
Nguyễn Trần Việt
Như chúng ta đã biết, kể từ
sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, có nhiều chuyện đã được bạch hóa
hồ sơ về những ngày cuối cùng Việt Nam Cộng Hòa, nhờ sách báo cũng
như sự giải mật tài liệu của chánh phủ Hoa Kỳ, nhân đây để tìm hiểu
hư thực “Saigon et Moi” như thế nào? xin
trích dẫn lần lượt để quý độc giả cùng nhau thẩm định như sau :
Mãi đến tháng 4 năm
1991, nguyệt san Diễn Đàn Việt Nam số 4 phát hành tại miền Nam nước Đức,
do hai nhóm Hướng Việt và Khởi Hành chủ trương & thực hiện, đăng tóm
lược hồi ký của Mérillon Cựu Đại Sứ Pháp tại Việt Nam (Những ngày Cuối cùng của VNCH) từ
trang 02 đến trang 07, và viết Lời Toà Soạn (LTS) như sau :
LTS : Tại khách sạn La Fayette, quận 6,
Paris, ông Mérillon, nguyên đại sứ Pháp tại Việt Nam Công Hòa cho tới năm
1975, đã ra mắt cuốn hồi ký Saigon et Moi (Sài gòn và Tôi) trước một số
cử tọa thượng thặng như 3 vị cựu Thủ tướng Giscard D' Éstaing, Pierre
Mesmer, Jacques Chirac (ông Chirac còn là chủ tịch đảng Cộng Hòa RPR),
Jacques Hunzinger (Ủy viên ngoại vụ đảng Xã Hội Pháp), Louis Mermas (Chủ tịch Hạ Viện) v.v... Theo một nguồn tin được
biết là cuốn sách này đã bị Bộ Ngoại Giao cho lệnh thu hồi. Rút cuộc,
chúng ta chỉ được thấy một bản tóm tắt dưới đây do một nhân vật
tình cờ có được cuốn đó. Chúng tôi xin đăng bản tóm lược của ông
Vũ Hải Hồ, Paris, để biết được ít nhiều thêm về những việc làm của
những vị đã, đang cầm vận mệnh đất nước cũng như những thế lực
ngoại bang trong những ngày hấp hối của Việt Nam Cộng Hòa.
Báo Viên Giác số 80,
phát hành tháng 4 năm 1993 cũng tại nước Đức đã đăng dề tài nêu
trên, từ trang 64 đến trang 69, nhưng có thêm phần Lê Đức Thọ Sỉ Mạ Tôi
và Các Tướng Lảnh Bị Nhốt Tại Bộ Tổng Tham Mưu, nhưng không có LTS,
được biết bài này đã được tạp chí Dân Tộc Việt đăng trước, báo
Viên Giác trích đăng lại với tựa như sau :
18 năm sau ngày Cộng Sản
cưỡng chiếm miền Nam, nghe lại lời kể của Đại Sứ Pháp Về : Những
Ngày Cuối Cùng Của Việt Nam Cộng Hòa
(bài này đã đăng quá
nhiều báo đăng nên không cần trích ra đây cho mất thời giờ)
Trong khi đó, báo Ngày
Nay số 109 tháng 4 năm 1993 đăng từ trang 42 đến trang cuối là 108, phát
hành tại Hoa Kỳ cũng đề tài trên, ngoài ra có lồng hình của ông Nguyễn
Hữu Thọ và bà Nguyễn Thị Bình, trong Lời Toà Soạn xin trích dẫn như
sau:
LTS : Ngày 23-03-1985, tại
khách sạn La Fayette, quận 6, Paris, ông Mérillon, nguyên đại sứ Pháp tại
Việt Nam Công Hòa cho tới năm 1975, đã ra mắt cuốn hồi ký Saigon et Moi
(Sài gòn và Tôi) trước một số cử tọa thượng thặng như 3 vị cựu Thủ
tướng Giscard D'Estaing, Pierre Hesmer, Jacques Chirac (ông Chirac còn là chủ tịch
đảng Cộng Hòa RPR), Jacques Junzinger (Ủy viên ngoại vụ đảng Xã Hội
Pháp), Louis Mermas (Chủ tịch Hạ Viện)
v.v... Ngay
sau khi biết có tập hồi ký trên, chúng tôi đã nhờ thân hữu tại Paris
đặt mua, nhưng không tiệm sách nào có. Theo một nguồn tin được
biết là cuốn sách này đã bị Bộ Ngoại Giao cho lệnh thu hồi. Rút cuộc
chúng ta chỉ được thấy một bản tóm tắt dưới đây do một nhân vật
tình cờ có được cuốn đó. Chúng tôi xin đăng bản tóm lược của ông
Vũ Hải Hồ ở Paris.
Nếu chúng ta so sánh Lời
Tòa Soạn của báo Dìễn Đàn Việt Nam và báo Ngày Nay, thì thấy tên các
nhân vật Pháp khác nhau : Pierre Mesmer/ Pierre Hesmer - Jacques Hunzinger/ Jacques
Junzinger (Ủy viên ngoại vụ đảng Xã Hội Pháp). Đặc biệt báo Ngày Nay
xác nhận đăng thêm : “Ngay sau khi biết có tập hồi ký trên, chúng tôi
đã nhờ thân hữu tại Paris đặt mua, nhưng không tiệm sách nào có”
Riêng báo Đất Mẹ 56
phát hành tháng 4 năm 1995 tại Houston, Texas USA do ông Nguyễn Phi Thọ làm chủ
nhiệm & chủ bút cũng đăng đề tài trên từ trang 21 đến trang 33, với
Lời Toà Soạn xin trích dẫn như sau :
LTS : Nhân ngày 30 tháng
4 năm 1995, tưởng nhớ một kỷ niệm đau buồn : Miền Nam Việt Nam bị
rơi vào tay Cộng Sản, hàng trăm ngàn quân cán chính phải đi vào vòng lao
tù cả đến hàng chục năm. Đây là hậu quả
của một nhóm người không có khả năng lãnh đạo đất nước, đã tự
ý quyết định những giải pháp ngu xuẫn trong những giờ phút hấp hối của
VNCH. Lời kể lại của cựu Đại Sứ Pháp Mérillon chứng minh rằng : Đất
nước rơi vào tay Cộng Sản không phải vì quân lực VNCH yếu kém, nhưng rõ
ràng chỉ vì cái đám “cào cào” vô tài bất tướng, không có khả năng
lãnh đạo, hèn nhát trong tinh thần và quyết định còn thua cả thằng bé
đánh giầy 10 tuổi. Chúng tôi hy vọng rằng, sai hai mươi năm, dân tộc Vìệt
Nam ôm mối hận chưa nguôi, sẽ là bài học cho những ai ở hải ngoại, nếu
cảm thấy mình không đủ tài sức và phong cách, thì đừng vì có tự do
mà muốn làm lãnh tụ. Hãy lượng sức mình trước khi muốn dìu dắt hai triệu ngươì Việt di cư theo
mình trong những mưu đồ bất chánh. Khi tướng Dương Văn Minh nhảy lên
làm Tổng Thống, bất chấp hiến pháp, là ông đã có ý định đầu hàng
Cộng Sản chứ không như ông tuyên bố sau này :
Không muốn biến Sàigòn thành một biển máu. Lý do thứ hai, tướng
Minh hy vọng sau khi dâng miền Nam cho Cộng Sản, ông sẽ có một chỗ ngồi
tốt lành trong chính phủ Hà Nội (hoặc có thể trong chinh phủ MTGPMN), và
rồi được CSVN ca ngợi. Hy vọng này phát xuất từ sự tin tưởng vào người
em ruột của ông là tướng Dương Văn Nhật (*)
đang phục vụ trong quân đội Cộng Sản Hà Nội. Nhưng tiếc thay, đại sứ
Mérillon đã so sánh khả năng của tướng Dương Văn Minh chỉ bằng một em
bé đánh giầy 10 tuổi, thì tướng Dương Văn Nhật cũng chỉ là một em
bé bấn đậu phọng 8 tuổi. Tướng Nhật chẳng là cái gì trong nhóm lãnh
đạo của Hà Nội. Một Dương Văn Minh đã bị Đại Sứ Pháp so sánh bằng
đứa bé đánh giầy 10 tuổi, thì chúng ta cũng đừng để cho Cộng Sản Việt
Nam đánh giá khả năng lãnh đạo người Việt di cư giống như vậy.
(*)
Báo Đất Mẹ và báo Ngày Nay đăng chức vụ em tướng Dương Văn Minh là
thiếu tướng, trong khi các báo Diễn Đàn Việt Nam và Viên Giác đăng chức
vụ là thiếu tá với tên là Dương Văn Nhựt, ngoài ra chỉ có báo Đất Mẹ
đăng tên Dương Văn Nhật ? và nhắc lại lời Đại Sứ Pháp Mérillon để
mạ lỵ tướng Minh. Riêng báo Phụ Nữ Diễn Đàn số 140, năm 1995 trang 71
do Đặng Văn Nhâm viết em tướng Minh là Đại Tá Dương Văn Nhựt ? Và
mãi đến ngày 01-09-1996 báo Tuổi Trẻ chủ nhật, số 34-96 năm 14 phát
hành tại Việt Nam, có đăng xác nhận em của Đại Tướng Dương Văn Minh
là thiếu tá Dương Văn Nhựt tức Mười Ty móc nối Dương Văn Minh để chấp
nhận đầu hàng vào ngày 30-04-1975.
Đại Sứ Pháp Mérillon
kể về :
Những Ngày Cuối Cùng Của
Việt Nam Cộng Hòa
Ngoài ra, trong báo Lên
Đường phát hành Houston, Texas, U.S.A - hai tháng 1 lần, bộ 1, số 4 từ
ngày 15 tháng 4 đến 15 tháng 6 năm 1989 do ông Chính Đạo làm chủ nhiệm,
đăng đề tài trên từ trang 32 đến trang 45, nhưng thiếu phần Đại Tướng
Dương Văn Minh liên lạc với người em Dương Văn Nhựt và bị Đại Sứ
Pháp nói : “... Công việc này không cần đến một đại tướng, trao cho
một em bé đánh giày 10 tuổi cũng làm được”, xin trích dẫn như sau :
LTS : Những ngày cuối
cùng năm 1974, giữa cao trào chống đối Thiệu ở miền Nam, người ta không
thể không chú ý tới lời tố cáo của Thiệu về “một âm mưu” giữa
bọn “ngụy hòa” và “thực dân Pháp”. Lời tố cáo của
Thiệu không phải vô bằng chứng: Tổng Thống Pháp Giscard d'Éstaing, qua
đường dây Đại Sứ Jean Marie Mérillon và Trần Văn Hữu, đã muốn dàn xếp
môt chế độ chuyển tiếp, trung lập màu hồng cho Nam Việt Nam. Lá bài
được người Pháp “đánh bóng” là cựu Đại tướng Dương Văn “Big”
Minh, với sự trợ giúp của các tướng lãnh từng phục vụ trong quân đội
Pháp như : Phạm Văn Phú, Ngô Quang Trưởng, Trần Văn Đôn .v.v.. Một cựu
tướng lãnh nhảy dù Pháp tướng Gilles, cũng liên lạc với các tướng
Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ . v.v.. để thuyết phục họ thành lập một
chính phủ liên hiệp với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Bởi thế, chính
Đại Sứ Mérillon đã gặp Thiệu và dàn xếp với Tòa Đại Sứ Mỹ để Thiệu từ chức vào ngày 21 tháng 4 năm
1975. Đại cương, người ta chỉ biết
như thế. Tuy nhiên, trước khi Lên Đường lên khuôn, cựu Trung Tá Trần
Thiện Hiệu, chủ tịch gia đình TQLC tại Hoa Kỳ, có nhã ý gởi cho chúng
tôi một bản dịch trích từ hồi ký của Đại Sứ Mérillon, xuất bản năm
1985. Dịch giả là ông Vũ Hải Hồ ở Paris. Mặc dù đã tham khảo cuốn hồi
ký của Mérillon cách đây ít năm, chúng tôi không dám đoan chắc ông
Mérillon đã nói hết sự thực hoặc bản dịch trích đăng sát nguyên bản
hay không? Dầu vậy, đây là một tài liệu nên đọc. Trong một số tới,
chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này. Chúng tôi cũng tăng số cước chú,
rất mong quý vị có kinh nghiệm hoặc trực hoặc gián tiếp với kế hoạch
“trung lập màu hồng” này, tiếp tay chúng tôi làm sáng tỏ vấn đề
hơn.
Nếu cứ tiếp tục
trích dẫn các tạp chí như đã dẫn và các sách ví như : Việt Nam Huyết
Lệ Sử của Cao Thế Dung tại trang 849, do Đồng Hương xuất bản năm 1996
và trong sách Đất Việt Người Việt Đạo Việt của Phan Thiết, do Văn
Nghệ Tiền Phong Xuất bản năm 1996 tại trang
Tôi đọc Việt Nam Máu Lửa... 251 cũng lồng vào đề tài “Saigon
et Moi” thì còn nhiều lắm không thể chấm dứt được...
Và gần đây, người viết
đã có dịp đọc bài Việt Nam Cộng Hòa 10 Ngày Cuối Cùng của Trần Đông
Phong trong tạp chí Văn Hóa phát hành tại Nam California Hoa Kỳ tháng 5, 6 và
7 năm 2003, do ông Lý Kiến Trúc làm chủ nhiệm & chủ bút, cho nên có điện thư hỏi ông Trần Đông
Phong, được tác giả trả lời qua e-mail đề Wed, 16 Jul 2003 15:50:13 - 0700
(PDT), xin trích dẫn như sau : “Về câu nói của cụ Trần Văn Hương với
Đại sứ Martin, tôi đã lấy trong bài của Gs Nguyễn Ngọc An đã được
đăng trên báo Thời Luận tại Los Angeles. Tôi hiện có giữ bài đó. Còn về
lời của cụ nói với Đại Sứ Mérillon thì tôi trích trong “Saigon et Moi”
của ông Mérillon. Chúng tôi ở bên này không hề được đọc cuốn “Saigon
et Moi” vì nghe nói đã bị tịch thu ngay sau khi xuất bản, tuy nhiên tại Mỹ
có người có được một bản cuốn sách này và đã đăng trên báo một
phần nói về những ngày sau khi ông Thiệu từ chức. Nhân tiện, tôi cũng
xin nhờ ông nếu có thể thì cho tôi biết thêm về cuốn sách này.”
Hơn nữa, trong các Lời
Toà Soạn đã dẫn có nhắc đến những nhân vật Pháp tham đự lễ ra mắt
quyển sách ngày 23-3-1985 viết không đúng, bởi vì ông Valéry Giscard
d'Éstaing (đã làm Tổng Thống Pháp 1974-1981, chớ không phải cựu Thủ Tướng
Pháp), ông Pierre Messmer chớ không phải Pierre Mesmer hay Pierre Hesmer, ông
Pierre Messmer này làm Thủ Tướng Chánh Phủ từ 1972-1974 thời Tổng Thống
Georges Pompidou (1969-1974). Riêng ông
Jacques Chirac đã từng làm Thủ Tướng Chánh Phủ (1974-1976) thời Tổng Thống
Valéry Giscard D’Éstaing và (1986-1988) thời Tổng Thống Franç
Sở dĩ tôi nêu ra đây
đế thấy cái sai có thể vì sơ xuất họ
tên và chức vụ của các nhân vật uy tín trong chánh quyền Pháp để sáng
tỏ vấn đề. Hơn nữa, sự trích dẫn
các tạp chí, các sách và bài viết vừa qua người viết không nhầm mục
đích để bêu xấu ai hết, mà để chứng minh quyển “Saigon et Moi” của
Jean Marie Mérillon, Cựu Đại Sứ Pháp tại miền Nam không có, không biết
người viết LTS lấy ở đâu mà tham khảo?
Để chứng minh quyển
“Saigon et Moi” không có, xin quý độc giả tìm đọc tác phẩm “Những
Ngày Cuối Cùng Của Ngô Đình Diệm”, tác giả là Giáo sư sử học Hoàng
Ngọc Thành và Bà Thân Thị Nhân Đức, trang 622 và 623, phần Phụ Lục có
bản phóng ảnh thư và chữ ký của ông Mérillon, đề ngày 12-11-1990, đại
sứ Pháp tại Nga, phủ nhận quyển sách nói trên.
Xin trích dẫn nguyên văn
trang 622 như sau :
1. Bức thư trả lời của
cựu đại sứ Jean Marie Mérillon tại Sàigòn năm 1975, phủ nhận ông là
tác giả quyển “Saigon et Moi” hay bất cứ sách nào khác về Việt Nam.
Nguyên nhân là chúng tôi đã không tìm mua được sách “Saigon et Moi”, khi
qua Ba Lê năm 1989, nên liên lạc với ông Jean Marie Mérillon khi ấy làm đại
sứ Pháp tại Mạc Tư Khoa. Xin nhắc lại là các báo Việt tại Pháp có
đăng bản tóm tắt của sách “Saigon et Moi” như bản tóm lược của ông
Vũ Hải Hồ ở Ba Lê và việc ra mắt sách ngày 23-3-1985 tại khách sạn La
Fayette, quận 6, trước một số cử toạ gồm những nhân vật như cựu Tổng
Thống Giscard d'Éstaing, Jacques Chirac, Pierre Mesmer. v.v..
Và trích trang 623 nguyên
văn thơ ông Jean Marie Mérillon gởi Giáo sư tiến sĩ Hoàng Ngọc Thành, đã được sách Ki
tô giáo : Từ thực chất đến huyền thoại đăng lại nơi trang 237 do
Văn Hóa xuất bản, Văn Nghệ phát hành năm 1996 tại Hoa Kỳ, do Nguyễn Hồng
Ngọc viết và báo Văn Nghệ Tiền Phong 464, phát hành năm 1995 tại trang 85
do ông Lê Xuân Nhuận viết như sau :
Répuplique Franç
--------------
Ambassade De France
En Moscou, 12th November 1990
U.R.S.S
--------------
L'Ambassadeur
Dear Dr. Thanh,
Your letter of the 22nd
October has just reached me. I was most touched by it and very pleased to hear from you.
As fas as the book “Saigon
et Moi” is concerned, I must make a point particularly
clear. I did not write this book nor have I written any other about Vietnam; therefore the
work that you are enquiring about is not mine. However, I am intrigued by this publication
and should be glad to have any information relating to it.
Should I visit California, I
shall not fait to take advantage of your kind invitation to a Vietnamese dinner.
Wishing your new book every
success, I remain.
Và bức thơ này, đã được báo Phụ Nữ
Diễn Đàn số 140, trang 71 phát hành năm 1995 tại Hoa Kỳ do ông Đặng Văn
Nhâm viết, đã chuyễn dịch sang Việt Ngữ xin trích dẫn như sau :
Tiến sĩ Thành thân mến,
Tôi vừa nhận được
thơ ông đề ngày 22-10. Tôi xúc động nhiều và rất vui mừng nhận được
tin ông. Hiện nay, liên quan đến quyển sách “Saigon et Moi”, tôi cần phải
đặc biệt xác định rõ vấn đề là tôi đã không viết quyển ấy và cũng
không viết bất cứ điều gì khác về Việt Nam. Do đó, điều ông nói ấy
không phải chuyện của tôi. Tuy nhiên, tôi cũng tò mò về chuyện xuất bản
sách này và cảm thấy thú vị được biết tin tức liên quan đến chuyện
ấy. Nếu tôi đến thăm California, tôi sẽ không quên lời mời thân ái đến
dùng bữa cơm Việt Nam của ông. Mong ước quyển sách mới của ông thành
công mọi mặt. Tôi vẫn luôn là người bạn chân thành của ông.
Jean Marie Merillon
(ký tên)
Hơn nữa, trên báo Ngày
Nay số 341, phát hành tại Houston, Hoa Kỳ ngày 15 tháng 4 năm 1996 từ trang
A5 đến A7 và lại được báo Thời Báo (Bắc California- Hoa Kỳ) đăng lại
toàn bộ bài viết của Ngự Sử, ở trang Tạp Ghi, xin trích dẫn như sau :
Giới Thiệu của Yên
Mô
Tháng 4 năm 1989 có tin
loan báo đại sứ Pháp tại Việt Nam thời 1975 đã cho ra mắt sách hồi ký
“Saigon et Moi” với nhiều tình tiết
éo le và rất là có vẻ hợp lý. Năm 1995 khám phá ra là “Con Cá Tháng 4”. Bài viết đặc biệt sau đây của tác giả
Ngự Sử tại Texas đăng trên Ngày Nay quả thực là những tài liệu mà
chúng tôi thấy cần giới thiệu với bạn đọc Bắc California.
YÊN MÔ
LTS : Ngự Sử là bút hiệu
của một nhà ngoại giao thời Việt Nam Cộng Hòa từng phục vụ tại nhiều
nhiệm sở ở Á Châu. Ông định cư ở Houston
từ cuối năm 1975.
Con cá tháng 4 lớn nhất
của người Việt di tản dựng đứng lên cuốn “Saigon et Moi” gán cho Đại
Sứ Pháp ở Việt Nam Mérillon là tác giả.
Tất cả những chi tiết
quanh vụ ông nhà báo Vũ Hải Hồ nào đó đã tạo dựng ra việc Đại Sứ
Pháp ở Việt Nam thời 1975 Jean Marie Mérillon viết hồi ký “Saigon et Moi”
để bênh Việt Nam Cộng Hòa, kết tội người Mỹ bỏ rơi miền Nam. Bản
dịch tác phẩm trên của ông Vũ Hải Hồ hồi 1989 đã được rất nhiều
báo Việt ngữ hải ngoại đăng đi đăng lại vào mỗi dịp 30 tháng 4. Mới
đây, cựu Đại Sứ Pháp ở việt Nam Mérillon xác định ông không viết cuốn
sách đó (Saigon et Moi) và cũng chưa hề viết một cuốn sách nào khác về
Việt Nam cả. So sánh việc dựng đứng lên cuốn “Saigon et Moi” với việc
ngụy tạo cuốn “Người Việt Cao Quý” trước đây của nhà văn Việt Cộng
nằm vùng Vũ Hạnh đảm nhận qua chỉ thị của Trần Bạch Đằng (Ngự Sử).
Xin trích đoạn những phần liên quan đến
ông Vũ Hải Hồ tạo dựng quyển “Saigon et Moi” do ông Ngự Sử viết như
sau :
. . . Trong tình huống
thao thức trăn trở như thế, thì như nắng hạn gặp mưa, đùng một cái
vào đầu năm 1989, cộng đồng di tản được tin người Đại Sứ biết quá
nhiều Jean Marie Mérillon đã long trọng cho ra mắt ngày 23-03-1986 cuốn hồi
ký “Saigon et Moi” tại khách sạn La Fayette, quận 6 Paris, trước một cử
tọa gồm các chính khách hàng đầu của Pháp như : Giscard d'Éstaing, Jacques
Chirac, Pierre Mesmer... Nhưng, sau đó cuốn sách này bị Bộ Ngoại Giao Pháp lập tức thâu hồi? Nhưng may mắn thay, một
Việt kiều còn giữ được một cuốn và một ông Vũ Hải Hồ nào đó đã
dịch ra và phổ biến cho báo chí hải
ngoại vào đệ nhất tam cá nguyệt 1989. Ông Vũ Hải Hồ đã tiết lộ những
chi tiết ra mắt sách kể trên trong phần đầu của bản dịch, nhưng không
hiểu vì lý do gì ông lại không cho biết các chi tiết liên hệ đến hình
thức nội dung của cuốn sách (bìa mõng hay dầy, bao nhiêu trang, bao nhiêu
chương, có hình ảnh ảnh gì, nhà xuất bản nào? .v.v.) Bản dịch của
ông cũng không nói rõ là trích đoạn hay tóm lược tác phẩm của
Mérillon. Nhìn chung, bản dịch của ông Vũ Hải Hồ xem ra có vẽ là một bản
tóm lược, lời văn đôi lúc có vẻ trúc trắc, luộm thuộm, dữ kiện lắm
khi xem ra không ăn khớp và lạc lõng, nhưng tình tiết thì hấp dẫn, có
lúc ly kỳ như tiểu thuyết gián điệp,
đôi khi lại mùi mẫn như tuồng cải lương. “Saigon et Moi” qua ngòi bút
dịch thuật đã được phổ biến đúng thời điểm (gần tháng 4 đen) nên
đã lập tức trở thành một “instant hit”, được nồng nhiệt đón nhận
bởi các cộng đồng người Việt di tản trên khắp năm châu Chẳng khác
nào bài thơ “ông đồ” của Vũ Đình Liên được chiếu cố trường kỳ
trên các báo Việt vào mỗi dịp Tết, mỗi năm
cứ đến dịp tháng 4 đen là thế nào cũng có hàng chực tờ báo
tranh nhau đăng tải “Saigon et Moi” do Vũ Hải Hồ dịch với những lời bàn
khi thi lâm ly, lúc thì thống hận. Phần lớn phản ứng đầu tiên của độc
giả di tản là thấy “đã” quá, đúng
y chang như mình nghĩ . Người nào người nấy cảm thấy dường như bao nhiêu
dồn nén ấm ức từ hồi bỏ xứ ra
đi đến giở đã được giải tỏa. Vấn nạn về cái chết tức tưởi của
miền Nam Việt Nam xem ra đã có thể nhờ tác phẩm này mà tìm ra giải đáp.
. . . .
Sự đón nhận đầy thiện
cảm của cộng đồng di tản hải ngoại với bản dịch này do đó cũng dễ
hiểu. Có lẽ vì vậy, không mấy ai lưu ý tới các dữ kiện không phù hợp
với thực tế, mặc dù vào thời điểm bản dịch lưu hành đã có nhiều
tài liệu sách báo liên hệ đến những ngày cuối cùng của miền Nam Việt
Nam đã được xuất bản, khiến việc kiểm chứng không đến nỗi khó khăn.
Hơn nữa, tên của vị Đại Sứ Pháp đã
tạo một tác dụng tâm lý khiến độc giả chấp nhận các dữ kiện trong
tác phẩm không chút thắc mắc.
. . .
Ngoài vấn đề các dữ
kiện không phù hợp với thực tế như đã dẫn, cái thắc mắc căn bản
nhất là sự ra mắt của một cuốn hồi ký chính trị của một nhân vật
ngoại giao quan trọng như như vậy, lại
được tổ chức long trọng như ông Vũ Hải Hồ tiết lộ, mà sao không
được đăng tải trên bất cứ một tạp chí văn học chính trị nào của Pháp cững như Hoa Kỳ? Ở một nước có truyền thông tự do như
Pháp, liệu có thể có việc thu hồi toàn bộ
một cuốn sách đã ra mắt trước
một cử tọa gồm có các vị tân cựu nguyên thủ quốc gia như vậy không?
Báo chí Việt Ngữ tại hải ngoại phần vì thiếu phương tiện, phần vì
dễ chấp nhận các bài vở soạn sẵn
mà lại hợp tâm ý độc giả, nên sáu bảy năm cứ bổn sao soạn lại không
cần thắc mắc gì cho mệt. Mãi đến năm 1994 khi cuốn “Những Ngày Cuối
Cùng của Tổng Thống ngô Đình Diệm” của
ông Hoàng Ngọc Thành và Bà Thân Thị Nhân Đức xuất bản tại Hoa Kỳ,
trong phần phụ bản (trang 622-623) có in môt bức thư đề ngày 12-11-1990 của
ông Jean Marie Mérillon, phủ nhận ông là tác giả của cuốn “Saigon et Moi”.
Lý do là vì năm 1989 ông Hoàng Ngọc Thành qua Paris tìm mãi không ra quyển
sách đó, ông đành liên lạc với chính tác giả là ông Mérillon lúc đó
đang là Đại Sứ Pháp tại Mạc Tư Khoa. Trong bưc thư ông Đại Sứ Mérillon
viết :
“Riêng về
cuốn sách ‘Saigon et Moi’,
tôi xin khẳng định rõ ràng là tôi không viết cuốn sách đó và cũng
chưa hề viết một cuốn sách nào
khác về Việt Nam cả. Do đó tác phẩm mà ông hỏi không phải của tôi. Tuy nhiên, tôi cũng
tò mò muốn biết tác phẩm ấy và rất mong muốn nhận được các tin tức
liên quan đến nó”
Mặc dù đã có sự xác
nhận trên giấy trắng mực đen nhự vậy, một số báo hải ngoại phát
hành thượng tuần và trung tuần tháng 4-1995 vẫn còn rải rác in lại bản
dịch của ông Vũ Hải Hồ với nhiều lời bàn Mao Tôn Cương.
Hiện tượng ngụy tạo
một dịch phẩm từ một “tác phẩm ngoại ngữ ma”, làm chúng ta không
khỏi liên tưởng tới một vụ tương tự xảy ra trước đây 30 năm tại
Sàigòn. Đó là dịch phẩm “Người
Việt Cao Quý” do cô Hồng Cúc dịch và do nhà Cảo Thơm ấn hành vào khoảng
thượng bán niên 1965 tại Sàigòn. Điểm tương đồng giữa dịch phẩm “Người
Việt Cao Quý” và dịch phẩm “Sàigòn và Tôi” là :
Dịch phẩm chỉ được
phổ biến sau khi nguyên tác ra đời từ 4 đến 5 năm. Nguyên tác ‘Người
Việt Cao Quý’ ở Ý từ năm 1960, bản dịch được phổ biến năm 1965.
Nguyên tác “Sàigòn và Tôi” ra mắt tại Pháp từ năm 1985, bản dịch
ông Vũ Hải Hồ phổ biến trên báo chí hải ngoại vào năm 1989. Không một
người Việt nào ngoài một “đệ
tam nhân” vô danh hoặc dịch giả “Sàigòn và Tôi” thấy nguyên tác.
Cô Hồng Cúc cho biết bản
gốc tiếng Ý in trên một tờ báo văn hóa nào đó tại Ý, một người bạn
của cô dịch ra tiếng Pháp và gửi về Việt Nam cho cô (chưa ai ngoài cô Hồng
Cúc thấy bản tiếng Pháp đó).
Ông Vũ Hải Hồ được
một “việt kiều” cho coi ké nguyên tác và nhờ đó dịch ra tiếng Việt.
Nguyên tác viết bởi một người Tây phương đã sống lâu năm tại Việt
Nam và có cảm tình với đất nước và dân tộc Việt.
“Người Việt Cao Quý” theo dịch giả, có tên Ý là “Per
Comprendere il Vietnam e Vietnamita”
viết bởi “Pazzi” một người Ý đã ở Việt Nam khoảng 20 năm
và đã có đủ thì giờ hiểu người dân kỳ diệu và khả ái này.
“Sàigòn và Tôi” có
tên Pháp là “Saigon et Moi”, theo dịch giả viết bởi cựu Đại Sứ Pháp Mérillon, người đã
có rất nhiều kỷ niệm và có nhiều quan hệ mật thiết với Việt Nam. Người
đã chọn Sàgòn làm bạn hữu tâm giao.
“Người Việt Cao Quý”
được đăng làm nhiều kỳ trên báo “Đất Tổ” ở Saigòn, sau đó được
in thành sách bởi nhà xuất bản Cảo Thơm.
“Sàigòn và Tôi” được
phổ biến rộng rãi trên các báo chí hải ngoại chưa được in thành
sách. Dịch giả thường lấy một bút hiệu ít người biết của một cây
bút quen thuộc.
Điểm khác biệt duy nhất giữa “Người
Việt Cao Quý” và “Sàigòn và Tôi” là :
- Tác giả “Người Việt
Cao Quý” có một lý lịch bất minh.
- Tác già “Sàigòn và
Tôi” là một nhà ngoại giao Pháp nổi tiếng.
. . . .
Điểm qua làng văn làng
báo hải ngoại không thấy có một nhà văn nhà báo lấy bút danh là Vũ Hải
Hồ. Xét kỹ thì thấy nó có trùng với một trong những bút hiệu mà soạn
giả cải lương kiêm ký giả Trần Trung Quân đôi lúc sử dụng trong khi
làm tờ Sàigòn Thời Báo tại Houston, Texas trong những năm 1985-1988. Ký giả
Trần Trung Quân rời Hoa Kỳ về Pháp vào khoảng cuối năm 1988. Bản dịch
“Saigon et Moi” được phổ biến từ Pháp vào đệ nhất tam cá nguyệt năm
1989. Vũ Hải Hồ là ai? ..... (toà soạn tạm không đăng phần này). Với một
người có những biệt tài như vừa kể, thì việc dàn dựng một tác phẩm
về tháng 4 đen, thực chẳng khó khăn gì. Trên thực tế có khá nhiều dữ
kiện có thể dựng thành một khung vững chãi cho một vỡ kịch đầy tình
tiết éo le như “Saigon et Moi” Các sơ hở nếu có chỉ vì kiến thức
chính trị giới hạn của ông đã bị năng khiếu hư cấu vô bờ lấn át.
Với tất cả ưu nhược điểm của ông, chủ đích dàn dựng “Saigon et
Moi”, có lẽ nhằm trong ý hướng diễn nghĩa những ngày bi thảm cuối
cùng theo như ông nghĩ là đã xảy ra. Cũng có thể, trong cơn ngẫu hứng động
cỡn tháng 4 (April Fool), ông đã thả ra một “con cá tháng tư” (Poisson
d'Avril) : “Saigon et Moi”, đem những ngày tang tóc ra để mua vui vài trống
canh?!
Ngự Sử
tháng Tư 1996
Trong khi đó, báo Ngày
Nay số 341 phát hành tại Houton Hoa Kỳ, ngày 15 tháng 4 năm 1996, còn có ghi
Lời Toà Soạn, xin trích dẫn như sau :
LTS : Trong phần kết của
bài trên, tác giả Ngự Sử đã dựa trên một số dữ kiện trong quá khứ
(ở hải ngoại) về biệt tài tạo dựng dưới hình thức phóng sự của một
nhà báo (hiện ở Pháp). Nhà báo này đã cho xuất
bản ít nhất hai tác phẩm liên quan tới các biến cố chính trị trong cuộc
chiến Việt Nam vào thời đệ nhất Cộng Hòa cũng như nhiều bài phóng sự
giả tưởng khác về các vụ hải tặc Thái Lan hiếp phụ nữ thuyền nhân
Việt Nam... Ông Ngự Sử đã kết luận rằng người có tên Vũ Hải Hồ nào
đó đã tạo dựng ra cuốn sách ma “Saigon et Moi” chinh là nhà báo chuyên
viết phóng sự chính trị giả tưởng nêu trên. Tuy nhiên, vì một vài vấn
đề khá tế nhị trong giai đoạn hiện nay. Ngày Nay xét thấy chưa phải lúc
để công bố phần kết luận bài viết của tác giả Ngự sử.
Kế đến, khoảng tháng
10 năm 1996, quyển sách PÉTRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ tuyển tập của Cửu Long Lê
Trọng Văn ra đời, nơi trang 3, Lời Mở Đầu cũng có nhắc đến ngụy tạo
sách “Saigon et Moi” đo Vũ Hải Hồ dịch, xin trích dẫn như sau :
. . . Rồi các tài liệu,
tác phẩm ngụy tạo được tung ra như “Trong Lòng Địch” của Trần
Trung Quân, “Ai Giết Hồ Chí Minh” cũng của Trần Trung Quân. Hồi ký Đại
Sứ Pháp Mérillon “Saigon et Moi” của Vũ Hải Hồ tức Trần Trung Quân.
v.v..
Đó là một số sách báo đã vô tình
đăng báo hoặc tiếp tay trích dẫn quyển “Saigon et Moi” không có do ông
Vũ Hải Hồ tức Trần Trung Quân dịch,
để lồng vào tác phẩm mà tôi đã mạn phép trích dẫn vừa qua.
Để biết thêm những
ngày cuối cùng Việt Nam Cộng Hòa,
xin mời quý độc giả tìm đọc hồi ký của Ông Nguyễn Bá Cẩn, cựu Chủ
Tịch Hạ Nghị Viện và cựu Thủ Tướng Chánh Phủ VNCH đã phát hành tác
phẩm dày gần 600 trang tại California Hoa Kỳ vào đầu tháng 9 năm 2003. Đặc
biệt nơi tiểu mục : 4. Riêng VNCH còn bị Hoa Kỳ hy sinh để đổi lấy
Trung Đông từ trang 530 đến trang 552 được tóm lược như sau :
Năm 1954 Hoa Kỳ không sẳn
lòng dùng B52 để giúp Pháp tiêu diệt lực lượng của tướng Võ Nguyên
Giáp tại Điện Biên Phủ làm cho Pháp đầu hàng và tháo chạy bởi hội
nghị Genève để Hoa Kỳ vào thay thế, từ đó Pháp lúc nào cũng cay cú suốt
thời gian quân đội Hoa Kỳ chiến đấu bên cạnh VNCH, đồng thời sẵn sàng
yểm trợ giúp đỡ CSVN, nhất là trong thời gian hội đàm Paris.
Năm 1975 Hoa Kỳ hoàn
thành kế hoạch hy sinh Việt Nam Cộng Hòa để đổi lấy Trung Đông và người
Mỹ muốn ra đi không để lại bằng chứng, thì Pháp có cơ hội bằng vàng
để nhảy vào giờ thứ 25, ngõ hầu tìm giải pháp liên hiệp hoà giải
hòa hợp cho miền Nam Việt Nam bằng một chính phủ trung lập để thủ lợi.
Nhưng Pháp không nắm vững được điều kiện tất yếu của dán cờ lúc
bấy giờ, nên đành thảm bại một lần nữa tại Việt Nam.
Nước Pháp thù hận Hoa
Kỳ từ năm 1954 cho dến ngày nay thời Tổng Thống Jacques Chirac, nhưng về
mặt ngoại giao lúc nào cũng nương tựa vào nhau để sanh tồn, tuy nhiên mỗi
khi có dịp Hoa Kỳ nhờ Pháp nhưng không có quyền lợi cho Pháp, thì Pháp
luôn luôn chống đối, ví như để đánh nước Irac vừa qua, thì chính Tổng
Thống Jacques Chirac của nước Pháp là một trong những nước chống Hoa Kỳ
mạnh nhất. Đó là bằng chứng cho thấy hai nước Pháp và Hoa Kỳ vẫn
còn thù hận, bởi vì tranh giành quyền lợi với nhau.

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net