08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes) Nghiên cứu & đối thoại tháng 12 quý bốn năm 2003 whiteball.gif (923 bytes)
 

1. Vài lời của GĐ:   Trong thời đại bây giờ, các phương tiện truyền thông lớn chế ngự môi trường thông tin thế giới, người ta hay gọi là “Thông tin Mạch chính” (Mainstream Media), chẳng hạn như hệ thống truyền hình Fox News Channel v.v... của Mỹ. Nhưng chúng ta hãy coi chừng cách dùng cụm từ gọi là “mạch chính” này một cách vô thức mà quên đi ý nghĩa đích thực của nó. Thực chất của “mainstream media” là công cụ của các thế lực đại tư bản phục vụ cho một quyền lực chính trị - cũng của những thành phần đại tư bản và bao giờ các thành phần này cũng có cổ đông (stock sharing), và được chia lợi nhuận từ nó (media) và từ các đại công ty đầu tư vệ tinh khác. Học giả Noam Chomsky trong “Necessary Illusion: Thought Control in Democratic Societies” xác định vai trò của “mainstream media” còn hơn là con chó giữ nhà (far from performing a watchdog), và "tự do báo chí" chỉ để phục vụ cho nhu cầu quyền lực (the “free press” serves the needs of those in power) của họ mà thôi.

Nhưng may thay bên cạnh cái gọi là “thông tin mạch chính” đó, còn có những phương tiện thông tin ngoài mạch chính, độc lập (Alternative/ Independent Media). Đó là sự xuất hiện của hàng triệu websites trên thế giới. Dĩ nhiên bên cạnh số lượng, còn có sự khác biệt về phẩm chất, nhưng độc giả có cơ hội được quyền rộng rãi chọn lựa phẩm chất cho chính mình để đọc. Sự hiện hữu của web GĐ chỉ là sự có mặt khiêm tốn trong hàng triệu websites khác khắp toàn cầu trong dòng thông tin độc lập này.

Trong thời gian qua, chủ đích của mạng Giao Điểm không những chỉ cung cấp cho quý độc giả những công sức nghiên cứu, thông tin mà còn mở rộng tinh thần kích thích sự đối thoại. Không may, sự đối thoại gần như không có mà chỉ có những hồi đáp (qua nhiều hình thức) mang nội dung chúng tôi không biết gọi thế nào cho đúng nghĩa, nên tạm mượn lời nhận xét của độc giả Bùi Văn Trương, đăng trong mục Diễn Đàn Độc Giả - một du học sinh VN ở Mỹ chưa tới một năm, còn rất trẻ đã gọi chung là “thiếu văn hóa”.

Qua việc đăng bài “Đối thoại cùng "sử gia" Nguyễn Đắc Xuân” của ông Lý Đại Giác đã minh chứng tinh thần mở rộng đối thoại của Giao Điểm. Phản hồi từ bài viết này, ngoài nhận định của tác giả Trần Chung Ngọc, một người cộng tác thường xuyên với GĐ, còn có bạn Đoan Hùng NLT. đã nêu ý kiến về phẩm chất bài “đối thoại” của ông Lý Đại Giác (đăng dưới đây). Chúng tôi được biết bạn Đoan Hùng vốn là chuyên viên quản trị kỹ thuật không có thì giờ nhiều để viết thành một bài nhận xét đầy đủ, nhưng đóng góp ý kiến dí dỏm của bạn đã chứng tỏ sự quan tâm và theo dõi web GĐ rất thường xuyên của mọi giới độc giả. Mặt khác, trong mấy ngày qua có rất nhiều điện thư thắc mắc hỏi chúng tôi chung quanh vấn đề “ông già hay ông trẻ” về tác giả Lý Đại Giác. Dù chưa già, nhưng tiện đây để trả lời chung, chúng tôi giả bộ vuốt cằm, mà rằng : quý vị nên đi hỏi nhỏ mấy ngài trong Phòng Thông tin PGQT của Võ Văn Ái thuộc Văn phòng II VHĐ sẽ biết rõ Lý Đại Giác là ai vậy !

Phụ trách web GĐ

          ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
        2. VÀI NHẬN ĐỊNH VỀ BÀI “ĐỐI THOẠI...”
          Của Lý Đại Giác
 

Trần Chung Ngọc

     Tôi vừa đọc bài “Đối Thoại Với “Sử Gia” Nguyễn Đắc Xuân” của ông Lý Đại Giác trên trang nhà Giao Điểm.  Xin Giao Điểm cho tôi được nói lên vài nhận định về bài này cho rộng đường dư luận.  Tôi chưa được hân hạnh quen biết ông Nguyễn Đắc Xuân nhưng tôi đã đọc những bài khảo cứu của ông ta trên trang nhà Giao Điểm.  Thật ra tôi không muốn xen vào chuyện “đối thoại” của ông Lý Đại Giác với ông Nguyễn Đắc Xuân, nhưng trong bài của ông Lý Đại Giác có nhiều điều cố ý lạc dẫn dư luận độc giả nên tôi đành bỏ ra chút thì giờ để viết bài nhận định này.

     Nhận định tổng quát của tôi về bài của ông Lý Đại Giác là: nội dung và văn phong không thuộc loại đối thoại.  Nội dung, ngoài những đoạn lạc đề, chẳng qua chỉ để mạt sát cá nhân ông Nguyễn Đắc Xuân một cách phi lý, tự phong tính cách quốc tế và dân tộc của GHPGVNTN chính thống và truyền thừa hơn 2000 năm nay (sic), để quảng cáo cho sự “đại giác” của TT Tuệ Sỹ, và lẽ dĩ nhiên, để mạt sát Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam và nhà nước Việt Nam.  Và văn phong nhiều chỗ không thể xếp vào hạng nào.  Tất cả nhận định trên sẽ được chứng minh qua sự phân tích sau đây.  Rất tiếc là trang chủ Giao Điểm đã phải đục bỏ một số đoạn trong bài của ông Lý Đại Giác nếu không chúng ta đã có thể biết rõ hơn về con người của Lý Đại Giác.  Tuy nhiên, đây không phải là vấn đề quan trọng, vì qua sự phân tích một vài đoạn trong bài này, chúng ta cũng có thể thấy phần nào giá trị của những đoạn đã bị đục bỏ và tâm chất của tác giả.

     Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu tác giả Lý Đại Giác là người như thế nào. Theo nguyên tắc, đây không phải là một vần đề cần phải quan tâm khi chúng ta đưa ra những nhận định về một bài viết của một tác giả.  Nhưng đặc biệt với bài của ông Lý Đại Giác, vấn đề này trở thành một điểm then chốt trong sự phân tích nội dung bài của ông ta.

      Theo như chính lời của tác giả:  “So với số tuổi 67 của ông (Nguyễn Đắc Xuân), quả thật tôi chưa bằng phân nửa”,  thì chúng ta có thể biết tác giả nhiều nhất là 33 tuổi, nghĩa là sinh năm 1970.  Với những kiến thức của tác giả trong bài về Hán Tự (chắc đủ để dịch một câu trong Luận Câu Xá), Khổng Giáo, Lịch Sử Trung Quốc, Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, và Phật Pháp như  “Kiến Tánh Thành Phật”, “Tánh Không”, “Pháp Môn Bất Nhị “ thì chúng ta có thể đoán ra rằng tác giả phải là một “đệ tử ruột” của TT Tuệ Sỹ, hay ít ra cũng là một “Hạt Lúa Chắc” của TT Tuệ Sỹ.  Nếu không thì chúng ta phải tán thán chương trình giáo dục của nhà nước Việt Nam đã đào tạo được một người uyên bác như Lý Đại Giác.  Nhưng biết rộng là một chuyện, có tiêu hóa nổi cái biết đó hay không, và dùng cái biết đó để làm gì lại là một chuyện khác.

     Mở đầu bài, ông Lý Đại Giác viết:

     “Mưu sinh tân khổ, danh lợi phù vân, chợt đến chợt đi, chợt còn chợt mất. Kiếp phù sinh như giấc mộng Hoàng Lương, như vó câu qua cửa, như điện chớp, như bọt bèo. Với tuổi 67 của ông, hẳn ông đã chịu nhiều đắng cay phù phiếm. Như trong bài viết của ông, ông thổ lộ tâm tình: “Chín năm kháng chiến vô cùng ác liệt và gian khổ... đã khóc cười theo vận mệnh của Phật giáo hơn 40 năm qua...” Và ngày nay, ông đã trở thành chiếc vỏ chanh hết nước, phải thuận theo định luật đào thải của tự nhiên, định luật vắt chanh bỏ vỏ của chế độ Cộng Sản. Đương nhiên ông nào hài lòng như vậy. Hàng ngày, nhìn chuỗi thời gian vô vị trôi qua, ông chợt thấy tiếc cái thời còn trai trẻ, thời oanh liệt nay còn đâu? Nhìn chung quanh, các quan chức cao cấp nhà nước ăn đớp giàu sang hơn ông gấp bội, ông chợt thấy mình phải làm cái gì đó để đánh bóng lại tên tuổi, để ông chủ bạc bẽo nhà nước kia nhớ đến ông, biết đến ông chưa già lắm đâu, mặc dù không còn trẻ.    

     Đọc đoạn trên chúng ta thấy gì.  Trước hết là một vài triết lý vẩn vơ thông thường mà ai cũng biết.  Rồi tác giả đặt cái tâm và suy nghĩ của mình vào cái tâm và suy nghĩ của ông Nguyễn Đắc Xuân để đưa ra những điều mà tôi gọi là “đoán mò” hay “suy bụng ta ra bụng người.”, mục đích không ngoài mạt sát ông Nguyễn Đắc Xuân, ngoài mục đích của một cuộc “đối thoại”.  Thủ đoạn này chúng ta gọi là “dựng lên một người rơm rồi tự tay mình quật xuống.” Đây là một thủ đoạn quen thuộc không mấy lương thiện trong “nghệ thuật” đối thoại của những người không thể kể là trí thức và lẽ dĩ nhiên, không hiểu thế nào là đối thoại.

     Tiếp theo, tác giả viết: 

    “Ông chủ nhà nước CS có thể giao cho ông một nhiệm vụ mới.”  Nhất là trong giai đoạn hiện tại, nhà nước đang bối rối vì các Nghị Quyết của Hạ Nghị Viện Hoa Kỳ, của Quốc Hội Châu Âu. Họ không cần người tài năng xuất chúng, song họ cần người có tên trong bảng Phong Thần ngày cũ, mở miệng để trấn an lòng dân trong nước. Nhà nước chắc chẳng có tham vọng là qua bài viết của các ông và một số vị sư Quốc Doanh như các ngài (Giao Điểm bỏ 6 chữ vì tác giả tự ý đổi tên các vị tu sĩ)... lôi kéo thuyết phục được đồng bào hải ngoại.”

     Đọc kỹ, chúng ta thấy cả đoạn trên đều là đoán mò.  Tác giả đã tự đặt mình vào vai trò của nhà nước để đưa ra những khẳng định về nhà nước có thể thế nào, thái độ “bối rối” của nhà nước trước mấy cái nghị quyết chính trị ấm ớ của hạ viện Mỹ và quốc hội Âu Châu, mấy cái nghị quyết đồng nhất hóa một cách ngu xuẩn vài ông thượng tọa và hòa thượng với Phật Giáo hay tôn giáo ở Việt Nam.  Chắc hẳn tác giả chưa đọc đến bài “Bạch Thư Tuệ Sỹ: Lý Luận Trên Những Thông Tin Ảo” của Nhật Nam trên trang nhà Giao Điểm để biết thực chất những bản nghị quyết đó như thế nào và có giá trị gì đối với Việt Nam, một nước độc lập và có đầy đủ chủ quyền.  Nhà nước đã bác bỏ mấy cái nghị quyết hạ đẳng này và hạ viện Mỹ cũng như quốc hội Âu Châu đã có những biện pháp gì để cho VN phải tôn trọng mấy cái nghị quyết đó.  Chỉ có một đám người vọng ngoại có đầu mà không có óc mới hồ hởi tin tưởng ở quyền năng của mấy cái nghị quyết đó. Đa số người dân trong nước cũng như hải ngoại coi đó chỉ là những trò hề chính trị. Có một điều tôi muốn khẳng định với tác giả Lý Đại Giác:  Nhà nước chẳng cần phải lôi kéo thuyết phục đồng bào hải ngoại, trong đó có tôi, vì đồng bào hải ngoại tìm hiểu các vấn đề, thông tin, qua sự thật, thực tế chính trị và tôn giáo, chứ không qua những thông tin một chiều từ những đài phát thanh, báo chí lá cải hải ngoại, cũng như các “thông cáo báo chí” từ Paris, theo chỉ thị của cơ quan Mỹ  NED, cơ quan xuất cảng dân chủ Mỹ qua những tay sai.

    Tôi xin bỏ qua vài đoạn tiếp theo vì tác giả viết toàn những chuyện lạc đề nhạt nhẽo về cựu tổng thống Nga Boris Jenzin (Yetsin??), Bill Clinton, cao bồi Jack và con chó Binbin v..v.. và đi vào những điểm tác giả phê bình ông Nguyễn Đắc Xuân.

     Tác giả viết:

     “Điểm thứ nhất, ông (NĐX) viết: “Ảnh hưởng của pháp nạn 1964 còn kéo dài cho đến ngày nay.” Tôi công nhận điểm này đúng, song ông mới chỉ viết có 50%. Một nửa ông chưa viết kia là: Qua tấm gương sụp đổ của chế độ độc tài Ngô Đình Diệm khiến cho Đảng và nhà nước Cộng Sản lo sợ lắm.”

     Đến đây thì chúng ta thấy rõ tâm chất và thủ đoạn không mấy lương thiện của tác giả Lý Đại Giác.  Tác giả đã cắt xén đi một nửa câu của ông Nguyễn Đắc Xuân để gài ý của mình về Đảng và nhà nước CS vào một cách lạc lõng.  Nguyên văn câu đầy đủ ý của ông Nguyễn Đắc Xuân là:

      “Nhưng theo tôi (NĐX) - năm 1964 chính là năm pháp nạn trong nội bộ Giáo hội Phật giáo [xin đọc GHPGVNTN]. Ảnh hưởng của pháp nạn 1964 còn kéo dài cho đến ngày nay.”

     Điều rõ ràng là ông Nguyễn Đắc Xuân muốn nói Pháp nạn 1964 chính là Pháp nạn trong nội bộ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất khi xưa ở miền Nam, và cho đến ngày nay, ảnh hưởng của nó còn kéo dài cũng bởi một số phần tử trong GHPGVNTN khi xưa ở miền Nam.  Tại sao tác giả lại cắt đi một nửa câu để rồi xuyên tạc ý của ông Nguyễn Đắc Xuân?  Phải chăng “tác giả” là người đã biết rõ cái Pháp nạn trong nội bộ GHPGVNTN năm 1964 là như thế nào nên sợ sự thật này, không dám đưa ra để phê bình?   Khi đó (1964) tác giả đứng tên Lý Đại Giác chưa sinh ra đời, tôi đề nghị tác giả đến hỏi TT Tuệ Sỹ xem Pháp nạn 1964 trong nội bộ GHPGVNTN là Pháp nạn như thế nào, có hay không có.  Vì cố tình cắt xén để xuyên tạc nên tác giả Lý Đại Giác đã viết tiếp như sau:

     “Chúng (thực dân Pháp) ngấm ngầm tạo ra các hiềm khích giữa các tông phái, gặp phải Pháp nạn năm 1964, các tông phái Phật Giáo thống nhất. Sự thống nhất và chính thống kế thừa tinh thần truyền thống Phật Giáo Việt Nam hơn hai ngàn năm này gây lo sợ cho các chính quyền độc tài thô bạo.”

     Đoạn này chứng tỏ tác giả đã cố ý bẻ queo vấn đề sang một hướng khác.  Thứ nhất, 1964 là năm thành lập GHPGVNTN, và sau đó đã xảy ra pháp nạn trong nội bộ GHPGVNTN, chứ không phải là vì gặp phải pháp nạn các tông phái Phật Giáo mới thống nhất.  Phật Giáo ở miền Nam gặp phải pháp nạn từ bên ngoài là trong thời Ngô Đình Diệm và chính quyền Ngô Đình Diệm đã cáo chung từ năm 1963. Đây là những sự kiện lịch sử.  Thứ nhì, Phật giáo du nhập Việt Nam chưa đầy 2000 năm nên không làm gì có chuyện kế thừa tinh thần truyền thống Phật Giáo Việt Nam hơn hai ngàn năm này.  Thứ ba, Phật Giáo có 84000 Pháp môn, có nhiều tông phái khác nhau, nên cái gì gọi là thống nhất?  cái gì gọi là chính thống?  Tự cho mình là chính thống hàm ý gạt bỏ mọi tông phái, tổ chức Phật Giáo khác, một quan điểm cống cao ngã mạn không thể chấp nhận trong tinh thần Phật Giáo.   Xin đừng lẫn lộn Phật Giáo với Công Giáo La Mã.  Cũng xin đừng hạ thấp Phật Giáo qua cái tâm chất hẹp hòi bè phái của mình.

     Bẻ queo vấn đề xong, tác giả Lý Đại Ngộ mới đưa ra một tiến trình hoang tưởng như sau:

    “Tóm lại sự liên hệ của Pháp nạn 1964 và Pháp nạn hôm nay trải qua tiến trình như sau: Pháp nạn 1963-1964 => GHPGVNTN được thành lập => Uy tín rộng lớn trong quần chúng và quốc tế => Độc tài CS lo sợ => Bức tử GH, cầm tù các nhà lãnh đạo => Đấu tranh đòi tự do tôn giáo => Pháp nạn 2003 => => => Tự do dân chủ, nước giàu dân mạnh...! (Giao Điểm bỏ 11 chữ)”

     Cái tiến trình của ông Lý Đại Giác ở trên đúng là một sự hoang tưởng.  Bởi vì, Pháp nạn 1964 chính là Pháp nạn trong nội bô GHPGVNTN khi xưa của miền Nam, còn Pháp nạn 2003 cũng lại do chính một số phần tử trong GHPGVNTN khi xưa gây ra trong đại khối Phật Giáo của một quốc gia độc lập và thống nhất.  CS không cần phải bức tử GHPGVNTN của miền Nam vì khi miền Bắc thắng trận, thống nhất đất nước, thu giang san về một mối, thì đương nhiên những tổ chức của miền Nam khi xưa, dù là một tổ chức tôn giáo như GHPGVNTN, không còn tư cách pháp nhân trong một chính thể mới. Đây là thực tế theo lô gic và hiểu biết thông thường. Đem cái hào quang “giải trừ Pháp nạn” trong thời Ngô Đình Diệm ở miền Nam để bắt cả nước và chính quyền mới công nhận và tôn vinh cái hào quang đó, là một điều hoang tưởng, không thực tế.  Hơn nữa, cái hào quang đó đã tắt từ lâu, từ trước khi nước nhà thống nhất.   Những người sống trong thời đại 1964 ở miền Nam hẳn đã biết là Pháp nạn 1964 đã làm giảm uy tín của GHPGVNTN trong quần chúng và quốc tế như thế nào.

     Phật Giáo Việt Nam đã sống với dân tộc VN qua bao triều đại của chế độ quân chủ, không có tự do dân chủ, nhưng vẫn tạo thành mạch sống của người dân.   Tự do dân chủ là một tiến trình xã hội, chính trị, và kinh tế chứ không phải là kết quả mà Pháp nạn 2003, nếu có, theo cái hiểu của ông Lý Đại Giác, đưa tới.

    Ông Lý Đại Giác viết tiếp:

     “Điều thứ hai, ông viết: “Nhiều người đọc bạch thư của Thầy nói với tôi rằng “có lẽ Thầy Tuệ Sỹ thiếu thông tin nên mới viết một lá thư lạc hậu đến thế?”” Câu này, tôi không muốn chia ra thành hai tác giả, có nghĩa tác giả của câu nói kia và tác giả của lá thư. Tôi cho đây là lối hành văn của ông. Thì thưa ông, câu nói trên cũng có 50% sự thật. Sự thật “Thầy Tuệ Sỹ thiếu thông tin”! ...

     Còn vế thứ hai “nên mới viết một lá thư lạc hậu đến thế?” thì quả không đúng một chút nào! Bạch Thư hoàn toàn không lạc hậu, ngược lại Bạch Thư chuyên chở trọn vẹn tâm tình của 55 triệu đồng bào Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước. Tâm tình của 55 triệu đồng bào, trừ những người như ông ra, mà dám bảo là lạc hậu ư?”

      Ông Lý Đại Giác nghi rằng câu nói trên là của ông Nguyễn Đắc Xuân đặt vào miệng người khác. Ông cần phải nghi ngờ như vậy, vì ông cần có cớ để phê bình mạt sát ông Nguyễn Đắc Xuân cũng như “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam quốc doanh” và nhà nước CS.  Nhưng nếu ông theo dõi dư luận ở trong nước cũng như ở hải ngoại thì không phải người ta nói có thế mà còn nói nhiều hơn nữa.  Vài thí dụ điển hình: Ông nên đọc bài “Bạch Thư Tuệ Sỹ: Lý Luận Qua Thông Tin Ảo” của Nhật Nam và bài “Vòng Tục Lụy” của Trần Thanh Hải ở trong nước, trên trang nhà Giao Điểm.

     Ông công nhận “Thầy Tuệ Sỹ thiếu thông tin” nhưng không chấp nhận là trong Bạch Thư của Thầy có nhiều điều lạc hậu.  Nhưng ông không hiểu rằng “thiếu thông tin” tất nhiên sẽ đưa đến những sai lầm và lạc hậu.  Sai lầm là không đúng sự thật, và lạc hậu là không có đầy đủ thông tin, không cập nhật hóa thông tin chính xác mới, do đó dùng lại những thông tin đã mất đi thời gian tính.  Trong Bạch Thư không thiếu những điều này.

     Ngoài ra ông còn vọng ngôn khi cho rằng “Bạch Thư chuyên chở trọn vẹn tâm tình của 55 triệu đồng bào Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước.”  Không một người nào có đầu óc bình thường có thể viết lên một câu như vậy.  Cho nên tôi chưa đến nỗi điên cái đầu mà đi phê bình một câu như vậy.  Tôi thật tình nghĩ rằng: Những văn thư, bạch thư của Viện Hóa Đạo I thì chỉ chuyên chở tâm tình của Viện Hóa Đạo II, và ngược lại.  Và đây là điều có lẽ gần sát với sự thật.

     Sau đó, ông Lý Đại Giác viết tiếp:

     “Điểm thứ ba, ông viết: “Đối với chính quyền Việt Nam từ sau 1975 đến nay, cái thuận phát triển và cái nghịch dần dần teo lại.” Tôi xin thành tâm tán thán ông trong câu này. Ông đã nêu lên thực trạng độc tài của chính quyền chuyên chế. Làm gì còn thế lực đối lập! Thuận theo đảng CS thì tha hồ đớp hút, ngay cả cái gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam quốc doanh kia cũng vậy...”

     Đến đây, tôi bắt buộc phải đánh giá thấp một lần nữa con người của ông Lý Đại Giác.  Tại sao?  Vì ông lại dùng thủ đoạn cắt xén mạch văn của ông Nguyễn Đắc Xuân để phê bình láo lếu sang một ý khác với một văn phong không xứng đáng của một bậc trí thức.  Chứng minh?

     Nguyên văn câu với đầy đủ ý của ông Nguyễn Đắc Xuân là: 

     “Thế thì tổ chức Phật Giáo phải sống trong một chính quyền.  Chính quyền đó không mang tinh thần Phật Giáo cho nên có cái thuận và có cái nghịch. Đối với chính quyền Việt Nam từ sau 1975 đến nay, cái thuận phát triển và cái nghịch dần dần teo lại.  Và, những gì còn tồn tại phải khắc phục trong tinh thần “gà cùng một mẹ”.   Còn như nhân danh gì đó của Phật Giáo Việt Nam để kêu gọi người ngoài can thiệp vào thì hậu quả sẽ không lường được.”

     Tôi nghĩ rằng, với kiến thức của ông Lý Đại Giác có ý khoe trong bài, ông không thể nào không hiểu đoạn văn trên của ông Nguyễn Đắc Xuân muốn nói gì.  Nhưng ông đã cố ý bẻ queo ý của ông Xuân bằng cách trích dẫn lạc lõng một câu ngoài toàn bộ vấn đề (out of context) để dựa vào đó mà phê bình láo lếu.  Câu của ông Xuân tuyệt đối không có nghĩa là tổ chức nào thuận với chính quyền hay tổ chức nào nghịch với chính quyền mà ông cố tình diễn giải sai lạc như vậy.  Câu trên chỉ mô tả thái độ của chính quyền đối với Phật Giáo từ 1975 đến nay và sự thay đổi thái độ đó theo dòng thời gian.  Từ sự thay đổi này nên cái thuận mới có cơ phát triển, và cái nghịch dần dần giảm đi, vì chính quyền đã nhận thức được đâu là con đường dân tộc. Thông điệp của ông Xuân thật là rõ ràng, dựa vào thực tế, và  toát ra lòng yêu nước, yêu đạo. Ông ta cũng cổ võ một sự khắc phục những khó khăn của Phật Giáo trong tinh thần đoàn kết nội bộ, hóa giải pháp nạn từ bên trong, và khuyến cáo Phật Giáo đừng có đi vào con đường của Lê Chiêu Thống hay Trần Ích Tắc.

     Tới đây, tôi nghĩ tiếp tục đưa ra những nhận định về những phần tiếp theo trong bài “Đối Thoại...” của ông Lý Đại Giác là một điều không cần thiết.   Tôi cho rằng từng ấy cũng đủ để chúng ta có thể đánh giá tâm chất con người của ông Lý Đại Giác.   Tuy nhiên, có hai điểm tôi không thể bỏ qua.

     Thứ nhất, ông viết: “Tôi tin ông (NĐX) cũng có đọc qua sử sách, dù trước năm 1964 học hành bữa đực bữa cái, thích chơi trò nổi, mới được vài năm dang dở sinh viên, những năm đi bưng thì thiếu sách vở, khi trở về còn lo bốc hút, bợ đít chính quyền, ca tụng lãnh tụ...”

      Chúng ta nên coi loại văn này là của hạng người nào?  Có một điểm tôi xin nhắc ông Lý Đại Giác và quý độc giả Giao Điểm là năm 1964 ông Lý Đại Giác chưa sinh ra đời, và năm ông Xuân từ bưng về, tôi không biết rõ nhưng cho là 1975, thì ông Lý Đại Giác mới có nhiều nhất là 5 tuổi.  Tôi chỉ nhắc vậy thôi, còn đánh giá câu viết trên và con người của ông Lý Đại Giác ra sao tôi xin để cho quý độc giả tự mình quyết định.

     Thứ nhì, ông Lý Đại Giác viết:

     “Phải rồi, ông có nhắc ở phần áp kết hai chữ Tánh Không. Thưa ông, ông có biết Tánh Không là gì không ạ? Nếu chưa biết, (và tôi chắc là ông chẳng biết Tánh Không là gì), xin ông vui lòng đến tu viện Quảng Hương Già Lam bên Gò Vấp, tìm gặp Đại Sư Tuệ Sỹ, xin ngài từ bi giảng cho ông biết Tánh Không là gì? Tánh Không Luận của Bồ Tát Long Thọ ra sao? Đại Sư Tuệ Sỹ từ bi và trí tuệ không khác gì ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ đời Trần. Ngài đã hành thâm Pháp Môn Bất Nhị của ngài Duy Ma Cật. Chắc chắn Ngài Tuệ Sỹ không phân biệt chúng sinh, không chấp trước các lời bàn luận phiến diện của ông về Bạch Thư đâu, Ngài sẽ vì ông mà nói Pháp. Vì ông mà làm sáng tỏ Tánh Không, dù căn cơ của ông ở tầng lớp nào, thì một lần thọ Pháp từ Thầy Tuệ Sỹ, ông vẫn được hưởng lợi lạc vô biên.”

     Đây là phần quảng cáo cho cái “đại giác” của TT Tuệ Sỹ của tác giả Lý Đại Giác.   Với giọng văn huênh hoang như vậy, chắc hẳn ông Lý Đại Giác đã biết “Tánh Không” là gì, vì nhất định là ông Lý Đại Giác đã thọ giáo “Tánh Không” với TT Tuệ Sỹ rồi nên mới giới thiệu cho ông Nguyễn Đắc Xuân đến học “Tánh Không” với Ngài Tuệ Sỹ.  Tôi (không phải là ông Nguyễn Đắc Xuân) hiểu “Tánh Không” như thế này, không biết có đúng không.  “Tánh Không” là trống rỗng, có nghĩa là “Thùng Rỗng Thì Kêu To”.  Nói vậy thôi chứ thật ra thì với rừng kinh điển sách vở ngày nay ai cũng có thể hiểu thế nào là  “Tánh Không” và ai cũng có thể giảng được thế nào là “Tánh Không”.  Vấn đề là hiểu và giảng được là một chuyện, có hội nhập được vào “Tánh Không” của Vạn Pháp hay không lại là một chuyện khác.  Ngài Tuệ Sỹ được ông Lý Đại Giác quảng cáo là “từ bi và trí tuệ không khác gì ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ đời Trần”  “đã hành thâm Pháp Môn Bất Nhị của Ngài Duy Ma Cật”.  Ai biết lòng từ bi và trí tuệ của Tuệ Trung Thượng Sĩ đời Trần ra sao, xin giơ tay.   Chúng ta chỉ biết là trong thời chiến, Tuệ Trung Thượng Sĩ đã khoác chiến bào chống xâm lăng, chống xong trở về sống một đời sống tự tại, không chấp trước.  Còn hành thâm Pháp Môn Bất Nhị của Bồ Tát Duy Ma Cật là hành thâm như thế nào?  Kinh văn viết:

     Khi đó Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật rằng: “Chúng tôi ai cũng nói (về Pháp Môn Bất Nhị) rồi, đến lượt nhân giả nói thế nào là Bồ Tát vào Pháp Môn Bất Nhị?” Ông Duy Ma Cật im lặng không nói.  Ngài Văn Thù Sư Lợi khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Cho đến không có văn tự ngữ ngôn, đó mới là Pháp Môn Bất Nhị.”  Hành thâm Pháp Môn Bất Nhị mà cho ra một mớ Bạch Thư, Tâm Thư, Sự Biến Lương Sơn v..v.. mà nội dung chứa chất thù hận, mâu thuẫn, xuyên tạc, cống cao ngã mạn, thì Bất Nhị ở cái chỗ nào?    Pháp môn Bất Nhị của TT Tuệ Sỹ mà ông Lý Đại Giác quảng cáo nằm trong một câu trong bức Tâm Thư gửi  nhóm Tăng Sinh Huế của Ngài  Tuệ Sỹ:

     “So với khối lượng tăng ni sinh trong cả nước, các con chỉ là một nhóm nhỏ. Ít, nhưng đây là những hạt lúa chắc.  Nhiều, nhưng chỉ là vỏ trấu, và là những hạt chưa được ủ mầm mà đã mục rỗng bên trong.”

     VÀI LỜI KẾT.-  Tôi có thể kết luận như thế nào về bài “Đối Thoại..” của ông Lý Đại Giác.  Vì khả năng và sáng kiến của tôi có hạn nên tôi không kiếm ra được lời nào thích hợp để đưa ra một kết luận chính xác về bài của ông Lý Đại Giác mà không gây phiền lòng cho một số độc giả mà tôi biết chắc không ưa đọc những lời phê phán nặng nề.   Vì vậy, thay vì kết luận, tôi xin có vài lời đề nghị cùng tác giả Lý Đại Giác:

     Thứ nhất, không nên coi thường độc giả, nhất lại là độc giả của Giao Điểm, để mà muốn viết thế nào thì viết, hi vọng có thể thuyết phục được người đọc.  Nên tin rằng, người đọc nếu không hơn mình thì cũng chẳng thua kém mình về hiểu biết, đức hạnh.

     Thứ nhì, nên tránh chuyện mạt sát cá nhân mà tiếng Mỹ gọi là “character assassination”. Điều này chỉ hạ thấp giá trị của chính mình xuống.  Nếu muốn nói đến một khía cạnh nào đó của một cá nhân để chứng minh lập luận của mình thì cần phải đưa ra những bằng chứng cụ thể, chứ không nên viết vu vơ dựa trên sự suy luận vô căn cứ của chính mình mà tôi gọi là “đoán mò”. Đây là điều ông đã quá lạm dụng trong suốt bài viết của ông.

     Thứ ba, đừng có hi vọng dạy khôn người khác khi bài viết của mình chẳng có gì chứng tỏ là mình hiểu biết đúng cả.

     Thứ tư, khi trích dẫn bài của người khác, nên trích dẫn cho đầy đủ những câu có ý tưởng liên hệ tới nhau, đừng có cắt xén ngoài toàn bộ vấn đề rồi diễn đạt méo mó ý của người ta theo một ý khác của mình. Đây cũng là điều mà ông đã làm trong bài viết của ông.  Thủ đoạn này không thể chấp nhận trong giới trí thức.

      Thứ năm, văn tức là người, vậy xin bỏ những từ ngữ như “đớp hút”, “bốc húp”, “bợ đít” v..v.. không thích hợp với tư cách của một người có ăn học.

      Và cuối cùng, tôi xin mượn chính lời ông viết để kết thúc bản nhận định này:

     “Còn hàng chục điều không đúng sự thật trong bài viết của ông, tôi muốn trình bày để ông tỏ tường, song Đức Khổng Phu Tử có dạy rằng “Giáo Đa Thành Oán” (Dạy nhiều quá, người ta oán hận), hoặc “Cái giường có bốn góc, chỉ ba góc, còn góc thứ tư phải tự tìm lấy!” Nên xin ông hãy tĩnh tâm suy nghĩ, biết đâu ông chẳng ngộ ra chỗ tôi chưa phân tích.”

      Xin thành thực chúc ông may mắn và thành công trong mọi việc trừ việc viết lách, vì việc này không thuộc loại may mắn mà tùy thuộc rất nhiều vào khả năng cá nhân và nhất là vào chánh kiến và chánh tư duy.

         ------------------------------------------------------------------------------------------
         3. @  Thu, 11 Dec 2003, Time:10:52:36 (PST) from: <nguyen_letien@yahoo.com>
         
          Bác H. mến,
         
          Đọc bài của ông “Lý Đại Giác” rất là thú vị!
          Ông Giác chắc là một “bạn trẻ” và sống “trong nước”.
          Có vẻ là “thanh niên trong nước” vẫn một lòng “chống cộng”! Vẫn một lòng “thắp sáng niềm tin”!
          Đã quá! "CSVN" tới số rồi!
          Đọc bài ông kỹ thử coi.

"So với số tuổi 67 của ông, quả thật tôi chưa bằng phân nửa”
Trẻ nhỉ! Cỡ 30 tuổi thôi!

"Đến các nhà bank tin tức của chính phủ, các hãng quốc doanh, bọn trẻ chúng tôi vẫn ra vào như chốn không người.”
Vừa trẻ vừa tài! Cha trời! Đám trẻ Việt Nam chống cộng giữ đa!

"Tôi tin ông cũng có đọc qua sử sách, dù trước năm 1964 học hành bữa đực bữa cái, thích chơi trò nổi, mới được vài năm dang dở sinh viên, những năm đi bưng thì thiếu sách vở,..”
Lạ thiệt! Đám trẻ sau 75 mấy ai biết ông NĐ. Xuân là ai và quá khứ ông ra sao?
Ông "bạn trẻ" này biết cả từ trước 1964. Mà “đoán” được cả cái tâm lý ông Nguyễn Đắc Xuân là “thích chơi trò nổi”!

Giọng văn cứ như người “từng trải” , của một “bạn trẻ” mà tuổi tác cũng cỡ..  “cổ lai hy”!

"Nó cũng giống giống như cậu học sinh lớp chín phải luận Kiều. Khi người ta đọc bài luận ấy thấy tức cười, thì người đọc nên cười Nguyễn Du hay cười sự ngớ ngẩn của cậu học trò đệ tứ kia, ông nhỉ?

          A hèm! ráng tính xem đệ tứ là gì?
          A ha , lớp chín! Xài chữ  “lớp chín” cho nó trẻ nhé.
          Ủa! Mà làm sao sau đó lại xài chữ  “đệ tứ” ? Chết chưa! Lỡ miệng rồi!
          Bạn “trẻ” xài chữ của ... ông già!
          Già khằn khú đế!

Vì “đệ tứ” là danh từ cỡ tuổi 50 trở đi mới biết!
Dấu đầu, hở đuôi. Cái văn phong  “ông già” cứ lòi ra!

Giả “trẻ” chi vậy nhỉ hỡi ông già họ “Lý”   ???
Mà ông có  “trong nước”  thiệt không ???

Lý Cận Địa

-------------------------------------

PS: Bác H.! Dạo này mấy ông già hải ngoại hay giả làm “thanh niên” để lọm rọm “thắp sáng niềm tin” .. Cứ vào mấy Web Site như BBC mà đọc thơ thính giả thì biết liền.

          Toàn là  “Thanh Niên” từ Hà Nội, TPHCM v. v .. mà giọng văn thì già khú.
          Đọc chơi cũng thú vị!
 

(Đoan Hùng - N L Tiến)

Mark_03.gif (833 bytes) Go to top page

half_under_water_sw.gif (3365 bytes)

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net