08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes) Nghiên cứu & đối thoại tháng 12 quý bốn năm 2003 whiteball.gif (923 bytes)

Lời tuyên bố chấm dứt sự đối thoại chung quanh Bạch Thư của Thượng Tọa Tuệ Sĩ

Thưa quý độc giả và các tác giả ,

Trong hơn hai tuần lễ mở rộng diễn đàn độc giả trao đổi những ý kiến của các phật tử, độc giả chung quanh biến cố Nguyên Thiều ở Việt Nam, Nghị quyết 427, và đặc biệt Bạch Thư của thầy Tuệ Sĩ trên mạng lưới Giao Điểm - dĩ nhiên không thể phản ảnh tất cả mọi khía cạnh của vấn đề, nhưng đã nổi bật lên những nét chính trong tâm tư của quý vị. Quý vị là danh từ không chỉ bao gồm các thành phần công dân ở trong nước, mà còn là thành phần công dân mới ở các quốc gia ngoài Việt Nam, trong đó có chúng tôi và các vị tu sĩ đã nhập quốc tịch với các quốc gia sở tại.

Là một người phụ trách mạng lưới Giao Điểm, cũng như một số anh chị khác của nhóm, chúng tôi là những công dân mới, chấp hành luật pháp, tôn trọng hiến pháp của quốc gia định cư, chúng tôi và con em chúng tôi còn có nghĩa vụ phải đóng góp, kể cả xương máu để bảo vệ cho tổ quốc mới. Chúng tôi nghĩ rằng đây là điểm chúng ta cần phải ngay thẳng để xác định các việc làm của chúng ta có danh chính ngôn thuận hay không. Sự minh xác này song hành với ý thức tôn trọng của một người dân là không xâm phạm vào vấn đề nội chính, chủ quyền của các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam, là quê hương cũ của chúng ta.

Với sự may mắn được nhập cư vào một trong các quốc gia có cơ chế dân chủ, chúng tôi có thể phê bình, chỉ trích các nhà lãnh đạo, các chính sách vi phạm nhân quyền, chủ quyền của chính phủ đối với các quốc gia ngoại bang, cũng như tranh đấu trong tinh thần thượng tôn luật pháp các chính sách bất công, kỳ thị v.v... nếu có, để bảo vệ cho quyền lợi của cộng đồng Việt Nam.

Tuy nhiên, dù là những công dân mới, chúng ta có quyền yêu quê hương mình, tìm mọi phương tiện trong khả năng và luật pháp sở tại cho phép để bồi đắp và xây dựng cho quê hương cũ ngày càng tốt đẹp, giàu mạnh lên. Trong phạm vi khả năng thực hữu, chúng tôi đang làm công việc có thể làm được: - công tác từ thiện trực tiếp hay vận động và cổ suý tinh thần từ thiện để giúp đỡ bà con ở quê nhà, và xiển dương một tinh thần và nội dung văn hóa dân tộc, trong đó có phần nghiên cứu, phê phán các nội dung tôn giáo, văn hóa khác qua thực chứng lịch sử đã tác hại cho đất nước Việt Nam và nhân loại nói chung như thế nào. Đã gọi là “phê phán”, dĩ nhiên chúng tôi chấp nhận và gánh vác sự bị phê phán trở lại, nhưng mong rằng chúng ta sẽ thực thi điều này trong tinh thần công bình và có văn hóa.

Với tư cách được nêu ra như trên, chúng tôi xin có vài nhận xét về Bạch Thư của thầy Tuệ Sĩ, Nghị quyết HR 427, vốn là điểm nóng chính đưa tới các loạt bài đối thoại.

1. Chúng ta đã đánh giá quá cao về Nghị quyết HR. 427.

Theo chúng tôi biết, trong tiến trình lập pháp của Hoa Kỳ, Nghị quyết đã được định nghĩa chung là bản văn kiện được thông qua bởi một viện của Quốc hội, có thể được trở thành luật hay không, và nó không thể bị phủ quyết bởi tổng thống hay các cơ quan khác. Nghị quyết là tiến trình lập pháp trong đó có thể là các vấn đề nội bộ (internal affairs) của viện, có khi chỉ là để bày tỏ quan điểm, cảm nghĩ - chẳng hạn như nghị quyết bày tỏ sự thương tiếc về cái chết của một vị dân biểu. [1] Nhưng cũng cần biết thêm có ba loại Nghị quyết: 1) Nghị quyết Đơn phương (Simple Resolution) là nghị quyết của riêng một trong hai viện Quốc hội, rất ít khi trở thành luật. 2) Nghị quyết Đồng thuận (Concurrent Resolution) của cả hai viện, không cần chữ ký của tổng thống, và cũng không cần trở thành luật. Nghị quyết này thường để bày tỏ sự chúc mừng, hay biểu lộ cảm tưởng của Quốc hội về các vấn đề chính sách (“sense of Congress” on policy matters). 3) Chỉ có Nghị quyết Chung (Joint Resolution) thì phải thông qua cả hai viện, mới có thể trở thành luật, nhưng chung cuộc, tổng thống vẫn có quyền phủ quyết.

Xét vào nội dung và hình thức cấu tạo của Nghị quyết HR. 427, chúng ta thấy đó chỉ là một Nghị quyết Đơn phương, do đó tiến trình thủ tục lập pháp để biến nó trở thành một đạo luật về Nhân quyền dành cho Việt Nam chẳng hạn, là một chuyện xa vời. Trong quá khứ, thật ra đã có khá nhiều nghị quyết về loại này. Chúng tôi ghi lại ở đây cho chúng ta cùng nhớ :

- Nghị quyết HR 322 [July 10, 2000] do dân biểu Dough Bereuter (đảng Cộng hòa bang Nebraska) bảo trợ cho một nhóm cựu quân nhân VNCH đòi hỏi cải tiến về nhân quyền cho Việt Nam;

- Nghị quyết HR 295 [May 3, 2000] với 415 phiếu thuận trên 3 năm 2000 cũng có nội dung tương tự như trên;

- Nghị quyết SJ.R 47 [June 6, 2000]  Thượng nghị sĩ Robert Smith (Cộng hòa bang New Hampshire) bảo trợ, do vận động của một số người Việt chống cộng đòi chống lại các ân huệ trong Luật Mậu dịch 1974 của Tổng thống Clinton dành cho Việt Nam;

- Nghị quyết HR. 178 [June 28, 2001] của dân biểu Cass Ballenger (Cộng hoà bang North Carolina) đòi trừng phạt chính phủ Việt Nam vì đã đàn áp tôn giáo với các dân tộc thiểu số ở Cao nguyên;

- Nghị quyết HR. 2833 [Sept 6, 2002] của dân biểu  Christopher Smith (Cộng hòa bang New Jersey) bảo trợ đòi hỏi Việt Nam phải thực thi dân chủ;

- đặc biệt Nghị quyết HJ.R 101 [July 18, 2002] khước từ quyền hạn của tổng thống với các điều khoản ủng hộ sự bình thường hóa mậu dịch Mỹ-Việt (Jackson-Vanik provisions), đã bị đánh bại với số phiếu 338/91.

- Và bây giờ, là Nghị quyết (đơn phương) của Hạ viện HR. 427 [Nov 19, 2003].

Chúng ta biết rằng một công dân Hoa Kỳ bình thường, các nhóm quyền lợi, các cơ quan hành pháp, cộng đồng, một thành viên Quốc hội v.v... đều có quyền đệ trình một ý kiến về luật, hay tham gia vào tiến trình dự thảo làm luật, và tất nhiên các công dân Mỹ gốc Việt cũng có quyền làm điều đó, nhưng xét qua quá trình 7 Nghị quyết đã có, chúng ta thấy tất cả các nghị quyết đều có một chủ đích mơ hồ, ngoại trừ Nghị quyết HJ.R 101 có thể là một đòn chí tử đánh vào nền kinh tế của Việt Nam thì đã bị đánh bại. Dữ kiện này chỉ có thể kết luận rằng, quyền lợi, nguyện vọng của một thiểu số người mới nhập cư hay nhập tịch Mỹ không thể đối nghịch với nhu cầu thực dụng của nền kinh tế, hay quyền lợi chung của quốc gia Hoa Kỳ. Ảo tưởng về tác dụng của Nghị quyết HR. 427 có lẽ là do yếu tố thời điểm, nó xảy ra vào lúc các nhân vật quan yếu của chính phủ Việt Nam được mời sang thăm Hoa Kỳ, vào lúc chiến hạm Vardergrift viếng bến cảng Sài Gòn trước hàng ngàn cặp mắt của dân chúng, và nhất là vào đúng thời điểm ông Võ Văn Ái có thể cần một nội dung để báo cáo cho cơ quan NED hàng năm (Annual Report) về thành quả hoạt động của ông trong tài khóa năm 2003, để từ đó tạo điều kiện xin tài khoản mới cho năm 2004. Có bao giờ thầy Tuệ Sĩ đã để tâm suy nghĩ về điều này?

2. Thầy Tuệ Sĩ - biểu tượng hào khí của tu sĩ Phật giáo VN.

Có lẽ thầy Tuệ Sĩ đã không nghĩ tới những điều tầm thường nêu ở trên, bởi trí huệ của một tu sĩ Phật giáo không bao giờ được dùng để suy xét vào những điều mưu lợi nhỏ mọn. Hành động đấu tranh cho quyền lợi của Giáo hội của thầy có thể tạm hiểu như là một “ý thức chính trị toàn diện”, theo cách nói của ông Phạm Công Thiện khi viết về thi ca của thầy. Ý thức chính trị toàn diện mà chúng tôi hiểu chỉ có thể là tinh thần đại thể của dân tộc, và cái đại thể này là phải biết bảo tồn trọn vẹn nền văn hóa của dân tộc. 10 năm trước, Phạm Công Thiện khi đọc thơ thầy, đã viết:  “Tuệ Sĩ là một trong số ít đạo sĩ thi nhân với pháp khí phi thường là Trí Huệ Bát Nhã cùng với lòng Đại Bi Thơ Mộng, Tuệ Sĩ là một trong số ít thể hiện được ý nghĩa trọn vẹn của ý thức chính trị toàn diện, ý thức hành động Bi Trí Dũng dẫn đường soi sáng Thể Mệnh của Sử tính quê hương.” (Một buối sáng đọc thơ Tuệ Sĩ, Nguyên Tánh , 20/6/1994). Thi sĩ Bùi Giáng ngày còn sống cũng đã viết về thơ thầy: “Tuệ Sĩ một vị sư. Ông viết văn quá nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u... : Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tuỳ; Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi   (chúng tôi dẫn trên các mạng lưới Phật giáo, tìm ở đâu cũng thấy) .

Đúng vậy, thầy không những là một tu sĩ bát ngát trí tuệ về Phật học, về triết học Tánh Không, thầy còn là thi sĩ nơi chân trời viễn mộng nữa:

          Ta là kẻ rong chơi từ hỗn độn
          Treo gót hài trên mái tóc vào thu...

Nhớ lại vào giữa tháng 8 năm nay, cùng với anh PVX, viếng chùa Già Lam thăm thầy, trước mặt tôi vẫn là một hình ảnh của một vị  thầy ngày xưa cũ: đôi mắt sáng, sâu thẳm, với thân hình gầy guộc... vẫn cái miệng không cười, nhưng khi nào cũng tỏa sáng một niềm vui. Thầy với chúng tôi trao đổi nhiều chuyện, khi chúng tôi đề cập tới nhân vật Võ Văn Ái, tới cơ quan NED thầy đã xác nhận với chúng tôi thầy hoàn toàn không có liên hệ chi với họ cả. Tôi hỏi lại thầy, tại sao thầy không lên tiếng minh xác cho phật tử và công chúng khỏi hiểu lầm. Thầy trả lời: không cần thiết. Vâng, chúng tôi hiểu cái không cần thiết đó của một bậc tu sĩ đáng kính như thầy. Vì không cần thiết nên thầy đâu có biết những chi tiết nhỏ nhặt trật đường rầy trong sự cố ‘đại hội bất thường’ - Theo quy chế (by law) của Giáo hội PGTN hải ngoại tại Hoa Kỳ, điều 35 viết: “Đại hội bất thường của GHVNTNHN – HK có thể triệu tập do Chánh Văn phòng của Hội đồng Đại diện, Chủ tich của Hội đồng điều hành, nếu được trên 2/3 thành viên của mỗi Hội đồng liên hệ yêu cầu”, trong khi đó thì trước đại hội bất thường đột ngột xảy ra vào gần giữa tháng 10 bên Úc lại ra thông báo là thừa lệnh “giáo chỉ” từ Viện Tăng Thống ở trong nước. Điều này có thể là một sai lầm nhỏ về thực thi quy chế nội bộ, thế nhưng nó bộc lộ rõ rằng, đầu não và kế hoạch tổ chức nằm ở nước ngoài, ở ngay trung tâm thông tin của ông Võ Văn Ái, trong nước chỉ việc làm theo, và lần này mục tiêu cao nhất họ đã đạt được là Nghị quyết HR. 427 vậy.

Nhưng nếu “thắng lợi” này đã làm cho ông Võ Văn Ái hết sức hả hê, thì ngược lại thầy Tuệ Sĩ đã băn khoăn trăn trở. Chúng tôi nghĩ thầy đã không thấy an tâm về sự biến của nó. Hẳn thầy đã suy xét nhiều về tính cách chính nghĩa của nó, về lập trường dân tộc của thầy nói riêng và của Giáo hội nói chung, cho nên thầy đã nhanh chóng đáp ứng bằng những lời biện giải mà lẽ ra thầy không bao giờ muốn có khi nghị quyết HR 427 vừa được công bố ở hải ngoại. Vì vậy trong nội dung của Bạch Thư, chúng tôi thấy phảng phất những mâu thuẫn, tiền hậu bất nhất. Đây chính là điểm nói lên lương tâm của một tu sĩ Phật giáo, lòng tha thiết đối với vận mệnh của dân tộc mà chỉ có những người mang cái tâm của dân tộc và đạo pháp mới nhìn thấy được. Chúng tôi chỉ e rằng một ngày nào đó có thể thầy sẽ mang nặng nỗi niềm ‘thống hối’ nếu như hôm nay thầy đi quá đà, vượt qua khỏi giới hạn của mình.

Cũng hơn 10 năm về trước, khi nghe được tin thầy và thầy Trí Siêu bị chính quyền VN tuyên án tử hình chúng tôi bàng hoàng xúc động, không biết phải làm gì đành ngồi bên bàn viết thức đến 3 giờ sáng viết một mạch bài Nhân bản án Tuệ Sĩ Trí Siêu, đọc lại Kiều (đã được đăng trên tạp chí Phật giáo Việt Nam, Los Angeles). Trong giờ phút này, tấm lòng của chúng tôi đối với thầy vẫn không thay đổi. Dù sao thái độ và cung cách đối ứng của thầy trong chặng đường từ tu viện Nguyên Thiều vào thành phố HCM với công an nhà nước, với các cấp lãnh đạo địa phương qua bản phúc trình của thầy, thầy đã bộc lộ dũng khí của một tu sĩ Phật giáo. Chính quyền đã khiêm nhường nhượng bộ thầy. Về phương diện hành xử trí tuệ, thầy đã “thắng” và chúng tôi hãnh diện vì thầy, hãnh diện vì những đức Bi Trí Dũng của nhân cách tu sĩ Phật giáo Việt Nam.

Giờ đây chúng tôi mong rằng lòng thầy đã dịu lại, để nhớ lại hai câu thơ của thầy:

          Một lần ngại trước thông già cung kính
          Chẳng một lần lầm lỡ không ư?

Chúng tôi tin trong một đời người không thể chỉ một lần lầm lỡ, còn có nhiều lần lầm lỡ khác nữa, nhưng với hành trang mà một vị tu sĩ Phật giáo canh cánh bên người là hành trang nặng gánh với non sông, cho nên “ý thức chính trị toàn diện” của thầy không thể nhỏ bé như vì một lá cờ ...quá khứ, không thể để cho người ngoài lợi dụng đào sâu sự phân ly đất nước, và tinh thần Phật giáo Việt Nam không thể phân biệt Bắc Nam. Trong những ngày tới Phật giáo VN còn có biết bao nhiêu điều để suy nghĩ thêm, biết bao nhiêu việc sẽ làm trước mặt...

Với vài suy nghĩ nhỏ này, chúng tôi tuyên bố chấm dứt loạt bài đối thoại chung quanh Bạch Thư của thầy Tuệ Sĩ.

Phụ trách web GĐ, Nguyễn Văn Hóa

19/12/2003

Chú thích:

(1) Resolution: A measure approved by a house of Congress that may or may not have the force of law and cannot be vetoed by the other body or the president. Resolution usually deal with procedures of the house in question or express sentiments (such as a resolution of sadness over the death of a member.)

- Simple Resolution: A statement passed by one house of Congress expressing an opinion or regarding its internal affairs. It lacks the force of law, as does a concurrent resolution, which is a statement approved by both house.)

- Concurrent Resolution: A measure that must be approved by both house but does not require the president’s signature and does not have the force of law. Such resolution tend to concern themselves with the rules of the two houses and to convey sentiments, such as congratulations, or express the “sense of Congress” on policy matters.

- Joint Resolution: A policy statement passed by both houses that has the force of law and is subject to the veto of the president. A similar resolution passed on both houses but lacking the force of law is know as concurrent resolution.

Paul Dickson & Paul Clancy, The Congress Dictionary, John Wiley Son, Inc. 1993, các trang 289, 93, 179

 

   

Mark_03.gif (833 bytes) Go to top page

half_under_water_sw.gif (3365 bytes)

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net