
MỘT
BÀI HỌC VỀ NHÂN QUYỀN |
Trần Chung Ngọc
Trong bài “Vài Nhận Xét Về Vấn Đề Tranh Đấu Cho Nhân Quyền & Tự Do Tôn Giáo Ở Hải Ngoại” (Trang Nhà Giao Điểm, Giao Điểm số 39,40; Chuyển Luân số 23; Hoa Sen số 42), tôi đã trình bày sơ lược vài tài liệu về thực chất và nội dung cái gọi là bản “Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền” của Liên Hiệp Quốc. Sau đó, có một ông Nguyễn Sĩ Tiến (NST) nào đó phê bình bài trên với văn phong của một “anh hùng chợ Cầu Muối” để bênh vực Võ Văn Ái, và gần đây NST khoe rằng “Từ đó Nghè Ngọc tịt ngòi”.
Hiển nhiên, NST viết chỉ để mà viết, và mục đích không ngoài tự đánh bóng đề cao mình, vì qua bài viết của NST chúng ta thấy NST theo dõi Giao Điểm rất kỹ, và tất nhiên không thể không đọc bài tôi viết tiếp về vấn đề Nhân Quyền: “Nhân Quyền! Của Ai Và Cho Ai?”, trong đó tôi có nói đến kiến thức thấp kém của NST về vấn đề nhân quyền, và bài “Quê Mẹ! Nhưng Mẹ Nào”, trong đó tôi đã vạch trần với đầy đủ tài liệu bản chất làm tay say sai cho Mỹ của Võ Văn Ái, tức Quê Mẹ Paris, với sách lược nấp đàng sau chiêu bài Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo, đưa ra những thông tin bịa đặt để xuyên tạc tình trạng về nhân quyền và tôn giáo ở Việt Nam, tạo áp lực với Việt Nam cho quyền lợi và chính sách của Mỹ.
Bài viết này không phải để trả lời Nguyễn Sĩ Tiến, một việc mà không một người nào có đôi chút học thức muốn làm, mà là để bổ túc, khai triển và chứng minh những chủ đề chính yếu trong các bài trên.
Trong ba bài này, tôi đã trình bày rõ nguồn gốc thành lập Liên Hiệp Quốc (1945), thực chất của Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948), và những Giao Ước Quốc Tế về Nhân Quyền sau đó (1966). Tôi đã chứng minh rằng:
1). Sự thành hình Liên Hiệp Quốc phần lớn do ý định của Mỹ và hầu như là sản phẩm của 4 cường quốc sau đệ nhị thế chiến: Mỹ, Anh, Nga, và Trung Hoa Dân Quốc;
2). Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền là một tài liệu không rõ ràng, không có tính cách bắt buộc pháp lý (Mary E. Williams, Human Rights, p. 16: declarations are not legally binding; Robert W. Lee, The United Nations Conspiracy, p.101: the UN later adopted its vague, non-binding Declaration of Human Rights), nghĩa là các quốc gia không có bổn phận phải thi hành những điều khoản trong Bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền;
3). Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền trên thường được Tây phương cưỡng dùng làm thước đo vấn đề nhân quyền trên toàn thể thế giới, một chiêu bài thường được sử dụng để đạt được những mục đích chính trị kinh tế của Tây phương chứ không phải vì tự thân nhân quyền, vì lịch sử thế giới cho biết chính những quốc gia Âu Mỹ là những nước vi phạm nhân quyền nhiều nhất..
4). Đưa ra những bằng chứng, tài liệu là Quê Mẹ Paris đã lãnh tiền của cơ quan NED, một mặt khác của CIA, để hoạt động theo đúng chỉ thị của NED, làm áp lực với chính quyền Việt Nam về vấn đề Nhâﮍ Quyền và Tự Do Tôn Giáo qua những thông tin ngụy tạo.
Nhiều sự kiện trên khắp thế giới, thí dụ như những hành động của Mỹ ở Việt Nam, Indonesia, Guatamala, El Salvadore, Nicaragua v..v..(Xin đọc cuốn 9-11 , Seven Stories Press, New York, 2001, của Noam Chomsky) đã chứng tỏ rằng Nhân Quyền chỉ là một chiêu bài hữu danh vô thực của Mỹ, với hậu thuẫn của bom đạn và ưu thế kinh tế, để ép những tiểu nhược quốc nào có thể ép được phải theo quan niệm về nhân quyền, dân chủ, đường lối chính trị, quyền lợi kinh tế của Mỹ, tạo thuận lợi cho Mỹ bành trướng văn hóa và tôn giáo của Mỹ. Cuộc xâm chiếm Iraq của chính quyền Bush gần đây đã chứng tỏ rõ ràng hơn hết nhận định trên. “Viện trợ Ki-Tô” (Christian aid) đã đổ vào Iraq để mua linh hồn cho Chúa. Nhiều nhà thầu (war contractors) trước đây đã đóng góp cho quỹ tranh cử của Bush, một hình thức hối lộ, nay đã trúng thầu trong những dịch vụ hái ra tiền, những dịch vụ liên quan đến chiến tranh, nghĩa là kiếm lời nhờ chiến tranh. Đây chính là đường lối tư bản rừng rú cố hữu, không liên quan gì đến nhân quyền. [Xin đọc bản phúc trình “Windfalls of War: US Contractors in Iraq and Afghanistan” của tổ chức nghiên cứu Center for Public Integrity]. Riêng hãng (Kellogg, Brown & Root (KBR)-khai thác dầu hỏa Halliburton) mà Dick Cheney cai quản trước khi làm Phó Tổng Thống đã “trúng thầu” trị giá 2.3 tỷ đô-la.
Tuy nhiên, trong ba bài trên, tôi đã phạm phải một lỗi lầm to lớn đối với dân Chống Cộng Chết Bỏ (CCCB) ở Hải Ngoại: không những không hùa theo họ trong những hành động thiếu trí tuệ mà còn dám vạch trần bộ mặt thật của Võ Văn Ái (VVA), một thần tượng của đám người CCCB ngơ ngáo, có đầu nhưng không có óc, tranh đấu cho nhân quyền và tự do tôn giáo theo chỉ thị của Mỹ, theo quan niệm hẹp hòi, trịch thượng, vô cùng đạo đức giả của Mỹ về nhân quyền.
Điều này làm cho đàn em thuộc hạ của VVA là NST cay cú, hay chính
VVA đội lốt đàn em thuộc hạ, vì không có cách nào phủ bác được những
điều tôi viết trong ba bài trên, nên đã xoay mũi dùi, lên tiếng chụp mũ
một cách quá ấu trĩ Tổng Đàn, Chuyển
Luân và Giao Điểm là: “nhóm của Giao Điểm
đưa lên Trang Nhà bọn chúng một bài viết mới bôi nhọ ông Võ Văn Ái.
Song nội dung chẳng khác, vẫn chuyên chở nội dung các bài vu khống và đánh
phá ông Ái đăng trên các báo Đảng hơn 20 năm qua ở trong nước... mà
tôi từng đọc.” Sau đó mới
dùng văn phong của một “côn đồ văn hóa” viết: “Tôi
điện thoại sang Paris yêu cầu ông Ái nên có bài trả lời để gióng một
tiếng chuông cảnh tỉnh. Nhưng Ông Ái hỏi tôi rằng : "Ông đang đi trên
đường, vô cớ bị một thằng điên nhổ nước bọt vào người. Ông sẽ
hành xử ra sao ? Nhổ lại nước bọt vào mặt hắn hay nên đi gấp theo
đường hướng của mình ? Vấn đề tôi quan tâm là Cái Nhà Thương Điên
kia, chứ không là một vài thằng điên trong đó."
Tại sao lại phải dùng đến loại văn phong hạ cấp để xuyên tạc như trên. Thật là dễ hiểu, vì bản chất hạ cấp của chính bản thân Võ Văn Ái, và vì trước những bằng chứng hiển nhiên, những tài liệu rõ ràng, VVA không có cách nào có thể phủ bác được nên phải dùng đến tiểu xảo “cả vú lấp miệng em” để né tránh và đồng thời mạ lỵ những người đã vạch trần bộ mặt thật của VVA ra. Tuy vậy, đi sâu vào vấn đề, chúng ta nên đặt vài câu hỏi.
Thứ nhất, NST thử kiếm xem trên mặt VVA còn chỗ nào sạch sẽ, nếu cần tôi xin hoan hỉ cho mượn một kính hiển vi, để cho người ta có thể bôi nhọ thêm vào hay nhổ nước bọt trên đó? Những cái mà NST gọi là bôi nhọ phải chăng là những vết nhọ đã có sẵn trên khắp mặt VVA rồi?
Thứ nhì, tất cả những cái mà NST gọi là vu khống đều có bằng chứng trưng dẫn qua chính các bản văn như “Phúc Trình” (sic) của Đoàn Viết Hoạt, “Nhận Định...” của HT Quảng Độ, các bản “Thông Cáo Báo Chí” (sic) mà nội dung không phải là “thông cáo”, và nhất là những tài liệu cấp “phân” (fund) và chỉ thị cho Quê Mẹ của cơ quan NED. Đây là những tài liệu mới, năm 2002, cập nhật nhất, và tuyệt đối không có dính dáng gì đến cái mà NST chụp mũ là đã “đăng trên các báo Đảng hơn 20 năm qua ở trong nước” (sic). Chụp mũ, xuyên tạc một cách ấu trĩ như vậy, NST tưởng rằng có thể làm cho độc giả tin, không nghĩ rằng độc giả ngày nay thông minh hơn NST nhiều, có thể nhận ra ngay luận điệu chụp mũ gian dối hạ đẳng của NST. Bởi vì, muốn thuyết phục người đọc, ít nhất NST cũng phải đưa ra vài bằng chứng là báo trong nước đã đăng như thế nào, bao giờ, và vu khống như thế nào, và có phải là Tổng Đàn, Chuyển Luân và Giao Điểm đã dùng những tài liệu đó không v..v.. Nhưng xét cho cùng, trình độ của NST hay VVA chỉ có vậy, muốn viết khá hơn hay thông minh hơn một chút là một chuyện ngoài khả năng của họ.
Tại sao ông VVA không đích thân trả lời để gióng lên một tiếng chuông cảnh tỉnh? Vì làm sao ông ta có thể trả lời được trước những bằng chứng hai năm rõ mười để bào chữa hoặc biện minh cho bộ mặt quá lem luốc của ông ta? Ông ta đành mượn tên NST, dùng văn phong hạ cấp để xuyên tạc, vu khống, tuyệt đối không bằng chứng, Tổng Đàn, Chuyển Luân và Giao Điểm.
Xuyên tạc và vu khống như thế
nào? Sách lược này này tập trung
vào một điểm: khai thác cái “mốt” thời thượng của quần chúng hải
ngoại, dựng đứng chụp mũ Tổng Đàn, Chuyển Luân và Giao Điểm là tay
sai của CS một cách vu vơ rất ấu trĩ như trên mà không cần đưa ra bất
cứ một bằng chứng nào. Tất cả chỉ
là những suy diễn vu vơ dựa trên một tầm nhìn trắng đen một chiều: không theo GHPGVNTH-HK là CS; đụng đến những
con “sư tử trùng” VVA trong GHPGVNTH-HK là tay sai của CS; viết về Thích
Giác Lượng đi chầu hầu Vatican hoặc Thích Chánh Lạc với vụ án ở
Denver là chống phá triệt hạ GHPGVNTH-HK; chống Công giáo, hay nói đúng hơn,
đưa ra những sự thực về cái giáo hội Công giáo ô nhục, đẫm máu
trong lịch sử loài người v..v.. cũng là làm tay sai cho CS; không chống Cộng
chết bỏ là theo CS; không ủng hộ VVA, đầy tớ của NED, cũng là làm tay
sai cho CS v..v.. Lẽ dĩ nhiên, họ chẳng
bao giờ nhắc tới những bài như “Về Một
Chuyện Xưa Rất Mới” của Giới Tử, “Phật
Giáo giữa hai ý thức hệ Công Giáo và Cộng Sản” của Trần Chung Ngọc
và nhiều bài khác trong Chuyển Luân và Giao Điểm mà nội dung thuần túy
có tính cách xây dựng, cho dân tộc cũng như cho Phật Giáo.
Đây là một trong những
điểm yếu nhất và cũng là điểm, theo tôi, phản ánh căn trí thấp nhất
của đa số những người muốn giữ độc quyền chống Cộng: cứ ai có ý
kiến khác với mình là y như rằng phải chụp mũ người ta là thân Cộng
hay làm tay sai cho CS mà không đưa ra bất cứ một bằng chứng nào. Họ đần
độn đến độ không hề để tâm tìm hiểu: những người mà họ muốn
vu khống là làm tay sai cho CS là những ai, bao nhiêu tuổi, tình trạng kinh tế
gia đình ra sao, thuộc thành phần nào ở miền Nam trước đây, và nhất
là động cơ đi làm tay sai cho CS trong thời buổi này? vì danh vọng, chức
tước, quyền lợi, hay tiền tài? và
danh vọng, chức tước, quyền lợi, hay tiền tài
như thế nào, ở mức độ nào, và có phải là những nhu cầu
cần thiết của những người này không? Và
nếu không phải là vì danh vọng, chức tước, quyền lợi, hay tiền tài,
thì có lý do gì để những người này làm tay sai cho CS?
Vì không thể đưa ra bất
cứ một lý do hợp lý nào cũng như một bằng chứng nào chứng minh là những
người họ đặt điều vu khống làm tay sai cho CS, cho nên cái mũ CS mà họ
chụp lên đầu những người bất đồng ý kiến với họ ngày nay không hề
có một ảnh hưởng nào trên cộng đồng người Việt di cư, trái lại chỉ
mua lấy sự khinh bỉ của quần chúng. Thật
vậy, mỗi năm người Việt di cư “chống Cộng” đã kéo về thăm quê hương
hàng trăm ngàn, và năm nay, 2003, vé máy bay về Việt Nam trong dịp Đông
Chí và Tết Nguyên Đán đã rất khó mua, nhất là máy bay trở về Mỹ những
ngày đầu năm 2004. Mỗi năm, người
Việt di cư “chống Cộng” cũng gửi về Việt Nam cả tỷ đô la để nuôi
dưỡng chế độ, theo như luận điệu của những người chống Cộng có
đầu nhưng không có óc. Đây là
những sự kiện, ai không đồng ý xin lên tiếng.
Và sự kiện này nói lên cái gì? Cái
mũ CS đã rách bươm qua bao năm qua và những người ngày nay còn sử dụng
nó chẳng qua chỉ là những kẻ đầu cơ kiếm lợi riêng cho mình chứ chẳng
phải là vì quốc gia đại sự gì. Bộ
mặt này của VVA đã quá rõ, chẳng cần phải nói thêm nhiều.
Chuyện khôi hài nhất là
cái hiện tượng chụp mũ bừa bãi nhau là CS đã biến hầu hết những người
Việt di cư là CS. CS bất chiến tự
nhiên thành. Có ai nghĩ ra điều này
không? Ngoài ra, cái gương trước đây
có người ở Cali vu khống Giao Điểm là CS đã bị tòa phạt mấy chục
ngàn đô-la, không có tiền trả, phải trốn lui trốn lủi đi tiểu bang khác,
và gần đây vụ vu khống Phật tử là CS ở Denver với hậu quả là bị
tòa phạt bồi thường 4 triệu 8 trăm
ngàn đô la có lẽ vẫn chưa thức tỉnh những người có những bộ óc chứa
toàn mì ăn liền.
Ông VVA, ngồi ở Paris,
được cơ quan NED của Mỹ cấp “phân” để tranh đấu cho “quyền làm
người Việt Nam”, làm như 80 triệu dân Việt Nam ngày nay không phải là
người. Thân phận của một đầy tớ
ngoại bang, lãnh tiền của ngoại bang để chống phá Việt Nam mà dám mở
miệng đòi tranh đấu cho “quyền làm người Việt Nam”, quyền gì? quyền
tự do đi làm đầy tớ như VVA chăng? Tôi
thách bất cứ ai, kể cả VVA và NST, có thể phủ bác sự kiện này. Nhưng ông VVA, cũng như những người dựa
hơi Mỹ, lại không biết rằng chính cái bộ mặt “nhân quyền” của Mỹ
lại là một bộ mặt lem luốc mà cả thế giới đã biết. Đó là cái nhục
của những kẻ làm tay sai cho một ông chủ, hay dựa hơi một ông chủ mà
mình không biết rõ, mà không biết đến bản chất và thực chất của
chính ông chủ mình. Do đó bài viết này có thể coi như là một bài học
về “nhân quyền” cho các ông VVA, NST et al....
Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts (M.I.T.), đã viết rõ về chính sách ngoại giao của Mỹ:
“Thật ra chính sách ngoại giao của Mỹ là đặt căn bản trên nguyên tắc không liên quan gì đến nhân quyền, mà là liên quan nhiều đến sự tạo ra một bầu không khí thuận lợi cho ngoại thương”
(James Speck, Editor, The Chomsky Reader, p. 331: U.S. foreign policy is in fact based on the principle that human rights are irrelevant, but that improving the climate for foreign business operations is highly relevant.)
Ngoài ra, bộ mặt thực về
“nhân quyền” của Mỹ đã được chứng minh trong biến cố sau đây. Đầu tháng 5, 2001, Liên Hiệp Quốc đã bỏ
phiếu hất Mỹ ra khỏi Ủy Ban Nhân Quyền Quốc Tế trong đó Mỹ liên tục
là một thành viên từ năm 1948, trong khi Trung Quốc, Việt Nam, Cuba đều
được bầu làm thành viên. Điều này
cho thấy, Mỹ chỉ có thể dựa vào ưu thế kinh tế và quân sự chứ không thể dựa vào chiêu bài “nhân
quyền”. Nếu Mỹ thực sự tôn trọng
nhân quyền trên nước Mỹ cũng như trên thế giới thì tại sao Mỹ lại bị
đuổi ra khỏi Ủy Ban Quốc Tế Nhân Quyền?
Nhưng đồng tiền của Mỹ rất mạnh, có thể mua dễ dàng những
tay sai chính hiệu như VVA để tranh đấu cho “nhân quyền” ở Việt Nam,
một sách lược của Mỹ để ép Việt Nam phải tạo ra một bầu không khí thuận lợi cho
ngoại thương của Mỹ.
Qua biến cố loại Mỹ ra khỏi Ủy
Ban Quốc Tế Nhân Quyền, Vince Hayner đã viết một bài với nhan đề “Những Vi Phạm Của Hoa Kỳ” (US's
Violations) trong đó có đoạn như sau:
“Sự loại Hoa Kỳ ra khỏi Ủy Ban Nhân Quyền
là một bất ngờ cần được hoan nghênh. Trong
khi các chính trị gia, ký giả và dân thường hỏi tại sao, câu trả lời
ở ngay trước mắt chúng ta.
Hoa Kỳ có một thành tích khủng
khiếp về nhân quyền. Ngoài chuyện hàng ngày áp bức chính dân
của mình, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục vi phạm nhân quyền ở các nơi như
Vieques (Porto Rico) bằng Hải Quân Hoa Kỳ, và ở quanh thế giới trong những
xí nghiệp bóc lột nhân công tàn tệ (sweatshops) cho những xí nghiệp Hoa Kỳ,
và điều có lẽ đáng lo ngại nhất là, giết hại hơn 1 triệu dân Iraq
trong chiêu bài trừng phạt, đó là chỉ kể vài sự kiện.
Hi vọng rằng sự loại Hoa
Kỳ ra khỏi Ủy Ban Nhân Quyền là một dấu hiệu mà các thành viên khác của
LHQ sẽ không dung dưỡng cho những hành động không hề thay đổi, đơn
phương tấn công nhân cách con người của Hoa Kỳ.”
(The ejection of the US from
the UN Human Rights Committee is a welcome surprise.
While politicians, journalists and everyday people ask why, the answer is
right in front of us.
The US has a horrible human
rights record. Besides the daily oppression
of its own citizens, the US continues to violate human rights in place like Vieques with
the US Navy, around the world in sweatshops for US corporations and, perhaps most
alarming, with the killing of more than 1 million Iraqi people via sanctions, just to name
a few.
It is hoped that this ejection
comes as a sign that the other members of the UN will not tolerate the consistent
unilateral assaults on human dignity by the US.)
Đó là những bộ mặt thực
của Mỹ trong vấn đề nhân quyền, của cái Quốc Hội đã dùng tiền thuế
của dân để lập ra cơ quan NED, một cánh tay khác của CIA, mà vô thượng thiên tài chống Cộng VVA nấp sau, tung ra những thông tin bịa đặt
để tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ ở Việt Nam, theo đúng chỉ thị
của NED như tôi đã chứng minh trong bài “Quê
Mẹ! Nhưng Mẹ Nào” trước đây.
Bộ mặt “nhân quyền”
của Mỹ gần đây, sau vụ khủng bố 11 tháng 9, 2001, và tiếp theo là cuộc
xâm chiếm Iraq vào tháng 3 năm 2003, đã cho thế giới rõ thực chất chính
sách cường quyền thắng công lý của
Mỹ, bất kể đến luật lệ quốc tế, bất kể đến vấn đề nhân quyền. Trong nội địa, Mỹ đưa ra Đạo Luật Yêu
Nước (Patriot Act). Với nội dung của
đạo luật này và những biện pháp đã được áp dụng dựa theo đạo luật
này thì những cái mà những người CCCB cho là vi phạm nhân quyền của Việt
Nam chẳng thấm vào đâu. Chứng minh?
Chúng ta hãy đọc vài nét
trong bài của Cherif Bassiouni, Giáo sư Luật Học, Viện trưởng Viện Luật
Pháp Quốc Tế Về Nhân Quyền tại Đại học DePaul (Professor of law and
President of the International Human Rights Law Institute at DePaul University), viết ngày
24 tháng 8, 2003, trên tờ Chicago Tribune:
Quốc gia (Hoa Kỳ) chưa
từng thấy một sự xói mòn có hệ thống những quyền dân sự như sau vụ
tấn công ngày 11 tháng 9, 2001. Nó
mang một hình thức phá ngầm hệ thống pháp luật, ghép song song với những
lạm dụng quá độ về 1uyền lực của chính quyền, tất cả đều nhân
danh chống khủng bố..
Sự xói mòn này khởi đầu
từ 1996 với đạo luật về di trú và chống khủng bố. Hầu hết những
quyền của một công dân Hoa Kỳ mà những người dân thường trú được
bảo vệ một cách bình đẳng bởi hiến pháp, nay đã bị lột đi mất. Những người không phải là dân Mỹ có
thể bị bắt bớ và trục xuất dựa trên những “bằng chứng mật”,
điều này đã thu hồi quyền, quy định bởi hiến pháp, được đối đáp
và chất vấn những bằng chứng đưa ra để chống họ.
Đây chính là điều các
chính thể độc tài áp dụng mà Hoa Kỳ thường xuyên lên án kể từ cuộc
chiến tranh lạnh.
Chiến dịch của chính quyền
chỉ nhắm vào dân gốc Ả Rập và những người Hồi giáo. Số người bị bắt không được xác định,
tình trạng của họ được dấu kín, và kết quả điều ta không được
tiết lộ.
Tổng thanh tra bộ Tư Pháp
phúc trình rằng nhiều vụ không biện minh được và nhiều cá nhân bị đối
xử thô bạo, một cách hành xử vi phạm nặng những tiêu chuẩn pháp lý của
chúng ta.
Tuy nhiên, trong một hành động
chống đối can đảm, ông tòa David Tavel viết rằng sự “tôn trọng mù quáng” của đa số trước
những khẳng định mơ hồ của chính quyền
không chỉ vi phạm mục đích của đạo luật về sự Tự Do Đòi Hỏi
Những Thông Tin mà còn ngăn ngừa người dân Mỹ tìm hiểu là chính quyền
hiện nay có “vi phạm những quyền quy định bởi hiến pháp của nhiều
trăm người bị bắt giữ trong sự điều tra sự liên hệ tới khủng bố”
hay không?
Chiến tranh ở A Phú Hãn
đưa đến một loại vi phạm khác, giam giữ tù binh ở Vịnh Guantanamo,
Cuba. Sự bắt giũ họ không theo đúng
thủ tục là một sự vi phạm trắng trợn công pháp quốc tế qui định bởi
Công Ước Liên Hiệp Quốc Thứ Ba mà chúng ta phải có bổn phận tôn trọng.
Công Ước đòi hỏi rằng
Hoa Kỳ phải xét xử họ đúng cách như đối với các tù binh chiến tranh
và đối xử với họ tử tế. Công
Ước cũng qui định là họ sẽ được thả sau khi cuộc xung đột chấm dứt. Cuộc xung đột đã qua, những họ vẫn
còn bị giam giữ. Hơn thế nữa, họ
còn bị đối xử theo cung cách có thể xếp vào loại tra tấn: làm mất cảm
giác, chùm kín đầu trong một thời gian lâu dài và biệt giam, cách đối xử
có tính cách xỉ nhục và làm mất phẩm giá con người.
Tất cả những điều trên
đều được trình bày hời hợt giả dối và không một ai trong giới truyền
thông Hoa Kỳ hay trong các tổ chức bảo vệ nhân quyền được phép đi vào
trong các trại giam để quan sát những điều kiện giam giữ và hỏi han những
người bị giam.
Những người bị giam giữ ở trong lớp
tuổi từ 15 tới 95, gồm một số ốm đau.
(...The nation has never before seen a more
systematic erosion of civil rights than after the Sep. 11 attacks. This has taken the form of undermining the legal
system, coupled with egregious governmental abuses of power, all in the name of combatting
terrorism...
...The erosion actually started
in 1996 with anti-terrorism and immigration legislation.
Permanent residents who were recognized by the Constitution’s
equal-protection clause as having most of the rights employed by citizens were stripped of
them. Non-citizens could be arrested and
deported on “secret evidence”, which revoked the constitutional right to confront and
cross-examine evidence presented against them.
This was precisely the practice
used by dictatorial regimes the U.S. has repeatedly denounced since the Cold War.
...The administration’s
campaign only focused on people of Arab origin and others who were Muslims. Their numbers were not confirmed, their status
undisclosed, and their cases’ outcomes have not been revealed.
The Justice Department’s inspector general reported that many cases were
unjustified and many individuals were harshly treated, something heretofore deemed
shocking by our legal standards.
...In a courageous dissent,
however, Judge David Tavel wrote that the majority’s “uncritical deference” to the
government’s vague assertions not only contravened the purpose of the Freedom of
Information Act but prevented the American people from discovering whether the present
administration “is violating the constitutional rights of hundreds of persons whom it
had detained in connection with the terrorism investigation”.
The war in Afghanistan brought
about another type of violation, the placing of enemy war prisoners in Guantanamo Bay,
Cuba. Their detention without due process is
in clear violation of our international legal obligation under the Third Geneva
Convention.
The Convention requires the
U.S. to properly adjudicate their status as prisoners of war and to treat them well. It also provides for their release after the
conflict ends. The conflict is over, but they
are still detained. Moreover, they were
treated in a manner that may fall in the category of torture: sensory deprivation,
prolonged hooding and solitary confinement, degrading and humiliating treatment.
All of that was glossed over
and no one from the U.S. media or human rights organizations was allowed to go inside,
view the conditions of detention and talk to the detainees.
Among the detainees are people
ages 15 to 95, including some who are sick.
Trong tờ Daily Herald ngày 6 tháng 10, 2003, Ray Hanahia
viết một bài nhan đề A Close Look at the Patriot Act Is Not Comforting:
Lần đầu tiên tôi đọc Đạo Luật Yêu Nước
và tôi bị một cú “sốc” vì tôi thực sự đã biết rất ít.
Những người ủng hộ Đạo
Luật Yêu Nước nhấn mạnh là nó dùng để ngăn ngừa một cuộc khủng bố
9 tháng 11, 2001 khác, và không gì hơn nhiều những gì đã được làm. Thật vậy sao.
Vậy tại sao chúng ta lại cần đến nó.
Đạo Luật Yêu Nước mở rộng một kẽ hở
của Đạo Luật về Tình Báo Quốc Ngoại năm 1978. Đạo luật này ngưng áp dụng một số biện pháp quy định bởi hiến pháp bảo
vệ những cá nhân được xếp vào loại “điệp viên ngoại quốc”. Với Đạo Luật Yêu Nước, hầu hết những
sự bảo vệ này không được áp dụng. Tệ
hơn nữa là theo đạo luật cũ, ông chưởng lý Hoa Kỳ John Ashcroft phải
đưa ra những bằng chứng là tại sao lại xếp một người vào loại
trên. Với Đạo Luật Yêu Nước,
Ashcroft không cần đến một bằng chứng nào.
Chỉ theo lời ông, bất cứ
ai cũng có thể bị chỉ định là “điệp viên của ngoại quốc”. Tất cả những quyền của một người dân
Mỹ đều bị vứt bỏ. Họ có thể
xông vào nhà tôi khám xét mà không cần sự chấp thuận của một ông Tòa
trước. Và bây giờ, họ có thể
khám xét mọi sổ sách ghi chép, hồ sơ.
Trong quá khứ, những người
bị nghi ngờ được báo trước là nhà cửa của họ sẽ bị lục xoát và
tịch thu những hồ sơ. Với Đạo Luật
Yêu Nước, nếu Ashcroft tịch thu một chương mục ngân hàng, các viên chức
ngân hàng có thể bị truy tố nếu họ định nói cho thân chủ biết tại
sao chương mục của họ bị phong tỏa.
Điều khoản “có thể là
nguyên nhân” ngăn cấm luật pháp bắt giữ người dân nếu không có i
hành động gây tội ác. Với Đạo Luật Yêu Nước, Ashcroft không cần phải
đến trước một ông Tòa và chứng tỏ nguyên nhân tại sao một người bị
bắt giữ.
Chúng ta chỉ cần nghe vào
lời của Ashcroft là sự truy tố đã được biện minh và “nguyên nhân có
thể” đã hiện hữu. Những người bị nhắm vào không được biết đến
ngay cả những bằng chứng. Họ
không được phép có luật sư. Họ
có thể bị bắt giữ và giam vô thời hạn mà không ai biết được tại
sao và ở đâu.
Một sự thay đổi khác là
về điều khoản “nhân chứng cụ thể”.
Với những luật cũ, những “nhân chứng cụ thể” chỉ có thể bị
bắt giữ nếu có bằng chứng hoặc họ là sự đe dọa hay toan tính trốn
chạy.
Nay, khi bị chỉ định là một
“nhân chứng cụ thể” – có nghĩa là anh không hẳn đã dính líu vào tội
ác, nhưng có thể anh biết một vài điều gì đó – anh có thể bị bắt
giam vô thời hạn. Họ không nói rõ
tội trạng và không đưa ra bằng chứng. Không
có ông tòa nào duyệt lại trường hợp của anh và anh không được phép
có luật sư bảo vệ.
(I read the Patriot Act for the
first time and was shocked at how little I really knew.
Patriot Act advocates insist it
prevents another Sep. 11, 2001, and doesn’t do much more than what was done before.
Really? Then why do we need it?
The Patriot Act expands an
existing loophole in the 1978 Foreign Intelligence Service Act. FISA suspends some constitutional protections for
individuals classified as “foreign agents”. Under
the Patriot Act, nearly all of them don’t apply. What’s
worse is that under the old provisions, U.S. Attorney John Ashcroft would be required to
show evidence why someone should be placed in this classification. Under the Patriot Act, Ashcroft doesn’t need any
evidence.
On his word, anyone can be
designated a “foreign agent.” All their
rights as an American are thrown out. They
can come into my home and search without first getting a judge’s approval. They can examine all records, which they can do
now anyway.
In the past, suspects would be
notified of having their home searched or records seized.
Under the Patriot Act, if Ashcroft seizes a bank account, bank officials
could be prosecuted if they try to tell someone why their account was closed.
The issue of “probable cause”
is what prevents law enforcement from targeting people for reasons other than criminal
behavior. Under the Patriot Act, Ashcroft
doen’t have to go before a judge and show cause as to why someone should be targeted.
We just have to take Ashcroft’s
word that a prosecution is justified and probable cause exists. Targets can’t even see the evidence. They are denied lawyers. They can be arrested and detained indefinitely
without anyone ever know why or where.
..Another change involves the
issue of “material witness”. Under the
old laws, material witnesses could be arrested or detained only if evidence existed that
they are threats or might run.
Once designated as a material
witness – meaning you are not necessary involved in the crime, but you just might know
something – you can be arrested and detained definitely.
They don’t detail the charges or show you the evidence. No judge reviews your
status and you don’t even get a lawyer.)
Và trong tờ Chicago Tribune
ngày 1/11/2003, trong mục Tiếng Nói Người Dân
(Voice of the people), Ben Ogden viết:
Đạo
Luật Phi-Ái Quốc: Đạo luật Yêu Nước
là là một văn kiện lập pháp có tính chất phi-yêu nước nhất từ xưa tới
nay xuất phát ra từ Washington. Nó
phi-Koa Kỳ vì FBI có quyền khám xét mật, bắt bỏ tù chúng ta không kết
án và dính mũi vào những việc như chúng ta đã mua cái gì hay mượn sách
gì từ thư viện. Tôi hoan nghênh những
cố gắng của Nghị viện để bãi bỏ đạo luật này.
(Un-Patriot Act: The Patriot Act is the most un-patriot piece of
legislation that has ever come from Washington. It’s
un-American for the FBI to have the power to conduct secret searches, jail us without
charges and snoop into what we buy or borrow from the library. I applaud the efforts in Congress to repeal the
act.)
Với thành tích vi phạm nhân quyền như vậy, tôi nghĩ rằng Mỹ không đủ tư cách nói về nhân quyền và quốc hội Mỹ không đủ tư cách hay quyền hạn để ra một đạo luật nhân quyền cho bất cứ quốc gia nào khác với mục đích ép quốc gia này phải theo quan niệm lưỡng chuẩn (double standard) và đạo đức giả của Mỹ về nhân quyền. Và lẽ dĩ nhiên, những đầy tớ lãnh tiền của Mỹ như VVA lại càng không có tư cách gì để nói về nhân quyền nói chung, nhân quyền ở Việt Nam nói riêng. Trên bình diện quốc tế, nếu Mỹ, nhân danh chống khủng bố, đưa ra những biện pháp vi phạm nhân quyền như nội dung Patriot Act cho phép, thì bất cứ quốc gia nào cũng có thể nhân danh một cái gì đó, thí dụ như “an ninh quốc gia”, “trật tự và ổn định xã hội”, “bảo vệ chủ quyền”, “đề phòng sự phá hoại nền văn hóa và tôn giáo quốc gia” v..v.. để đưa ra những đạo luật và biện pháp tương tự. Viết như vậy, không phải là tôi ủng hộ sự vi phạm nhân quyền của bất cứ quốc gia nào, mà chỉ muốn nói lên một điều: vấn đề nhân quyền không có một tiêu chuẩn phổ quát, có thể áp dụng cho mọi quốc gia, mà còn phải tùy thuộc tình hình chính trị, xã hội và văn hóa của mỗi quốc gia.
Tuy nhiên, công bằng mà nói, dù sao Mỹ cũng là quốc gia có thể nói là tôn trọng quyền của người dân vào bậc nhất. Cũng vì vậy mà tôi mới có thể viết lên bài này. Nhưng chúng ta cần phải hiểu rằng, người dân đây chỉ là dân Mỹ sống trên đất Mỹ. Vấn đề ở đây không phải là Mỹ tôn trọng quyền của người dân Mỹ trên đất Mỹ, mà là trên bình diện quốc tế, Mỹ có tôn trọng nhân quyền ở các nơi khác trên thế giới hay không? Những sự kiện trong lịch sử Mỹ ở Việt Nam, Indonesia, Guatamala, El Salvadore, Nicaragua v..v. đã chứng tỏ, đúng như Vince Hyaner đã viết ở trên: Hoa Kỳ có một thành tích khủng khiếp về nhân quyền.
Tưởng chúng ta cũng nên biết thêm là năm 1986, Mỹ là quốc gia duy nhất đã bị Tòa Ám Quốc tế (World Court) kết án là khủng bố quốc tế - dùng võ lực bất hợp pháp, cho những mục tiêu chính trị (Noam Chomsky, Ibid. p. 84: In 1986, the U.S. was the only country comdemned by the World Court for international terrorism – for “unlawful use of force” for political ends) và Mỹ đã phủ quyết một nghị quyết của Hội Đồng An Ninh Liên Hiệp Quốc kêu gọi mọi quốc gia, trong đó có Mỹ, phải tôn trọng luật lệ quốc tế. Cường quyền đã thắng công lý. Tại sao Mỹ không dám công nhận quyền của Tòa Án Quốc Tế Le Hague? Vì nếu công nhận thì Mỹ sẽ là quốc gia đầu tiên bị đưa ra Tòa Án Quốc tế về những tội ác chiến tranh (war crimes) trong đó có những tội ác ở Việt Nam.
Trong cuốn Giới Thiệu Noam Chomsky (Introducing Noam
Chomsky) của John Maher và Judy Groves, Totem Books, New York, 1997, có ghi một nhận
định thời danh của Giáo sư Noam Chomsky, trang 156:
“Nếu những luật của Nuremberg (tòa án xử
tội phạm chiến tranh) được áp dụng thì sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi
tổng thống Hoa Kỳ đều đã phải bị treo cổ.”
(If the Nuremberg laws were applied,
then every post-war American president would have been hanged)
Hi vọng VVA cũng như NST hãy
thức tỉnh, nhận rõ vấn đề nhân quyền trên thế giới hiện nay, bộ mặt
thực của cơ quan cấp tiền cho Quê Mẹ Paris, và hãy hành động khôn ngoan
hơn, và thông minh hơn, trong cái gọi là tranh đấu cho “quyền làm người
Việt Nam” (sic)./.

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net