
Lời
Thưa quý độc giả và các tác giả
,
Trong hơn
hai tuần lễ mở rộng diễn đàn độc giả trao đổi những ý kiến của
các phật tử, độc giả chung quanh biến cố Nguyên Thiều ở Việt Nam, Nghị
quyết 427, và đặc biệt Bạch Thư của thầy Tuệ Sĩ trên mạng lưới
Giao Điểm - dĩ nhiên không thể phản ảnh tất cả mọi khía cạnh của vấn
đề, nhưng đã nổi bật lên những nét chính trong tâm tư của quý vị.
Quý vị là danh từ không chỉ bao gồm các thành phần công dân ở trong nước,
mà còn là thành phần công dân mới ở các quốc gia ngoài Việt Nam, trong
đó có chúng tôi và các vị tu sĩ đã nhập quốc tịch với các quốc gia
sở tại.
Là một người phụ trách mạng lưới
Giao Điểm, cũng như một số anh chị khác của nhóm, chúng tôi là những
công dân mới, chấp hành luật pháp, tôn trọng hiến pháp của quốc gia định
cư, chúng tôi và con em chúng tôi còn có nghĩa vụ phải đóng góp, kể cả
xương máu để bảo vệ cho tổ quốc mới. Chúng tôi nghĩ rằng đây là
điểm chúng ta cần phải ngay thẳng để xác định các việc làm của
chúng ta có danh chính ngôn thuận hay không. Sự minh xác này song hành với
ý thức tôn trọng của một người dân là không xâm phạm vào vấn đề nội
chính, chủ quyền của các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam, là quê hương
cũ của chúng ta.
Với sự may mắn được nhập cư vào
một trong các quốc gia có cơ chế dân chủ, chúng tôi có thể phê bình, chỉ
trích các nhà lãnh đạo, các chính sách vi phạm nhân quyền, chủ quyền của
chính phủ đối với các quốc gia ngoại bang, cũng như tranh đấu trong tinh
thần thượng tôn luật pháp các chính sách bất công, kỳ thị v.v... nếu
có, để bảo vệ cho quyền lợi của cộng đồng Việt Nam.
Tuy nhiên, dù là những công dân mới,
chúng ta có quyền yêu quê hương mình, tìm mọi phương tiện trong khả
năng và luật pháp sở tại cho phép để bồi đắp và xây dựng cho quê hương
cũ ngày càng tốt đẹp, giàu mạnh lên. Trong phạm vi khả năng thực hữu,
chúng tôi đang làm công việc có thể làm được: - công tác từ thiện trực
tiếp hay vận động và cổ suý tinh thần từ thiện để giúp đỡ bà con
ở quê nhà, và xiển dương một tinh thần và nội dung văn hóa dân tộc,
trong đó có phần nghiên cứu, phê phán các nội dung tôn giáo, văn hóa
khác qua thực chứng lịch sử đã tác hại cho đất nước Việt Nam và
nhân loại nói chung như thế nào. Đã gọi là “phê phán”, dĩ nhiên
chúng tôi chấp nhận và gánh vác sự bị phê phán trở lại, nhưng mong rằng
chúng ta sẽ thực thi điều này trong tinh thần công bình và có văn hóa.
Với tư cách được nêu ra như trên,
chúng tôi xin có vài nhận xét về Bạch Thư của thầy Tuệ Sĩ, Nghị quyết
HR 427, vốn là điểm nóng chính đưa tới các loạt bài đối thoại.
1. Chúng ta đã đánh giá quá cao về
Nghị quyết HR. 427.
Theo chúng tôi biết, trong tiến
trình lập pháp của Hoa Kỳ, Nghị quyết đã được định nghĩa chung là bản
văn kiện được thông qua bởi một viện của Quốc hội, có thể được
trở thành luật hay không, và nó không thể bị phủ quyết bởi tổng thống
hay các cơ quan khác. Nghị quyết là tiến trình lập pháp trong đó có thể
là các vấn đề nội bộ (internal affairs) của viện, có khi chỉ là để bày
tỏ quan điểm, cảm nghĩ - chẳng hạn như nghị quyết bày tỏ sự thương
tiếc về cái chết của một vị dân biểu. [1] Nhưng
cũng cần biết thêm có ba loại Nghị quyết: 1) Nghị quyết Đơn phương
(Simple Resolution) là nghị quyết của riêng một trong hai viện Quốc hội, rất
ít khi trở thành luật. 2) Nghị quyết Đồng thuận (Concurrent Resolution) của
cả hai viện, không cần chữ ký của tổng thống, và cũng không cần trở
thành luật. Nghị quyết này thường để bày tỏ sự chúc mừng, hay biểu
lộ cảm tưởng của Quốc hội về các vấn đề chính sách (“sense of
Congress” on policy matters). 3) Chỉ có Nghị quyết Chung (Joint Resolution) thì
phải thông qua cả hai viện, mới có thể trở thành luật, nhưng chung cuộc,
tổng thống vẫn có quyền phủ quyết.
Xét vào nội dung và hình thức cấu
tạo của Nghị quyết HR. 427, chúng ta thấy đó chỉ là một Nghị quyết
Đơn phương, do đó tiến trình thủ tục lập pháp để biến nó trở
thành một đạo luật về Nhân quyền dành cho Việt Nam chẳng hạn, là một
chuyện xa vời. Trong quá khứ, thật ra đã có khá nhiều nghị quyết về
loại này. Chúng tôi ghi lại ở đây cho chúng ta cùng nhớ :
- Nghị quyết HR 322 [July 10,
2000] do dân biểu Dough Bereuter (đảng Cộng hòa bang Nebraska) bảo trợ cho một
nhóm cựu quân nhân VNCH đòi hỏi cải tiến về nhân quyền cho Việt Nam;
- Nghị quyết HR 295 [May 3,
2000] với 415 phiếu thuận trên 3 năm 2000 cũng có nội dung tương tự như
trên;
- Nghị quyết SJ.R 47 [June 6,
2000] Thượng nghị sĩ Robert Smith (Cộng hòa bang New Hampshire) bảo trợ,
do vận động của một số người Việt chống cộng đòi chống lại các
ân huệ trong Luật Mậu dịch 1974 của Tổng thống Clinton dành cho Việt
Nam;
- Nghị quyết HR. 178 [June 28,
2001] của dân biểu Cass Ballenger (Cộng hoà bang North Carolina) đòi trừng phạt
chính phủ Việt Nam vì đã đàn áp tôn giáo với các dân tộc thiểu số
ở Cao nguyên;
- Nghị quyết HR. 2833 [Sept 6,
2002] của dân biểu Christopher Smith (Cộng
hòa bang New Jersey) bảo trợ đòi hỏi Việt Nam phải thực thi dân chủ;
- đặc biệt Nghị quyết HJ.R 101
[July 18, 2002] khước từ quyền hạn của tổng thống với các điều khoản
ủng hộ sự bình thường hóa mậu dịch Mỹ-Việt (Jackson-Vanik provisions),
đã bị đánh bại với số phiếu 338/91.
- Và bây giờ, là Nghị quyết (đơn
phương) của Hạ viện HR. 427 [Nov 19, 2003].
Chúng ta biết rằng một công dân
Hoa Kỳ bình thường, các nhóm quyền lợi, các cơ quan hành pháp, cộng đồng,
một thành viên Quốc hội v.v... đều có quyền đệ trình một ý kiến về
luật, hay tham gia vào tiến trình dự thảo làm luật, và tất nhiên các
công dân Mỹ gốc Việt cũng có quyền làm điều đó, nhưng xét qua quá
trình 7 Nghị quyết đã có, chúng ta thấy tất cả các nghị quyết đều có
một chủ đích mơ hồ, ngoại trừ Nghị quyết HJ.R 101 có thể là một đòn
chí tử đánh vào nền kinh tế của Việt Nam thì đã bị đánh bại. Dữ
kiện này chỉ có thể kết luận rằng, quyền lợi, nguyện vọng của một
thiểu số người mới nhập cư hay nhập tịch Mỹ không thể đối nghịch
với nhu cầu thực dụng của nền kinh tế, hay quyền lợi chung của quốc
gia Hoa Kỳ. Ảo tưởng về tác dụng của Nghị quyết HR. 427 có lẽ là do
yếu tố thời điểm, nó xảy ra vào lúc các nhân vật quan yếu của chính
phủ Việt Nam được mời sang thăm Hoa Kỳ, vào lúc chiến hạm Vardergrift
viếng bến cảng Sài Gòn trước hàng ngàn cặp mắt của dân chúng, và nhất
là vào đúng thời điểm ông Võ Văn Ái có thể cần một nội dung để báo
cáo cho cơ quan NED hàng năm (Annual Report) về thành quả hoạt động của
ông trong tài khóa năm 2003, để từ đó tạo điều kiện xin tài khoản mới
cho năm 2004. Có bao giờ thầy Tuệ Sĩ đã để tâm suy nghĩ về điều này?
2. Thầy Tuệ Sĩ - biểu tượng hào
khí của tu sĩ Phật giáo VN.
Có lẽ thầy Tuệ Sĩ đã không nghĩ
tới những điều tầm thường nêu ở trên, bởi trí huệ của một tu sĩ
Phật giáo không bao giờ được dùng để suy xét vào những điều mưu lợi
nhỏ mọn. Hành động đấu tranh cho quyền lợi của Giáo hội của thầy
có thể tạm hiểu như là một “ý thức chính trị toàn diện”, theo
cách nói của ông Phạm Công Thiện khi viết về thi ca của thầy. Ý thức
chính trị toàn diện mà chúng tôi hiểu chỉ có thể là tinh thần đại thể
của dân tộc, và cái đại thể này là phải biết bảo tồn trọn vẹn nền
văn hóa của dân tộc. 10 năm trước, Phạm Công Thiện khi đọc thơ thầy,
đã viết: “Tuệ Sĩ là một trong số
ít đạo sĩ thi nhân với pháp khí phi thường là Trí Huệ Bát Nhã cùng với
lòng Đại Bi Thơ Mộng, Tuệ Sĩ là một trong số ít thể hiện được ý
nghĩa trọn vẹn của ý thức chính trị toàn diện, ý thức hành động Bi
Trí Dũng dẫn đường soi sáng Thể Mệnh của Sử tính quê hương.” (Một
buối sáng đọc thơ Tuệ Sĩ, Nguyên Tánh , 20/6/1994). Thi sĩ Bùi Giáng
ngày còn sống cũng đã viết về thơ thầy: “Tuệ Sĩ một vị sư. Ông viết
văn quá nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng
bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn
kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u... : Thâm dạ phong phiêu nghiệp
ảnh tuỳ; Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi”
(chúng tôi dẫn trên các mạng lưới Phật giáo, tìm ở đâu cũng
thấy) .
Đúng vậy, thầy không những là một
tu sĩ bát ngát trí tuệ về Phật học, về triết học Tánh Không, thầy
còn là thi sĩ nơi chân trời viễn mộng nữa:
Nhớ lại vào giữa tháng 8 năm nay,
cùng với anh PVX, viếng chùa Già Lam thăm thầy, trước mặt tôi vẫn là một
hình ảnh của một vị thầy ngày xưa
cũ: đôi mắt sáng, sâu thẳm, với thân hình gầy guộc... vẫn cái miệng
không cười, nhưng khi nào cũng tỏa sáng một niềm vui. Thầy với chúng
tôi trao đổi nhiều chuyện, khi chúng tôi đề cập tới nhân vật Võ Văn
Ái, tới cơ quan NED thầy đã xác nhận với chúng tôi thầy hoàn toàn
không có liên hệ chi với họ cả. Tôi hỏi lại thầy, tại sao thầy
không lên tiếng minh xác cho phật tử và công chúng khỏi hiểu lầm. Thầy
trả lời: không cần thiết. Vâng, chúng tôi hiểu cái không cần thiết đó
của một bậc tu sĩ đáng kính như thầy. Vì không cần thiết nên thầy đâu
có biết những chi tiết nhỏ nhặt trật đường rầy trong sự cố ‘đại
hội bất thường’ - Theo quy chế (by law) của Giáo hội PGTN hải ngoại tại
Hoa Kỳ, điều 35 viết: “Đại hội bất thường của GHVNTNHN – HK có thể
triệu tập do Chánh Văn phòng của Hội đồng Đại diện, Chủ tich của Hội
đồng điều hành, nếu được trên 2/3 thành viên của mỗi Hội đồng liên
hệ yêu cầu”, trong khi đó thì trước đại hội bất thường đột ngột
xảy ra vào gần giữa tháng 10 bên Úc lại ra thông báo là thừa lệnh “giáo
chỉ” từ Viện Tăng Thống ở trong nước. Điều này có thể là một sai
lầm nhỏ về thực thi quy chế nội bộ, thế nhưng nó bộc lộ rõ rằng,
đầu não và kế hoạch tổ chức nằm ở nước ngoài, ở ngay trung tâm
thông tin của ông Võ Văn Ái, trong nước chỉ việc làm theo, và lần này mục
tiêu cao nhất họ đã đạt được là Nghị quyết HR. 427 vậy.
Nhưng nếu “thắng lợi” này đã
làm cho ông Võ Văn Ái hết sức hả hê, thì ngược lại thầy Tuệ Sĩ đã
băn khoăn trăn trở. Chúng tôi nghĩ thầy đã không thấy an tâm về sự biến
của nó. Hẳn thầy đã suy xét nhiều về tính cách chính nghĩa của nó, về
lập trường dân tộc của thầy nói riêng và của Giáo hội nói chung, cho
nên thầy đã nhanh chóng đáp ứng bằng những lời biện giải mà lẽ ra
thầy không bao giờ muốn có khi nghị quyết HR 427 vừa được công bố ở
hải ngoại. Vì vậy trong nội dung của Bạch Thư, chúng tôi thấy phảng phất
những mâu thuẫn, tiền hậu bất nhất. Đây chính là điểm nói lên lương
tâm của một tu sĩ Phật giáo, lòng tha thiết đối với vận mệnh của dân
tộc mà chỉ có những người mang cái tâm của dân tộc và đạo pháp mới
nhìn thấy được. Chúng tôi chỉ e rằng một ngày nào đó có thể thầy sẽ
mang nặng nỗi niềm ‘thống hối’ nếu như hôm nay thầy đi quá đà, vượt
qua khỏi giới hạn của mình.
Cũng hơn 10 năm về trước, khi nghe
được tin thầy và thầy Trí Siêu bị chính quyền VN tuyên án tử hình
chúng tôi bàng hoàng xúc động, không biết phải làm gì đành ngồi bên
bàn viết thức đến 3 giờ sáng viết một mạch bài Nhân bản án Tuệ
Sĩ Trí Siêu, đọc lại Kiều (đã được đăng trên tạp chí Phật
giáo Việt Nam, Los Angeles). Trong giờ phút này, tấm lòng của chúng tôi đối
với thầy vẫn không thay đổi. Dù sao thái độ và cung cách đối ứng của
thầy trong chặng đường từ tu viện Nguyên Thiều vào thành phố HCM với
công an nhà nước, với các cấp lãnh đạo địa phương qua bản phúc
trình của thầy, thầy đã bộc lộ dũng khí của một tu sĩ Phật giáo.
Chính quyền đã khiêm nhường nhượng bộ thầy. Về phương diện hành xử
trí tuệ, thầy đã “thắng” và chúng tôi hãnh diện vì thầy, hãnh diện
vì những đức Bi Trí Dũng của nhân cách tu sĩ Phật giáo Việt Nam.
Giờ đây chúng tôi mong rằng lòng
thầy đã dịu lại, để nhớ lại hai câu thơ của thầy:
Chúng tôi tin trong một đời người
không thể chỉ một lần lầm lỡ, còn có nhiều lần lầm lỡ khác nữa,
nhưng với hành trang mà một vị tu sĩ Phật giáo canh cánh bên người là
hành trang nặng gánh với non sông, cho nên “ý thức chính trị toàn diện”
của thầy không thể nhỏ bé như vì một lá cờ ...quá khứ, không thể để
cho người ngoài lợi dụng đào sâu sự phân ly đất nước, và tinh thần
Phật giáo Việt Nam không thể phân biệt Bắc Nam. Trong những ngày tới Phật
giáo VN còn có biết bao nhiêu điều để suy nghĩ thêm, biết bao nhiêu việc
sẽ làm trước mặt...
Với vài suy nghĩ nhỏ này, chúng
tôi tuyên bố chấm dứt loạt bài đối thoại chung quanh Bạch Thư của thầy
Tuệ Sĩ.
Phụ trách
web GĐ
19/12/2003
Chú thích:
(1) Resolution: A measure approved
by a house of Congress that may or may not have the force of law and cannot be vetoed by
the other body or the president. Resolution usually deal with procedures of the house in
question or express sentiments (such as a resolution of sadness over the death of a
member.)
- Simple Resolution: A statement
passed by one house of Congress expressing an opinion or regarding its internal affairs.
It lacks the force of law, as does a concurrent resolution, which is a statement approved
by both house.)
- Concurrent Resolution: A measure
that must be approved by both house but does not require the president’s signature and
does not have the force of law. Such resolution tend to concern themselves with the rules
of the two houses and to convey sentiments, such as congratulations, or express the “sense
of Congress” on policy matters.
- Joint Resolution: A policy
statement passed by both houses that has the force of law and is subject to the veto of
the president. A similar resolution passed on both houses but lacking the force of law is
know as concurrent resolution.
Paul Dickson & Paul Clancy, The
Congress Dictionary, John Wiley Son, Inc. 1993, các trang 289, 93, 179

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net