08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes) Nghiên cứu & đối thoại tháng 12 quý bốn năm 2003 whiteball.gif (923 bytes)

     

Lịch sử còn đó…

 L’histoire est vraie, mais la vérité est partielle : Nous pouvons savoir des choses sur le passé humain, nous ne pouvons  savoir le tout de ce passé”   H. Marrou, sử gia.

Nguyễn Văn Lục.

Lời mở.

Biến cố 11 tháng 9  của Mỹ là một hình thức trắc nghiệm Rorschach về lịch sử và chính trị cho người Mỹ và cũng cho cả người Việt Nam nữa. ( Test  Rorschach đưa ra một lô hình ảnh các vết mực loang bắt chủ thể đưa ra những câu trả lời, từ đó giải đoán được nhân cách chủ thể ) Để thể nghiệm trắc nghiệm đó, Alain Brigand , một nhà sản xuất phim  đã mời 11 chuyên viên điện ảnh thuộc 11 nước khác nhau mà mỗi cuộn film dài 11 phút, 9 giây và một hình ảnh về biến cố   11 tháng 9.

Ý tưởng thật hay... - 11 tác giả, 11 cách nhìn, cách diễn đạt  về cuộc tấn công đó. Có kẻ nhìn nước Mỹ trong thái độ triết lý , tôn giáo : Ác giả ác báo. Có người nhìn nước Mỹ như biểu tượng của lòng độ lượng,  tự do và bình đẳng, và cũng  vì lẽ đó trở thành mục tiêu cho những kẻ quá khích. Sean Penn đưa ra một ý tưởng đến lạ. Ong đưa ra hình ảnh một ông già cô độc, sau khi nhìn 2 tòa nhà sụp đổ,  bụi khói.. Nhưng ít  ra từ nay, ông có một khoảng không gian trống với chân trời nhờ đó nhìn thấy ánh mặt  trời mọc lên  mỗi buổi sáng. Hình ảnh đổ nát với  gạch với cát bụi chập vào hình ảnh mặt trời mọc, ửng hồng là một tương phản lãng mạn thật khó có ai tưởng tượng ra được. Dó là những cách nhìn khác nhau, đến  đối chọi nhau về biến cố 11-9 của Mỹ.

 Biến cố 11 tháng 9 còn đó, lịch sử còn đó, nhưng cái nhìn về lịch sử thì  có góc cạnh (partielle). Cuối cùng, ý nghĩa và sự thực của lịch sử là những gì người ta gán cho nó,  ép nó mặc một ý nghĩa nào đó. Vì vậy, lịch sử cứ mở ra mãi và không bao giờ ngừng.

Biến cố lịch sử 1 tháng 11 năm 1963 của VN cũng còn đó. Đã 40 năm rồi. Cùng nhau thử nhìn lại xem người ta đã nghĩ gì, viết gì về nó... Nó có  phải một phiên bản của sự thật hay chỉ là những góc cạnh của sự thật.

Phần Một : Những trở ngại trong việc tìm hiểu biến cố 1-11-63 của Việt Nam.

I. Thiếu một tri thức luận về nhận thức

Lịch sử biến cố 1-11-63  của ta là một giai đọan đầy biến động  như   một mớ bòng bong. Thật khó  có một cái nhìn lịch sử trung thực và khách   quan.. Sự thiếu xót này  do vì những người viết sử, viết hồi ký, những chính trị gia không thể nhìn thấy trọn vẹn  những chiều kích về chính trị, chính kiến, tâm thức tôn giáo, quân sự như Stanley Karnow đã thú nhận trong phần cuối cuốn sách của ông : “Mais surtout les dimensions militaires, politiques , sociales, économiques  et humaines du conflit furent trop vastes pour qu’un seul individu puisse  les saisir au moment òu la lutte se déroulait” (Việt  Nam, trang 420 Notes sur les sources ).

 Đã thế, có nhiều vị không lưu ý tới vấn đề   Phương pháp luận và tri thức luận trong khi viết. ( Méthodologie và Épistémologie : Phương pháp phê bình các phương pháp, phê bình các nhận thức khoa học, phê bình  những nhận thức  đã được đưa  ra nhờ đó   bảo đảm tính cách chân thực của nhận thức  ) . Nhiều vị viết  như thể để  biện hộ cho điều mà họ muốn, thu nhặt tài liệu dữ kiện nào xét ra thích hợp cho  lập trường của họ. Họ bỏ qua những quan điểm đối nghịch, những tài liệu phản biện, bất lợi cho họ. Vì thế, ngay cả những luận án tiến sĩ này nọ của nhiều người cũng thiếu tinh thần tri thức luận * Viết để bảo vệ luận án *, bảo vệ quan điểm của mình. Có những điều được viết ra và có những điều được che dấu ( non-dits ) mà đôi khi điều được che dấu lại quan trọng hơn điều được viết ra. Chưa kể là ít có người để công truy tầm tài liệu từ nhiều nguồn từ nhiều phía, phỏng vấn nhiều nhân vật. Lối viết như thế bất chấp tri thức luận, bất chấp phản đề, bất chấp đặt lại vấn đề, không cần nhìn lại hoặc đặt ngược vấn đề..Vì vậy nó dễ có xu hướng  đi tới  lối viết một chiều, nếu không nói là hẹp hòi , thiển cận.. Nghe thì mạch lạc hợp lý, nhưng là một thứ hợp lý thiếu tri thức luận. Nội dung bài viết chỉ còn  là một bản cáo trạng, một thứ xa lộ một chiều, một thứ độc tài tư tưởng , một ngụy  biện. Đó là lối nhận thức, lối suy luận thiếu cửa mở ra những phản biện, một thứ nhận thức đã hoàn tất không còn bàn cãi gì nữa.

 Nói một cách khác, đó là thứ lý luận lý của một số nhân vật Kim Dung  trong chuyện chưởng. Có những nhân vật tự coi mình có chính nghĩa, làm trùm thiên hạ, kẻ khác bị gán cái tiếng là tà đạo. Đại diện cho phái chính nghĩa này là Diệt Tuyệt Sư Thái, một cô gái già, gàn dở dựa trên những giáo điều nghiệt ngã, nếu cần cũng giết người như ngóe, chẳng từ một phương tiện nào để  hại kẻ thù.. Mọi phương tiện đều tốt, cũng giết người, cũng ám toán, cũng lừa bịp thủ đọan. Và chẳng có thủ đọan nào mà họ từ. Cứu cánh lúc đó  trở thành sa đọa  biện minh cho những hành vi tội ác của họ. Bằng chứng là phe chính nghĩa với những hành vi bất nhân, dâm lọan của đệ tử phái Toàn Chân thì chính nghĩa ở chỗ nào. Nói  như   Đỗ long Vân, tác giả Kim Dung đã cố gắng * đánh tụt gíá * những người tự nhận là của chính nghĩa.. Và rồi sự phân biệt  giữa hai phía chỉ là  những nhãn hiệu Vô thực. Bằng chứng là khi  phe chính phái đến hỏi tội tên Đại ma đầu  Cừu Thiên Nhận   thì y hỏi cắc cớ chúng anh hùng : Ta giết người. Phải rồi. Các người cũng giết. Vậy nhân danh cái gì, các người đến đây hỏi tội ta. Quần thần trong Võ Lâm ớ ra, vì người trong võ lâm , ai mà tay chẳng dính đầy máu.

Vậy thì tà và chính khác nhau ở chỗ nào. Giữa Tạ Tốn ác độc và Diệt Tuyệt Sư Thái một tay cầm ỷ thiên Kiếm giết một chốc mấy trăm mạng người trong Minh Giáo mà không chớp mắt. Một tà, một chính ai tàn nhẫn hơn ai.

( Ý tưởng  trong đọan này lấy lại ý của Tác giả Đỗ long Vân , đã qua đời trong bài viết của ông  Vô Kỵ gữa chúng ta, hay là hiện tượng Kim Dung  cách nay non nửa thế kỷ như một tưởng nhớ  một con người tài ba đã quá vãng ).

Rồi cứ thế, đánh giá người khác theo nhãn hiệu đã định sẵn. Tà thì xấu, chính thì cái gì cũng tốt. Ngay cả cái xấu cũng có thể trở thành tốt chỉ vì một lẽ đơn giản nó ở về phía chính. Tà, chính, chưa biết ai phải, nhưng ai cũng tưởng mình là chính, kẻ khác là tà. Chuyện rắc rối bắt đầu từ đó, chia rẽ từ đó,  hố sâu từ đó.

Ai cũng phải cả, mà phải  thật. Từ một góc độ nào  đó, sự thật nằm ở cả hai phía.

Người dân giả đôi lúc bối rối tự  hỏi : Biết nghe ai, biết tin ai, đâu là sự thật.

Chữ nghĩa lúc đó thành dụng cụ tuyên truyền. Luân lý, giá trị, chân lý, sự thật dấn thêm  một bước nữa thành vũ khí bôi nhọ, đàn áp người khác chính kiến, dập tắt mọi trao đổi,  đẩy người khác vào sự im lặng Sự thật là một  trò ảo thuật  biết dấu, biết đậy khi cần miễn đạt mục đích. Cuối cùng , không ai biết sự thật nằm ở chỗ nào..

2. Thiếu một nền Đức lý ( déontologie ) cho việc viết

 Nghề nào thì có déontologie của nghề đó... Một thứ déontologie không thành văn. Ngay cả nghề ăn cướp, đạo tặc, cũng có thứ đạo lý giang hồ. Dân đạo tặc biết chơi đẹp, biết trọng lời hứa, không ám toán, không chơi xấu bạn bè. Huống chi nghề viết vốn được coi là quan trọng. Vậy mà nghề viết lại là nghề  thiếu một thứ  đức lý đôi khi  thua cả phường đạo tặc. Họ tìm cách  hại nhau, bôi bẩn, nói  sai sự thật. Nhất là từ khi ra nước ngoài, có một điều thiếu vắng không  chối cãi được là  thiếu một nền Đức Lý về cái sự Viết, (déontologie) thiếu một trách nhiệm tinh thần, thiếu tự trọng,  đi đến tình trạng viết xô bồ, bừa bãi như cảnh  Chợ Văn, chợ chữ. Bất cứ ai cũng có thể viết và có thể viết bất cứ cái gì. Cứ mở các địa chỉ  trên Internet thì rõ.

Bằng chứng quá nhiều đến không cần bằng chứng nữa.

 Người ta chửi tha hồ, chửi thả cửa, chửi bất cứ ai, chửi bất cứ cái gì trên đường đi của chữ nghĩa. Người ta dùng những phạm trù có sẵn , những bảng hiệu , chiêu bài, nhãn hiệu của thứ công lý một chiều. Mang một nhãn hiệu  nào đó đủ là bằng cớ của tội lỗi, xô đẩy người khác thành kẻ thù. Một thế giới mà tà không ra tà, chính chửa chắc đã là chính đưa tất cả mọi người vào sự sa   đọa chân lý, sự vấy bùn ý thức.

Đó là một thế giới  mà mọi suy nghĩ, mọi tri thức được cô lại, được nhái đi nhái lại, được kết tinh lại bằng những hận oán thành những giáo điều, khẩu hiệu giản lược hay cái mà  tác giả Bàn Tân Định gọi là “Đường mòn chữ nghĩa”.  Chúng ta đang chết vì những thứ đó, nhiễm độc  đủ thứ tư tưởng đen tối  về những giá trị còn mất, về một  quá khứ bôi đen, về một lịch sử nhọ mặt.

3. Có  quá nhiều xu hướng chính trị, tôn giáo nhận định về biến cố đó.

Bây giờ là câu chuyện của chúng ta. Trở lại 40 năm sau biến cố 1-11-1963, đẵ  đến lúc là thời cơ thuận tiện để nhìn lại một giai đọan chính trị chấm dứt nền đệ nhất cộng hòa. Việc làm của tờ “Đi Tới” mang ý nghĩa đó. Nhiều anh em, nhiều vị cách này cách khác đóng  góp tim óc cho số này để cùng nhau nhìn lại câu chuyện 40 năm về trước. Hy vọng là thời gian đã đủ chín mùi, lòng người đã lắng đọng đủ bình tĩnh, sáng suốt để nhìn thấu rõ sự việc. Tài liệu  lại càng không thiếu từ nhiều nguồn, tiếng Việt, tiếng Pháp, nhất là tiếng Anh. Nhân chứng phần đông còn sống, từ những người trực tiếp trong quân đội đã lật đổ ông Diệm như các tướng lãnh  đến những người làm chính trị, đến những sinh viên lãnh đạo các cuộc tranh đấu xuống đường, đến những người còn ở lại và phần đông đến những người đã ra khỏi nước, đến những lãnh tụ tôn giáo như Phật Giáo, Công giáo...

Vậy mà hình như người viết sau khi đọc một số tài liệu sách vở được coi là trụ cột vẫn có cảm tưởng  tất cả chỉ là những mảnh rời rạc, đối chọi nhau, mâu thuẫn nhau đưa người viết đến chỗ bối rối không biết đâu là sự thật. Càng đọc, càng bối rối. Đọc sợ chưa đủ, kiếm tiếp, đọc nữa. Cho đến nay, trên thị trường sách báo  hải ngoại, có đủ loại sách báo tiếng Việt, tiếng Tây, tiếng Mỹ viết về thời đó. Nếu  nói chung, số sách báo viết về Việt Nam như Giáo sư Phạm văn Lưu, thuộc Đại Học Monash,  Melbourne, Úc Châu nhận xét : “Chỉ riêng tại văn khố Đông Dương Indochina archives thuộc Đại học California có hơn 6000 cuốn sách, không kể các tạp chí, nhật báo viết về VN đủ loại bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau.”

Nhưng giáo sư  Lưu ghi nhận trong Lời nói đầu của tác phẩm đã chú dẫn như sau Phần lớn những nguồn tài liệu này “Không phản ánh một cách khách quan và vô tư về thực tại đất nước và nguồn gốc của dân tộc VN”. Theo Gs Lưu : Đa số sách này được viết từ hai khuynh hướng khác nhau : khuynh hướng Tây Phương và khuynh hướng Cộng Sản. (Phạm văn Lưu, Ngô đình Diệm và bang giao Việt-Mỹ 1954-1963. Melbourne, 1994 ).

 Chả cách chi  đọc cho hết được.

 Tuy gọi là Mỹ viết, nhưng Mỹ  nào mới được. Có Mỹ là cố vấn Tổng Thống, Mỹ ở  Bộ Quốc Phòng, ở Bộ ngoại  giao, Văn phòng Hội đồng an ninh quốc Gia. Mỹ Đại sứ Nolting ủng hộ ông Diệm đã hẳn khác hẳn Cabot Lodge. Mỹ CIA, Mỹ MACV, Mỹ nhà báo là một lực lượng  đáng nể, Mỹ trong những Nhóm Hành động. Cứ bấy nhiêu  nhân vật, bấy nhiêu nhóm chòng chéo, ảnh hưởng, đối nghịch ảnh hưởng lên quyết định của Tổng Thống. Họ có những suy nghĩ phán đoán, có những điều được nói ra và có rất nhiều   điều không được nói ra. Ngay như việc quyết định thay thế chế độ  ông Diệm đến giờ phút chót  vẫn có thể có những  biến đổi bất ngờ.

Những tác giả Việt Nam có thể còn phức tạp hơn. Một số viết với cảm tính, thiếu tri thức luận. Chỉ còn lại thứ chân lý một chiều, chân lý một cẳng khập khiễng nghiêng ngửa sẵn sàng đối đầu đả phá bất cứ   ai, bất cứ luận điểm nào đi ngược lại mình. Nói điều đó ra thì nhất định không ai chịu nhận. Nhóm Trần Kim Tuyến, Huỳnh văn Lang, Phạm ngọc Thảo cùng  có mục  đích thay thế ông Diệm đã hẳn không có cái nhìn giống nhóm tướng lãnh. Trong nhóm tuớng lãnh, ông Dương văn Minh, ông Đỗ Mậu có liên hệ mật thiết với chế độ ở những thời kỳ khác nhau đã hẳn không giống tướng Đính, tướng Khánh. Nói chi đến Huỳnh văn Cao, Trần thiện Khiêm, Cao văn Viên.

Nhóm Phật giáo cũng vậy. Thầy Trí Quang đại diện cho Phật giáo Đại thừa miền Trung. Thầy Tâm Châu, Phật giáo đại thừa người Bắc di cư đã có những lúc, nhất là sau khi ông Diệm bị lật đổ không ngồi với nhau được coi nhau như kẻ thù có thể ám toán nhau được. (Đọc Bạch thư : Về vấn đề chia rẽ của  Ấn Quang với Việt Nam quốc Tư của thầy Tâm Châu, trong đó thầy gọi năm 1966, Đại nạn của Phật Giáo và đất nước). Đã vậy nhóm Phật giáo Tiểu thừa mà đa số là người trong Nam phản ứng  khác hẳn phật giáo miền Trung. Cụ Chánh Trí Mai thọ Truyền đã tuyên bố gì, đã hành động như thế nào.  Rồi còn giáo hội Tăng già nguyên thủy, giáo hội thiền định đạo Tràng, giáo hội tăng già Kampuchia, Hội Phật học Nam Việt …

Công giáo cũng vậy. Công giáo di cư phản ứng suy nghĩ khác công giáo miền Nam.  Cha Hoàng Quỳnh không giống cha Luận. Đức cha Từ, Đức cha Chi đã hẳn không phải cùng quan điểm với Đức cha Bình. Tất cả đám họ còn có thể  đi đến đối đầu, ẩn nhẫn trong im lặng với Đức cha Thục. Công giáo cấp tiến  khác công giáo thủ cựu.

Những người thân cận chung quanh ông Diệm, ông Nhu như cụ Đòan Thêm không cùng một suy nghĩ với ông Võ văn Hải hay cụ Quách Tòng Đức, ông Hoàng Bá Vinh  ông Trần kim Tuyến hay ông Hùynh văn Lang.  Ông Đỗ Thọ và Trung tá Nguyễn Hữu Duệ  với cái nhìn của bầy tôi trung thành với chủ khác với cụ Đỗ Mậu. Chú với cháu cùng phục vụ một người, một chế độ, nhưng kẻ khen  thì khen  đến không bút nào tả, kẻ chê thì ngược lại. Trong sự khen chê, phải nhìn nhận có cái mẫu số chung : Có cái hệ số bản thân  đã ảnh hưởng trên những suy nghĩ của họ. Cái gần quá trong liên hệ tình cảm, liên hệ đời sống đôi khi chưa chắc đã đưa ra những nhận thức sáng suốt được. Ở xa quá thì đôi khi không thấy được vụ việc, chỉ thấy lù mù cũng không ổn.

 Sự thật lịch sử còn nóng hổi như thế nằm ở chỗ nào, có những câu hỏi coi như rất đơn giản  vẫn không có câu trả lời. Người viết không làm công việc phê phán, vì không đủ tư cách, vì giới hạn của  nhận thức và cũng để khỏi rơi vào cái bẫy sập của loại nhận thức thiếu ánh sáng tri thức luận. Chỉ xin trình bầy một số nhỏ tài liệu để mọi người tự quyết đoán lấy.

Phần hai : Những  bằng chứng   cho thấy không có sự  thống nhất về nhận thức.

1. Câu chuyện về một danh xưng

 Hãy bắt đầu bằng câu chuyện  của một danh xưng.

 Nếu phải chọn một danh từ cho thích hợp  cho ngày  1-11-1963, nhiều người đã bối rối và không đồng ý với nhau. Anh Hoàng nguyên Nhuận trong cuốn “Từ chốn lưu đầy” gọi đó là Cuộc Cách Mạng 1-11-1963. Ông Đôn, người nắm lá bài chủ chốt trong “Việt Nam Nhân chứng”, tiêu đề ông gọi : Tôi và cuộc cách mạng 1963. Vừa gọi thế xong, ít dòng sau , ông nhắc đi nhắc lại, đây là một cuộc đảo chánh  (coup d’état). Rồi cuộc chỉnh lý 30-1-64 và sau đó là những xáo trộn liên tục. Trong “Làm thế nào để giết một Tổng  Thống”, Cao thế Dung đã ghi lại lời tướng Đôn : Ngày 1-11-1963 rút lại chỉ còn là một ngày đảo chánh mở ra một giai đọan lịch sử đầy hỗn lọan . Đó là một cái nhìn thuần túy quân sự và một kết luận chấp nhận một thất bại vì chỉ tạo ra một hỗn loạn.  Ông Nguyễn đắc Xuân cũng gọi là cuộc Cách mạng , nhưng đã cẩn  thận cho  vào trong ngoặc “Cuộc Cách mạng  1-11-1963”  Thượng Tọa Tâm Châu gọi là cuộc chính biến  của quân đội chủ xướng vào ngày1-11-63. ( Bạch Thư, trang 20 ). Lý chánh Trung gọi cuộc CM 1-11-63 là “là những năm xáo trộn”. Stanley Karnow, một phóng viên làm việc lâu năm ở Việt Nam và là tác giả nhiều sách vở viết về cuộc chiến   VN  gọi 1-11-63 là La fin de Diệm  hay The End of Diem.  (Chương 8, trang 158, trong Viet Nam, a History). Ông Huỳnh văn Lang trong 3 tập   hồi ký “Nhân chứng một chế độ” nhắc đi nhắc lại nhiều lần cuộc đảo chánh ông Diệm.. Riêng Tướng Đính trong cuốn Hồi Ký  20 Năm Binh Nghiệp” của ông, ông đã gọi  là biến cố 1-11-63... nhiều chỗ ông gọi là một cuộc hành quân và ông kết luận  “Đối với tôi, cuộc hành quân 1-11-63, sau 16 giờ đồng hồ với bao nhiêu biến cố vượt ra ngoài sự dự  liệu và quyết định của tôi, không phải là một thành công, mà chính là một thảm bại lớn lao đối với lịch sử. Sở dĩ vậy, vì biết bao nhiêu âm mưu chính trị ngoại giao, hận thù cá nhân, hận thù tập thể đến giờ phút đó mới được phơi bầy bằng lời nói hay bằng hành động trong ấy Phật giáo Việt Nam, quân lực VNCH là những nạn nhân của lịch sử hơn là những thành phần mà lúc đó người ta thường quy định là chiến thắng vẻ vang” (sđd, trang 455).

Ellen J. Hammer trong cuốn “Bàn Tay Hoa Kỳ, Cái Chết ông Diệm”gọi 1-11-63 là một cuộc binh biến.

Trong cuốn Việt Nam máu lửa, Quê Hương tôi, dầy hơn 1000 trang, cụ Đỗ Mậu ghi lại: “Như vậy, ngày 1-11-63  đúng là một ngày cách mạng. Hay nói cho đúng hơn, là ngày cách mạng mở đầu cho một cuộc cách mạng dang dở. Nó không thuộc về  những lực lượng khai sinh ra nó, nó lại càng không thuộc về những kẻ còn nuối tiếc chế độ Diệm sau này, nó thuộc về lịch sử Việt Nam, nó là của dân tộc Việt Nam”  (VN. Máu Lửa.... trg 821).

Danh xưng nào xét ra thích hợp nhất. Người gọi là xáo trộn, vì  một năm thay đổi ba chính phủ. Sau đó đến ông  Thiệu mà người ta không ngần ngại ngao ngán gọi là chế độ Diệm, không Diệm. Cách mạng nằm ở chỗ nào trong những năm tháng sau khi ông Diệm bị lật đổ. Và nếu đã thành hình cuộc cách mạng, tại sao còn có biến động miền Trung năm 1966 mà thầy Tâm Châu gọi là năm Đại nạn của Phật giáo. (Bạch Thư, trang 23). Dĩ nhiên, nhiều người sẽ không đồng ý như thế với thầy Tâm Châu. Nhưng dù sao cũng là một tiếng nói. Và nếu gọi 1-1-63 là cuộc cách mạng thì ngày 30-04-1975, phải gọi bằng tên gì?

Đã vậy,  nhân vật nào là biểu tượng cho cuộc cách mạng đó. Ông Minh, ông Kỳ, ông Khánh, ông Khiêm, ông Thiệu, ông Đôn hay ông Đỗ Mậu, Thầy Tâm Châu, Thầy Trí Quang... Có lẽ chỉ còn lại một người : Hoà Thượng Quảng Đức.

 Hãy thử ngồi lại với nhau để chọn một người   đang sống xem kết quả ra sao. Thật cũng khó không phải là dễ.

Riêng người viết thấy rằng, việc lật đổ ông Diệm là một nỗi mừng chẳng những cho người Phật tử mà cả cho người Ky tô giáo . Đó là một ngày từ những cảm nhận của một cá nhân Ky tô giáo thấy mình được giải phóng ra khỏi những cáo buộc. Ai hưởng  ai nhờ, ai được ơn mưa móc. Nào có đến tay đại đa số Ky tô giáo thấp cổ bé miệng. Chỉ những tay đầu sỏ, những tên đầu cơ chính trị, kẻ nịnh thần, kẻ cơ hội gió chiều nào ngả theo chiều đó lợi dụng hưởng lợi. Mà những kẻ đó có coi tôn giáo là cái quái gì. Ông Thiệu là bằng cớ hiển nhiên.

 Cho dù có mất  mát   thì mất  mát cái gì mới đuợc. Một chút quyền thế, một chút dựa hơi mà cái đó  đâu phải tôn giáo. Mất một số tên tuổi chế độ cũ đôi khi là những tên tuổi nên mất lắm, mất càng sớm càng hay. Càng mất càng tốt, đạo càng sáng danh.  Không có gì tai hại cho họ, trong một xã hội mà họ là thiểu số, nhưng người đứng đầu lại là Ky Tô giáo, lại là thứ thiệt, thứ ròng, truyền đời nọ qua đời kia. Lợi không thấy, chỉ thấy hại, mang tai mang tiếng.

 Sau 40 năm, tiếng đó vẫn còn, bên tai vẫn vẳng nghe những tiếng hận oán. Phải biết phân biệt đạo và đời . Được đời thì mất đạo. Thử xem dưới chế độ toàn trị Cộng sản: Cái được, cái mất của họ là gì. Càng mất cái phần đời, càng thua thiệt của cải trần thế, quyền lực, lại được thêm phần đạo. Cái thời mà thịnh trị với bề dày phát  triển, với cơ ngơi xây cất đồ sộ,  với quyền lực ảnh hưởng trên  các thế lực chính trị, trên các nhà cầm quyền, nhìn ở mặt siêu nhiên , lại là thời mạt đạo. Lời cảnh cáo đó chẳng riêng cho đạo nào mà cho tất cả mọi đạo. Tham vọng bá quyền, tham vọng trần thế là những dấu hiệu thời mạt pháp. Trước quyền lực, đừng ai vội nói hay nói giỏi, hay nói đạo   đức.

Đối với người viết, ông Diệm là một phiền hà cho nguời Công giáo, gây khó khăn không ít. Ông Thiệu lại càng là một phiền hà đến oan uổng. Ông ta mà Công giáo nỗi gì.  Phải nhắc lại một lần nữa cho những tiếng oan nghiệt. Đó là những hình nộm đội lốt tôn giáo mà thời nào chả có.

Vì thế người viết đồng ý  một nửa với ông Cao huy Thuần trong bài kỷ niệm 40 năm , sau 1963, đăng trên trang nhà Khuông Việt : Bài Toàn Trị và Ngoại Thuộc,  ông viết: “Cái chết của ông Diệm bắt đầu  từ đó. Từ chỗ ông nghĩ rằng có thể dùng tôn giáo để cai trị, từ chỗ ông bắt tất cả, bất kỳ theo tín ngưỡng nào đều phải nhất nhất.  Xin Thượng đế ban phước lành cho Người...”  Người viết đồng ý vấn đề chính trị như độc tài, như tham nhũng, như gia đình trị chỉ là phần bộ cho những mối hiềm khích tôn giáo.. Những hiềm khích đó, từ những di sản quá  khứ để lại, từ những chướng tai gai mắt trước mặt, từ những thái độ xử thế huyênh hoang vô ý thức, từ những biệt lệ đủ thứ, từ những hoàn cảnh cá nhân mỗi người phải chịu đựng như hoàn cảnh tác giả Nguyễn Mạnh Quang. Sách vở cũng từ hai  cái nhìn tôn giáo trên về một thể chế chính trị, về một nguời lãnh đạo nên rất nhiều thiên kiến, rất nhiều điều tưởng là sự thật, tưởng là khách quan vô tư, nhưng che dấu có những điều nên nói và những điều không nên nói. Lương thiện trí thức coi vậy cũng có giới hạn. Nếu không dính dáng đến tôn giáo, chắc cái chết của ông Diệm, việc sụp đổ  chế độ đó đã không dây dưa cho đến ngày nay.

2. Những chứng từ về sự phản bội  của ông Diệm đối với ông Bảo Đại đã nuốt lời thề, sau đó truất phế Bảo Đại.

Xin trích dẫn một số chứng từ với nhiều dị biệt và mâu thuẫn lần lượt như sau cho thấy cùng một sự việc, mỗi tác giả viết theo những suy nghĩ, cảm quan của mình:  Riêng ông Diẹm trong khi nhận  chức Thủ Tướng tại lâu đài Thorence đã quỳ lậy trước bà Nam Phương để nhận lời ủy thác”  (Trích trong VNCH Đệ I Toàn thư, Nguyễn Mạnh Quang, trang 183).

Ngay sau đó viết “Việc ông NĐD quỳ  gối trước  ảnh tượng Chúa Giê Su thề trung thành với Quốc Trưởng  Bảo Đại và Nam Phương Hoàng Hậu, rồi chỉ một năm sau, ông ta phản lại Chúa Thượng của ông ta”  ( NMQ, trang 187 ).

Cũng trong sách đã dẫn, ông Vũ ngự Chiêu viết  Tháng 6-54, trong một căn phòng có hình tượng  chúa Giêsu, ông NĐD quỳ lậy trước mặt vợ chồng Quốc Trưởng Bảo Đại và thề trung thành với nhà Nguyễn và gìn giữ ngai vàng cho Hoàng Tử Bảo Long”  ( Trích NMQ, trang 234 ).

 Có lẽ hay nhất là trích dẫn  người trong cuộc là chính Bảo Đại xem ông viết về vấn đề này ra làm sao:  “Le prenant par le  bras, je l!entraine dans  une pièce voisine où se trouve un crucifix. Devant la croix, je lui dis :

-Voilà votre Dieu, vous allez faire le serment devant  Lui, de garder le territoire que l’on vous confie. Vous le défendrez contre les communistes et si besoin est contre les Francais.

Il se recueille un instant, me regarde, puis se tournant vers la croix, il murmure d!une voix étouffée.

Avant son départ, J!ai remis à Diệm une ordonnance qui lui confère tous les pouvoirs civils et militaires…

Oui, vraiment il était l’homme de la situation”  ( Trích Le Dragon d’annam của Vua Bảo Đại, trang 329 ).

Nhiều  tác giả căn cứ vào lời thề của ông Ngô đình Diệm để kết án ông là  loại người phản trắc, bất tín, bất nghĩa. Lại có vấn đề  đem luân lý khi cần để phê phán một hành vi chính trị. Nhưng cụ Đoàn Thêm lại nhìn vụ việc một cách khác. Xin dẫn chứng lý đóan của cụ.

+Khi cử ông Ngô đình Diệm làm  Thủ Tướng, Quốc Trưởng Bảo Đại giao liền   toàn quyền  dân sự và quốc sự ( sách lệnh 38-QT ngày 16 tháng 6 nãm 1954 )

+Sự ủy quyền vô hạn như thế có thể giải thích một cách gián tiếp thú nhận thất bại

+Hay một cử chỉ chút gánh của người hữu trách đầu hàng thời cuộc

+Hoặc là vì tình thế bi đát đến nỗi người được phó thác nhiệm vụ quá nặng, thấy cần có quyền xứng đáng mới chịu đảm lãnh công cuộc cứu vãn.

+Đã như thế rồi thì trước sau cũng đi đến chỗ đổ vỡ.  Cụ Đòan viết tiếp : các điện tín hay công hàm vẫn được gủi từ lâu đài Thorence  về dinh độc lập, để khuyến dụ về vấn đề này hay biến chuyển khác theo lối bán tin, nghĩa là chảng bao giờ Quốc trưởng nói thẳng cho Thủ tướng mà chỉ để cận thần nhắn lại : Đức Quốc trưởng  nhận xét ràng, Đức Quốc trưởng nghĩ ràng, Đức Quốc trưởng yêu cầu rằng...

+Song chẳng cần tra cứu và chỉ nhớ lại những   việc đã xảy ra cũng thấy rõ sự miễn cưỡng : một  đằng phải cho thì vội tiếc và cố giành lại, một đàng đã đòi thì lấy thiệt mà không khi nào chịu trả, không hề có sự tương đắc tri ngộ cổ điển giữa hai người chung cuộc  (Chương Hạ Bệ và Suy Tôn, trang 12-13 )

Đã hẳn về phía   Quốc Trưởng thì Tướng Hinh cũng không vừa, tính lật ông Diệm.* Hinh me demande ce qu!il doit faire. Par  télégramme, le lui précise mon opposition àtoute action de  force qui aboutirait immanquablement à une cassure de l’armée et à de nouveaux malheurs pour le peuple. Hinh s ‘incline et quitte Saigon pour Paris * Ở một đọan khác tướng Vỹ  điện cho Quốc Trưởng * Je recois alors un télégramme du général  Vy me demande l!autorisation d’accomplir ce que le général Hinh n’avait pu réaliser en Octobre dernier. En clair, il sollicite mon accord pour renverser Diem. (Le Dragon d’ Annam, trg 338)

 Rồi Quốc Trưởng muốn ông Diệm sang Pháp, điều đó có nghĩa như một giam lỏng ông Diệm ở bên Tây, dĩ nhiên, ông Diệm đủ khôn ngoan hiểu dụng ý để không làm theo ý Quốc Trưởng : “Je vous prie donc de vous rendre auprès de moi autant que possible avanr le 3 mai afin de joindre vos efforts aux miens. Un avion du service impérial des liasons aériennes sera spécialement mis à votre disposition à cet effet” (Le Dragon D’Annam, trg. 339 ).

Cái đê đã được ném xuống, trò chơi mới quyết định  sự tuyệt giao  giữa hai bên. Ông Diệm cũng hiểu mà quốc trưởng cũng hiểu. Vì thế, trong hồi ký, cái người  có đủ tư cách để lên án ông Diệm bội phản là Quốc Trưởng Bảo Đại . Ông này lại không làm .

 Xin đọc tóm tắt lập trường dứt khoát của Quốc Trưởng về vấn đền này như sau : (Diệm au pouvoir trang 343, sách đã dẫn) : “Je n’ai guère   d’ illusion, Je n’avais plus d!appui à Sàigòn, d!ailleurs ce message ne sera même pas diffusé au Việt Nam . Comme l’on pouvait s’y attendre, Ngô Dình Diệm est élu chef de l’état. Le 26 Octobre 1955, la République du Viet Nam est proclamée.”

Cuộc trưng cầu dân ý   là điều không thể nào tránh được, vì đường lối giữa hai người hoàn toàn trái ngược nhau. Giả dụ , một người làm chính trị nào khác trong trường hợp   ông Diệm có thể làm gì khác   hơn được. Một phê phán dựa trên nền tảng đức lý xét ra không thích đáng chút nào và cứ như thế , sẽ phải nói thế nào về những người tay chân ông Diệm, được tín cẩn nay đã lật đổ  ông.

3. Trích dẫn về những chứng từ trong đêm 08 tháng 05 năm 1963, tại đài phát thanh Huế.

Những chứng từ sau đây của các nhân chứng hầu hết nhìn tận mắt cho thấy một sự việc đã được nhìn, đuợc thấy rất khác nhau, nếu không nói đối chọi nhau. Người viết chỉ ghi những chữ, những câu viết đậm để độc giả dễ theo dõi sự dị biệt giữa các nhân chứng.

1. Chứng từ của ông  Nguyễn khắc Từ, Huynh trưởng gia đình Phật Tử., người đã có mặt từ đầu đến cuối bên cạnh Thượng Tọa Trí Quang. Ông viết  “Một chiếc xe mang tên Ngô đình Khôi cán bừa lên cả người đồng bào. Vài tiếng thét  ghê rợn. Mặc kệ , họ cứ tiến vào đám quần chúng. Giữa lúc ấy,  3 tiếng súng lục chát chúa khô khan vang lên,   và lựu đạn cay tung ra tứ phía. Từng loạt súng liên thanh và một tiếng nổ kinh hồn rung chuyển cả đài phát thanh. Tiếng súng vẫn nổ. Trong đài, chúng tôi vào ẩn trong trong phòng hoà âm gồm các Thượng Tọa, đại đức, ông Tỉnh trưởng và một  số chúng tôi.” ( trích trên web Giao Điểm, Giao Điểm trích từ tạp chí Liên Hoa, số ra ngày 15 tháng 1965, Sàigòn. )

Nhận xét: Cứ như ông viết, lúc xảy ra có tiếng nổ, ông ở trong đài cùng với các Thượng Toạ, Đại  Đức. Vậy bằng cách nào, ông có thể nhìn thấy cảnh xe tăng tiến vào và tiếng súng nổ.

2. Trích bài Phỏng vấn Thượng Toạ Thích Đức Tâm trong hai số báo ra ngày 21 và 22-5-1963, trích lại trên mục Nghiên cứu và Đối thoại  của Giao Điểm.

“Đêm càng  về khuya, Phật Tử càng tới đông. Thầy Trí Quang nói với ông Tỉnh trưởng: nếu các ông không cho phát  lại cuốn băng thì cho tôi nói với đồng bào vài câu để đồng bào yêm tâm ra về, chớ chẳng lẽ đồng bào tới  đây nghe phát thanh mà  không được nghe thì làm sao họ về. Ông Tỉnh trưởng bằng lòng. Thầy Trí Quang sắp nói thì có hai tiếng nổ rầm trời trong đám người tụ tập trước đài phát thanh.

Lúc ấy, bên phía chính quyền, ngoài ông Tỉnh trưởng, còn có Thiếu Tá Đặng Sĩ, phó tỉnh trưởng nội an, ông Đặng Phong, Cảnh sát Trưởng, tỉnh Thừa Thiên, ông Ngô Ganh và một vị Trung Tá. Hai tiếng nổ rầm trời ấy làm cho mọi người hốt  hoảng nhào vô đài phát thanh tránh miểng và hơi mù”

3. Ghi nhận của TT.   Trí Quang về biến cố PG 1963.

(trích lại trên giao Điểm. GĐ trích lại tạp chí Liên Hoa, số ra ngày 29 tháng 1 năm 1964.)   Rất tiếc, người viết không được đọc những ý kiến của TT Trí Quang về  biến cố 8-5-63, trước đài phát thanh.

4. Chứng từ của Bác sĩ Erick Wulff.

 Sau đây là bài trả lời cuộc phỏng vấn giáo sư Erick Wulff của báo Liên Hoa, số  Đặc biệt Phật Đản, ngày 26 tháng 5-1964. (trích lại trên Giao Điểm)

“Đêm 8-5-1963, tôi và anh Tôn thất Kỳ, sinh viên y khoa của tôi có đến xem cuộc lộn xộn trước đài phát thanh Huế. Khi chúng tôi vừa đến thì điều làm chúng tôi hốt hoảng là một loạt súng chát chúa vang  lên. Liền đó, xe thiết giáp kéo đến, tôi thấy rõ ràng có một chiếc xe mang tên * Ngô đình Khôi* có gắn súng 12-7, chĩa nòng súng vào phía dân chúng đang tụ tập nhốn nháo quanh đài phát thanh. Tôi đang bỡ ngỡ thì lại nghe tiếng nổ rất lớn. Rồi nhiều tiếng nổ khác tiếp theo.

Tiếp theo, ông đến nhà xác “Tôi thấy một cảnh tượng vô cùng khủng khiếp, 7 cái xác chết tan hoang, nhưng còn có thể nhận ra được, kẻ bị văng óc vỡ đầu, kẻ thì thân xác nát bấy, máu thịt đất cát cùng với óc não lẫn lộn be bét, còn một cái xác khác thì hoàn toàn tan nát từng mảnh không sao nhận ra được. Xem xét các xác chết, tôi thấy có ba xác bị bể sọ, quan sát kỹ chắc là do đạn ( cỡ súng lớn bắn ). Mà chắc là do súng  cỡ lớn trên xe thiết giáp NĐK bắn. Đạn này làm bay cả sọ, văng óc ra ngoài.

Kết luận ông đáp : Vì tôi đã tận mắt chứng kiến cuộc thảm sát ở Đài phát thanh Huế, tôi vô cùng xúc động trước  sự đàn áp dã man này nên tự thấy có bổn phận ủng hộ cho cuộc đấu tranh”

Chứng từ thứ hai của Bác sĩ Erich Wulff, giáo sư Đại học Y khoa Huế, từ 1961-1967..   bài trích dịch từ cuốn Vietnamesische Lehrjahre, 1972,  từ trang 129-142, trích lại trên trang Giao Điểm ).

“Tôi bỗng nghe một người nào đó gọi tên tôi. Đó là Tý, một người học trò của tôi. Tý hỏi tôi muốn đi cùng  đến nghe phát thanh lại bài nói chuyện sáng hôm nay của Thích Trí Quang, bài này sẽ được phát đi trong  vòng vài phút nữa và sẽ được truyền ra bên ngoài bởi những loa phóng thanh đặt trước cửa  đài.

Vài phút sau đó có tiếng ầm ầm của một đoàn xe thiết giáp. Có tất cả 5 xe thiết giáp xuất hiện. Một chiếc tìm cách đi thẳng vào khuôn  viên của đài phát thanh. Nó dừng lại chỉ cách Tý và tôi vài bước mà thôi.Và rồi những phát đạn đầu tiên được bắn ra từ nòng súng cà nông của xe thiết giáp, chúng tôi nghe khoảng 10 phát súng nổ kêu vang và khô khan. Tôi có thể nhìn thấy rõ  ràng đầu ngọn lửa phát ra từ họng súng của hai chiếc xe án ngự nơi  bồn tròn nằm phía đầu cầu  Trường Tiền. Sau đó một loạt súng trường bắt đầu nhả đạn. Sau đó, tôi đã gặp  Paul Miller, một người Mỹ còn trẻ làm việc trong văn phòng trường đại học. Anh ta kể rằng  họ đã đi qua đây” . Thiếu tá Đặng Sỹ, người cầm đầu đoàn quân đã bảo anh ta phải biến mất đi. Sắp có màn phải giết người, vì ông ta đã nhận được lệnh của cấp trên đến dẹp tan vụ bạo lọan tại đài phát thanh với bất cứ giá nào”

Sau đó, bác si  Wulff được một người y tá dẫn vào cổng sau nhà  xác. Tai#273;ây, ông ghi nhận như sau  “Không có ánh đèn điện. Dưới ánh sáng yếu ớt của  đèn bạch lạp, chúng tôi thấy có 7 thân người đầy máu me được đặt trên ba bàn khám nghiệm bằng đá. Từ chân đến ngực, thân thể họ còn nguyên vẹn. Nhưng năm cái xác, tất cả là trẻ em, thì không còn  đầu. Nơi một người phụ nữ thì có những vết đạn bắn vào cánh tay, vai và cổ.

Khi về đến cư xá giáo sư đại học, tôi vội bước đến phòng của Giáo sư Krainick. Tình cờ lúc đó bà Krainick đang đọc vào máy ghi âm bức thư gia dình hỏi thăm các người con. Trong sự hốt hoảng lúc bà và ông chồng nghe tôi kể lại những biến cố vừa xảy ra, bà đã quên tắt  máy. Cuộn băng ghi âm này  đã được dùng làm bằng cớ vào tháng 09-năm 1963 trước Ủy Ban Việt Nam của Liên Hiệp Quốc, kèm theo với lời khai danh dự chứng thật nguyên bản của  giáo sư Krainick.”

 Nhận xét : có lẽ những chứng từ của giáo sư người Đức được coi như có giá trị khả tín nhất, vì ông là người ngoại quốc. Vì vậy, ông mới được mời ra làm nhân chứng vào tháng 9-1963, trước Ủy Ban VN của LHQ. Nhưng như bạn đọc đã thấy, hai bản văn mà nội dung có nhiều chỗ phản lại nhau từng chi tiết một, không có chi tiết nào trong hai bản văn giống nhau đến độ có cảm tưởng do hai nhân chứng  viết lại chứ không phải một người. Bạn đọc nghĩ  sao. Người viết chỉ biết lắc đầu.

Trong vụ án Đặng Sĩ, nếu chính ông Bác sĩ làm nhân chứng kể lại Đặng Sĩ có nhiệm vụ mang xe tăng đến bắn phá, dẹp tan  biểu tình thì liệu  cái đầu của Đặng Sĩ có giữ nổi không.

Ở đây, xin nhắc lại vụ án Đặng Sĩ. Theo tác giả cuốn The Ambassador : “Vụ nổ Plastic ở đài phát thanh Huế, chính là do đại úy cố vấn đơn vị Biệt động quân tên là Scott đã xác nhận thừa lệnh trên trao cho Trung úy Thiều, thuộc sư đoàn I bộ binh ở Huế ném vào đám đông”.

Trong phiên tòa xử Đặng Sĩ, tòa đã gạt đi chứng cớ này vì liên quan đến người Mỹ và nhờ vậy Đặng Sĩ đã  không bị xử tử hình. Ông bị kết án chung thân khổ sai, nhưng sau đó được Nguyễn văn Thiệu ân xá vào năm 1966.

Xin trích dẫn “Bàn Tay Hoa Kỳ, Cái Chết Của ông Diệm, tác giả Ellen J. Hammer”  

“Thiếu tá Đặng Sỹ đã tới đài phát thanh hai giờ sau khi có tin dân chúng đã nổi lọan. Ông mang theo một đại đội trên thiết vận xa bánh cao  su. Vì không có lựu đạn cay nên họ được trang bị bằng lựu đạn  MK-3. Họ vẫn còn ngồi trên xe cách đài phát thanh khoảng 50 thước, thình lình có hai tiếng nổ long trời.  Sau dó, ông đã bắn ba phát súng lệnh. Đó là ám hiệu cho lính của ông dùng lựu đạn. Ít nhất có 15 trái được ném ra. Dân chúng chạy trốn để lại 7 xác chết và một trẻ em hấp hối. Nhiều xác chết co quắp, thịt xương văng tứ tung, nhưng không thấy vết tích của vũ khí giết người. Trong kho võ khí mà quân lính của Đặng Sỹ được xử dụng, không có một loại nào như vậy. Giới chức chính phủ nghĩ VC đã dùng bom Plastic, mặc dầu vị bác sĩ Phật giáo khám nghiệm tử thi nói ông chưa hề thấy những thương tích như vậy và không tin rằng những thương tích này gây ra bởi bom plastic hay lựu đạn. Những năm sau này, nhiều người trước đây đã làm việc với Việt Cộng nói họ không có bom plastic có sức công phá như vậy.”  (sđd, Ellen J. Hammer, trg 109 ).

“Đặng Sỹ bị  án tù chung thân khổ sai và  vồi thường các gia đình nạn nhân. Luật sư của ông đã nhấn mạnh về vấn đề bà Đặng Sỹ thuộc một gia dình Phật giáo và chồng bà đã thi hành theo lệnh. Khi cuộc xử án đã xong, luật sư biện hộ đã cho biết, tòa không xác định tính chất hay nguồn gốc cuộc nổ chết  người. Tướng Khiêm, lúc đó là bộ trưởng quốc phòng, sau này đã nói Đặng Sỹ phải bị kết án để làm vui lòng Trí Quang. Tờ Luân đôn Kinh tế đã gọi bản án  ‘một sự quá đáng tại một tòa án thiên vị.’  Ông ta nhận lệnh trên, và đã cẩn thận dùng lựu đạn “ nổ” ở cách xa những người bạo động do Trí Quang xách động. Rồi ông bị kết án về trách nhiệm tám cái chết mà nguyên nhân chưa được xác định” (sđd, Ellen J. Hammer, trang 267)

Một nhân chứng cuối cùng  trong “Thôn nữ tự truyện”, tác giả là vợ ông Trần văn Thường, Giám đốc Công an Trung phần:

“Trước khi đi giải toả đài phát thanh, Đặng Sỹ có hỏi ý kiến chồng tôi, anh khuyên Đặng Sỹ gọi tư lệnh vùng để lấy chỉ thị. Đặng Sỹ đã cho biết đã trình tướng Nghiêm, và ông Tướng đã ra lệnh Đặng Sỹ phải bảo vệ Đài phát thanh bằng mọi giá. Chồng tôi khuyên Đặng Sỹ chỉ dùng nước và hơi cay thông thường mà thôi và Đặng Sỹ cho biết không dùng phương tiện nào khác.

“Các em tử nạn không phải do xe tăng xích sắt của Đặng Sỹ cán chết mà sức nổ do bom Mỹ đặt ở cửa đài gây nên. Những dấu lằn in ngang dọc trên mình các em là vì các em bị sức nổ đẩy mạnh các em dính lên cửa lá sách của đài. Hôm đó, Đặng Sỹ chỉ sử dụng xe bọc sắt không có xích, mà chạy bằng bánh cao su.

“Đặng Sỹ không dùng bom hay mìn, kể cả lựu đạn, mặc dù hôm ấy trên xe có vài quả O.F, loại tấn công không gây chết  chóc. (Thôn Nữ Tự Truyện, tr. 203-204).

“Về sau, chuyện một Đại úy Mỹ đặt bom tại đài đã được xác nhận. Chính tiếng nổ bom  ấy đã mở màn cho cuộc đảo chánh 1-11-63.” (Thôn Nữ Tự Truyện,  trang 204).

Xin chấm dứt phần chứng từ về vụ Đặng Sỹ kể ra dã quá dài.

Nhận xét : Trong vụ án ĐặngSỹ, cái cốt lõi là khám thi thể các nạn nhân để tìm ra  loại chất nổ đó là gì? sức công phá của  nó?. Thủ phạm để lại dấu tay trên chính thân xác đám trẻ em  nạn nhân.  Điều này, không được  mấy ai quan tâm.

5. Chứng từ của   Thái Kim Lan trong Tiếng Du Ca Của Trịnh Công Sơn (Trích Giao Điểm). Việc cấm  treo cờ Phật Đản 1963 và việc xe tăng cán chết 14 em gia đình Phật Tử vào đêm Phật Đản tại thành phố Huế.

6. Chứng từ Mùa Phật Đản Đẫm Máu (Chính Đạo, tức Vũ ngự Chiêu, trích trong Giao Điểm.)

“Thiếu tá Đặng Sĩ, phó tỉnh trưởng Nội an, đích thân dẫn cảnh sát và lực lượng an ninh gồm 8 tuần thám xa của Địa phương quân, một  đại đội trừ bị bộ binh đến giải tán, Sỹ cho lệnh dùng vòi rồng phun nước, và rồi nổ súng vào  đám đông, 9 người chết và 14 bị thương. (US-Vietnam  Relations, 1945-1967, BK 3, p.5). Trong số người chết, có hai thiếu niên bị tuần thám xa cán chết”

7. Lời tường thuật của Stanley Karnow :

“Several thousand gathered peacefully in front of the city’s radio station to listen to loudspeakers broadcast a speech by Tri Quang, a buddhist leader. The station director canceled the address, claiming that it had not be  censored. He also telephoned Major Xi, who dispatched five armored cars to the scene. The commander ordered the crowd to disperse, then told his men fire. The people stampeded. A woman and eight children died, either shot or trampled in the melee…

Diem’s regime blamed the whole incident on the Vietcong, but a distinguished physician who had examined the victims confirmed the Buddhist account of their deaths, the government suppressed his  report. Outraged, the Buddhists demanded among other things  that the officials responsible for the  killings be punished. Diem ignored them.”  (trích trong Viet Nam, a History, trang 279 )

8. Chứng từ của Nguyên Vũ:

“Khởi đi từ khẩu lệnh cấm treo cờ Phật giáo của ông Diệm, cuộc chống đối của Tăng Ni, Phật tử và quyết định đàn áp của chế độ đưa đến cuộc thảm sát man rợ trước đài phát thanh Huế, khiến 9 người thiệt mạng kể cả hai thiếu nhi- một thứ tội sát nhân, vi phạm luật chiến tranh và vi phạm nhân quyền * ( trích Ngàn Năm Soi Mặt, trang 33)

9.  Chứng từ của LM Cao văn Luận:

“ Trong lúc các nhà chức trách đang tìm cách giàn xếp, thì một trái lựu đạn không biết từ đâu đã nổ ngay giữa đám biểu tình làm nhiều người chết và bị thương. Cuộc tranh đấu của Phật Giáo chính thức bùng nổ từ ngày đó.

Có vài giả thuyết được nêu lên về xuất xứ của trái lựu đạn. Giả thuyết thứ nhất, và khó tin nhất cho rằng một cán bộ chính quyền, hoặc là binh sĩ hay cảnh sát bảo vệ đài phát thanh đã ném trái lựu đạn. Một giả thuyết thứ hai đổ cho mật vụ Mỹ là tác giả trong vụ  này. Giả thuyết thứ ba thì cho rằng chính phe đấu tranh, tôi xin nói là phe đấu tranh trong đó còn nhiều thành phần khác ngoài Phật Giáo đã thâm độc cho ném lựu đạn gây nên cảnh đổ máu để tạo căm phẫn trong quần chúng Phật tử hầu khích động mạnh hơn cuộc đấu tranh và dồn hai bên đến cái thế một sống, một chết với nhau. Tôi chỉ nêu lên những giả thuyết được bàn tán lúc bấy giờ, mà không nghiêng theo giả thuyết nào”  (Trích Bên Dòng Lịch Sử, trích lại trong Ngàn Năm Xứ Huế, Nguyễn Châu, Đoàn văn Thông, trang 344-345).

10. Chứng từ của cụ Đỗ Mậu

Cụ Đỗ Mậu viết   Không ngờ trong lúc Tỉnh trưởng  Nguyễn văn Đẳng, ông Ngô Ganh và Thượng Tọa Trí Quang đang thảo luận để tìm một  giải pháp dung hoà thì nhiều tiếng súng  và một quả lựu đạn phát nổ làm cho 7 thường dân chết, 5 binh sĩ và một thường dân bị thương. Máu đã đổ, cuộc tranh đấu của Phật giáo bắt đầu…” (VN Máu Lửa... trang 492 ). Ở một chỗ khác, cụ dẫn chứng lời tường trình của ký giả David Halberstam như sau “Đầu tiên, lời thuyên bố của chính phủ là một tên Việt Cộng đã ném vào đám đông một quả lựu đạn. Nhưng dần dần luận điệu của chính phủ bị mất giá trị vì càng ngày càng có thêm nhiều chi tiết cho thấy sự thật. Một nhóm Giáo sư người Đức dạy Đại học Huế đã chụp được hình ảnh chứng minh luận điệu của chính phủ là sai. Đã thế, chính phủ lại vội vã cho chôn  xác các nạn nhân mà không để cho bác sĩ giảo nghiệm để một lần nữa đổ lỗi cho Việt Cộng.” (Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi,  Trang 613).

11. Bản phúc trình của ông Lê Dư, Trưởng Ty Cảnh sát quốc gia Thừa Thiên kính gửi Thiếu Tướng Chủ tịch Ủy ban điều hành Trung nguyên Trung phần. Khẩn. Tuyệt mật.

“Sau nửa giờ kêu gọi vẫn không kết quả, các lực lượng an ninh buộc phải dùng đến biện pháp xịt nước. Lúc này số đồng bào hiếu kỳ đứng bên ngoài vòng lần lượt giải tán trở về, còn lại số Phật tử vì có lời kêu gọi của sư Trí Quang chẳng những không chịu giải tán mà lại còn vào thêm đông ở khuôn viên đài phát thanh, dùng lời lẽ khiêu khích chống báng  việc làm của lực lượng an ninh, ném đá vào đài phát thanh.

Trước tình trạng đó, Thiếu tá phó tỉnh trưởng nội an ra lệnh tung lựu đan hơi cay giải tán đám đông thì bọn đối phương đã lợi dụng cơ hội ném plastic vào cửa gương phòng vi âm đài phát thanh, nhưng không lọt vào được, lại bật nổ tại thềm làm   cho 8 em bé  bị chết và mấy chục người bị thương.

Mãi hơn một giờ sáng, trật tự mới vãn hồi * ( Trích Tổng kết nội vụ Phật Giáo và Đại học. Lê Dư Trưởng Ty cảnh sát quốc Gia Thừa Thiên.)

12. Lời khai của Trưởng đoàn SVPT tại  sở Công An Trung nguyên Trung phần

+ Anh Hoàng văn Giàu, đoàn trưởng SVPT Huế khai như sau:  Tối hôm đó đương sự có đến đài phát thanh Huế và đứng ở góc Morin cũ. Khi xảy ra vụ biến động, đương sự bị lựu đạn cay, nhưng vẫn hô to:  “Đồng bào hãy từ từ mà chạy, họ chỉ bắn chỉ thiên thôi.”   Trước tình hình căng thẳng đó, đương sự lo sợ nên  chiều ngày ngày 9-5-63 vào Đà Nẵng để lánh nạn.

+ Trong một nhật ký của anh Hoàng văn Giàu bị chính quyền tịch thâu, anh có ghi lại những điều sau đây : * Cụ thể anh đã dùng những  danh từ sau đây bầy tỏ lập trường chính trị chống đối chính phủ : ngu si, ngu đần, thủ đọan vặt, mù quáng, lang sói, lưu manh, lũ điên, khiêu khích, gia quyến, giáo quyền và chính quyền. Để gán cho chính quyền của Ngô Tổng Thống, đương sự đã có những câu:

- “Chuyện của tôi là chuyện đạo, nhưng thực sự là bị chi phối  bởi một dụng tâm khác hơn.

- “Đạo đức với tôi chỉ là việc phụ.

- “Hành động của tôi không phải hoàn toàn cho Đạo.

- “Không ưa, không còn tin tưởng chế độ nữa.

- “Mỗi hành động của tôi là một sự đóng góp làm cho chế độ hiện hữu đi lần đến chỗ sụp đổ.

- “Tôi đã biết cuộc tranh đấu của tôi là chỉ làm lợi cho những kẻ đầu cơ chính trị hơn là cho Phật Giáo, song tôi vẫn phải làm, miễn sao cho chính phủ hiện hữu (đánh máy không rõ)  thì thôi.”

- Đương sự cũng xác nhận rằng đương  sự đã biết các sư Thích Tịnh Khiết, Thích Trí Quang, Thích Thiện Minh, Thích Trí Thủ là những người chỉ huy Phật giáo đã kéo đoàn SVPT do đương sự làm đoàn trưởng vào cuộc đấu tranh tôn giáo chính trị nhằm mục đích lật đổ chính quyền. (Chữ in đậm trong tài liệu) nhưng đương sự vẫn tích cực hoạt động theo sự chỉ đạo của các sư miễn sao lật đổ được chính quyền hiện hữu (chữ in đậm trong tài liệu) ( Trích trong hồ sơ Tổng kết nội vụ Phật giáo và Đại học. Tài liệu : Lê Dư, Trưởng Ty cảnh sát Quốc gia Thừa Thiên, kính gửi Thiếu Tướng Chủ tịch Ủy ban điều hành Trung nguyên Trung Phần. Khẩn. Tuyệt mật.   Từ trang 62-69).

13. Chứng từ của Kiêm Đạt “Lịch sử Tranh đấu Phật giáo VN”, do Phật học viện Quốc tế xuất bản: “Vào 9 giờ 30 tối. ĐặngSĩ ra lệnh cho đại bác bắn nhiều loạt đạn mã tử. Tiếp theo đó là đủ thứ khí giới bắn vào đám đông : Lựu đạn tấn công, súng bắn sối xả và ba xe Hồng Thập Tự chất đầy người bị thương.”

14.  Chứng từ của  Thiếu Tướng Nguyễn cao Kỳ : “On may 8, 1963, Hue’s Buddhists celebrate Buddha’s birthday, thronging the streets with banners and flags. Nhu’s security forces called this an antigovernment demonstration and ruthlessly suppressed it. When an angry crowd gathered at the government radio station, the deputy  province chief, Major Dang Sy, used first fire hoses and then tear gas on the outraged Buddhists. When the crowd refused to disperse, he issued live ammunition and grenade to his troops. By the time the carnage was over, nine people were dead.”.  (Trích Buddha’s child... Nguyen cao Kỳ, trang 87)

15. Trích chứng từ   của Tướng Tôn thất Đính  như phần tổng kết.  

“Thảm kịch kinh hoàng của biến cố đài phát thanh là như vậy. Nhưng cho đến nay, chưa có một ai có thể nói rõ về sự thật của  biến cố đài phát thanh đêm 8-5-63 như thế nào cả. Chúng tôi đã tận lực sưu tầm từ 1963 đến giờ…, đả đọc và phân tích tất cả tờ trình được đệ lên trình TT Diệm. Chúng tôi đã hội kiến với TT Trí Quang, cố TT Thiện Minh, Cố TT Mật Hiển, cố TT Mật Nguyện, TT Thiện Siêu, tiếp xúc với Gia  đình Phật Tử, sinh viên Phật tử, nhưng cho đến bây giờ, chúng tôi cũng không thể nào quy định được đâu là sự thật. Đọc lại những gì đã được ghi lại trong một số tài liệu của Phật giáo năm 1963, chúng tôi thấy vấn đề  ghi chép quá đơn giản. (trg 321) . Các tài liệu về phía Phật Giáo, Hoa Kỳ đến phía VN , suốt 35 năm qua cũng chỉ đưa ra những nhận xét chung, hay những giả thuyết, chứ không ai dám cả quyết về bất cứ một sự  thật nào. Về kỹ thuật quân sự, lúc bấy giờ VNCH không thể có bất cứ một loại chất nổ nào có tính công phá lạ lùng như vậy, ép dẹp thân xác, thổi bay đầu làm cho khi  khám nghiệm các tử thi, ngay các  bác sĩ tại Huế cũng không quy định được bất cứ lọai chất nổ nào. Họ không thể nói  đó là lựu đạn, plastic hay bất cứ một cật gì. Thậm chí còn có dư luận cho là bị các  xe bọc sắt ( nhưng bánh cao su ) của lực lượng cảnh bị nội an do TT Đặng Sĩ cán nát, nhưng trong hoàn cảnh hàng ngàn người ở đài phát thanh, các loại xe ấy không di chuyển dễ dàng vào tận hành lang của đài  là nơi xảy ra tai nạn.” (Trích: 20 Năm Binh Nghiệp, trang  323)

Xin tạm ngung bài viết ở đây, vì còn bao nhiêu vấn đề gai góc chưa có lời giải đáp rõ ràng minh bạch. Tài sản gia đình Ngô đình Diệm, Nhu, Cẩn. Ai ra lệnh giết ông Diệm Nhu, vụ án ông Cẩn do bàn tay ai, Cabot Lode hay Nguyễn Khánh, Biến cố Phật giáo 1966, Bàn tay của CIA, của Cộng Sản nhúng vào lúc nào, trường hợp nào. Có bao nhiêu  nạn nhân thực sự đã bị giết cách này cách khác dưới thời Ngô Dình Diệm. Có những thay đổi gì trong  giới Phật Giáo trước và sau  1-11-63 và những thay đổ này cho thấy có sự tiến bộ, sự phát triển về mặt đạo đời như thế nào. Hình như không có ai quan tâm đến vấn đề này.

Cho dù thế nào đi nữa, lịch sử biến cố 1-11 vẫn  có một khoảng trống cần bổ khuyết: Thiếu tài liệu của phía người Cộng Sản như Stanley Karnow viết : “Il fut en particulier très difficile de rendre compte de la guerre du côté Communiste puisque les documents saisis, la propagande… ne racontaient qu’une partie de l!histoire. Je crois que les dirigeants nord-Vietnamiens et Vietcong ont commis une grave erreur en refusant de fournir des informations aux médias occidentaux.”  (Việt Nam..., trang 420). Ông Nguyễn ngọc Giao trong một số báo Diễn Đàn Paris, xuất bản ở Pháp cũng có ý tưởng   tương tự : Bao lâu tài liệu phía CS chưa mở ra cho công chúng. Lịch sử VN  vẫn là những mảnh rời rạc.

Phần người viết, có một cảm nghiện cần nói ra. Rất may, những thế hệ con cháu chúng ta đã  không biết, không hiểu được những biến cố suốt  nửa thế kỷ qua. Chúng sống không mặc cảm, không hệ lụy, không bị dầy vò bởi những ám ảnh của quá khứ. Chúng sống hồn nhiên , tự tại thoát ra khỏi não trạng người lớn với những dầy vò hận oán, lội bì bõm trong quá khứ không rút chân ra được. Người viết xin trích dẫn một câu của ông Vũ ngự Chiêu viết trên Đi Tới số 73-74 :

“Điều không thể phủ nhận là một dân tộc muốn vượt tiến phải nghiền ngẩm những trang quốc sử trung thực của chính đất nước, dân tộc mình.” Đó chỉ là lý thuyết, lý tưởng. Thử hỏi , bản thân tác giả đã học hỏi được gì từ những trang quốc sử được gọi là trung thực đó cho bản thân mình ?

Nguyễn văn Lục 

   

Mark_03.gif (833 bytes) Go to top page

half_under_water_sw.gif (3365 bytes)

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net