
1. Vài lời của GĐ:
Trong thời đại bây giờ, các phương tiện truyền thông lớn chế ngự
môi trường thông tin thế giới, người ta hay gọi là “Thông tin Mạch
chính” (Mainstream Media), chẳng hạn như hệ thống truyền hình Fox News
Channel v.v... của Mỹ. Nhưng chúng ta hãy coi chừng cách dùng cụm từ gọi
là “mạch chính” này một cách vô thức mà quên đi ý nghĩa đích thực
của nó. Thực chất của “mainstream media” là công cụ của các thế lực
đại tư bản phục vụ cho một quyền lực chính trị - cũng của những thành
phần đại tư bản và bao giờ các thành phần này cũng có cổ đông (stock
sharing), và được chia lợi nhuận từ nó (media) và từ các đại công ty
đầu tư vệ tinh khác. Học giả Noam Chomsky trong “Necessary Illusion:
Thought Control in Democratic Societies” xác định vai trò của “mainstream
media” còn hơn là con chó giữ nhà (far from performing a watchdog), và "tự
do báo chí" chỉ để phục vụ cho nhu cầu quyền lực (the “free press”
serves the needs of those in power) của họ mà thôi.
Nhưng may thay bên cạnh cái gọi là
“thông tin mạch chính” đó, còn có những phương tiện thông tin ngoài
mạch chính, độc lập (Alternative/ Independent Media). Đó là sự xuất hiện
của hàng triệu websites trên thế giới. Dĩ nhiên bên cạnh số lượng, còn
có sự khác biệt về phẩm chất, nhưng độc giả có cơ hội được quyền
rộng rãi chọn lựa phẩm chất cho chính mình để đọc. Sự hiện hữu của
web GĐ chỉ là sự có mặt khiêm tốn trong hàng triệu websites khác khắp
toàn cầu trong dòng thông tin độc lập này.
Trong thời gian qua, chủ đích của
mạng Giao Điểm không những chỉ cung cấp cho quý độc giả những công sức
nghiên cứu, thông tin mà còn mở rộng tinh thần kích thích sự đối thoại.
Không may, sự đối thoại gần như không có mà chỉ có những hồi đáp
(qua nhiều hình thức) mang nội dung chúng tôi không biết gọi thế nào cho
đúng nghĩa, nên tạm mượn lời nhận xét của độc giả Bùi Văn Trương,
đăng trong mục Diễn Đàn Độc Giả - một du học sinh VN ở Mỹ chưa tới
một năm, còn rất trẻ đã gọi chung là “thiếu văn hóa”.
Qua việc đăng bài “Đối thoại
cùng "sử gia" Nguyễn Đắc Xuân” của ông Lý Đại Giác đã
minh chứng tinh thần mở rộng đối thoại của Giao Điểm. Phản hồi
Phụ trách web GĐ
Tôi vừa đọc bài “Đối Thoại Với “Sử Gia” Nguyễn Đắc
Xuân” của ông Lý Đại Giác trên trang nhà Giao Điểm. Xin Giao Điểm cho tôi được nói lên vài
nhận định về bài này cho rộng đường dư luận. Tôi chưa được hân hạnh quen biết ông
Nguyễn Đắc Xuân nhưng tôi đã đọc những bài khảo cứu của ông ta
trên trang nhà Giao Điểm. Thật ra tôi
không muốn xen vào chuyện “đối thoại” của ông Lý Đại Giác với
ông Nguyễn Đắc Xuân, nhưng trong bài của ông Lý Đại Giác có nhiều điều
cố ý lạc dẫn dư luận độc giả nên tôi đành bỏ ra chút thì giờ để
viết bài nhận định này.
Nhận định tổng quát của tôi về bài của ông Lý Đại Giác là: nội
dung và văn phong không thuộc loại đối thoại.
Nội dung, ngoài những đoạn lạc đề, chẳng qua chỉ để mạt sát
cá nhân ông Nguyễn Đắc Xuân một cách phi lý, tự phong tính cách quốc tế
và dân tộc của GHPGVNTN chính thống và truyền thừa hơn 2000 năm nay (sic),
để quảng cáo cho sự “đại giác” của TT Tuệ Sỹ, và lẽ dĩ nhiên,
để mạt sát Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam và nhà nước Việt Nam. Và văn phong nhiều chỗ không thể xếp
vào hạng nào. Tất cả nhận định
trên sẽ được chứng minh qua sự phân tích sau đây. Rất tiếc là trang chủ Giao Điểm đã phải
đục bỏ một số đoạn trong bài của ông Lý Đại Giác nếu không chúng
ta đã có thể biết rõ hơn về con người của Lý Đại Giác. Tuy nhiên, đây không phải là vấn đề
quan trọng, vì qua sự phân tích một vài đoạn trong bài này, chúng ta cũng
có thể thấy phần nào giá trị của những đoạn đã bị đục bỏ và
tâm chất của tác giả.
Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu tác giả Lý Đại Giác là người
như thế nào. Theo nguyên tắc, đây không phải là một vần đề cần phải
quan tâm khi chúng ta đưa ra những nhận định về một bài viết của một
tác giả. Nhưng đặc biệt với bài của
ông Lý Đại Giác, vấn đề này trở thành một điểm then chốt trong sự
phân tích nội dung bài của ông ta.
Theo như chính lời của tác giả: “So với số tuổi 67 của ông (Nguyễn
Đắc Xuân), quả thật tôi chưa bằng phân
nửa”, thì chúng ta có thể biết
tác giả nhiều nhất là 33 tuổi, nghĩa là sinh năm 1970. Với những kiến thức của tác giả trong
bài về Hán Tự (chắc đủ để dịch một câu trong Luận Câu Xá), Khổng
Giáo, Lịch Sử Trung Quốc, Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, và Phật Pháp như “Kiến Tánh Thành Phật”, “Tánh Không”,
“Pháp Môn Bất Nhị “ thì chúng ta có thể đoán ra rằng tác giả phải
là một “đệ tử ruột” của TT Tuệ Sỹ, hay ít ra cũng là một “Hạt
Lúa Chắc” của TT Tuệ Sỹ. Nếu
không thì chúng ta phải tán thán chương trình giáo dục của nhà nước Việt
Nam đã đào tạo được một người uyên bác như Lý Đại Giác. Nhưng biết rộng là một chuyện, có tiêu
hóa nổi cái biết đó hay không, và dùng cái biết đó để làm gì lại
là một chuyện khác.
Mở đầu bài, ông Lý Đại Giác viết:
“Mưu sinh tân khổ, danh lợi phù
vân, chợt đến chợt đi, chợt còn chợt mất. Kiếp phù sinh như giấc mộng
Hoàng Lương, như vó câu qua cửa, như điện chớp, như bọt bèo. Với tuổi
67 của ông, hẳn ông đã chịu nhiều đắng cay phù phiếm. Như trong bài viết
của ông, ông thổ lộ tâm tình: “Chín năm kháng chiến vô cùng ác liệt
và gian khổ... đã khóc cười theo vận mệnh của Phật giáo hơn 40 năm
qua...” Và ngày nay, ông đã trở thành chiếc vỏ chanh hết nước, phải
thuận theo định luật đào thải của tự nhiên, định luật vắt chanh bỏ
vỏ của chế độ Cộng Sản. Đương nhiên ông nào hài lòng như vậy. Hàng
ngày, nhìn chuỗi thời gian vô vị trôi qua, ông chợt thấy tiếc cái thời
còn trai trẻ, thời oanh liệt nay còn đâu? Nhìn chung quanh, các quan chức
cao cấp nhà nước ăn đớp giàu sang hơn ông gấp bội, ông chợt thấy
mình phải làm cái gì đó để đánh bóng lại tên tuổi, để ông chủ bạc
bẽo nhà nước kia nhớ đến ông, biết đến ông chưa già lắm đâu, mặc
dù không còn trẻ.
Đọc đoạn trên chúng ta thấy gì. Trước
hết là một vài triết lý vẩn vơ thông thường mà ai cũng biết. Rồi tác giả đặt cái tâm và suy nghĩ của
mình vào cái tâm và suy nghĩ của ông Nguyễn Đắc Xuân để đưa ra những
điều mà tôi gọi là “đoán mò” hay “suy bụng ta ra bụng người.”, mục
đích không ngoài mạt sát ông Nguyễn Đắc Xuân, ngoài mục đích của một
cuộc “đối thoại”. Thủ đoạn này
chúng ta gọi là “dựng lên một người rơm rồi tự tay mình quật xuống.”
Đây là một thủ đoạn quen thuộc không mấy lương thiện trong “nghệ
thuật” đối thoại của những người không thể kể là trí thức và lẽ
dĩ nhiên, không hiểu thế nào là đối thoại.
Tiếp theo, tác giả viết:
“Ông chủ nhà nước CS có thể giao cho ông một nhiệm vụ mới.” Nhất là trong giai đoạn hiện tại, nhà nước
đang bối rối vì các Nghị Quyết của Hạ Nghị Viện Hoa Kỳ, của Quốc
Hội Châu Âu. Họ không cần người tài năng xuất chúng, song họ cần người
có tên trong bảng Phong Thần ngày cũ, mở miệng để trấn an lòng dân
trong nước. Nhà nước chắc chẳng có tham vọng là qua bài viết của các
ông và một số vị sư Quốc Doanh như các ngài (Giao Điểm bỏ 6 chữ vì
tác giả tự ý đổi tên các vị tu sĩ)... lôi kéo thuyết phục được đồng
bào hải ngoại.”
Đọc kỹ, chúng ta thấy cả đoạn trên đều là đoán mò. Tác giả đã tự đặt mình vào vai trò của
nhà nước để đưa ra những khẳng định về nhà nước có thể thế nào, thái độ “bối rối”
của nhà nước trước mấy cái nghị quyết chính trị ấm ớ của hạ viện
Mỹ và quốc hội Âu Châu, mấy cái nghị quyết đồng nhất hóa một cách
ngu xuẩn vài ông thượng tọa và hòa thượng với Phật Giáo hay tôn giáo
ở Việt Nam. Chắc hẳn tác giả chưa
đọc đến bài “Bạch Thư Tuệ Sỹ: Lý Luận
Trên Những Thông Tin Ảo” của Nhật Nam trên trang nhà Giao Điểm để
biết thực chất những bản nghị quyết đó như thế nào và có giá trị
gì đối với Việt Nam, một nước độc lập và có đầy đủ chủ quyền. Nhà nước đã bác bỏ mấy cái nghị quyết
hạ đẳng này và hạ viện Mỹ cũng như quốc hội Âu Châu đã có những
biện pháp gì để cho VN phải tôn trọng mấy cái nghị quyết đó. Chỉ có một đám người vọng ngoại có
đầu mà không có óc mới hồ hởi tin tưởng ở quyền năng của mấy cái
nghị quyết đó. Đa số người dân trong nước cũng như hải ngoại coi đó
chỉ là những trò hề chính trị. Có một điều tôi muốn khẳng định với
tác giả Lý Đại Giác: Nhà nước chẳng
cần phải lôi kéo thuyết phục đồng bào hải ngoại, trong đó có tôi,
vì đồng bào hải ngoại tìm hiểu các vấn đề, thông tin, qua sự thật,
thực tế chính trị và tôn giáo, chứ không qua những thông tin một chiều
từ những đài phát thanh, báo chí lá cải hải ngoại, cũng như các “thông
cáo báo chí” từ Paris, theo chỉ thị của cơ quan Mỹ NED, cơ quan xuất cảng dân chủ Mỹ qua những
tay sai.
Tôi xin bỏ qua vài đoạn tiếp theo vì tác giả viết toàn những chuyện
lạc đề nhạt nhẽo về cựu tổng thống Nga Boris Jenzin (Yetsin??), Bill
Clinton, cao bồi Jack và con chó Binbin v..v.. và đi vào những điểm tác giả
phê bình ông Nguyễn Đắc Xuân.
Tác giả viết:
“Điểm thứ nhất, ông (NĐX) viết:
“Ảnh hưởng của pháp nạn 1964 còn kéo dài cho đến ngày nay.” Tôi
công nhận điểm này đúng, song ông mới chỉ viết có 50%. Một nửa ông
chưa viết kia là: Qua tấm gương sụp đổ của chế độ độc tài Ngô Đình
Diệm khiến cho Đảng và nhà nước Cộng Sản lo sợ lắm.”
Đến đây thì chúng ta thấy rõ tâm chất và thủ đoạn không mấy lương
thiện của tác giả Lý Đại Giác. Tác
giả đã cắt xén đi một nửa câu của ông Nguyễn Đắc Xuân để gài ý
của mình về Đảng và nhà nước CS vào một cách lạc lõng. Nguyên văn câu đầy đủ ý của ông Nguyễn
Đắc Xuân là:
“Nhưng theo tôi (NĐX) - năm 1964 chính
là năm pháp nạn trong nội bộ Giáo hội Phật giáo [xin đọc GHPGVNTN]. Ảnh
hưởng của pháp nạn 1964 còn kéo dài cho đến ngày nay.”
Điều rõ ràng là ông Nguyễn Đắc Xuân muốn nói Pháp nạn 1964
chính là Pháp nạn trong nội bộ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
khi xưa ở miền Nam, và cho đến ngày nay, ảnh hưởng của nó còn kéo dài
cũng bởi một số phần tử trong GHPGVNTN khi xưa ở miền Nam. Tại sao tác giả lại cắt đi một nửa câu
để rồi xuyên tạc ý của ông Nguyễn Đắc Xuân? Phải chăng “tác giả” là người đã
biết rõ cái Pháp nạn trong nội bộ GHPGVNTN năm 1964 là như thế nào nên sợ
sự thật này, không dám đưa ra để phê bình?
Khi đó (1964) tác giả đứng tên Lý Đại Giác chưa sinh ra đời,
tôi đề nghị tác giả đến hỏi TT Tuệ Sỹ xem Pháp nạn 1964 trong nội bộ
GHPGVNTN là Pháp nạn như thế nào, có hay không có. Vì cố tình cắt xén để xuyên tạc nên
tác giả Lý Đại Giác đã viết tiếp như sau:
“Chúng (thực dân Pháp) ngấm ngầm tạo
ra các hiềm khích giữa các tông phái, gặp phải Pháp nạn năm 1964, các
tông phái Phật Giáo thống nhất. Sự thống nhất và chính thống kế thừa
tinh thần truyền thống Phật Giáo Việt Nam hơn hai ngàn năm này gây lo sợ
cho các chính quyền độc tài thô bạo.”
Đoạn này chứng tỏ tác giả đã cố ý bẻ queo vấn đề sang một
hướng khác. Thứ nhất, 1964 là năm
thành lập GHPGVNTN, và sau đó đã xảy ra pháp nạn trong nội bộ GHPGVNTN,
chứ không phải là vì gặp phải pháp nạn các tông phái Phật Giáo mới
thống nhất. Phật Giáo ở miền Nam gặp
phải pháp nạn từ bên ngoài là trong thời Ngô Đình Diệm và chính quyền
Ngô Đình Diệm đã cáo chung từ năm 1963. Đây là những sự kiện lịch sử. Thứ nhì, Phật giáo du nhập Việt Nam chưa
đầy 2000 năm nên không làm gì có chuyện kế thừa tinh thần truyền thống
Phật Giáo Việt Nam hơn hai ngàn năm này. Thứ
ba, Phật Giáo có 84000 Pháp môn, có nhiều tông phái khác nhau, nên cái gì gọi
là thống nhất? cái gì gọi là chính
thống? Tự cho mình là chính thống
hàm ý gạt bỏ mọi tông phái, tổ chức Phật Giáo khác, một quan điểm cống
cao ngã mạn không thể chấp nhận trong tinh thần Phật Giáo. Xin đừng lẫn lộn Phật Giáo với Công
Giáo La Mã. Cũng xin đừng hạ thấp
Phật Giáo qua cái tâm chất hẹp hòi bè phái của mình.
Bẻ queo vấn đề xong, tác giả Lý Đại Ngộ mới đưa ra một tiến
trình hoang tưởng như sau:
“Tóm lại sự liên hệ của Pháp nạn
1964 và Pháp nạn hôm nay trải qua tiến trình như sau: Pháp nạn 1963-1964
=> GHPGVNTN được thành lập => Uy tín rộng lớn trong quần chúng và quốc
tế => Độc tài CS lo sợ => Bức tử GH, cầm tù các nhà lãnh đạo
=> Đấu tranh đòi tự do tôn giáo => Pháp nạn 2003 => => => Tự
do dân chủ, nước giàu dân mạnh...! (Giao Điểm bỏ 11 chữ)”
Cái tiến trình của ông Lý Đại Giác ở trên đúng là một sự
hoang tưởng. Bởi vì, Pháp nạn 1964
chính là Pháp nạn trong nội bô GHPGVNTN khi xưa của miền Nam, còn Pháp nạn
2003 cũng lại do chính một số phần tử trong GHPGVNTN khi xưa gây ra trong đại
khối Phật Giáo của một quốc gia độc lập và thống nhất. CS không cần phải bức tử GHPGVNTN của
miền Nam vì khi miền Bắc thắng trận, thống nhất đất nước, thu giang
san về một mối, thì đương nhiên những tổ chức của miền Nam khi xưa,
dù là một tổ chức tôn giáo như GHPGVNTN, không còn tư cách pháp nhân
trong một chính thể mới. Đây là thực tế theo lô gic và hiểu biết
thông thường. Đem cái hào quang “giải trừ Pháp nạn” trong thời Ngô Đình
Diệm ở miền Nam để bắt cả nước và chính quyền mới công nhận và
tôn vinh cái hào quang đó, là một điều hoang tưởng, không thực tế. Hơn nữa, cái hào quang đó đã tắt từ
lâu, từ trước khi nước nhà thống nhất.
Những người sống trong thời đại 1964 ở miền Nam hẳn đã
biết là Pháp nạn 1964 đã làm giảm uy tín của GHPGVNTN trong quần chúng
và quốc tế như thế nào.
Phật Giáo Việt Nam đã sống với dân tộc VN qua bao triều đại của
chế độ quân chủ, không có tự do dân chủ, nhưng vẫn tạo thành mạch sống
của người dân. Tự do dân chủ là
một tiến trình xã hội, chính trị, và kinh tế chứ không phải là kết
quả mà Pháp nạn 2003, nếu có, theo cái hiểu của ông Lý Đại Giác, đưa
tới.
Ông Lý Đại Giác viết tiếp:
“Điều thứ hai, ông viết: “Nhiều
người đọc bạch thư của Thầy nói với tôi rằng “có lẽ Thầy Tuệ Sỹ
thiếu thông tin nên mới viết một lá thư lạc hậu đến thế?”” Câu
này, tôi không muốn chia ra thành hai tác giả, có nghĩa tác giả của câu
nói kia và tác giả của lá thư. Tôi cho đây là lối hành văn của ông.
Thì thưa ông, câu nói trên cũng có 50% sự thật. Sự thật “Thầy Tuệ Sỹ
thiếu thông tin”! ...
Còn vế thứ hai “nên mới viết một lá thư lạc hậu đến thế?” thì quả không đúng một chút nào! Bạch Thư hoàn toàn không lạc hậu, ngược lại Bạch Thư chuyên chở trọn vẹn tâm tình của 55 triệu đồng bào Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước. Tâm tình của 55 triệu đồng bào, trừ những người như ông ra, mà dám bảo là lạc hậu ư?”
Ông Lý Đại Giác nghi rằng câu nói trên là của ông Nguyễn Đắc Xuân
đặt vào miệng người khác. Ông cần phải nghi ngờ như vậy, vì ông cần
có cớ để phê bình mạt sát ông Nguyễn Đắc Xuân cũng như “Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam quốc doanh” và nhà nước CS. Nhưng nếu ông theo dõi dư luận ở trong
nước cũng như ở hải ngoại thì không phải người ta nói có thế mà
còn nói nhiều hơn nữa. Vài thí dụ
điển hình: Ông nên đọc bài “Bạch Thư
Tuệ Sỹ: Lý Luận Qua Thông Tin Ảo” của Nhật Nam và bài “Vòng Tục Lụy” của Trần Thanh Hải
ở trong nước, trên trang nhà Giao Điểm.
Ông công nhận “Thầy Tuệ Sỹ thiếu thông tin” nhưng không chấp
nhận là trong Bạch Thư của Thầy có nhiều điều lạc hậu. Nhưng ông không hiểu rằng “thiếu thông
tin” tất nhiên sẽ đưa đến những sai lầm và lạc hậu. Sai lầm là không đúng sự thật, và lạc
hậu là không có đầy đủ thông tin, không cập nhật hóa thông tin chính
xác mới, do đó dùng lại những thông tin đã mất đi thời gian tính. Trong Bạch Thư không thiếu những điều này.
Ngoài ra ông còn vọng ngôn khi cho rằng “Bạch Thư chuyên chở trọn vẹn tâm tình của
55 triệu đồng bào Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước.” Không một người nào có đầu óc bình thường
có thể viết lên một câu như vậy. Cho
nên tôi chưa đến nỗi điên cái đầu mà đi phê bình một câu như vậy. Tôi thật tình nghĩ rằng: Những văn thư,
bạch thư của Viện Hóa Đạo I thì chỉ chuyên chở tâm tình của Viện
Hóa Đạo II, và ngược lại. Và đây
là điều có lẽ gần sát với sự thật.
Sau đó, ông Lý Đại Giác viết tiếp:
“Điểm thứ ba, ông viết: “Đối với
chính quyền Việt Nam từ sau 1975 đến nay, cái thuận phát triển và cái
nghịch dần dần teo lại.” Tôi xin thành tâm tán thán ông trong câu này.
Ông đã nêu lên thực trạng độc tài của chính quyền chuyên chế. Làm
gì còn thế lực đối lập! Thuận theo đảng CS thì tha hồ đớp hút, ngay
cả cái gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam quốc doanh kia cũng vậy...”
Đến đây, tôi bắt buộc
phải đánh giá thấp một lần nữa con người của ông Lý Đại Giác. Tại sao? Vì
ông lại dùng thủ đoạn cắt xén mạch văn của ông Nguyễn Đắc Xuân để
phê bình láo lếu sang một ý khác với một văn phong không xứng đáng của
một bậc trí thức. Chứng minh?
Nguyên văn câu với đầy đủ ý của ông Nguyễn Đắc Xuân là:
“Thế thì tổ chức Phật Giáo phải
sống trong một chính quyền. Chính quyền
đó không mang tinh thần Phật Giáo cho nên có cái thuận và có cái nghịch.
Đối với chính quyền Việt Nam từ sau 1975 đến nay, cái thuận phát triển
và cái nghịch dần dần teo lại. Và,
những gì còn tồn tại phải khắc phục trong tinh thần “gà cùng một mẹ”. Còn như nhân danh gì đó của Phật Giáo
Việt Nam để kêu gọi người ngoài can thiệp vào thì hậu quả sẽ không
lường được.”
Tôi nghĩ rằng, với kiến thức của ông Lý Đại Giác có ý khoe
trong bài, ông không thể nào không hiểu đoạn văn trên của ông Nguyễn Đắc
Xuân muốn nói gì. Nhưng ông đã cố
ý bẻ queo ý của ông Xuân bằng cách trích dẫn lạc lõng một câu ngoài
toàn bộ vấn đề (out of context) để dựa vào đó mà phê bình láo lếu. Câu của ông Xuân tuyệt đối không có
nghĩa là tổ chức nào thuận với chính quyền hay tổ chức nào nghịch với
chính quyền mà ông cố tình diễn giải sai lạc như vậy. Câu trên chỉ mô tả thái độ của chính
quyền đối với Phật Giáo từ 1975 đến nay và sự thay đổi thái độ đó
theo dòng thời gian. Từ sự thay đổi
này nên cái thuận mới có cơ phát triển, và cái nghịch dần dần giảm
đi, vì chính quyền đã nhận thức được đâu là con đường dân tộc.
Thông điệp của ông Xuân thật là rõ ràng, dựa vào thực tế, và toát ra lòng yêu nước, yêu đạo. Ông ta
cũng cổ võ một sự khắc phục những khó khăn của Phật Giáo trong tinh
thần đoàn kết nội bộ, hóa giải pháp nạn từ bên trong, và khuyến cáo
Phật Giáo đừng có đi vào con đường của Lê Chiêu Thống hay Trần Ích Tắc.
Tới đây, tôi nghĩ tiếp tục đưa ra những nhận định về những
phần tiếp theo trong bài “Đối Thoại...” của ông Lý Đại Giác là một
điều không cần thiết. Tôi cho rằng
từng ấy cũng đủ để chúng ta có thể đánh giá tâm chất con người của
ông Lý Đại Giác. Tuy nhiên, có hai
điểm tôi không thể bỏ qua.
Thứ nhất, ông viết: “Tôi tin ông
(NĐX) cũng có đọc qua sử sách, dù trước năm 1964 học hành bữa đực bữa
cái, thích chơi trò nổi, mới được vài năm dang dở sinh viên, những năm
đi bưng thì thiếu sách vở, khi trở về còn lo bốc hút, bợ đít chính
quyền, ca tụng lãnh tụ...”
Chúng ta nên coi loại văn này là của hạng người nào? Có một điểm tôi xin nhắc ông Lý Đại
Giác và quý độc giả Giao Điểm là năm 1964 ông Lý Đại Giác chưa sinh ra
đời, và năm ông Xuân từ bưng về, tôi không biết rõ nhưng cho là 1975,
thì ông Lý Đại Giác mới có nhiều nhất là 5 tuổi. Tôi chỉ nhắc vậy thôi, còn đánh giá
câu viết trên và con người của ông Lý Đại Giác ra sao tôi xin để cho
quý độc giả tự mình quyết định.
Thứ nhì, ông Lý Đại Giác viết:
“Phải rồi, ông có nhắc ở phần
áp kết hai chữ Tánh Không. Thưa ông, ông có biết Tánh Không là gì không
ạ? Nếu chưa biết, (và tôi chắc là ông chẳng biết Tánh Không là gì),
xin ông vui lòng đến tu viện Quảng Hương Già Lam bên Gò Vấp, tìm gặp Đại
Sư Tuệ Sỹ, xin ngài từ bi giảng cho ông biết Tánh Không là gì? Tánh
Không Luận của Bồ Tát Long Thọ ra sao? Đại Sư Tuệ Sỹ từ bi và trí tuệ
không khác gì ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ đời Trần. Ngài đã hành thâm
Pháp Môn Bất Nhị của ngài Duy Ma Cật. Chắc chắn Ngài Tuệ Sỹ không
phân biệt chúng sinh, không chấp trước các lời bàn luận phiến diện của
ông về Bạch Thư đâu, Ngài sẽ vì ông mà nói Pháp. Vì ông mà làm sáng tỏ
Tánh Không, dù căn cơ của ông ở tầng lớp nào, thì một lần thọ Pháp
từ Thầy Tuệ Sỹ, ông vẫn được hưởng lợi lạc vô biên.”
Đây là phần quảng cáo cho cái “đại giác” của TT Tuệ Sỹ của
tác giả Lý Đại Giác. Với giọng văn
huênh hoang như vậy, chắc hẳn ông Lý Đại Giác đã biết “Tánh Không”
là gì, vì nhất định là ông Lý Đại Giác đã thọ giáo “Tánh Không”
với TT Tuệ Sỹ rồi nên mới giới thiệu cho ông Nguyễn Đắc Xuân đến
học “Tánh Không” với Ngài Tuệ Sỹ. Tôi
(không phải là ông Nguyễn Đắc Xuân) hiểu “Tánh Không” như thế này,
không biết có đúng không. “Tánh
Không” là trống rỗng, có nghĩa là “Thùng Rỗng Thì Kêu To”. Nói vậy thôi chứ thật ra thì với rừng
kinh điển sách vở ngày nay ai cũng có thể hiểu thế nào là “Tánh Không” và ai cũng có thể giảng
được thế nào là “Tánh Không”. Vấn
đề là hiểu và giảng được là một chuyện, có hội nhập được vào
“Tánh Không” của Vạn Pháp hay không lại là một chuyện khác. Ngài Tuệ Sỹ được ông Lý Đại Giác
quảng cáo là “từ bi và trí tuệ không
khác gì ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ đời Trần” và “đã
hành thâm Pháp Môn Bất Nhị của Ngài Duy Ma Cật”. Ai biết lòng từ bi và trí tuệ của Tuệ
Trung Thượng Sĩ đời Trần ra sao, xin giơ tay.
Chúng ta chỉ biết là trong thời chiến, Tuệ Trung Thượng Sĩ
đã khoác chiến bào chống xâm lăng, chống xong trở về sống một đời sống
tự tại, không chấp trước. Còn
hành thâm Pháp Môn Bất Nhị của Bồ Tát Duy Ma Cật là hành thâm như thế
nào? Kinh văn viết:
Khi đó Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật rằng: “Chúng tôi ai cũng nói (về Pháp Môn Bất Nhị)
rồi, đến lượt nhân giả nói thế nào là Bồ Tát vào Pháp Môn Bất Nhị?”
Ông Duy Ma Cật im lặng không nói. Ngài
Văn Thù Sư Lợi khen rằng: “Hay thay! Hay
thay! Cho đến không có văn tự ngữ ngôn,
đó mới là Pháp Môn Bất Nhị.” Hành
thâm Pháp Môn Bất Nhị mà cho ra một mớ Bạch Thư, Tâm Thư, Sự Biến
Lương Sơn v..v.. mà nội dung chứa chất thù hận, mâu thuẫn, xuyên tạc, cống
cao ngã mạn, thì Bất Nhị ở cái chỗ nào?
Pháp môn Bất Nhị của TT Tuệ Sỹ mà ông Lý Đại Giác
quảng cáo nằm trong một câu trong bức Tâm Thư gửi nhóm Tăng Sinh Huế của Ngài Tuệ Sỹ:
“So với khối lượng tăng ni sinh trong cả nước, các con chỉ là một nhóm nhỏ. Ít, nhưng đây là những hạt lúa chắc. Nhiều, nhưng chỉ là vỏ trấu, và là những hạt chưa được ủ mầm mà đã mục rỗng bên trong.”
VÀI LỜI KẾT.- Tôi có thể kết
luận như thế nào về bài “Đối Thoại..” của ông Lý Đại Giác. Vì khả năng và sáng kiến của tôi có hạn
nên tôi không kiếm ra được lời nào thích hợp để đưa ra một kết luận
chính xác về bài của ông Lý Đại Giác mà không gây phiền lòng cho một
số độc giả mà tôi biết chắc không ưa đọc những lời phê phán nặng
nề. Vì vậy, thay vì kết luận,
tôi xin có vài lời đề nghị cùng tác giả Lý Đại Giác:
Thứ nhất, không nên coi thường độc giả, nhất lại là độc giả
của Giao Điểm, để mà muốn viết thế nào thì viết, hi vọng có thể
thuyết phục được người đọc. Nên
tin rằng, người đọc nếu không hơn mình thì cũng chẳng thua kém mình về
hiểu biết, đức hạnh.
Thứ nhì, nên tránh chuyện mạt sát cá nhân mà tiếng Mỹ gọi là
“character assassination”. Điều này chỉ hạ thấp giá trị của chính
mình xuống. Nếu muốn nói đến một
khía cạnh nào đó của một cá nhân để chứng minh lập luận của mình
thì cần phải đưa ra những bằng chứng cụ thể, chứ không nên viết vu
vơ dựa trên sự suy luận vô căn cứ của chính mình mà tôi gọi là “đoán
mò”. Đây là điều ông đã quá lạm dụng trong suốt bài viết của ông.
Thứ ba, đừng có hi vọng dạy khôn người khác khi bài viết của
mình chẳng có gì chứng tỏ là mình hiểu biết đúng cả.
Thứ tư, khi trích dẫn bài của người khác, nên trích dẫn cho đầy
đủ những câu có ý tưởng liên hệ tới nhau, đừng có cắt xén ngoài
toàn bộ vấn đề rồi diễn đạt méo mó ý của người ta theo một ý
khác của mình. Đây cũng là điều mà ông đã làm trong bài viết của
ông. Thủ đoạn này không thể chấp
nhận trong giới trí thức.
Thứ năm, văn tức là người, vậy xin bỏ những từ ngữ như “đớp
hút”, “bốc húp”, “bợ đít” v..v.. không thích hợp với tư cách của
một người có ăn học.
Và cuối cùng, tôi xin mượn chính lời ông viết để kết thúc bản
nhận định này:
“Còn hàng chục điều không đúng sự
thật trong bài viết của ông, tôi muốn trình bày để ông tỏ tường,
song Đức Khổng Phu Tử có dạy rằng “Giáo Đa Thành Oán” (Dạy nhiều
quá, người ta oán hận), hoặc “Cái giường có bốn góc, chỉ ba góc,
còn góc thứ tư phải tự tìm lấy!” Nên xin ông hãy tĩnh tâm suy nghĩ, biết
đâu ông chẳng ngộ ra chỗ tôi chưa phân tích.”
Xin thành thực chúc ông may mắn và thành công trong mọi việc trừ việc
viết lách, vì việc này không thuộc loại may mắn mà tùy thuộc rất nhiều
vào khả năng cá nhân và nhất là vào chánh kiến và chánh tư duy.
"So với số tuổi 67 của ông, quả thật
tôi chưa bằng phân nửa”
Trẻ nhỉ! Cỡ 30 tuổi thôi!
"Đến
các nhà bank tin tức của chính phủ, các hãng quốc doanh, bọn trẻ chúng
tôi vẫn ra vào như chốn không người.”
Vừa trẻ vừa tài! Cha trời! Đám trẻ Việt Nam chống cộng giữ đa!
"Tôi
tin ông cũng có đọc qua sử sách, dù trước năm 1964 học hành bữa đực
bữa cái, thích chơi trò nổi, mới được vài năm dang dở sinh viên, những
năm đi bưng thì thiếu sách vở,..”
Lạ thiệt! Đám trẻ sau 75 mấy ai biết ông NĐ. Xuân là ai và quá khứ
ông ra sao?
Ông "bạn trẻ" này biết cả từ trước 1964. Mà “đoán” được
cả cái tâm lý ông Nguyễn Đắc Xuân là “thích chơi trò nổi”!
Giọng
văn cứ như người “từng trải” , của một “bạn trẻ” mà tuổi
tác cũng cỡ.. “cổ lai hy”!
"Nó cũng giống giống như cậu học sinh lớp chín phải luận Kiều. Khi người ta đọc bài luận
ấy thấy tức cười, thì người đọc nên cười Nguyễn Du hay cười sự
ngớ ngẩn của cậu học trò đệ tứ kia, ông
nhỉ?”
Vì “đệ tứ” là danh từ cỡ tuổi 50 trở
đi mới biết!
Dấu đầu, hở đuôi. Cái văn phong “ông
già” cứ lòi ra!
Giả
“trẻ” chi vậy nhỉ hỡi ông già họ “Lý”
???
Mà ông có “trong nước” thiệt không ???
Lý
Cận Địa
-------------------------------------
PS:
Bác H.! Dạo này mấy ông già hải ngoại hay giả làm “thanh niên” để lọm
rọm “thắp sáng niềm tin” .. Cứ vào mấy Web Site như BBC mà đọc thơ
thính giả thì biết liền.
(Đoan Hùng - N L Tiến)

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net