội hoàn toàn mới và một lá cờ mới. Có như vậy thì chúng ta mới có hy vọng lấy lại được niềm tin đối với quốc dân Việt Nam.

Giáo Hội La Mã  với một hệ thống tín lý tích bịp bợm  trắng trợn ngoài sức tưởng tượng của lòai người, với những kỷ lục về những hành động bạo ngược và dã man nhất trong lịch sử nhân loại, với những thành tích gian dối, quay quắt, lắt léo, quanh co và lươn lẹo vô địch cổ kim, với một  tập đòan tu sĩ có những đời sống bê bối thối tha lừng danh trên thế giới, tất cả  đã trở thành một đóng rác lúc nhúc những giòi bọ nằm bên cạnh dẫy cầu tiêu công cộng sặc mùi xú uế tại một thành phố lớn trong một quốc gia chậm tiến, thiếu người quản lý công việc vệ sinh  chung.

Kiến tạo một nền dân chủ thực sự tai một quốc gia cũng giống như một cặp uyên ương mới thành đôi tính đến chuyện kiếm một căn nhà làm tổ ấm.  Không có một cặp uyên ương mới thành đôi nào lại nghĩ đến xây tổ ấm trên một đống rác bên cạnh đống phân đầy những côn trùng, giòi bọ và sặc mùi xú uế. Một em bé vừa  học xong bậc tiểu học cũng nhận thức được điều này.. Phải chăng những người khoa bảng như quý vi không ại không nhìn  thấy vấn đề này cho nên mới tính chuyện "Phục Hồi Miền Nam Việt Nam", "Phục Hồi  Việt Nam Cộng Hòa", "Phục Hồi  Niềm Tin"   "Phục Hồi Tinh Thần Ngô Đình Diệm" và "Phục Hồi Quyền Lực cho Giáo Hội La Mã  ở Việt Nam" như vậy?

1.- Là những người khoa bảng chẳng lẽ mà quý vi lại không biết trong hiến pháp của các quốc gia theo chế độ dân chủ ở khắp nơi trên thế giới đều có điều khỏan "Tôn Giáo phải tách rời khỏi chính quyền" hay sao?

2. - Là những người khoa bảng, chẳng lẽ quý vị lại không biết các nước Anh, Pháp, Ý, Mễ Tây Cơ, Tây Ban Nha, Nhât  Bản, Trung Hoa, Hoa Kỳ và dân tộc Việt Nam ta đã phải mất bao nhiêu công lao và xương máu trong những cuộc chiến đẫm máu chống lại Giáo Hội La Mã để bảo toàn nền độc lập và khỏi bị   Giáo Hội phá vỡ nền thống nhất đất nước của họ, hay  sao?[ Phần IV của tập sách này sẽ trình bày vấn đề này để quý vị và độc giả nhìn thấy rõ bộ mặt thật của Giáo Hội nó ghê tởm như thế nào!]

Người viết tạm thời nêu lên mấy vấn đề trên đây với hy vọng quý vị động não và tìm ra những lời giải đáp cho những vấn đề này để rồi quyết định có nên làm việc này không..

Là người Việt Nam, quý vị phải nên biết rằng tiền nhân ta trong đó có Mặt Trận Việt Minh đã khổ công lắm mới hoàn thành được sự nghiệp đánh đuổi liên quân  cướp ngọai xâm Pháp - Vatican để giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc và sự nghiệp thống nhất đất nước. Vần đề còn lại là phải  tranh đấu để có một chế độ dân chủ thực sự. Tranh đấu để có một chế độ dân chủ, chứ không phải phế bỏ chế độ độc tài hiện tại để tái lập chế độ đạo phiệt Gia-tô , một chế độ đạo phiệt còn tệ hại gấp cả  hàng ngàn lần so với chính  quyền Việt Nam  hiện bây giờ. Bằng chứng   là :

 1.- Nước Cuba với tỉ lệ tín đồ Gia-tô của Giáo Hội chiếm tới gần 100%, ấy thế mà họ thà cương quyết sống với chế độ độc tài của ông Fidel Castro còn hơn là phục hội chế độ đạo phiệt Gia-tô Batista của thời 1952-1959.

2.-  Nước Ba Lan với tỉ lệ tín đồ Gia-tô của Giáo Hội chiếm tới  95% và đã có kinh nghiệm hơn 40 năm sống trong chế độ Cộng Sản, ấy thế  mà khi có cuộc bầu cử  tự do được tổ chức  vào ngày 19/11/1995 thì họ thà chọn một ứng cử viện cựu đảng viên Cộng Sản là ông  Aleksander Kwasniewski còn hơn là  chọn ông Gia-tô Lech Walesa, một tín đồ ngoan đạo tay sai đắc lực của Giáo Hội La Mã. 

3.- Nước Nicaragua (Trung Mỹ)  với tỉ lệ tín đồ Gia-tô của Giáo Hội chiếm tới 95% cũng đã cố gắng giẫy dụa cả thập niên 1980 để thoát khỏi cái ách thống trị tham tàn bạo ngược của băng dản "quạ đen" tay sai của Giáo Hội.

4.- Các nước Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Tiệp Khắc và Mễ Tây Cơ đều có tỉ lệ tín đồ Gia-tô chiếm tới trên 90 % nhưng đều ghê tởm Giáo Hội La Mã  và đều phải dùng biện pháp mạnh để đối phó với Giáo Hội. 

HÌNH DUNG MỘT CHÍNH QUYỀN
KHI ĐÃ PHỤC HỒI MIỀN NAM

Phục hồi Miền Nam Việt Nam tất nhiên là phải có một chính quyền  lâm thời thay thế chính quyền hiện tại để quản lý nhân dân, tổ chức và quản lý   công việc bầu cử tuyển chọn người thành lập tân chính quyền thực sự vì dân, do dân và bởi dân. Vậy thì chính quyền lâm thời đó sẽ như thế nào?

1.- Người lên nắm quyền lãnh đạo chính quyền sẽ phải có những điều kiện như thế nào?

2.- Những người được đưa lên nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền phải có những điều kiện như thế nào?

3.- Liệu có những tổ chức công an, mật vụ, cảnh sát giống như 13 tổ chức công an mật vụ khác nhau giống như thời chế độ đạo phiệt Gia-tô ngô Đình Diệm không?

4.- Liệu có diền trò bầu cử bịp bợm như thời chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu không?

5.- Liệu có tránh được cái tệ nạn chụp mũ Cộng Sản  gống như chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm đã làm trong các tỉnh Liên Khu V trong những năm 1955-1963 không?

6.- Liệu có  tránh được tệ trạng chụp mũ cho những người bất đồng chính kiến với mình như tình trạng các ông các bà thao túng các cơ quan truyền thông Việt ngữ và thao túng các đồng người Việt ở hải ngoại đang làm hay không?

7.- Liệu có tránh khỏi  thảm họa trả thù giống như những thảm họa trả thù trong lịch sử như những trường hợp dưới đây:

7.1.-  Nạn "Khủng Bố Trắng" (La Terreur Blanche) trong những năm 1815-1830 ở Pháp sau khi Liên Minh Thánh  (Holy Alliance) [do Giáo Hội La Mã  vận động thành lập gồm các nước Áo, Phổ, Anh và Nga] kéo quân vào nước Pháp tiêu diệt chính quyền của Hoàng Đế Napoléon I và phục hồi vương quyền cho dòng họ Bourbons với hai ông vua Louis XVIIII (1814-1824) và Charles  X (1824-1830)

7.2.- Thảm họa trả thù của Vua Lê Chiêu Thống được quân Thanh đưa về Thăng Long vào những tháng cuối năm 1788..

7.3.- Thảm họa trả thù của vua Gia Long vào những năm tiếp theo khi ông vừa chiếm được Bắc Hà vào năm 1802.

7.4.- Thảm họa trả thù trong thời chế độ đạo phiệt Gia tô Ngô Đình Diệm ở Liên Khu V và sau ngày Chính Biến 11/11/1960.

Trong thời chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm, riêng các tỉnh Thừa Thiên, Huế, Quảng Nam, Quảng Nghĩa, Bình Định và Tuy Hòa, con số nạn nhân bị chụp mũ là Cộng Sản và bị thủ tiêu lên đến khoảng 300.000 (300 ngàn) người. Nếu kể cả những nạn nhận bị thủ tiêu ở miền Nam, con số nạn nhân lên tới trên dưới 400 ngàn (sẽ nói rõ ở phần sau), trong đó nổi tiếng nhật là  vụ tàn sát người tập thể trong trại giam Phú Lợi. Nói về trại giam Phú Lợi, sách Việt Nam Niên Biểu 1939-1975  Tập I - C: 1955-1963 của Chính Đạo ghi nhận sắc lệnh này như sau:

"11/1/1956: SÀIGÒN: Diệm ký Sắc Lệnh số 6, bắt giữ bất cứ ai có hành động làm hại đến an ninh công cộng.[ 17/1/1956]

Theo tài liệu chính phủ, trong năm 1956, có khỏang 20 ngàn cán bộ Cộng Sản bị cải huấn tại các trại tập trung. Đáng kể nhất là trung tâm Phú Lợi (6 ngàn).

Tài liệu Pháp ghi nhận khoảng 50 ngàn (Gravel, I:311). [Xem 21/8/1956 (7)]

Những bài học lịch sử trên đây cho phép chúng ta tiên liệu rằng NẾU Thỉnh Nguyện Thư trên đây của quý vị được Liên Hiệp Quốc và Hoa Kỳ chấp thuận  và được thể hiện ra thành sự thực như ý muốn của quý vị thì chắc chắn sẽ có thảm họa tắm máu vô cùng khủng khiếp. Con số nạn nhân tiên đóan không phải là 400 ngàn  (như thời chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm) và cũng không phải là 1 triệu, mà sẽ lên đến nhiều triệu người. Với những sách báo của các tác giả Gia-tô  tràn ngập những lời sỉ vả những người có liên hệ đến các phong trào chống lại nhà Ngô  và chửi rủa các tác giả có ấn phẩm nói lên những sự thật về những việc làm bất chính, bất nhân  và dã man của Giáo hội La Mã và của chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm, người viết tiên liệu sẽ có hàng triệu nạn nhân là ít. Khi đó, những người như cựu Tướng Nguyễn Chánh Thi, Cựu Đại Tá Phạm Văn Liễu, Cựu Trung Tá Nguyễn Kiên Hùng, tất cả những người liên hệ vói cuộc chính biến 11/11/1960, cựu Đại Úy Nguyễn Văn Cử và tất những người liên hệ đến vụ bỏ bom Dinh Độc Lập vào sáng ngày 27/2/1962,  tất cả các nhân sĩ Tiến Bộ ký tên trong bản Tuyên Ngôn đề ngày 26/4/1960 gửi Tổng Thống Ngô Đình Diệm yêu cầu sửa sai chính sách, tất cả những người liên hệ đến cuộc Cách Mạng 1/11/1963, tất cả các Phật Tử liên hệ đến phong trào Phật Giáo đòi thực thi công bằng tôn giáo trong năm 1963, tất cả  những người đã tham gia phong trào học sinh và sinh viên chống chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm trong mùa Hè và mùa Thu năm 1963, sử gia Vũ Ngự Chiêu, nhà văn kiêm nghề MC Nguyễn Ngọc Ngạn, các ca sĩ Thanh  Lan, Hương Lan, Phương Trinh, Hoài Linh, Thanh Tuyền, Ngọc Huyền,  tất cả những người ưa thích nghe nhạc Trịnh Công Sơn, tất cả những người có cảm tình và tỏ ra quý mên nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tất cả những tác giả trong nhóm Giáo Điểm và những độc giả các ấn phẩm của nhóm Giáo Điểm v. v..., và tất cả  những công nhân viên nhà nước hiện nay và thân nhân của họ  ở miền Nam Việt Nam  NẾU phải  sống dưới chế độ khốn nạn này thì chắc chắn cũng sẽ trở thành những nạn nhân giống như trên dưới 400 ngàn nạn nhân của chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm trong các tỉnh thuộc Liên Khu V vào những năm 1955-1963.

Nói tóm lại, hai chế đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu khốn nạn như thế đó. Nó giống như cái cầu tiêu đã bị ngọn lửa căm thù của nhân dân Việt Nam thiêu rụi mất rồi.

HOÀN CẢNH CỦA NHỮNG NGƯỜI VIỆT
TRUNG THÀNH VỚI TÒA THÁNH VATICAN
TRƯỚC VÀ SAU NGÀY 30/4/1975

Phần lớn những người nằm trong giai cấp thống trị của hai chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình  và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu là những tín đồ ngoan đạo và một số những người khác chưa hẳn là tín đồ Gia-tô nhưng là cảm tình viên và là đồng minh của Giáo Hội ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Vì thế ta gọi họ là những người "trung thành" với Giáo hội hay Tòa Thánh Vatican. Trong chính quyền cũng như trong quân đội, hai loại người trên đây được trao cho nắm giữ các chức vụ chỉ huy hay có quyền sinh sát (công an, mật vụ, an ninh, và cảnh sát) đối với nhân dân.    khi chỉ là nhân viên thư ký trong một cơ quan, nhưng vì có sự đỡ đầu của một cán bộ có quyền lực của Giáo Hội hay của một ông linh mục, họ cũng có  quyền ăn hiếp cả những người nắm giữ chức vụ lớn hơn nhưng chỉ là hữu danh vô thực. Là tín đồ Gia-tô, họ có cả trăm phương ngàn kế được hoãn dịch hay miễn đi lính, sau đó được đưa vào học các trường Quốc Gia Hành Chánh hay các trường đại học khác, rồi bàn tay phù thủy của bọn lãnh chúa áo đen giúp cho họ tốt nghiệp ra trường và được bổ nhâm vào các chức vụ chỉ huy trong chính quyền. Trong các ngành cảnh sát, công an, mật vụ và an ninh, nhan nhản những tin đồ Gia-tô. Người viết làm con tính, tại mấy tỉnh miền Tây tiểu bang Washington, khoảng gần 300  tín đồ Gia-tô ở vào lứa tuổi phải đi lính trong thời chiến tranh 1960-1975, nhưng chưa bao giờ đi lính. Phần lớn họ là  dân tu xuất, tốt nghiệp trường Quốc Gia Hành Chánh hay các trường đại học khác, nắm giữ những chức vụ chỉ huy trong chính quyền miền Nam ngày xưa. Một số lớn khác cũng chưa bao giờ đi lính, được đưa vào làm vịệc trong các cơ quan công an, cảnh sát hay mật vụ. Độc giả có thể kiểm chứng vấn đề này ở ngay địa phương của quý vị.

Trong những năm chiến tranh còn tiếp diễn, có nhiều thanh niên tuy không phải là tín đồ Gia-tô, nhưng vốn là con em các gia đình khá giả mà phần lớn ở các thành thị, được ăn học, [có khi theo học tại các trường đạo (do Giáo Hội làm chủ)], rồi vì có bằng tú tài I hay tú tài II, hoặc là bị động viên đưa vào trường Sĩ Quan Thủ Đức, hoặc là  tình nguyện thi vào học các trường Võ Bị Đà Lạt, sĩ quan không quân, sĩ quan hải quân, khi tốt nghiệp họ trở thành sĩ quan. Trước ngày 30/4/1975, có rất nhiều người trong số những người này thường tỏ ra vô cùng bất mãn với chính sách Gia-tô trị và tệ nạn tham nhũng của hai chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm.và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu, nhất là họ đã nhìn ra những việc làm tội ác của các ông linh mục Gia-tô, của  giới chức lãnh đạo chính quyền trong Dinh Đôc Lập, Dinh Gia Long, và các  viên chức khác trong các cơ quan chính quyền từ trung ương cho đến các địa phương. Lúc đó, là một sĩ  quan cấp nhỏ, họ cũng  nắm quyền chỉ huy ít nhất từ 50 người lính trở lên. Nếu nắm giữ chức vụ đại đội trưởng hay quận trưởng trở lên, họ còn có ít nhất là một quân xa hay công xa và tài xế để sử dụng riêng cho cá nhân,  và có thể có  cả công xa hay quân xa riêng cho gia đình,  và ít nhất là hai hoặc ba hay bốn người lính hầu tại gia. Cuộc sống của họ thất là vương giả, thật là huy hoàng. Đúng là cái thời oanh liệt của họ.

NHỚ TIẾC CÁI THỜI OANH LIỆT

Thế rồi, sau  biến  cố 30/4/1975, họ mất hết tất cả và  trở về làm phó thường dân. Khổ hơn nữa, họ còn bị đưa vào trong các trại học tập sống kiếp tù tội dưới quyền quản lý của các ông quản giáo. Thân phận của họ dĩ nhiên là còn tệ hơn thân phận người lình hầu cận của Tướng Vĩnh Lộc mà chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau. Tình trạng này khiến cho họ uất ức, không còn nhớ gì đến tội ác của Giáo Hội La Mã và các chính quyền đạo phiệt tay sai của Giáo Hội tại miền Nam trước ngày 30/4/1975. Khi được ra hải ngọai sống lưu vong, trong không khí bừng bừng "chống Cộng miệng" qua một thế lực tàng hình đạo diễn, thao túng các cơ quan truyền thông và các hội đoàn tại các cộng đồng địa phương, dần dần họ trở thành những người "trung thành" hay "bán trung thành" với Giáo Hội La Mã hay Tòa Thánh Vatican.

Ngoài ra, còn một số người khác nữa vốn không phải là tín đồ Gia-tô,  cũng là con em các gia đình khá giả và phần lớn cũng là dân thành thị hay vốn thuộc các gia đình giầu có ở nông thôn  và đã   sống ở đô thị nhiều năm để theo học tại các trường trung học đệ nhị cấp [trước năm 1963 chỉ ở các thành phố lớn mới có các trường trung học đệ nhị cấp]. Những người này vì gia đình hay chính bản thân có nhiều mánh mung, giao thiệp với các nhân vật có thế lực hay các ông linh mục, cho nên không những đã không phải đi lính mà lại có những cơ sở làm ăn hái ra bạc. [Nhờ lúc đó đồng tiền của Hoa Kỳ tung vào miền Nam Việt Nam và tỏa ra theo quy luật kinh tế dây  chuyền, hay nhờ ơn mưa móc của chính quyền]. Họ là những người đứng ngòai cuộc chiến và đã làm giầu nhờ chiến tranh, và có khi còn đồng lõa với tham nhũng trong các dịch vụ bao thầu cung cấp quân lương, quân nhu hay xây cất các công sở của chính quyền.

Thể rồi, sau ngày 30/4/1975, Hoa Kỳ cuốn gói bỏ chạy, chính quyền đạo phiệt Gia-tô không còn nữa, quyền lực của mấy ông linh mục cũng không còn nữa, đồng tiền của Hoa Kỳ tung vãi ra ở  Miền Nam Việt Nam cũng không còn nữa. Ơn mưa móc của chính quyền đạo phiệt Gia-tô hay của mấy ông linh mục cũng không còn nữa. Thêm vào nữa, họ (những người rất giỏi mánh mung làm ăn) lại bị chiến dịch đánh tư sản  của chính quyền mới làm cho gia đình mất hết cả tài sản.. Thân phận của họ bây giờ không khác gì những người dân vô sản cùng đinh trong xã hội miền Nam trước ngày 30/4/1975 . Không phải chỉ có thế, mối hận mất đi cuộc sống huy hoàng  của ngày nào khiến cho họ sinh lòng uất ức thù ghét chế độ đương thời. Rồi khi được ra hải ngọai sống lưu vong, giống như những sĩ quân đi theo diện H.O. như đã nói ở trên, dần dần họ trở thành những người bán Gia-tô và cũng tỏ lòng "trung thành" hay "bán trung thành" với Giáo Hội La Mã hay Tòa Thánh Vatican.

Người viết nghĩ rằng  tất cả những người trên đây ở vào trường hợp nào đi nữa thì kể từ ngày 30/4/1975 trở đi hòan cảnh và thân phận của họ [những người còn giữ lòng trung thành với Vatican] giống y hệt như hòan cảnh của  những người dân tại 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ chiến đấu bên cạnh Đế Quốc Thực Dân Anh vào  khi cuộc chiến Cách Mạng Hoa Kỳ 1776-1783 thành công vào năm 1783..Câu chuyện như sau: