
BẠCH THƯ TUỆ SỸ : LÝ LUẬN TRÊN NHỮNG THÔNG
TIN ẢO
Nhật
Nam
Ngày 22 tháng 11 năm 2003, thừa ủy nhiệm Hòa
thượng Viện trưởng và thay mặt Ban Chỉ đạo Viện Hóa đạo của Giáo
hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), Đệ nhất Phó Viện trưởng
của Viện Hóa đạo nầy là Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ đã phổ biến một
Bạch Thư về Nghị quyết HR427 của Hạ
viện Mỹ (19/11/03) và Nghị quyết của Quốc hội Liên hiệp Âu châu
(20/11/03).
Bản văn nầy được đăng lại trên trang
nhà Hoa Đàm (http://www.hoadam.net/new_bachthuVHD.htm) của
GHPGVNTN và sau đó được phổ biến rộng rãi trên mạng lưới điện tử
toàn cầu vì “Ban Chỉ đạo thấy cần
phải bày tỏ quan điểm và lập trường của Giáo hội để Tăng Ni Phật
tử, cùng đồng bào trong và ngoài nước, có cơ sở tham chiếu, ngoài quan
điểm đơn phương của các phương tiện truyền thông đại chúng Việt Nam
dưới sự kiểm soát của Nhà nước Cộng sản”.
Nội dung bản văn, chủ yếu, gồm năm điểm
biện giải để làm sáng tỏ hai vấn đề và một hệ luận:
Thứ nhất: Việc thông qua các nghị quyết
nói trên là chuyện “nội bộ của Hoa Kỳ”
do nỗ lực của bà dân biểu Loretta Sanchez, “đại diện cho cộng đồng người Việt lớn
nhất ngoài Việt Nam trên thế giới” đã biết “sử dụng lá phiếu của mình để gây ảnh hưởng
đối với chính quyền đương quốc để binh vực cho quyền lợi của đồng
đạo cũng như đồng bào trong nước mà họ cho rằng đang bị khống chế
hay áp bức”. Riêng GHPGVNTN thì “không
đủ tầm vóc để tuyên truyền như vậy”.
Thứ nhì: Do ảnh hưởng hỗ tương về mọi mặt, kể cả mặt tổ chức, nên “dù được tổ chức dưới hình thái nào ... thì Phật giáo Việt Nam không thể tự tách mình biệt lập với Phật giáo như một tôn giáo toàn cầu”. Và khi truyền bá vào nước nào, Phật giáo thích ứng với phong tục tập quán của nước đó. “Nhưng không phải vì vậy mà Phật giáo hoàn toàn lệ thuộc vào luật pháp của nước đó."
Và cuối cùng, như một hệ luận, đảng Cọng
sản Việt Nam, thông qua “lời phát biểu của
các lãnh đạo của Giáo hội của Mặt trận” (Tổ quốc), khẳng định
không có đàn áp tôn giáo tại Việt Nam là một tuyên bố vô giá trị vì
Giáo hội nầy “vẫn chưa hoàn toàn lột
xác khỏi Mặt trận để xứng đáng tầm vóc lãnh đạo đại bộ phận Phật
tử Việt Nam hải ngoại để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng
giao phó là tập hợp quần chúng chung quanh Đảng”.
Nỗ lực biện giải nầy, một cách gián tiếp,
cũng nhằm tìm cách hóa giải lời cáo buộc thành văn của Nhà nước Việt
Nam trước đó là GHPGVNTN đã “có quan hệ
với các lực lượng thù nghịch nước ngoài” mà hệ quả mới nhất
và tác hại nhất là hai Nghị quyết tại Mỹ và Âu châu nói trên. Nhưng
đồng thời, cũng nhân dịp nầy, Bạch Thư cố tìm cách trao cho GHPGVNTN một
vóc dáng toàn cầu và một thế đứng đại diện chính thống của toàn bộ
Phật giáo Việt Nam.
Trên bình diện đấu tranh chính trị, Bạch
Thư còn là một nước cờ chiến lược để đón đầu (preemptive strike) các
phản ứng chính trị quyết liệt có thể sẽ xảy ra của một Nhà nước
đã mất hết kiên nhẫn sau nhiều lần tìm cách ứng phó (kể cả “cảm
thông” giữa HT Huyền Quang và người đứng đầu nhà nước Phan văn Khải
mới đây) trước những “vi phạm luật pháp
quốc gia” của GHPGVNTN.
Tuy nhiên, nếu chỉ đọc Bạch Thư nầy với
tình cảm “tông nầy phái kia” của một Phật tử trong nước không có
(hoặc không cần) thông tin trung thực, hoặc đọc mà không hiểu biết một
vài giáo lý căn bản của nhà Phật và nội tình Phật giáo Việt Nam, thì
khó mà thấy được tính ngụy biện của toàn bộ Bạch Thư. Bài viết nầy nhằm đánh giá lại cho đúng,
xác định lại cho thật, những thông tin mà Thương tọa Tuệ Sỹ đã dùng
làm cơ sở để xây dựng những luận điểm của Bạch Thư.
1. Trước hết, chuyện gì
mà không phải là “vấn đề nội bộ của
Mỹ” ?
Trên lý thuyết và về mặt hình thức, Nghị
quyết HR427 của Hạ viện Mỹ là một động tác chính trị nội bộ, hình
thành từ một quy trình lập pháp trong khung Hiến pháp Hoa Kỳ. Do đó mà
trên hình thức, Nghị quyết đúng là một thao tác chính trị của nội bộ
Mỹ.
Nhưng như vậy là chỉ thấy cây mà không thấy rừng vì trên thực
tế, kể từ khi Mỹ trở thành siêu cường độc nhất trong trật tự đơn
cực sau chiến tranh lạnh, và kể từ khi Tổng thống Cọng hòa Georges W.
Bush và khuynh hướng Tân Bảo thủ (Neocon) vào Nhà Trắng để tiến hành chủ
thuyết Mỹ hóa (Americanization) toàn thể thế giới thông qua các chính sách
Toàn cầu hóa kinh tế (Economic Globalization), Xiển dương các giá trị Mỹ
(World promotion of American values), Xác định dứt khoát bạn thù (“You are with us or you are against us”), Quyền
đánh phủ đầu (Preemptive strike), Độc quyền sử dụng vũ khí tàn phá tập
thể (Tactical Bunker Buster), Hạ giá uy quyền của tổ chức Liên Hiệp quốc
và Tòa án quốc tế (World Court of Law) ... thì khái niệm “nội bộ”
không còn bị giới hạn trong thời gian chính trị và không gian chính trị
Mỹ nữa. Thế giới là “của” Mỹ, mọi biến động trên thế giới đều
có tác động đến Mỹ và họ dành quyền can thiệp trên khắp mặt địa
cầu nầy như chuyện “nội bộ trong nhà” của họ. Từ “nội bộ”
và thực tiễn chính trị của thời đại hậu 11/9 là như thế !
Cho nên khi GHPGVNTN chống lại chính quyền Việt
Nam, một quốc gia bị Mỹ xem là “against
us” trên nhiều vấn đề lớn của thế giới, nhất là ở các điểm
nóng bang giao quốc tế, thì đối với chính quyền Mỹ đương nhiệm, Giáo
hội nầy, về mặt chính trị, đương nhiên trở thành công cụ “của”
Mỹ rồi dù Giáo hội muốn hay không muốn. Thượng tọa Tuệ Sỹ là con tốt
đầu trong đạo quân thứ Năm của Mỹ rồi dù Thượng tọa muốn hay không
muốn. Và do đó, như một hệ luận, Thượng tọa đang làm việc cho Mỹ
nhiều hơn là cho GHPGVNTN. Và rất ít cho tổ quốc Việt Nam.
Trong bối cảnh đó, khi Thượng tọa Tuệ Sỹ
đóng khung vấn đề trong “nội bộ Mỹ”
thì Thượng tọa cũng không tránh được trách nhiệm làm công cụ cho Mỹ
can thiệp vào nội tình Việt Nam. Mấu chốt của vấn đề không còn là ai làm (nội bộ hay không nội bộ), mà
đã được thực tiễn nâng lên thành làm
cho ai (chiến lược can thiệp của Mỹ). Về mặt phương pháp luận, luận
điểm “vấn đề nội bộ” là giả, là ảo, đã được Bạch Thư phủ
lên trên một vần đề thật là “lợi ích cho ai ?”.
Vậy thì Nghị quyết HR472 là vì lợi ích của
ai ? Của Giáo hội PGVNTN, của Việt Nam, hay của Mỹ ? Câu trả lời rõ ràng nhất nằm ngay trong
kết quả áp đảo 409/422 (97%) của các vị Dân biểu trong Hạ viện Mỹ
khi thông qua Nghị quyết, mà trong đó đa số là những Dân biểu chẳng bao
giờ thật sự có một hiểu biết sâu sắc về lịch sử Việt Nam, lịch sử
Phật giáo Việt Nam, lại càng chẳng cần tìm
hiểu cặn kẽ vấn đề tôn giáo tại Việt Nam. Cứ có hại cho Việt Nam,
nghĩa là có lợi cho Mỹ, thì họ cùng nhau bỏ phiếu thuận.
2. Tiếp theo là về bà
Dân biểu Loretta Sanchez và Nghị quyết HR427.
Bà Sanchez tái đắc cử Dân biểu năm 2002 tại
đơn vị Quốc hội thứ 47 (California 47th Congressional District) gồm
4 tỉnh Anaheim, Garden Grove, Santa Ana và Fullerton thuộc miền Nam bang
California. Bà là một Dân biểu thuộc đảng Dân chủ gốc châu Mỹ Latinh
trong một đơn vị có 939,800 cử tri mà hai cộng đồng da trắng (Cọng hòa)
và Mễ Tây Cơ (Dân chủ) chiếm mỗi bên khoảng 40% ngang ngửa và dứt
khoát. Cho nên để đắc cử, bà Sanchez không thể làm gì khác hơn là ve
vãn kiếm phiếu từ tập thể cử tri tuy thiểu số nhưng lại có tính quyết
định thành bại khả năng đắc cử của bà là cộng đồng Mỹ gốc Á
châu (20% còn lại). Trong cộng đồng nầy, cử tri gốc Việt Nam được bà
chọn làm đối tượng tranh thủ vì đông hơn các sắc dân khác như Triều
tiên, Nhật bản, Phi Luật Tân, Cam Bốt và Thái Lan.
Khi bảo trợ cho Nghị quyết HR427, bà nhắm
vào sinh mệnh chính trị của bà nhiều hơn là quyền lợi của cử tri gốc
Việt Nam. Bà ưu tiên nhắm vào phúc lợi của gần 400 ngàn di dân gốc Mễ
(hợp pháp hay không hợp pháp) trong 4 tỉnh đó hơn là cho GHPGVNTN xa xôi,
vì ngoài nhiệm vụ trong hai Tiểu ban Hạ viện (Homeland Security và House Armed Services) bà còn là thành viên cao
cấp của Hispanic Caucus tại Quốc hội Mỹ
cũng như là chủ tịch của hội National
Society of Hispanic MBA. Trên 300 triệu Mỹ kim là ngân khoản Liên bang bà
mang về cho đơn vị của mình, có bao nhiêu dành cho các công trình phục vụ
an sinh của cử tri gốc Mễ, và bao nhiêu cho cử tri gốc Việt ?!
Tất cả những điều nầy chỉ để nhấn mạnh
với Thượng tọa Tuệ Sỹ một điểm: Tác giả của Nghị quyết HR427 chẳng
thương gì GHPGVNTN, chẳng mặn mà gì lắm với Việt Nam. Tác giả đó chỉ
quan tâm đến cái ghế Dân biểu Mỹ và các đồng bào cùng gốc gác châu
Mỹ Latinh của bà mà thôi. GHPGVNTN, tình cờ, chỉ là trái sung rụng vào miệng
bà Loretta Sanchez trong một mùa bầu cử tại đơn vị 47 ở miền Nam
California. Và vì còn những người thiếu thông tin, thích ngụy biện như
Thượng tọa Tuệ Sỹ tại Việt Nam nên bà sẽ còn khai thác dài dài trái
sung GHPGVNTN, nhất là trong chuyến viếng thăm Việt Nam dự trù vào mùa
Xuân sang năm (2004) của bà.
3. Còn cộng đồng người Mỹ gốc Việt mà Thượng tọa Tuệ
Sỹ nhắc đến trong Bạch Thư với rất nhiều hãnh diện và ưu ái là ai ?
Đó là cộng đồng di dân Việt Nam đươc thành
lập lâu nhất và đông nhất ở nước ngoài ngay sau năm 1975. Trên mặt
chính trị, đó là một cộng đồng không những chủ yếu chống Cọng mà
còn chống Việt Nam mãnh liệt nhất. Trong nhiều trường hợp, họ đã tiến
hành các hoạt động vũ trang (và/hoặc khủng bố) đánh phá trên nội địa
Việt Nam, Cam Bốt, và Thái Lan . Tại đây đã thai nghén, hình thành, và là
căn cứ địa của Mặt trận Thống nhất
Giải phóng Việt Nam của ông Hoàng Cơ Minh, của Chính phủ Lâm thời Việt Nam Tự do của
ông Nguyễn Hữu Chánh, của Đại hội Toàn
quân của cựu Quân nhân miền Nam củ, của Tổ chức phát huy tinh thần
Lý Tống, của các đảng chính trị Đại Việt, Quốc Dân đảng, Duy Dân, của
các Đoàn thể quần chúng chính trị, các Tổ chức đấu tranh cho Nhân quyền,
tự do tôn giáo, tự do ngôn luận hầm bà lằng và của một số Hội bát
nháo “nay hợp mai tan” với chủ trương không ai bạn muôn đời không ai
thù muôn kiếp . Đó là chưa nói đến những hội chuyên ngành và các Giáo
hội Công giáo, Phật giáo, Tin Lành, Cao Đài và Hòa Hảo, ... Tình cảm quê
hương nóng bỏng nhất của họ được thể hiện qua sự hồi tưởng một
thời Cọng hòa mà họ cho là “oanh liệt”, qua sự truy niệm một “màu cờ sắc áo” củ vào Ngày Quân Lực
Việt Nam Cọng hòa 19/6, mà Đài tưởng niệm hai quân nhân Mỹ Việt, cầm
súng chung lưng đấu cật, đã được xây dựng hoành tráng tại đây để
xác quyết “chính nghĩa” cho tình đồng minh Mỹ-Việt trong cuộc chiến
tranh xâm lược tàn phá quê hương mà, đã hơn một lần, chính GHPGVNTN cực
lực lên án.
Cộng đồng nầy là một nối dài của mô
hình chính trị Sài Gòn củ với gần 200 tổ chức, 45 tờ báo, 6 đài phát
thanh và 4 kênh truyền hình có lập trường chống Cọng đơn điệu trước
hàng trăm ngàn lượt về thăm quê hương hàng năm của đồng bào tại
California (mang lại một số ngoại tệ gần 2 tỉ Mỹ kim cho Nhà nước Việt
Nam). Để khẳng định thế đứng “tị nạn” của họ trước nhân dân
Mỹ đã cho họ dung thân, họ chống Cọng bằng biểu tượng của ngọn cờ vàng ba sọc đỏ của chính quyền Cọng
hòa tại miền Nam củ do một lực lượng Công giáo gọi là “Phong trào Phục hồi Tinh thần Ngô Đình Diệm”
dấu mặt điều động. Ba người Mỹ gốc Việt duy nhất đắc cử vào
các chức vụ dân cử trong Cộng đồng nầy thì đều là người Công
giáo. Kể từ năm 1998, trong số năm cuộc biểu tình chống các nhân vật
bên nhà qua California thì đến bốn cuộc biểu tình nhằm vào các Tăng Ni
Việt Nam, trong khi 14 lượt thăm viếng của các chức sắc Công giáo từ
bên nhà qua để gây quỹ Giáo hội và thiết lập liên lạc làm việc thì
lại được Phong trào Ngô Đình Diệm nầy ngầm huy động để đón tiếp
nồng hậu. Cuộc gây quỷ nhân đạo lớn nhất gần 2 triệu Mỹ kim và tai
tiếng tiền bạc nhất là do một Bà Xơ chủ trì thì lại không phải để
cho đồng bào bị thiên tai bên nhà mà cho một ngôi Làng Việt Nam tại Phi Luật Tân qua sự đồng
thuận của Giáo hội Công giáo xứ nầy. Tờ báo Việt ngữ có số phát
hành lớn nhất và lượng bài vở phong phú nhất là Người Việt thì do một tập đoàn Công
giáo đầu tư và thực hiện. Công đoàn Công giáo Việt Nam lớn nhất ở nước
ngoài đặt trụ sở tại đây, lấy các Thánh Tử đạo bị giết vì làm
tay sai cho quân Pháp xâm lăng làm Thánh bổn mạng, mà hằng năm vẫn ồn
ào tổ chức ngày lể Đức Mẹ La Vang bằng cách ngụy tạo rằng Đức Mẹ
đã hiện ra tại chùa Lá Vằng ở Quảng
Trị nên Phật tử “tự nguyện” cống hiến ngôi chùa nầy cho Giáo hội
Công giáo !
Mỗi ngày, 365 ngày mỗi năm, những phương tiện
truyền thông của, và bị, lực lượng Công giáo Việt Nam nầy khống chế
đã liên tục lấy các thông tin tiêu cực (trong số rất nhiều thông tin
khác) ở quê nhà từ các mạng lưới của Việt Nam như www.nhandan.org, www.laodong.com,
www.vnexpress.net, ... xào nấu lại và làm
công tác dân vận độc giả trên báo giấy hay đài nói. Rất ít tin chính
trị, và dĩ nhiên không có một thông tin tốt đẹp hay tích cực nào về
quê hương cả mà, ngày nầy qua ngày khác, chỉ toàn tin về những thảm cảnh
cướp của giết người, những trận lũ lụt mất mùa, những khó khăn
kinh tế, những tệ đoan xã hội, ... Ngoài việc hả hê tô vẽ một bức
tranh xám xịt về hiện tình quê hương, thỉnh thoảng các phương tiện
truyền thông nầy lại đăng những bài gọi là “nghiên cứu khoa học” của
các ngụy khoa học gia để thông tin cho độc giả hãy tẩy chay sản phẩm
xuất khẩu của Việt Nam vì thiếu phẩm lượng, thực phẩm thì bị nhiễm
độc, giày dép thì bị đứt quai... Hoặc những bài phân tích cho rằng
sinh viên Việt Nam thì học dốt, Sở chửa lửa Việt Nam thì bất lực, và
thanh thiếu niên Việt Nam thì trụy lạc. Họ đánh thẳng vào đất và dân
Việt Nam, không một tình cảm liên đới, không một mảy may động lòng với
những tai họa (nhiều khi là thiên tai không dính líu gì đến Nhà nước Việt
Nam) của đồng bào bên nhà.
Nói tóm lại, từ
một lập trường chống Cọng lỗi thời không theo kịp thực
tiễn sinh động Việt Nam, từ một quan điểm chống Cọng mù quáng kiểu hữu
thần Công giáo phi dân tộc không đại diện được cho ước mơ của toàn
dân, Cộng đồng nầy mang một căn cước văn hóa và chính trị mới: Chọn
nơi nầy làm quê hương và lấy việc chống Việt Nam kiểu Công giáo làm bảo
chứng cho căn cước đó với chủ nhân người Mỹ “in God we trust” của họ. Mà Nghị quyết
HR427 do bà Loretta Sanchez bảo trợ để
ve vãn cộng đồng, với những hệ quả kinh tế và chính trị của nó
trong mối bang giao Mỹ Việt, chính là thể hiện rõ nét nhất của quá
trình hóa thân nầy.
Trong môi trường xã hội chính trị đó, sinh
hoạt của cộng đồng Phật tử thật là khó định hình và định tính.
Tìm cách tránh né để khỏi bị lôi cuốn vào các hoạt động chính trị
do các hội đoàn áp lực, không thu hút được giới trẻ và trí thức, mỗi
chùa là một ốc đảo, mỗi Thầy là một tướng quân, trong đó còn có Tướng
quân đã phải vác chiếu ra tòa vị sách nhiễu tình dục nữ tín đồ. Còn
thành phần cư sĩ thì chia năm xẻ bảy, bị Công giáo kiềm tỏa trong cái
mặc cảm giả tạo “thân Cọng chống Ngô Đình Diệm nên làm mất nước”
nên thu mình lại tụ tập trong các Thiền đường tại gia hoặc chỉ tham
gia các hoạt động nhân đạo theo mùa. Hai trong số hơn 15 chùa ở Orange
County (của hai Thầy VL và NS) có khuynh hướng “Thống nhất” có vẽ năng động hơn thì
thường thường là cầm ống loa hoan hô đã đảo dưới ngọn cờ Liên
Tôn chống Cọng của mấy ông Cha, hoặc lâu lâu lại viết Thỉnh nguyện
thư gửi cho các quan chức Mỹ.
Thế mà Thượng tọa Tuệ Sỹ và cả cái
GHPGVNTN, cô đơn trong đại khối nhân dân Phật tử trong nước, lại hồ hởi
lấy cộng đồng đó làm hậu phương lớn, làm thế ỷ dốc chiến lược
với ước mong cộng đồng nầy “binh vực cho quyền lợi của đồng đạo cũng
như đồng bào trong nước mà họ cho rằng đang bị khống chế hay áp bức”! Hầu
như liên lạc hàng ngày với các vị Phật tử “Thống nhất” trong cái gọi
là Viện Hóa đạo II tại Pháp, Úc và Mỹ, không biết có bao giờ những vị
nầy nói rõ và nói thật bản chất và giá trị của Cộng đồng người Mỹ
gốc Việt đó cho Thượng tọa Tuệ Sỹ biết không ? Và nếu biết mà Thượng
tọa vẫn viết và phổ biến Bạch Thư để ngụy biện cho hành động của
GHPGVNTN thì Thượng tọa có thấy mình đang bất trí nên vừa phản đạo vừa
phản quốc không ?
4. Luận điễm thứ nhì của Bạch
Thư nhằm tạo cho GHPGVNTN một tư cách
toàn cầu, độc lập với luật pháp Việt Nam lại càng chứng tỏ sự bất
trí của Thượng tọa Tuệ Sỹ nên phải ngụy biện bằng cách đơn giản
đánh đồng Phật giáo với Giáo hội, bằng cách nhập nhằng giữa Lòi Phật dạy với một Tổ chức tập họp những Phật tử đồng
tu.
Thật vậy, Phật giáo – lời Phật dạy –
thì là Một, vượt thời gian vượt không gian. Dù là Thiền hay Mật hay Tịnh
thì nội dung nào cũng không đi ra ngoài “vị
giải thoát”. Dù là Bắc tông, Nam tông, Đại thừa hay Tiểu thừa thì
tông phái nào cũng là “tu để chứng, chứng
để ngộ”. “Lời Phật dạy”
thì vô Bắc vô Nam, có tính toàn cầu. Cho nên tính toàn cầu đó hiện nay
đang được thể hiện qua một xu thế văn hóa vĩ mô mà ai cũng biết là
Phật giáo đang khởi sắc thấm sâu và thấm rộng vào thế giới Âu Mỹ,
vượt mọi biên cương địa lý và lằn ranh chủng tộc.
Nhưng khi Phật giáo thị hiện thành hình tướng
của một Tổ chức Tứ chúng như một
phương tiện thiện xảo để hoằng dương Lời Phật dạy thì nội dung giảng
dạy phải bất biến mà công cụ thị
hiện thì phải tùy duyên. “Duyên”
đây, ở tầng vĩ mô, là những thông số thời đại. Mô hình tổ chức
và tính năng vận hành của Giáo hội Phật giáo, vì vậy, mà thay đổi
theo thời gian và không gian, thay đổi theo trình độ văn minh và môi trường
văn hóa của xã hội mà người con Phật đang sống.
Toàn cầu, do đó, là “toàn cầu” về nội dung lời Phật dạy.
Tại vì một tổ chức quốc gia thì chỉ có thể là thành viên của một tổ
chức quốc tế (như Hội Hồng Thập tự, Liên đoàn Bóng đá thế giới,
Giáo hội Công giáo hoàn vũ) với những tương quan nội hệ của nó nhưng
không phải là tổ chức quốc tế có
tính toàn cầu đó được. Huống gì cho đến nay, trên mặt chính thức,
GHPGVNTN đang không là thành viên của bất
kỳ một tổ chức Phật giáo thế giới nào cả.
Ngoài ra, trong các thông số thời đại nói
trên, chế độ chính trị, với những
thuộc tính xã hội của nó, là một thực tế mà một tổ chức nào muốn
hiện hữu thì đều phải chấp nhận để hành hoạt dù đồng ý hay không
với chế độ đó. Sự chấp nhận đó, tự thân, là chấp nhận một khế
ước xã hội trong mối tương quan giữa các thực thể xã hội, trong đó
có thực thể chính quyền. Tại Việt Nam, kể từ sau Đổi Mới, nhất là sau khi nền kinh tế thị
trường phát huy sâu sắc tác dụng của nó (trong đó có tác dụng chính trị
và xã hội) vào cuộc sống của nhân dân trong những năm giữa thập niên
90’, chế độ chính trị tại Việt Nam không thể còn được gọi là “chế độ Cọng sản” theo nghĩa kinh điển
cũng như theo thực tiễn cuộc sống nữa. Trong kinh tế, chế độ Công hữu không còn; trong bang giao quốc tế,
gia nhập vào các liên minh tư bản, trong văn học nghệ thuật, tính
đảng không còn áp đảo khống chế nữa, thì chỉ với ba đổi thay cội rễ đó
mà thôi, muốn gọi chế độ nầy là gì cũng được nhưng chắc chắn không
phải là “Cọng sản”, dù Hiến pháp và các con dấu phường khóm vẫn lập
đi lập lại hai từ “Cọng sản” nầy. Còn sót lại về mặt chính trị
chăng là một chế độ độc đảng toàn trị, có truyền thống yêu nước
hơn và có bản lĩnh bảo vệ độc lập quốc gia hơn những chế độ tại
Việt Nam trước đây, tuy nhiên, cho rốt ráo, thì vẫn cùng bản chất với
các chế độ độc tài khác. Như chế độ Cần lao Công giáo Ngô Đình Diệm
ngày xưa hay như chế độ Giáo trị Saudi Arabia ngày nay. Điều đáng nói
là chế độ nầy, dù muốn hay không, dù chủ động hay bị động, thì cũng
đang trong quá trình hóa thân vươn lên để hội nhập cọng sinh với cộng
đồng nhân loại. Như mọi quốc gia chậm tiến vừa thoát khỏi một cuộc
chiến tranh chống ngoại bang và đang trên bước đầu phát triển, họ thường
phải giải quyết ba đại nạn lớn: Chủ
quyền dân tộc dễ bị mất, bất công
xã hội gia tăng trong phân bố quyền lợi và quyền lực, và tàn phá môi sinh khó khắc phục đước
trong quá trình phát triển kinh tế. Đó là ba đại nạn mà Phật giáo, nhất
là Phật giáo Việt Nam, có nhiệm vụ và đầy đủ sở trường để khôn
ngoan đóng góp. Nếu khôn ngoan !
Trong chế độ đó, luật pháp được đặt
ra để điều tiết các hình thái sinh hoạt của xã hội. GHPGVNTN chỉ có
hai chọn lựa: Chấp nhận nó và hoạt động trong khuôn khổ luật pháp đó.
Hoặc không chấp nhận thì “nhảy núi” như trước kia sinh viên thoát ly
vào bưng theo Mặt trận Giải phóng chống lại chính quyền miền Nam, hoặc
lưu vong như Giáo hội Tây tạng của Đức Đạt lai Lạt ma bây giờ. Và đó
là một chọn lựacó tính chính trị chứ
không còn là một chọn lựacó tính tôn
giáo nữa.
Đó là trên mặt lý thuyết và áp dụng cho
thế tục. Riêng với Phật giáo, mà đây mới là điều quan trọng, thì với
“tám vạn bốn ngàn pháp môn”, chế
độ nào ngăn được một Phật tử muốn tu, luật pháp nào cấm được một
Phật tử muốn chứng, Mặt trận Tổ quốc nào cản được một Phật tử
muốn sống đạo giữa đời . Huống gì tại Việt Nam hiện nay, từ Bắc
chí Nam, kinh Phật không bị luật pháp cấm đọc, Phật tử không bị luật
pháp cấm đến chùa, Tăng Ni không bị luật pháp cấm tu hành, mà ngược lại
là khác, thực tế là càng ngày càng có nhiều người quy y Tam Bảo, càng
ngày càng có nhiều kinh sách ấn tống, càng ngày càng có nhiều Chùa viện
xây lên, càng ngày càng có nhiều tăng sinh du học nước ngoài, càng ngày
càng có nhiều đảng viên Đảng Cọng sản theo Phật. Đó là sự thật nhưng GHPGVNTN thì chỉ muốn
Phật tử của Giáo hội ta, Chùa của
Giáo hội ta, kinh sách của Giáo hội ta thì GHPGVNTN mới tin tưởng là đúng ...
truyền thừa ! Lấy ngón tay làm mặt trăng,
bám chặt vào một danh tướng thế tục để làm thế sống còn của Phật
giáo Việt Nam, GHPGVNTN kiêu căng khinh mạn đại khối Tăng Ni Phật tử khác
không ở trong Giáo hội của mình, nên càng ngày càng xa lìa chánh pháp mà
cứ cho mình là truyền thừa, càng ngày càng xa lìa Phật giáo đồ mà cứ
cho mình là chính thống. Cái tội làm băng hoại tập thể Phật tử, xúi
giục tăng đoàn chia rẽ phân cách, và nhất là làm tay sai cho ngoại bang đó
không phải là chỉ phạm luật thế trị mà còn phỉ báng giáo pháp của
Đức Thế Tôn nữa vậy.
5. Bạch Thư còn nêu lên một số
luận điểm nhằm đánh hạ giá trị và uy tín
của Giáo hội Phật giáo Việt Nam
hiện tại trước mắt đồng bào nước ngoài và các thế lực quốc tế,
bằng cách cho rằng Giáo hội nầy chỉ là cái loa phát ngôn của Mặt trận
Tổ quốc, tức là của Đảng Cọng sản Việt Nam. Luận điểm nầy càng
chứng tỏ Thượng tọa Tuệ Sỹ đã mê man lụy vào bệnh chấp hình chấp
tướng.
Giá trị của Giáo hội nầy nằm trên những
gì Giáo hội đã và đang cống hiến cho Đạo Phật Việt Nam và Dân tộc
Việt Nam chứ không phải trên cơ sở Giáo hội nầy là của ai hay thuộc
về ai. Phật tử Việt Nam, trong và ngoài nước, căn bản khác với Thượng
tọa Tuệ Sỹ, những người Công giáo chống Cọng, và những người như bà
Mỹ Loretta Sanchez xa lạ ở phương pháp đánh giá đó.
Trong những điều kiện lịch sử nhất định,
Giáo hội nầy, như một tổ chức, đã hình thành và phát triển, ưu tiên
xác định nhiệm vụ của mình với đồng đạo và dân tộc hơn là với
chính quyền và quốc tế. Bám, và bám rất chặt, vào mạch sống của dân
tộc, chia sẻ đến tận cùng truân chuyên của vận nước, Giáo hội nầy,
ở một mặt nào đó và trong tận cùng của chữ nghĩa,đã lấy Ma
quân làm bạn đạo như lời Phật dạy, thì vẫn còn hơn GHPGVNTN bám
vào một danh xưng vàmột quá khứ ngắn ngủi, rồi vô tình hay cố ý, trở
thành những con sư tử trùng độc hại của Phật giáo Việt Nam.
Nhìn lại trong hơn hai mươi năm qua, kể từ
ngày thành lập vào năm 1981 với sự vận động và tham dự của chính một
số tôn túc thuộc GHPGVNTN chứ không phải là ai khác, Giáo hội Phật giáo
Việt Nam đã tùy duyên mà xây dựng ngôi nhà Phật giáo. Những thành tựu
tuy khiêm tốn nhưng cơ bản của Giáo hội nầy trong các lãnh vực đào tạo
tăng tài, ấn tống kinh sách và dịch Tam Tạng kinh điển, trùng tu chùa củ
và xây dựng chùa mới, xây dựng quan hệ liên hữu với Phật giáo thế giới,
gửi tăng sinh đi du học nước ngoài, và quan trọng nhất, thực hiện các
chương trình nhân đạo xã hội do các Sư các Ni và nam nữ Cư sĩ để làm
dịu bớt rất nhiều những đau khổ của đồng bào nghèo đói, tự nó, đã
nói lên giá trị của Giáo hội nầy. Cùng chia sẻ với cơn trở mình nhọc
nhằn của dân tộc sau bao năm chinh chiến,
Giáo hội nầy không giàu có như Giáo hội Công giáo được tiền rừng
bạc bể của Vatican từ bên ngoài tiếp sức, đã thế lại bị những con
sư tử trùng cả trong nước lẫn ngoài nước đánh phá, mà làm được
như thế đã là khá rồi.
Tuy nhiên, một trong những nét đẹp độc sáng
của truyền thống nhập thế Phật giáo Việt Nam là chân thì lún sâu trong bùn lầy với dân dã
mà đầu thì vươn lên làm thầy bậc đế vương. Không màng danh lợi,
không ham quyền lực, không vướng tổ chức, không chấp hình tướng. Giới “đế vương” chính trị Việt Nam
hiện nay rõ ràng là chưa nhận ra được truyền thống đó của Phật giáo
Việt Nam, nhìn đâu cũng thấy an ninh chính trị và phát triễn kinh tế, xem
Phật giáo Việt Nam như một lực xung đối quê mùa chứ không phải như một
lực bổ sung sung mãn. Trước thách đố đó của vô minh, Phật có dạy đi
làm công cụ cho ngoại bang không, Kinh có dạy đi phỉ báng người đồng
đạo không ? Cho nên dù GHPGVNTN có kêu la “Pháp nạn” khản cổ từ hơn
mười mấy năm nay, nhân sự có vào tù ra khám năm bảy lượt, mà có tổ
chức Phật giáo quốc gia hay Phật giáo thế giới nào can thiệp đâu !
Ngược lại, chỉ có những định chế chính
trị và các công cụ của họ trong thế giới Tây phương (kể cả tổ
chức phát giải Nobel bị chính trị hóa trong những thập niên gần đây)
là “đồng ca” với GHPGVNTN. Hoặc chỉ có những ông gọi là Phật tử
loại Võ văn Ái, 50 năm chưa một lần trở về quê hương nhưng lại nhận
rất nhiều tiền giao kèo công tác của NED Mỹ, hay những bà dân biểu kiểu
Loretta Sanchez, gốc châu Mỹ Latinh, cần phiếu ở một đơn vị nhiều dân
Mễ Tây Cơ ở xứ California xa xôi, là hoan hô xúi dục mà thôi.
6. Thay lời kết:
Năm 1963, đang còn là một học sinh trung học
ở trường Chu văn An, tôi theo bạn đồng học xuống đường chống chế
độ Ngô Đình Diệm chỉ vì thương mấy “ông bà thầy tu” bị Công an Mật
vụ của chế độ đánh đập tàn bạo quá. Phật giáo và mấy “cái”
chùa chỉ là những hình ảnh lãng mạng nhập nhòa trong Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng.
Sau 1963, vào đại học, tôi “mê” thơ Tuệ
Sỹ, truyện Nhất Hạnh, triết Phạm Công Thiện, nhạc Phạm Duy phổ lời
Phạm Thiên Thư, và tò mò một cách rất “trí thức thời thượng” với
mấy bài giảng của thầy Thiện Siêu, thầy Minh Châu. Nhưng Phật giáo và,
lần nầy, những tà áo dài màu Lam hương khói bay chơi vơi trong chùa, một lần nữa, cũng chỉ là những ý niệm
lãng đãng chập chờn của thời đại Lý Trần một thời mang lại hạnh
phúc và vinh quang cho dân tộc.
Phải sau 1975, ra định cư tại xứ người,
trong cơn đau đê đầu tư cố hương,
tôi mới tìm về lại “người tình” Phật giáo củ, bây giờ bổng hóa
thân thành vị Lương Y cứu nạn cứu khổ giữa cuộc đời. Kinh Phật của
người Mỹ viết thì trong sáng, thực tiễn, tích cực và đầy tính khoa học
nên phù hợp với khả năng tiếp thu của tôi. Sau nhiều năm suy nghĩ chính
chắn và thật sự chứng nghiệm trên bản thân mình, tôi quyết định vào
một ngôi chùa Việt Nam nghèo nàn tại miền Nam California để ký một khế
ước với chính mình: Tôi quy y. Và từ đó, tôi trở thành Phật tử. Một
Phật tử Việt Nam vẫn còn lang thang ở hai bên bờ Thái Bình Dương để
chập chững học đạo và sống đạo.
Kể lể dài dòng như thế là để Thượng tọa
Tuệ Sỹ biết rằng tôi rất cẩn trọng khi viết về một vấn đề mà
tôi đặc biệt quan tâm, một giáo hội mà tôi đã một thời keo sơn gắn
bó, và một đất nước mà tôi đang hãnh diện và thương yêu vô cùng.
Nhật Nam - California, 11/2003

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net