
NGƯỜI CÔNG
GIÁO ĐÃ NÓI GÌ VỀ NHỮNG CUỘC THÁNH CHIẾN
Ngô Triệu Lịch
Bài viết này không phải là một
“khảo cứu lịch sử” về các cuộc thánh chiến, do Giáo hội Rôma phát
động. Nhưng thông qua “lịch sử thánh chiến”, người viết muốn đưa
ra những nhận định của mình, về quan điểm của một số tác giả Công
giáo người Việt, khi họ đề cập đến “thánh chiến” mà người viết đã
có dịp đọc qua trên các sách, báo, tạp chí, hoặc các website Công giáo…
Đại
để, các tác giả Công giáo khi đề cập đến “thánh chiến”, họ đều
có chung những nhận định mang tính hộ giáo, dù họ thừa nhận có những
sai lầm nhất định trong các đợt phát động thánh chiến của giáo hội,
nhưng tất cả đều vận dụng những quan điểm thần học cũ kỹ, lạc hậu,
như: “ý chúa”, “sự quan phòng”,
“chúa thánh thần dẫn dắt”… để biện minh cho những sai lầm ấy. Tâm
lý tự ti, mặc cảm, là điều dễ thấy trong các lập luận. Ngụy biện,
gượng ép, đổ lỗi cho hoàn cảnh lịch sử, cho
sự hiếu chiến của Hồi giáo, cho những tham vọng chính trị của vua
chúa các nước châu Âu, ngụy biện những cuộc thánh chiến do “mẹ giáo
hội” phát động chỉ là sự tự vệ… Từ đó, hướng độc giả vào một
cái nhìn “cảm thông”, vẽ ra chân dung của một Urban II “thánh thiện,
dũng cảm và khôn ngoan”, một đoàn người hành hương “sốt sắng, đạo
đức, thấm nhuần Tin Mừng”… Tội ác tày trời của đế quốc Vatican
dưới ngòi bút của họ biến thành con số không…Và đặc biệt, họ say
sưa ca ngợi “chúa quan phòng”, bắt “chúa” của họ phải “quan phòng”
đến cả những tội ác mà giáo hội Công giáo La Mã đã gây ra cho nhân loại…
Để
biện hộ cho sự hiếu chiến của “mẹ giáo hội” của họ, các tác giả
Công giáo người Việt đã lập luận bát nháo, bất chấp sự tròng tréo,
mâu thuẫn trong cùng một sự kiện. Ví dụ: Linh mục Phạm Đức Trị viết
: “Có
thể nói Ðức Urban II chỉ có ý mời gọi những binh lính đã từng cầm
võ khí, và đã có kinh nghiệm gia nhập Ðạo Binh Thánh giá mà thôi, vì
ngài có ý thiết lập một đội binh tinh nhuệ cho một cuộc thánh chiến.
Nhưng không ngờ tiếng nói của ngài đã làm ảnh hưởng tới một Âu
châu sốt sắng, đạo đức sau những tháng năm được thấm nhuần Tin Mừng.”
(Lm. F.X. Phạm Ðức Trị, OMI. Giáo Hội Thời Ðạo Binh Thánh Giá, CD-rom
vietcatholic 2001). Trong khi đó, lập luận của tác giả Đình Vượng hoàn
toàn ngược lại: “Lời kêu gọi của Giáo hoàng Urbani II không nhằm vào
các vua chúa phương tây, mà nhằm vào lòng quảng đại của người tín hữu.
Sau lời kêu gọi của Giáo hoàng, tu sĩ Pierre L’Ermite và hiệp sĩ Adémar de Monteil chẳng biết gì về quân sự
lại đứng ra tập hợp quần chúng thành những đoàn quân, kéo về
Constantinople. Người Bazance hốt hoảng và Giáo hoàng Urbain đã không trù liệu
một đoàn thập tự chinh ô hợp đã bị người Hồi tàn sát gấn hết ở
Tiểu Á ” (Đình Vượng, Quan hệ Vatican và Giáo hội Công giáo, tr 269).
So
sách hai trích dẫn của hai tác giả nêu trên, ta thấy, theo Lm Phạm Đức
Trị, Giáo hoàng Urban II chỉ triệu tập những binh lính tinh nhuệ gia nhập
đạo binh thánh giá, chứ không hề kêu gọi quần chúng tham gia. Những ông
già, bà cả, trẻ con, tự nguyện tham gia thánh chiến, chẳng qua vì họ
quá “sốt sắng, đạo đức sau những tháng năm được thấm nhuần Tin Mừng…”,
chứ Giáo hoàng không hề kêu gọi họ. Ngược lại, tác giả Đình Vượng
khẳng định: “Lời kêu gọi của Giáo hoàng Urbani II không nhằm vào các
vua chúa phương tây, mà nhằm vào lòng quảng đại của người tín hữu”.
Vì thế, Pierre L’Ermite và Adémar de Monteil là những người vốn mù tịt về
quân sự, được giao trọng trách mang đoàn quân thập tự ô hợp đến Tiểu
Á để cho quân Hồi giáo “nướng” sạch!... Cùng một sự kiện lịch sử,
nhưng cả hai tác giả Công giáo này có hai lập luận mâu thuẫn, đối nghịch
nhau. Tuy vậy, cả hai đều gặp nhau ở cùng một điểm: chạy tội cho “mẹ
giáo hội” vốn đang rất sốt ruột vì quân Hồi chiếm giữ đất thánh
Jêrusalem! Và cũng vì tín đồ rất “đạo đức, sốt sắng, thấm nhuần
Tin Mừng !?” đang khao khát hành hương đất thánh…
Sự
kiện Giáo hoàng Urban II triệu tập công đồng Clermont kêu gọi "tái
chiếm Jêrusalem, cứu đất thánh” là một vết nhơ khó tẩy của đế quốc
Vatican. Dù muốn biện hộ thế nào thì cuộc chiến do Urban II phát động vẫn
là một tội ác. Urban II đã lợi dụng
lòng tin mù quáng của đám tín đồ cuồng tín, hứa "ban ơn toàn
xá" để bảo đảm “phần rỗi linh hồn” cho họ, đẩy họ vào cuộc
chiến không cân sức với đội quân
tinh nhuệ Hồi giáo. Ðiều trớ trêu là những người tham gia thánh chiến
vì ham mê "ơn toàn xá" của Giáo hoàng mà gia nhập chứ họ chưa hề
qua một lớp huấn luyện quân sự nào. Kết quả là nhiều người trong đoàn
quân ô hợp, vô kỷ luật và cuồng tín "lên thiên đàng thẳng cẳng"
nhờ ơn toàn xá của Giáo hoàng!.. Phịa chuyện “tìm thấy chiếc mác đồng
đâm cạnh sườn Chúa Giêsu dưới bàn thờ đền thánh Phêrô” để kích
động sự cuồng tín của tín đồ, đẩy họ vào chỗ chết, dẫu có biện
hộ thế nào, vẫn cứ là một tội ác.
Linh
mục Nguyễn Thế Thoại lại có một lối biện hộ độc đáo khác. Lm Thoại
muốn vận dụng “môi trường văn hóa” để bênh vực cho “mẹ giáo hội”
của ông thời thánh chiến. Ông viết: “Trong mỗi môi trường văn hóa, người
ta lại có những cái nhìn của mình, có thể giống mà cũng có thể khác với
người trong những môi trường văn hóa khác. Đọc lịch sử, nói chung, và
đọc lịch sử giai đoạn Hồi giáo Kitô giáo gặp nhau, chúng ta không thể
không nhớ ảnh hưởng môi trường văn hóa của họ và của chúng ta”. (Giáo hội đi trong nhân loại.
Lm.JMT Nguyễn Thế Thoại. Sách lưu hành nội bộ, tr. 253).
Có
lẽ ý của Lm Thoại là “môi trường văn hóa” thời đó phải “chém giết”
để giải quyết mọi vấn đề. “Môi trường văn hóa” của chúng ta
ngày nay bao dung hơn, không giải quyết vấn đề bằng bạo lực, mà bằng
thương lượng… Lm Thoại hàm ý nhắc
nhở những người đang sống ở thế kỷ 21, nếu muốn phê phán Công giáo
La Mã thời thánh chiến, nên tự đặt mình vào “môi trường văn hóa” của
giáo hội thời đó, để có sự đồng cảm!.. Cái gọi là “môi trường
văn hóa” của giáo hội Rôma thời đó là gì? phải chăng chỉ là khát
khao hành hương đất thánh? Khát khao dành lại Jêrusalem từ tay quân Hồi?
Hay còn những khát khao khác của giáo hội như thôn tính giáo hội Đông phương
(Chính Thống), mở mang lãnh thổ, buôn bán nô lệ, vơ vét của cải, tài
nguyên ở những nơi vừa đánh chiếm?
Để
“chạy tội” cho Urban II, Lm Thoại cho rằng, Urban
II không có ý dùng những tín đồ bình thường mà chỉ muốn dùng đạo quân
vũ trang tinh nhuệ vào cuộc chiến. Nếu vậy Urban II gạ gẫm đám tín đồ
cuồng tín kia bằng “ơn toàn xá” để làm gì? LM Thoại viết:
“Giáo hoàngUrbano II chỉ muốn một đạo quân vũ trang hành hương…”
(Sđd tr 253). Xin lỗi linh mục! Đã gọi là “đạo quân vũ trang” thì chỉ
có đi “đánh nhau” thôi, chứ “hành hương” cái nỗi gì!…
Lập
luận trên của Nguyễn Thế Thoại cũng như lập luận của Phạm Ðức Trị
nhằm mục đích đánh lừa những con chiên nhẹ dạ, cả tin, làm cho họ lầm
tưởng Giáo hoàng Urban II không có trách nhiệm gì trước cái chết của
hàng ngàn tín đồ cuồng tín… Rằng, đoàn quân ô hợp tham gia thánh chiến
với khẩu hiệu “Thiên Chúa muốn như thế”, chỉ là hệ quả của sự
“sốt sắng, đạo đức sau những tháng năm được thấm nhuần Tin Mừng”…Rằng,
chính Giáo hoàng Urban II cũng không ngờ, chỉ vì lời hứa vu vơ về “ơn
toàn xá” của ông, đã tập hợp được một lực lượng quần chúng đông
đảo, đằng đằng sát khí đến thế! Trong trường hợp này, câu thánh
kinh của Matthew
(10:34) “Đừng tưởng rằng Ta xuống trần để mang lại hòa bình trên
trái đất. Ta không xuống đây để mang lại hòa bình mà là gươm giáo”,
rất
đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng…
Lm
Thoại lý luận rằng: người thời nay vì không đặt mình vào “môi trường
văn hóa” của giáo hội thời đó nên không đồng cảm! Ông viết: “Người
Hồi giáo và người thời nay khó đồng cảm với họ, nên vẫn coi những
cuộc tàn sát đó là biểu hiện tinh thần bất dung của người Kitô…” Và ông cũng
đã thẳng thừng bày tỏ quan điểm của mình: “Rất nhiều người châu Âu ngày nay khi
phê phán giáo hội về chiến tranh chống quân Hồi. Họ không nhìn cái
nhìn lịch sử, hoặc hỏi hậu quả: nếu người của Giáo hội không hô
hào đuổi quân xâm lược đó?… Chúng ta thấy quân Thánh giá làm thế
nào là “La-tinh hóa”, là gây ác cảm… Dầu sao, người trong xã hội
Kitô đó có lẽ “hẹp hòi” hơn ngày nay, nhưng họ rất thành tín vì thế
mới có thêm 7 đợt hành hương vũ trang nữa.” (sđd tr 255)
Vì “đồng cảm” với tội ác của Urban
II, với sự “thành tín” (hay cuồng tín?) của xã hội Kitô thời đó,
nên Lm Thoại đã tỏ ý nuối tiếc cho Urban II từ trần quá sớm, để không
kịp nhìn thấy “ngày giải phóng thành thánh” (sđd tr 255)
Công
giáo La Mã đã gieo quá nhiều thù hận ở bất kỳ thời đại nào, vì thế
họ tưởng tượng kẻ thù của họ ở khắp mọi nơi. Chẳng lạ gì tín
đồ Công giáo Việt Nam ngày nay, thường lặp đi lặp lại hằng ngày câu:
“Lạy Chúa chúng con, vì Dấu Thánh Giá, xin chữa chúng con, cho khỏi kẻ
thù…” (kinh Vì Dấu). Tinh thần “binh thánh giá” của tín đồ Công
giáo Việt Nam ngày nay được thực hiện qua việc huấn luyện trẻ em thành những chiến
binh sẵn sàng sung trận. Phong trào “Thiếu Nhi
Thánh Thể” là một điển hình, nội
quy của phong trào này đã tự khẳng định bản chất hiếu chiến của nó.
Chương 01: “Bản chất”. Điều
1: “Nguồn Gốc và Danh Xưng” của nội quy có nội dung như sau: “Phong Trào Thiếu Nhi Thánh Thể Việt Nam khởi
đầu mang tên Nghĩa Binh Thánh Thể, là chi nhánh của Hội Tông Đồ Cầu
Nguyện dành cho tuổi trẻ do linh mục Bessières dòng Tên thành lập tại
Pháp vào khoảng năm 1915 theo tinh thần Thông Điệp Quam Singulari của Đức
Giáo Hoàng Piô X cổ võ và ban phép cho trẻ em chịu lễ sớm. Bốn khẩu hiệu
truyền thống của Nghĩa Binh Thánh Thể là: Cầu Nguyện và Tông Đồ (rút
ra từ Hội Tông Đồ Cầu Nguyện), Thánh Thể (năng rước lễ theo Thông
Điệp của Đức Piô X), và Hy Sinh dựa theo tinh thần Đạo Binh Thánh Giá,
hiến thân bảo vệ Hội Thánh.
(http://www.tntt.org/anredunglac/adl/tl_tntt_1.asp).
Họ chỉ muốn đào tạo để biến các em thiếu nhi Việt Nam thành những
chiến binh của “đạo binh thánh giá”, sẵn sàng tham gia thánh chiến để
“hiến thân bảo vệ hội thánh” thôi! Chứ nếu tổ quốc lâm nguy, chắc
không liên quan chi đến các em thiếu nhi Công giáo Việt Nam!
“Thánh
chiến” là một đặc trưng của các tôn giáo độc thần như Hồi giáo,
Kitô giáo… Điều này đã được lịch sử chứng minh. Vậy mà tác giả
Đa Minh Maria Cao Tấn Tĩnh đã trân tráo, ngụy biện cho sự kiện tín đồ
Công giáo vũ trang chống Phật giáo 1963. Cao Tấn Tĩnh viết: “Về Phật giáo, một tôn giáo đã bị lợi dụng
trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam để tấn công cá nhân Vị Tổng
Thống Công Giáo Ngô Đình Diệm nói riêng và khối Công Giáo nói chung.
Tình hình bấy giờ căng thẳng đến nỗi, thậm chí sau khi Tổng Thống Diệm
đã bị hạ màn rồi mà khối dân Công Giáo các nơi, như người viết được
chứng kiến ở Thủ Đức vào năm 1964-1965, vẫn còn phải thành lập những
lực lượng tự vệ để phòng hờ thảm kịch Văn Thân tái diễn…(Đa
Minh Maria Cao Tấn Tĩnh, Ánh sáng thế gian, tr.151). Cái gọi là “thảm kịch
Văn Thân” đã không tái diễn, vì đó chỉ là sản phẩm tưởng tượng của
những con người mang não trạng của “đạo binh thánh giá” hiếu chiến
thời trung cổ. Nhưng những lực lượng Công giáo được võ trang đến tận
răng ở Việt Nam lại là một hiện thực lịch sử. Trắng trợn hơn, Cao Tấn
Tĩnh còn dẫn lại cuốn “Những Bí Ẩn
Đàng Sau Các Cuộc Thánh Chiến Tại Việt Nam” để gọi cuộc đấu
tranh chống độc tài Ngô Đình Diệm của nhân dân Việt Nam nói chung, Phật
giáo nói riêng, là “cuộc thánh chiến của Phật giáo”.
Giả sử có những cuộc chiến tranh diễn ra trong lịch sử liên quan đến Phật giáo. Ví dụ cuộc chiến tranh chống quân xâm lược phương bắc thời Lý, Trần. Vì những ông vua này đều là Phật tử, nên cuộc chiến chống quân xâm lược của các vị, ít nhiều có ảnh hưởng của Phật giáo. Nhưng đó chỉ là những cuộc chiến tranh thông thường, không thể gọi là “thánh chiến”. Chỉ có những tôn giáo độc thần như Kitô giáo, Do Thái giáo, Hồi giáo mới có thánh chiến (cũng có thuyết cho rằng Kitô giáo chỉ là “ngụy độc thần”, vì tôn giáo này thờ đến ba thần: Cha, Con, Thánh Linh)…
Giám mục Bùi Tuần đã kể lại câu chuyện, trong một lần gặp gỡ giữa ông và giáo hoàng Gioan Phaolô II. Giáo hoàng đã hỏi ông: “thách đố nào sẽ là lớn nhất” đối với giáo hội Công giáo La Mã. Ông đã trả lời: “thách đố lớn nhất sẽ là phong trào duy vật thực tiễn, tự do buông thả, như đang bắt đầu nổi lên tại Âu châu.” Nhưng giáo hoàng Gioan Phaolô II đã phi bác lời ông và nói : “Theo ý tôi, thách đố lớn nhất sẽ là Hồi giáo...” (Một Thoáng Suy Nghĩ Sau Nobel Hoà Bình 2003.
http://www.nguoitinhuu.com/tamlinh/bui-tuan/mtsnnobel03.html).
Câu
đáp của giáo hoàng Gioan Phaolô II buộc chúng ta phải nghĩ rằng, chính
ý thức hệ độc thần buộc họ phải loại trừ lẫn nhau, dù cả ba tôn
giáo: Do Thái giáo, Hồi giáo, Kitô giáo, đều xuất phát từ một gốc
(Abraham). Thánh kinh Kitô giáo khẳng định, ngoài thiên chúa của Kitô giáo
“Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác vì dưới gầm trời này, chẳng
có danh nào khác đã được ban cho nhân loại để chúng ta nhờ vào đó mà
được cứu độ” (Cv 4:12)... Chính sự khẳng định này đã là một “thông
điệp” hàm ý “một nước không thể có hai vua”. Thánh chiến thực sự
phát xuất từ đó...
Phật
giáo không hề có “thánh chiến”, vì Phật giáo không thừa nhận bất kỳ
một vị thần nào nắm quyền sinh sát trong tay, bất chấp vị thần ấy
núp dưới bất kỳ danh xưng nào, thiên chúa hay thượng đế… “Thánh”,
trong Phật giáo, nếu có, chỉ là những con người bình thường như mọi
người. Con người được gọi là “thánh” ấy, trong Phật giáo, thực sự
chỉ vượt trội hơn người bình thường về mặt Trí Tuệ, hoàn toàn
không phải là một vị thần nắm quyền sinh sát. Những cuộc đấu tranh của
Phật giáo trong lịch sử đơn giản chỉ là những cuộc đấu tranh mưu cầu
hạnh phúc cho con người, không hề nhân danh một vị thần thánh nào cả.
Ông Cao Tấn Tĩnh và nhiều tác giả Công giáo khác, khi gọi cuộc đấu
tranh của Phật giáo là “thánh chiến”, đã mặc nhiên thừa nhận họ rất
dốt về Phật giáo, đã không hiểu biết gì về Phật giáo, lại còn lạm
dụng từ “thánh chiến” để ám chỉ những cuộc đấu tranh của Phật
giáo, cũng là một cách tự bộc lộ sự tự ti, mặc cảm của họ về những
tội ác mà “mẹ (mìn) giáo hội” của họ gây ra…
Môt
tác giả Công giáo khác, nhà sử học Bùi Đức Sinh, tác giả bộ “Lịch
sử Giáo hội Công giáo” được nhiều người biết đến. Lm Sinh cũng đã
vận dụng kiến thức sử học của mình để phục vụ cho mưu đồ bá quyền
của đế quốc Công giáo Rôma một cách đắc lực. Khi trình bày về sự
sung đột giữa Kitô giáo và Hồi
giáo, Lm Sinh viết: “Dẫu sao người Công
giáo vẫn nuôi chí quật khởi, đặng dành lại quyền độc lập quốc gia
và bảo vệ đức tin của mình.” (Bùi Đức Sinh, Lịch sử Giáo hội
Công giáo, nxb Chân Lý, Saigon 1972, tr 298). Có một chút lấn cấn trong câu
viết này. Quốc gia nào là của người Công giáo? Những địa danh mà Lm
Sinh đề cập như Liban, Armenia, Algeria, hiện
đang ở trong tay quân Hồi là “quốc gia” mà người Công giáo cần “dành
lại quyền độc lập”? Và một câu hỏi quan trọng khác: Người Công
giáo là ai? Để trả lời những câu hỏi trên, chúng ta cần quay lại với
lịch sử hình thành và phát triển của Công giáo La Mã.
Như
tôi đã có dịp trình bày về thực chất của các nhóm Kitô nguyên thủy
trong bài “Kitô nguyên thủy. Họ là ai?” đăng trên trang nhà giaodiem.com.
Ở đây chỉ nhắc lại một cách
khái quát, Công giáo La Mã chính là sản phẩm của đế quốc La Mã, cha đẻ
của tôn giáo này là hoàng đế Rôma Constantine. Khởi đầu, các nhóm Kitô
nguyên thủy hoạt động độc lập, bí mật dưới hình thức hội kín. Đế
quốc La Mã chú ý đến họ vì cho rằng họ hoạt động chính trị. “Kitô nguyên thủy” chỉ là tên cưỡng
gọi nhóm người có cảm tình với Giêsu chứ không thể xem đó là một tổ
chức tôn giáo. thực sự họ chỉ là những tín đồ Do Thái giáo bình thường,
chỉ khác một chút ở chỗ họ mến mộ Giêsu và chọn Giêsu là thầy của
họ... Mãi về sau này, tại Antiokia, lần đầu tiên họ quyết định gọi
nhau bằng “đồng chí”: Chrélien – “những người bạn của Christ”
– tức bạn của người tự nhận mình là Mêsia, vua dân Do Thái (Cv.
11:26). Từ đây, họ gắn kết với nhau dưới ngọn cờ Giêsu, đấu tranh
chống ách đô hộ của đế quốc La Mã… Từ thời hoàng đế Nêrôn, các
nhóm Kitô nguyên thủy bị đặt ngoài vòng pháp luật, nhưng họ vẫn kiên
trì hoạt động suốt 300 năm đầu công nguyên. Điểm đặc biệt nổi trội
ở họ là tính kiên trì, óc tổ chức, kỷ luật, tính cộng đồng cao.
Constantine sớm nhận ra những đặc tính đó, khôn khéo thừa nhận sự hợp
pháp của họ, biến họ thành một lực lượng hùng mạnh thống nhất… Bước
kế tiếp là thủ tiêu ý chí đấu
tranh của họ bằng các chính sách ưu đãi và đặc biệt là tăng quyền lực
cho giáo hội. Ý chí đấu tranh ban đầu của các thủ lĩnh Kitô nguyên thủy
bị thay thế bằng miếng mồi vinh quang quyền lực. Constantine cho triệu tập
hội nghị Nikêa, tổ chức lại giáo quyền, định ra các nguyên tắc căn bản
về hàng giáo phẩm, công bố những giáo thuyết mới vốn không hề có
trong các cộng đồng Kitô nguyên thủy, Công giáo La Mã được thành lập
và được chính thức công nhận là quốc giáo. Một ý hệ tôn giáo mới
được xây dựng trên cái nền đã bị mục nát của các cộng đồng Kitô
nguyên thủy, Khi Constantine Công giáo hóa đế quốc Rôma, tôn giáo này nghiễm
nhiên trở thành công cụ hoạt động đắc lực cho tham vọng của đế quốc...
(xin xem bài “Kitô nguyên thủy. Họ là ai?”)
Trở
lại với nhận định của Lm Bùi Đức Sinh:“Dẫu sao người Công giáo vẫn nuôi chí quật
khởi, đặng dành lại quyền độc lập quốc gia và bảo vệ đức tin của
mình.” Với câu hỏi: Quốc gia nào là của người Công giáo? Những
địa danh mà Lm Sinh đề cập như Liban, Armenia, Algeria, hiện đang ở trong tay quân Hồi là “quốc
gia” mà người Công giáo cần “dành lại quyền độc lập”? Và một
câu hỏi quan trọng khác: Người Công giáo là ai? Đã có câu trả lời rất
rõ ràng: “Người Công giáo” ở đây thật sự không phải là những tín
đồ yêu nước ở những quốc gia bị quân Hồi chiếm đóng mà chính là
đế quốc Công giáo Rôma, và cái gọi là “quốc gia” thực ra chỉ là những
lãnh thổ ngoài Rôma đã bị đế quốc Rôma chiếm lĩnh từ trước.
Nhìn
từ toàn cảnh cục diện thời đó, lãnh thổ của các giáo hội Kitô (cả
giáo hội Đông phương lẫn Tây phương, tức giáo hội La Mã và
Constantinople) bao trùm toàn vùng Âu châu, Trung Đông, Bắc Phi. Vậy, khái niệm
“quốc gia” mà Lm Sinh đã nhắc đến được hiểu theo nghĩa nào? Khi “người
anh em” Hồi giáo xuất binh đánh chiếm một phần lãnh thổ thuộc quyền
kiểm soát của giáo hội, lý nào giáo hội lại chịu khoanh tay đứng nhìn?
Nhưng hãy khoan nói đến “người anh em bà con” Hồi giáo. Ngay cả đối
với “người anh em sinh đôi” Chính Thống. Đế quốc Công giáo Rôma cũng
đã muốn xóa sổ từ lâu. Lm Augustinô Nguyễn Văn Trinh trong cuốn “Lịch
sử Hội thánh Công giáo qua 21 công đồng”, trang 143, đã kể lại sự kiện
Công giáo La Mã với ý đồ muốn thôn tính Chính Thống giáo, giáo hoàng
Gregor VII đã mượn cớ thánh chiến, ngăn chặn làn sóng quân Hồi giáo để
bảo vệ Constantinople. “Nhưng ý đồ chính yếu là qua thập tự chinh,
Ngài có thể thống nhất cả giáo hội Đông và Tây dưới quyền của giáo
hoàng của mình”… Tham vọng thống lĩnh thế giới Kitô giáo của Công
giáo La Mã đã dẫn đến sự kiện giáo chủ Constantinople là Michael
Caerularius và giáo hoàng Rôma Leo IX “dứt phép thông công” lẫn nhau từ năm
1050, mãi đến ngày bế mạc công đồng Vatican II, ngày 7-12-1965, họ mới
chịu “bắt tay” làm hòa!
Nếu
Linh mục Bùi Đức Sinh cho rằng: “Người Công giáo cần dành lại quyền
độc lập quốc gia để bảo vệ đức tin…” Vậy xin hỏi, đất nước
Do Thái là quốc gia của ai? Cứ cho rằng Jêrusalem là “đất thánh”, ở
đó có cái gọi là “mộ chúa”, có “vườn cây dầu”. Nhưng tỉ lệ tín
đồ Công giáo La Mã so với tín đồ Do Thái giáo và Hồi giáo ra sao?
Jêrusalem không chỉ là thánh địa của riêng Kitô giáo mà nó còn là thánh
địa của Do Thái giáo và của cả Hồi giáo. Khi Urban II triệu tập công
đồng Clermont kêu gọi thánh chiến, cử đạo binh thánh giá tái chiếm
Jêrusalem, thì đó là tái chiếm thuộc địa cũ, chứ không thể gọi là một
cuộc nổi dậy “dành lại quyền độc lập quốc gia để bảo vệ đức
tin”. Nói một cách chính xác, đối với dân tộc Do Thái, cả Hồi giáo lẫn
Kitô giáo, đều là những kẻ xâm lược, đáng nguyền rủa.
Với
nhiệm vụ “hộ giáo”, nhà sử học Bùi Đức Sinh đã viết những câu
trơn tru, chẳng những biện hộ cho tội
ác của Urban II, mà còn ngợi khen sự phát động thánh chiến của ông ta
như là một “ý định thánh thiện”. Lm Sinh viết : “Đọc những dòng lịch sử trên, chúng ta thấy
binh thánh giá trải qua những hồi thịnh suy, khởi đầu là ý định thánh
thiện của Đức Urban II, nối tiếp bằng chủ đích riêng tư của các nhà
chính trị hơn là binh thánh giá, để rồi kết thúc bằng nhiều thảm bại,
đến độ vua thánh Luis, người đầy thiện chí cũng không làm được mùa
xuân của lịch sử nghĩa binh.” (Bùi Đức Sinh, Sđd tr.320)
Phải
chăng sự “thánh thiện” của Urban II là gạ gẫm tín đồ cuồng tín, dốt
nát bằng lời hứa vu vơ về “ơn toàn xá” về “phần rỗi linh hồn”,
để đẩy họ vào con đường chết, nhằm đạt được mục tiêu tái chiếm
thuộc địa cũ Jêrusalem, tiếp tục đặt dân tộc Do Thái vào ách đô hộ
đế quốc Rôma, biến đất nước Do Thái thành “Vương quốc Jerusalem”
trực thuộc đế quốc Công giáo Rôma, do tên thái thú Godefroi de Brouillon
cai trị, được ngụy trang dưới một danh xưng “Người bảo vệ Mộ Chúa”.
Để
biện minh cho hành động hiếu chiến của tập đoàn Công giáo La Mã. Lm
Bùi Đức Sinh viết: “Thiên Chúa muốn!
Sự thất bại trên chiến trường làm tan vỡ mọi hy vọng đã được đặt
ra ở Clermont và Vézelay nói lên ý muốn của Thiên Chúa không lệ thuộc
vào ý định của tạo vật, cũng không lệ thuộc vào những lời tha thiết
kêu cầu của các Thánh. Sự quan phòng của Thiên Chúa đôi khi cho người
ta thấy những công việc mình có thể làm được, nhưng còn cần phải có
sự khôn ngoan và kiên nhẫn, hai đức
tính này không phải là những gì nổi bật ở quân binh thánh giá. Mục đích
trần thế là chiếm lại đất thánh
đã không thực hiện được, nhưng nhờ có những cuộc thánh chiến này
mà rất nhiều người ăn năn hối cải, chịu gian khổ hy sinh, hăng hái liều
mình vì chính nghĩa đức tin, phải chăng đó lại không phải là mục đích
của chúa, đấng cần tấm lòng hơn lễ vật? (Bùi Đức Sinh, Sđd tr.320)
Những
nhà “hộ giáo” của Vatican ngày nay vẫn còn thích vận dụng một quan
điểm thần học vừa cũ kỹ, vừa lạc
hậu, đó là: “ý chúa, sự quan phòng của chúa, chúa thánh thần dẫn dắt”
v.v… để biện minh cho tội ác do “mẹ giáo hội” của họ gây ra… Nếu
sự thất bại trên chiến trường của binh thánh giá nói lên ý muốn của
Thiên chúa, thì sự thành công trên chiến trường của phe Hồi giáo cũng
chính là ý muốn của ngài?.. Cũng theo logic này, “sự quan phòng” của
chúa là không để cho quân binh thánh giá đạt được mục đích trần thế,
chiếm lại đất thánh Jêrusalem! Vì mục đích của chúa là để cho những
người tham gia thánh chiến thấy cảnh chết chốc, máu đổ, đầu rơi mà
ăn năn hối cải! Thế thì ai phải chịu trách nhiệm về những cái chết
ấy? đích thị là chúa rồi! chính chúa là thủ phạm gây ra cảnh máu đổ
đầu rơi. Chính “sự quan phòng” của ngài là nguyên nhân của thảm kịch:
“Vào thành, quân hành hương truy đuổi, tàn sát người Hồi giáo cho đến
thành Salomon… Nơi đây tàn sát đến nỗi quân ta đi trong máu tới mắt
cá chân… Liền đó, thập tự quân rảo khắp thành, thu lượm vàng, bạc,
ngựa, lừa và cướp phá các nhà giàu. Rồi sung sướng khóc vì vui, quân
ta đến thờ lạy mộ thánh chúa Giêsu Kitô và tự coi như trả xong món nợ trả cho ngài…” (Giáo hội đi trong nhân loại.
Lm.JMT Nguyễn Thế Thoại. Sách lưu hành nội bộ, tr.255).
Nữ
tu sĩ Mỹ Lệ cũng đã từng “trăn trở” với câu hỏi: “lúc đó Chúa
Thánh Thần có ở cùng giáo hội không?”, trước những tội ác do chính
giáo hội của bà gây nên như: “lên án tử vì sự lẫn lộn giữa các vấn
đề thuộc khoa học và đức tin” (vụ án Brunô, Galilê). Và đặc biệt
nghiêm trọng là “dùng gươm đao làm vũ khí trong những cuộc thánh chiến”.
Nhưng hình như câu trả lời đã có sẵn ngay trong đầu của người nữ tu
này, trước khi những vấn nạn trên được đặt ra: “Ngài luôn hoạt động
trong giáo hội cho dù mắt phàm không nhìn thấy, mà chỉ trong nhãn quan của
niềm tin mới thấu tỏ.” (Chúa Thánh Thần và sứ vụ rao giảng Tin Mừng,
Chia sẻ số 30, tr.92). Thật đáng sợ khi “chúa thánh thần” luôn đồng
hành với đế quốc Công giáo La Mã trong các tham vọng trần tục. “Chúa”
của người Công giáo “quan phòng” đến cả những tội ác của giáo hội
trong suốt 17 thế kỷ, kể từ ngày Constantine khai sinh ra nó… Ngày nay, người Công giáo có
lương tri phải tự tra vấn: vì sao thiên chúa không “quan phòng” cho
thánh chiến đừng xảy ra? Nếu ngài muốn người Công giáo ăn năn hối cải
bằng cách “quan phòng” cho thánh chiến phải xảy ra, làm nhiều người mất
mạng. Một thiên chúa độc ác kiểu đó, nên dẹp quách ngay đi thì hơn.
Tạm
kết: Con người của thế kỷ thứ 21 ngày nay đã nhận diện khá đầy đủ
bộ mặt đạo đức giả của đế quốc Vatican. Công giáo La Mã ngày nay cũng
trở nên “nhu mì” hơn. Điều nầy
được biết đến qua diễn văn khai mạc công đồng Vatican II của giáo
hoàng Gioan XXIII: “Ngày nay giáo hội Chúa
ưa dùng liều thuốc từ bi, hơn là vung gươm chém giết, ưu thích đáp ứng
với nhu cầu hiện đại bằng cách trình bày giáo lý sung mãn của mình, hơn
là lên án các lạc thuyết…”
Thôi
thì cũng cứ… tạm tin như thế! Nhưng đề phòng vẫn là biện pháp ưu tiên.
Mặc dù thánh chiến kiểu trung cổ do Vatican phát động ở thế kỷ 21 là
điều không thể xảy ra. Nhưng với “kinh nghiệm trận mạc” được
Vatican tích lũy từ 2000 năm nay, biết đâu Vatican đang âm thầm chuẩn bị
cho những cuộc thánh chiến kiểu mới, thánh chiến ảo, vô hình, vô tướng,
nhưng hiệu quả gấp ngàn lần thánh chiến kiểu cũ thời trung cổ…
Nhận
định như trên không phải do sự tưởng tượng của người viết bài
này, mà là những suy luật rút ra từ thực tế. Ví dụ, khi một giáo
hoàng người Ba Lan lên ngôi, ít lâu sau nước Ba Lan cộng sản sụp đổ, kéo
theo sự sụp đổ của cả khối Đông Âu, mà đứng đầu là Liên xô… “Nếu
không có bàn tay thầm kín của Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ Đệ Nhị hỗ
trợ hữu hiệu cho cơ quan CIA ở Ba Lan - qua sự hoạt động của Công Đoàn
Đoàn Kết Ba Lan - thì dân chúng ở các nước chư hầu như Tiệp Khắc,
Hung Gia Lợi, Lỗ Ma Ni và Bảo Gia Lợi chưa chắc đã có cơ hội thuận tiện
để đứng lên hạ bệ chế độ Cộng Sản độc tài khát máu ở tại những
địa phương này.” (Trích
bản tin của Chương Trình Phát Thanh Tin Mừng Sự Sống, Chúa Nhật
13/5/2001. Đức
Giáo Hoàng Gioan Phaolồ Đệ Nhị
Trước Phong Trào Đòi Tự Do Dân Chủ Của Quần Chúng Iran.
http://www.daiviet.org/Pages/TCCM/
CM16_Unicode/Duc%20Giao% )…
“Nước
Nga sẽ trở lại!”
Đó là lời “tiên tri” của Vatican. Và cũng thật đáng sợ khi lời “tiên
tri” ấy đã biến thành hiện thực… Nước Nga đã “trở lại”. Dù họ
không trở lại với Công giáo La Mã, mà chỉ trở lại với chủ nghĩa tư
bản, với Chính thống giáo. Nhưng không vì thế mà được phép đánh giá
thấp sự “tiên tri” của Vatican. Và khi nhân loại đang bước vào thế kỷ
thứ 21. Giáo hoàng Gioan Phaolô II lại “tiên tri” tiếp cho tương lai châu
Á: “Thánh giá sẽ được cắm trên mảnh
đất châu Á trong thiên niên kỷ thứ ba… Giáo hội sẽ có một mùa gặt
bội thu trên cánh đồng Châu Á…” (Tông huấn Giáo hội tại châu
Á). Những
lời “tiên tri” trên đã và đang được Vatican ráo riết thực hiện để
chúng biến thành hiện thực. Giả sử nay mai một giáo hoàng gốc châu Á
lên ngôi, nếu người châu Á phi Kitô giáo không
chuẩn bị để có được những
đối sách thích hợp, châu Á chắc chắn sẽ là miếng mồi
béo bở của đế quốc Vatican.

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net