08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes) Nghiên cứu & đối thoại tháng 12 quý bốn năm 2003 whiteball.gif (923 bytes)
 
         VÀI Ý KIẾN VỀ “TỰ DO TÔN GIÁO”
         VÀ BIẾN CỐ “NGUYÊN THIỀU”

Trần Chung Ngọc

     Gần đây, ở Việt Nam có xảy ra một vụ rắc rối giữa chính quyền và 5, 7  Tăng thân thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất khi xưa ở miền Nam: các Hòa Thượng  Huyền Quang, Quảng Độ và Tuệ Sỹ v..v...  Đây thật là một điều đáng tiếc, vì những hi vọng hòa giải và xây dựng từ cuộc gặp gỡ giữa HT Huyền Quang và TT Phan Văn Khải trước đây có vẻ như đã đi sang một bước ngoặt vào một tương lai mà khó ai có thể đoán trước được hậu quả của nó sẽ dẫn tới đâu. 

     Vì sống ở ngoại quốc, không phải là một nhân chứng, không biết rõ nội vụ, cho nên tôi chỉ có thể phân tích vấn đề qua những thông tin trên Internet, dù tôi biết rằng những thông tin đó có nhiều xuất xứ không đáng tin cậy. Tôi viết bài này để bày tỏ một số ý kiến cá nhân về vấn đề Tự Do Tôn Giáo ở Việt Nam và sau cùng xin bày tỏ vài nhận định cá nhân về biến cố trên ở bên nhà tuy tôi không có đầy đủ các dữ kiện.  Tôi xin nhấn mạnh, đây là những ý kiến cá nhân, không đại diện cho bất cứ tổ chức, hay tôn giáo nào.  Sự phân tích các vấn đề của tôi là dựa trên thực tế về tình trạng chính trị xã hội và tôn giáo ở Việt Nam chứ không dựa trên cảm tính phe phái.  Vì đây là những ý kiến cá nhân nên bất cứ ai cũng có quyền không đồng ý.  Nhưng tôi hi vọng, trên bình diện lương thiện trí thức, mọi sự không đồng ý nên viết thẳng ra dưới hình thức thảo luận trên các chủ đề, đưa ra những lý luận bác bỏ các điểm không đồng ý, chứ không nên dùng thủ đoạn “cưỡng từ để đoạt lý”, đưa ra những kết luận vu vơ về cá nhân người viết, để mạ lỵ hay để chụp mũ, điều này chỉ chứng tỏ mình không đủ khả năng để đi vào một cuộc đối thoại trí thức trên các chủ đề.

     Qua biến cố đáng tiếc ở bên nhà, giới chống Cộng hải ngoại lên án là Việt Nam vi phạm quyền tự do tôn giáo, Việt Nam không có tự do tôn giáo v..v...  Nhưng thế nào là tự do tôn giáo, và thật ra thì các quý Thầy Huyền Quang, Quảng Độ, Tuệ Sỹ có phải là Phật Giáo nói riêng, tôn giáo nói chung không?  Chúng ta không thể trả lời câu hỏi này nếu chúng ta không hiểu thế nào là tự do tôn giáo, và thế nào là Phật Giáo?  Sau đây, trước hết chúng ta hãy tìm hiểu các vấn đề này cho rõ ràng trước khi chúng ta có thể đưa ra một kết luận.

     Theo định nghĩa, tự do tôn giáo hay tự do tín ngưỡng là tự do tin vào một đạo giáo, tự do tin vào giáo pháp của đạo giáo đó với điều kiện giáo pháp đó không được gây chia rẽ trong xã hội hay nghịch lại truyền thống yêu nước của dân tộc, và tự do thực hành những lễ tiết trong tôn giáo đó, thí dụ như đi lễ chùa, lễ nhà thờ, nghe giảng, đọc kinh, cầu nguyện v..v..  Đây là một quyền tuyệt đối của người dân, ít ra là trong những quốc gia văn minh tiến bộ.  Do Thái, Saudi Arabia, Iran và một số nước Hồi giáo khác không chấp nhận quyền này.  Thí dụ, ở Do Thái, nếu người mẹ không phải là Do Thái thì người con không được chấp nhận là Do Thái, chết đi không được chôn trong nghĩa địa Do Thái.  Ở Saudi Arabia, mọi người dân đều phải theo Hồi Giáo, Kinh Koran là hiến pháp của quốc gia, và công khai đổi đạo sang một đạo khác có thể bị xử tử hình. (The Government has declared the Islamic holy book the Koran, and the Sunna (tradition) of the Prophet Muhammad, to be the country's Constitution... Conversion by a Muslim to another religion is considered apostasy. Public apostasy is a crime under Shari'a (Islamic law) and punishable by death.)  Do đó, tự do tín ngưỡng hay tự do tôn giáo không có tính cách tuyệt đối trên thế giới ngày nay.  Nó tùy thuộc nhiều vào nền văn hóa xã hội địa phương.   Nó cũng còn tùy thuộc vào cách truyền đạo mà nhiều người đã nhập nhằng cho rằng tự do truyền đạo cũng là tự do tín ngưỡng hay tự do tôn giáo.  Và hiển nhiên, tự do tôn giáo tuyệt đối không có nghĩa là chỉ cần khoác bộ áo tôn giáo vào là có thể nấp sau đó để bất chấp luật pháp địa phương, hoặc làm những chuyện có phương hại đếᮍ quyền lợi quốc gia, trật tự xã hội, an ninh quốc gia v..v.. Lịch sử xâm nhập của Công giáo vào Việt Nam trong những thế kỷ đầu là một kinh nghiệm để chúng ta có thể soi vào.

     Tự do tôn giáo có hai mặt: tự do theo một tôn giáo (freedom of religion) và tự do ở ngoài  tôn giáo (freedom from religion), nghĩa là tự do chống những thủ đoạn truyền giáo bất xứng, thí dụ như gây chia rẽ trong xã hội, dùng tiền tài vật chất để mua tín đồ, hay lừa dối người dân bằng những điều ngụy tạo, sai sự thực, phi lý trí, phản khoa học v..v.., và tự do không bị tôn giáo mê hoặc hay bị đặt dưới áp lực của quyền hành tôn giáo, tự do chống những hoạt động giả danh tôn giáo.   Ở những nước văn minh tiến bộ, tự do tôn giáo cũng còn có nghĩa là được tự do phát triển trong khuôn khổ tôn giáo, không bị quyền lực chính trị chi phối.  Đây là ý nghĩa của sự tách biệt giữa chính quyền và tôn giáo.

     Riêng về Phật Giáo thì chúng ta cần hiểu Phật Giáo là gì.  Phật giáo tuyệt đối không phải là một tôn giáo theo nghĩa người Tây phương thường hiểu, nghĩa là một hệ thống tín ngưỡng tôn sùng lễ bái sợ sệt một thần linh siêu nhiên sáng tạo (sic) ra muôn loài mà không ai biết không ai hiểu. 

     Tỳ Kheo Ni Thích Nữ Phổ Tịnh ở Canada có giảng rằng, Phật Giáo đơn giản chỉ là những lời giảng dạy của Đức Phật.  Điều này phù hợp với giải thích của Tỳ kheo Thích Đức Nhuận trong cuốn Phật Học Tinh Hoa: Một Tổng Hợp Đạo Lý, trong đó Ngài giảng:  PHẬT là Đấng Giác Ngộ đã thấu triệt nguồn gốc vũ trụ và con người, nguyên nhân do đâu phát sanh, và đã dứt bỏ mê mờ, nghĩa là đạt được địa vị độc tôn Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (Anuttara Samyak Sambodhi) và GIÁO  là những lời giáo huấn do chính Đức Phật đã giác ngộ và thuyết minh.”  

     Trong thời Chánh Pháp, nghĩa là trong thời Đức Phật còn tại thế, trong tập thể những người tin theo Phật Giáo chỉ có Tứ Chúng: Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Nam Cư Sĩ và Nữ Cư Sĩ.  Ngày nay, trong thời Mạt Pháp, Phật Giáo chúng ta có những chức vụ để phân biệt vai vế, hệ thống quyền lực cao thấp trong Phật Giáo: Đại Đức, Thượng Tọa, Hòa Thượng, Tăng Thống v..v.., mà thực chất không liên quan gì đến “Phật Giáo”, bởi lẽ cấp bậc chức vị không hẳn là tương xứng với kiến thức Phật Giáo hay đạo đức Phật Giáo, và thực tế là nhiều khi ý nghĩa của những cấp bậc tôn giáo này cũng đi ra ngoài truyền thống.

     Thật vậy, theo giới luật Phật Giáo, một tu sĩ Phật Giáo phải tu ít nhất là 10 năm và có đức hạnh cao mới có thể xuất gia vào hàng Đại Đức, trẻ nhất là 20 tuổi.  Và theo Tự Điển Phật Học Việt Nam của HT Thích Minh Châu và GS Minh Chi thì: “Đại Đức là tên gọi cung kính đối với các bậc tu hành đạo cao, đức trọng trong Tăng chúng;  Thượng Tọa là từ tôn kính gọi những bậc tu lâu năm hơn, lớn tuổi hơn và thụ giới trước mình; Hòa Thượng là vị Giáo Sư thân cận có khả năng dạy ba môn học Giới Định Tuệ cho học Tăng.  Ở Việt Nam, người ta dùng từ Hòa Thượng để chỉ những Tăng sĩ, cao tuổi đời và đạo, có uy tín trong Tăng chúng (thường là trên 40 tuổi đạo và 60 tuổi đời) và phải được tiến phong trong các kỳ Đại Hội của Giáo hội.” 

     Theo Tỳ Kheo Thích Như Điển trong cuốn sách song ngữ Việt-Đức “Phật Giáo Và Con Người” (Der Buddhismus Und Die Menschen) thì từ Đại Đức phải ít nhất là 20 năm mới có thể lên Thượng Tọa (20 tuổi đạo, 40 tuổi đời) và từ Thượng Tọa lên Hòa Thượng cũng phải tu hành thêm trong một thời gian tương đương là 20 năm (40 tuổi đạo, 60 tuổi đời).  Khi được 80 tuổi đời (60 tuổi đạo) thì được gọi là Đại Lão Hòa Thượng.  Và những chức vị này không phải tự động theo kiểu “sống lâu lên lão làng” mà còn tùy thuộc rất nhiều vào phẩm hạnh, trí tuệ, công phu tu hành v..v.. của bậc xuất gia.

     Theo những định nghĩa truyền thống này rồi nhìn vào Phật Giáo trong nước cũng như hải ngoại, với một số cấp bậc, tước vị như trên được gài vào, hay được cấp tốc tự phong, bất cần tu tập, bất kể đến đạo đức cá nhân, trình độ hiểu biết Kinh Điển, tuổi đời tuổi đạo v..v.., tôi xin đặt một câu hỏi: Có bao nhiêu Đại Đức, Thượng Tọa, Hòa Thượng hiện hữu hội đủ những tiêu chuẩn truyền thống ở trên?  Có bao nhiêu Hòa Thượng được tiến phong bởi Hội Đồng Chứng Minh của Giáo hội  trong các kỳ đại hội của Giáo hội, và của Giáo hội nào, khoan kể đến thực chất của các thành viên trong Hội Đồng Chứng Minh?  Nếu không hội đủ các tiêu chuẩn như trên thì những tước vị được chỉ định hay tự phong này có giá trị gì trên thực tế? và ai là những Phật tử thực sự tôn trọng những tước vị này?

    Trong bài “Hòa Thượng Có Phải Là Phật Tử Xuất Gia?”, Giới Tử có viết về một số sự kiện ở hải ngoại:

      “Phật Giáo (Xin thêm chữ Hải Ngoại) đang bị cái nạn một số người bề ngoài cũng đầu tròn áo vuông như bao nhiêu vị khác, chỉ khác có một điều là những người nầy lên chức nhanh hơn cắc ké leo cây... Sư Giác Lượng ở Mỹ vì có công đem âm binh bộ hạ đến phóng uế trước Chùa Đức Viên và Chùa Phật Giáo Việt Nam ở Orange County nên được đặc cách suy cử (ai suy cử??. TCN) lên Hòa Thượng Phó Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành kiêm Trưởng Ban Giải trừ Pháp Nạn mặc dù tông phái Khất Sĩ không có cấp nào gọi là Hòa Thượng.  Sư Huyền Tôn ở Úc Đại Lợi đã tự phong là Đại Lão Hòa Thượng sau khi hoàn thành Cáo Trạng trứ danh thần sầu quỷ khốc ngày 15.5.1994.  Sư Quảng Ba cũng ở Úc Đại Lợi, năm ngoái mới Đại Đức, nhưng sau khi sang Tân Tây Lan gồng mình tấn phong cho Đại Đức Thích Trường Sanh lên Thượng Tọa về thì nhờ công tác Phật sự đó Sư đã có lý do tự suy cử thành Thượng Tọa.”

     Trước những cảnh tự phong phi lý, phi luật như vậy, và không chỉ có thế, quý vị độc giả nghĩ rằng giới Phật tử yêu đạo chúng tôi phải làm gì, chỉ cứ việc ca tụng bất cứ những gì mà quý thầy làm bất kể là đúng hay sai vì quý Thầy nằm trong Tăng Bảo, hay là phải giữ yên lặng vì sợ “vạch áo cho người xem lưng”? Trí tuệ Phật Giáo và nhân cách Phật tử chân chính không cho phép chúng tôi hành động như vậy.  Cũng vì vậy mà Giới Tử đã viết một loạt bài về nạn “Sư Tử Trùng” trong Phật Giáo, loạt bài mà những Phật tử có đạo tâm, Tăng cũng như tục, ở trong nước cũng như ở ngoài nước, đặc biệt là các Thầy bên nhà cũng như chính quyền Việt Nam hiện nay, không thể không đọc, đọc để mà thấy cái vấn nạn Phật Giáo dính liền với vấn nạn quốc gia như thế nào; Trần Chung Ngọc phải viết một bài về cái gọi là Lực Lượng Hộ Trì Chánh Pháp ở Cali; và Hồng Quang cũng đã đưa ra những đề nghị xây dựng rất thiết thực cho Phật Giáo nói chung trong kỳ Đại Hội Phật Giáo ở Hà Nội cuối năm 2002.

     Tại sao một vài người trong giới cư sĩ chúng tôi phải làm những công việc dù đau lòng mà vẫn phải làm?  Bởi vì,  trên bờ vai cư sĩ Phật Giáo có hai gánh nặng, gánh nặng hộ Pháp, hộ Chân Pháp chứ không phải là Ma Pháp, và gánh nặng thế tục phải đối phó với ma quân đang lũng đoạn Phật Giáo từ trong nước ra đến hải ngoại.  Cũng may, Đức Phật  đã tiên đoán hiện tượng suy thoái, phẩm hạnh suy đồi v..v.. này sẽ xảy ra trong thời Mạt Pháp nên đã có câu khuyên răn Phật tử: “Y Pháp Bất Y Nhân”. 

     Nội dung Bốn Điều Tham Chiếu LớnKinh Phật thuyết cho người dân Kalama dạy rõ rằng, chúng ta không nên vội tin vào bất cứ điều gì, và cũng không nên vội bác bỏ bất cứ điều gì,  dù là điều đó được giảng dạy bởi các bậc tu hành, hay ngay cả Đức Phật, mà phải suy xét xem điều đó có hợp với Giới Luật và Kinh điển Phật Giáo, có thực sự mang lợi ích đến cho mình, cho người, rồi mới tin theo đó mà kiên trì tu tập.  Đây chính là ý nghĩa của “Y Pháp Bất Y Nhân”.  Vì vậy, Phật Giáo mới được gọi là tôn giáo của trí tuệ.

     Bây giờ,  đã hiểu thế nào là tự do tôn giáo và thế nào là Phật Giáo, chúng ta hãy bước sang vấn đề Tự Do Tôn Giáo ở Việt Nam.  Như trên đã nói, qua biến cố Nguyên Thiều, dư luận phần lớn báo chí của giới chống Cộng hải ngoại lên án là Việt Nam vi phạm quyền tự do tôn giáo, không có tự do tôn giáo, nặng hơn nữa là đàn áp Phật Giáo.  Điều rõ ràng là luận cứ này đã đồng nhất hóa các Hòa Thượng Huyền Quang, Quảng Độ, Tuệ Sỹ v..v.. với Tôn Giáo và Phật Giáo.  Dù diễn giải theo khía cạnh nào thì sự đồng nhất hóa vài cá nhân với cả một tôn giáo là điều khó có thể chấp nhận, về thực tế cũng như về lô-gic.

     Về phương diện tôn giáo, có thể nói, lịch sử đã chứng tỏ Việt Nam là một nước có truyền thống tôn trọng tự do tôn giáo vào bậc nhất thế giới.  Trong thời đại Lý Trần, “thiên hạ Lý Trần bán vi Tăng”, Vua quan hầu hết theo Phật Giáo nhưng chúng ta đã có tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên.  Hệ thống tín ngưỡng ở Việt Nam là một hệ thống chiết trung, nghĩa là không đặc biệt bám chặt vào một tín ngưỡng nào, coi đó là duy nhất và hơn hết, trừ Ki Tô Giáo là cái đạo ngoại lai có bản sắc phi dân tộc, lệ thuộc ngoại bang, mới xâm nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 16 và dựa thế thực dân Pháp từ thế kỷ 19 cho đến 1975, luôn luôn chủ trương rằng những niềm tin của Ki Tô Giáo mà ngày nay hầu hết đều thuộc loại mê tín hoang đường, là duy nhất, văn minh tiến bộ nhất..

     Trước đây, Cộng Sản Việt Nam đã vấp phải một sai lầm lớn là chưa tiêu hóa nổi Mác, coi mọi tôn giáo đều như nhau, đều là thuốc phiện ru ngủ con người, và do đó đã thi hành một chính sách kiểm soát mọi tôn giáo gắt gao, không phân biệt.  Nhưng ngày nay, Việt Nam chắc hẳn đã biết rõ vai trò quan trọng của tôn giáo trong xã hội, và nhất là đã nhận thức được rằng tôn giáo nào nào là tôn giáo dân tộc, vì dân vì nước, tôn giáo nào phi dân tộc, đã có một quá trình hại dân hại nước; tôn giáo nào không chủ trương nắm quyền hành chính trị, và tôn giáo nào chủ trương nắm lấy quyền hành chính trị để truyền đạo.  Nhận thức được là một chuyện, làm sao để có một đường lối chính trị khôn khéo đối phó với thực tế lại là một chuyện khác, vì dù sao Việt Nam cũng là một quốc gia còn trong cảnh nghèo khó, chưa phát triển đúng mức, và còn chịu nhiều áp lực của dư luận quốc tế, bất kể là dư luận này đúng hay sai.

     Riêng về vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam, chúng ta phải công nhận, ít ra là ở ngoài mặt, Việt Nam có tự do tôn giáo nếu chúng ta chỉ hiểu tự do tôn giáo theo nghĩa tự do tin vào một đạo giáo, và tự do thực hành những lễ tiết trong tôn giáo đó.  Vì mỗi năm có mấy trăm ngàn “Việt kiều” về thăm quê hương, chẳng cần phải để tâm quan sát, chắc hẳn họ cũng đã thấy những sinh hoạt tôn giáo ở bên nhà như thế nào.  Đối với những người về thăm quê hương trong dịp cuối năm Tây, hay dịp Tết, hay dịp lễ hội Chùa Hương họ thấy gì.  Có phải là người dân đổ ra chật đường đi lễ vào tối ngày 24 tháng 12 hay không, có phải là người dân tấp nập đi lễ đình lễ Chùa vào những ngày tết hay không, có phải là khung cảnh nhộn nhịp trên Suối Yến Vĩ đi vào Chùa Hương hay không?  Mà chẳng cứ những ngày lễ tết, ngày thường đi qua khu Hố Nai Gia Kiệm cũng thấy giáo dân kéo nhau đi lễ nhà thờ, và Phật tử có thể đi lễ Chùa bất cứ ngày nào.  Chẳng có ai bị chặn bắt, cấm đoán, không được phép đi lễ nhà thờ hay đi lễ Chùa?  Chẳng có ai bị cấm không được mua nhang nến lễ Phật hay mua Kinh sách bày bán ở các Chùa.  Mặt khác, có bao nhiêu nhà thờ được trùng tu, tân trang, có bao nhiêu ngôi Chùa được trùng tu và được xếp vào loại di sản văn hóa của Việt Nam, có bao nhiêu văn phẩm tôn giáo đã được xuất bản.

     Theo lời giới thiệu cuốn Vietnam: Spitits of the Earth  trên trang nhà Giao Điểm thì trong đó hai tác giả Mary Cross và Frances Fitzgerald đã đưa ra những hình ảnh như: Trong một tang lễ ở trong làng, một số phụ nữ mang một cuộn giấy dài trên có in Kinh Phật (a long scroll covered with Buddhist Scriptures); các ni sư ngồi thiền trong Thiền viện Trúc Lâm, và Frances Fitzgerald sau khi về Việt Nam năm 2000 để quan sát xã hội Việt Nam, đã viết về tình hình tôn giáo như sau: “Trong 10 năm qua, Phật Giáo Việt Nam đã sống lại rất mạnh (Buddhism revived mightly), trùng tu những ngôi Chùa lịch sử, và thiết lập ít nhất là 10 nơi hành hương.”

     Viết như trên, tôi chỉ muốn đưa ra một sự thật là người dân Việt Nam hiện nay có tự do trong sự tin theo và thực hành những lễ tiết tôn giáo của mình.  Tôi nói đây là nói về đại chúng chứ không nói đến những tổ chức tôn giáo, hay định chế tôn giáo, những hình thức tôn giáo không thể tách rời khỏi sức sống của một tôn giáo.

     Viết như trên cũng không có nghĩa là chính quyền không hề kiểm soát vấn đề tôn giáo.  Trái lại, chính quyền kiểm soát rất kỹ các tổ chức tôn giáo.  Tại sao?  Vì tôn giáo, tuy thuộc về tín ngưỡng, nhưng cũng là một bộ phận của quốc gia, không thể đứng ngoài quốc gia, và nhất là không thể đứng trên quốc gia.  Và đây không phải là lần đầu trong lịch sử Việt Nam mà chính quyền kiểm soát tôn giáo.  Cuối triều Trần rồi tới Hậu Lê, chính quyền đã có những luật  pháp nghiêm khắc  đối với các nhà tu hành Phật Giáo và Đạo Giáo, mở các khóa thi hảo hạch để hạn chế , loại bớt những phần tử không xứng đáng.  Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rằng sự kiểm soát của chính quyền hiện nay đối với Phật Giáo không có mục đích loại bớt những phần tử tu hành không xứng đáng mà chỉ muốn Phật Giáo phải đứng đàng sau chính quyền, không chống đối chính quyền.  Chính sách này phản ánh sự thiếu hiểu biết của chính quyền về tự thân Phật Giáo cũng như về vai trò của Phật Giáo trong xã hội Việt Nam.  Phật Giáo có thể góp phần xây dựng đất nước nhiều hơn nữa nếu không bị chính trị ép.

     Vậy chính quyền kiểm soát tôn giáo như thế nào?  Chúng ta không nên quên rằng chính quyền hiện nay ở Việt Nam chủ trương độc tài chính trị và độc đảng.  Với chủ trương như vậy thì chính quyền hiện nay không chấp nhận sự hiện hữu của bất cứ một tổ chức chính trị hay một đảng phái đối lập nào.  Do đó, Việt Nam không có một thế lực chính trị hay một đảng phái đối lập nào được coi là hợp pháp.  Nhưng đây là vấn đề đa nguyên, đa đảng, chứ không phải là vấn đề tôn giáo, khoan nói đến chuyện đa nguyên đa đảng có phải là con đường tốt nhất để đưa quốc gia đến tiến bộ, hay là lại gây nên cảnh lạm phát tự do, hỗn loạn, vô trật tự, vô luật pháp, khi người dân chưa ý thức được trách nhiệm của người dân trong xã hội.  Cứ nhìn vào cảnh bát nháo của đa số những hội đoàn, tổ chức ở hải ngoại chụp mũ lẫn nhau, những hoạt động “chống Cộng” phi dân chủ, vô luật pháp ở ngay trên nước Mỹ, không chỉ của những người dân thấp kém ít học, mà còn của vài vị mang tước vị cao cấp trong giáo hội hải ngoại, hướng dẫn tinh thần Phật tử [Xin đọc loạt bài “Sư Tử Trùng” của Giới Tử], thì chúng ta sẽ hiểu là trình độ mà người Việt hải ngoại ý thức được tinh thần “dân chủ, đa nguyên đa dảng”, trách nhiệm của một người dân đối với xã hội, là như thế nào, đã trưởng thành hay chưa?  Dân chủ là một quá trình tiệm tiến và tùy thuộc vào giới trung lưu.  Khi giới trung lưu càng ngày càng đông đảo và ý thức được dân chủ là một nhu cầu phát triển của đất nước, đồng thời cũng dính tới quyền lợi của họ, tự khắc dân chủ sẽ thành hình.  Đài Loan, Nam Hàn, Singapore, những nước không có chiến tranh, không có thù hận, cũng phải trải qua một thời gian dài mới đi đến tình trạng mở mang hiện nay.

      Tuy nhiên có hai tôn giáo ở Việt Nam có thể tạo nên những thế lực đối lập, đó là Công Giáo và Phật Giáo. 

     Công giáo, tuy chỉ chiếm có 7% dân chúng, nhưng là một tổ chức theo hệ thống Giáo quyền áp đặt từ bên ngoài, tuyệt đối theo đường lối chỉ đạo của Vatican, và hiện đang nép mình để chờ cơ hội.  Trong khi chờ đợi cơ hội thì Công giáo đang tập trung vào nỗ lực mua chuộc, hủ hóa các cán bộ nhà nước để mua sự dễ dãi và lợi ích nhất đến cho tôn giáo của mình để phát triển và củng cố lực lượng, cùng lúc xúi bẩy các “tôn giáo bạn” tranh đấu, chống đối để họ có thể “ngư ông đắc lợi”.  Nếu có cơ hội lên nắm quyền thì cán bộ nhà nước và những người CS sẽ là những người đầu tiên mà Công giáo thẳng tay tiêu diệt, rồi đến những “tôn giáo bạn”,  vì CG thường coi CS là kẻ thù truyền kiếp nguy hiểm nhất về ý thức hệ từ đầu thế kỷ 19 đến nay, và vì cho tới bây giờ Công giáo vẫn còn tin rằng nhiệm vụ của Chúa trao cho các tín đồ là phải đưa tất cả thế giới quỳ phục dưới chân cây thập ác [Xin đọc Thông Tri “Dominus Jesus” của Tòa Thánh và bản “Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á” (Ecclesia in Asia) của giáo hoàng John Paul II gần đây].   Lịch sử Công Giáo trên thế giới và 9 năm cầm quyền của Ngô Đình Diệm đã chứng tỏ như vậy.  Chính quyền không thể không biết điều này và do đó phải kiểm soát Công Giáo, không phải là kiểm soát về vấn đề tín ngưỡng mà là về vấn đề chính trị, không để cho Công giáo có thể tạo thành một phong trào quần chúng đối lập hay đối kháng, gây xáo trộn trong xã hội, và có cơ hội lên cầm quyền.  Do đó chúng ta đã hiểu tại sao nhiều nhà thờ được phép trùng tu hay tân trang, nhiều linh mục giám mục được tự do đi ngoại quốc để kiếm tiền của tín đồ nơi hải ngoại, nhưng những vụ như  Công giáo chứa vũ khí ở nhà thờ Vĩnh Sơn, hay vụ linh mục Nguyễn Văn Lý ở miền Trung thì chính quyền thẳng tay đối phó.  Lẽ dĩ nhiên, Vatican chẳng dại dột gì mà đồng nhất hóa LM Nguyễn Văn Lý với Công Giáo hay tôn giáo nói chung để dựa vào đó mà lên án chính quyền Việt Nam là không có tự do tôn giáo. Vatican với 2000 năm kinh nghiệm sống còn, khôn hơn những tay mơ Phật Giáo “bỏ sở trường đi làm sở đoản” (Ý của tác giả Bùi Kha).

     Còn Phật Giáo, tuy chúng ta không biết đích xác tỷ lệ số tín đồ trên dân chúng là bao nhiêu, nhưng nền văn hóa Phật Giáo đã thấm vào nền văn hóa Việt Nam rất sâu đậm, nên chúng ta có thể nói tín đồ Phật Giáo và những người sống với ảnh hưởng của Phật Giáo thì chiếm tuyệt đại đa số người dân Việt. Phật Giáo không phải là một tổ chức theo hệ thống Giáo quyền, vì “Phật Giáo” là con đường tự tu tự chứng, và như trên đã nói, Phật tử không có bổn phận phải tin theo tất cả những gì “bề trên” muốn. “Y Pháp bất y nhân”.  Tuy nhiên, khi cần và có mục tiêu chính đáng, Phật Giáo có khả năng quy tụ Phật tử để tranh đấu cho mục đích chung, thí dụ như trong thời Ngô Đình Diệm với cuộc tranh đấu 1963.  Tại sao?  Bởi vì chính quyền Công Giáo Ngô Đình Diệm có một chính sách rõ rệt là diệt Phật Giáo để Công giáo hóa miền Nam Việt Nam.  Chính quyền cũng biết rõ khả năng và tiềm lực của Phật Giáo cho nên đã e ngại, kiểm soát gắt gao những tổ chức Phật Giáo.  Nhưng vì không hiểu rõ Phật Giáo, và cũng vì chưa tiêu hóa hết Mác, nên sự e ngại và kiểm soát này đã đặt không đúng chỗ.  Dù sao thì sự kiểm soát này cũng về mặt những hoạt động chính trị có thể đưa đến cảnh hỗn loạn xã hội chứ không phải về mặt tín ngưỡng.  Nhìn vào những thành quả của Phật Giáo Việt Nam trong thập niên qua trong việc đào tạo Tăng Ni, dịch Kinh sách, xuất bản Kinh sách, trùng tu Chùa chiền v..v.., tuy chưa được tự do đúng mức, nhưng không thể nói là không có phát triển.

     Nói tóm lại, sự kiểm soát của chính quyền chính yếu là về mặt xã hội, chính trị, chứ không phải về mặt tín ngưỡng tôn giáo.   Đối với chính quyền, điều rõ ràng là ai muốn tin gì thì tin, muốn đi lễ nhà thờ hay chùa thì đi, muốn cầu nguyện, cúng vái gì thì cứ việc, nhưng đừng có lập phe đảng, dù là phe đảng tôn giáo, để chống đối chính trị, và nhất là đừng có cấu kết với các tổ chức thù nghịch ở ngoại quốc để làm áp lực với nhà nước.

     Về biến cố “Nguyên Thiều”, một câu hỏi được đặt ra là, tại sao, sau khi TT Phan Văn Khải gặp HT Huyền Quang để đi đến một thỏa hiệp mang tinh thần “từ bi hỉ xả”, nhà nước lại xuống tay ngăn chận HT Huyền Quang, không muốn cho Ngài đi cùng với HT Quảng Độ về TP Hồ Chí Minh?  Lẽ dĩ nhiên, chúng ta phải hiểu rằng, chẳng có lẽ chỉ vì một sự việc đơn giản là HT Huyền Quang muốn đi cùng với HT Quảng Độ về Saigon mà chính quyền xuống tay ngăn cản mà còn vì những yếu tố nằm đàng sau.  Những yếu tố này là gì?   

     Sau đây là những suy tư cá nhân của tôi.  Những suy tư này dựa theo những thông tin tôi đã đọc trên Internet và dựa trên lô-gic thông thường.

     Trước hết, chúng ta hãy tóm tắt những sự việc đưa đến biến cố Nguyên Thiều, dựa trên bài tường trình sự việc Sự Biến Lương Sơn của TT Tuệ Sỹ, được phổ biến trong vài trang nhà trên Internet:

     Thượng tuần tháng 7, 2003, hai vị Hòa thượng lãnh đạo Giáo hội (nên hiểu là GHPGVNTN-Nội-địa) triệu tập một cuộc họp với một số thành viên (không nêu rõ con số là bao nhiêu) của Giáo hội ở tu viện Nguyên Thiều để tham khảo ý kiến (về những vấn đề gì, không thấy nói).  Từ cuộc họp thu hẹp này, ba vị Thượng tọa Thích Thái Hòa, Thích Phước Viên và Thích Hải Tạng được ủy nhiệm đi tham vấn các vị Trưởng lão (nghĩa là trong cuộc họp thu hẹp này không có sự hiện diện của các Trưởng lão) về hiện tình Giáo hội (xin đọc GHPGVNTN-Nội-địa), và những việc cần làm.  Đồng thời, Đại lão Hòa thượng Xử lý Thường Vụ Viện Tăng Thống (xin đọc HT Huyền Quang) gởi Giáo chỉ đến Hòa Thượng Hộ Giác, Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo (Văn Phòng II) kiêm Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTN  tại Hoa Kỳ, tùy hoàn cảnh, triệu tập một Đại Hội Bất Thường tại Hải Ngoại (tại sao và để làm gì, không thấy nói).

     Sau đó, vào giữa tháng 9, hai Hòa thượng lại triệu tập một phiên họp khác tại tu viện Nguyên Thiều để nghe báo cáo của các thầy được ủy nhiệm.   Sau khi nghe báo cáo về hiện tình Phật Giáo Việt Nam (Xin nhớ, ba vị Hòa thượng chỉ được ủy nhiệm đi tham vấn các vị Trưởng lão về hiện tình Giáo hội (GHPGVNTN-Nội-địa)) của hai Thượng tọa được ủy nhiệm có mặt (Thượng tọa Hải Tạng vắng mặt), cùng với đề nghị của chư tôn đức Trưởng lão, gồm các thư tùy hỷ tán thành và phiếu đề nghị các thành viên trong Hội đồng Lưỡng viện, hội nghị (hay phiên họp??) đã lập danh sách Hội đồng Lưỡng Viện.  Hội nghị  cũng quyết định tổ chức lễ khai mạc Đại Hội Bất Thường tại tu viện Nguyên Thiều vào ngày 1/10/2003 (ngày 12 tháng 8, PL 2547), như là Tiền Đại Hội  của Đại Hội Bất Thường chính thức được tổ chức tại tu viện Quảng Đức, Úc Đại Lợi vào các ngày 10-12/10, 2003 (tức 15-17 tháng 9, 2547).

     Rồi đến ngày 8 tháng 10, 2003, khi thầy Huyền Quang lên xe cùng các thầy Quảng Độ, Tuệ Sỹ v..v.. đi về Saigon thì xảy ra vụ ngăn cản thầy Huyền Quang đi cùng với thầy Quảng Độ vào Saigon.  Kết quả: thầy Huyền Quang trở về Tu Viện Nguyên Thiều, thầy Quảng Độ, Tuệ Sỹ v..v.. về Saigon.  Hai TT Tuệ Sỹ và Thanh Huyền bị các chính quyền địa phương bắt bớ làm khó dễ trong cuộc hành trình trở về Saigon và được lệnh bị quản chế 24 tháng. 

      Tổng hợp và phân tích những thông tin từ trong nước cũng như ở hải ngoại, tôi cho rằng sở dĩ xảy ra biến cố đáng tiếc trên là do cách hành xử của cả hai phía, GHPGVNTN-Nội-địa và Chính Quyền: GHPGVNTN-Nội-địa đã đi một nước cờ chính trị quá vụng về, do đó đã gây nên phản ứng tất nhiên phải có của chính quyền, và hành động của cả hai bên đều bắt nguồn từ thiếu thông tin xác thực và thiếu suy nghĩ, như tôi sẽ phân tích sau đây.

     Về phía GHPGVNTN-Nội-địa,  điểm then chốt nằm trong vài đoạn trong bài Sự Biến Lương Sơn của TT Tuệ Sỹ, nguyên văn như sau:

     “...Đại lão Hòa thượng Xử lý Thường Vụ Viện Tăng Thống gởi Giáo chỉ đến Hòa Thượng Hộ Giác, Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo (Văn Phòng II) kiêm Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTN tại Hoa Kỳ, tùy hoàn cảnh, triệu tập một Đại Hội Bất Thường tại Hải Ngoại...

     Hội nghị cũng quyết định tổ chức lễ khai mạc Đại Hội Bất Thường tại tu viện Nguyên Thiều vào ngày 1/10/2003 (ngày 12 tháng 8, PL 2547), như là tiền Đại Hội  của Đại Hội Bất Thường chính thức được tổ chức tại tu viện Quảng Đức, Úc Đại Lợi vào các ngày 10-12/10, 2003 (tức 15-17 tháng 9, 2547).”

     Đọc đoạn trên tôi thấy có vài điều không ổn.

     Thứ nhất, chúng ta hãy bỏ qua tư cách pháp nhân của GHPGVNTN ở trong nước sau năm 1975, nhưng rõ ràng là GHPGVNTN-Nội Địa của các Thầy trong nước đã cấu kết với GHPGVNTN-Hải Ngoại, và đoạn văn trên chứng tỏ GHPGVNTN-Nội Địa phụ thuộc vào GHPGVNTN-Hải Ngoại mà chúng ta thường biết là Văn Phòng II Viện Hóa Đạo.  Chúng ta hãy khoan nói đến thực chất của GHPGVNTN ở Hải Ngoại, và Văn Phòng II Viện Hóa Đạo thực sự có uy tín, ý nghĩa gì ở hải ngoại cũng như ở quốc nội, nhưng ai cũng biết đây là một tổ chức thù nghịch với Chính quyền trong nước. Thật vậy, nói đến GHPGVNTN-Hải Ngoại,  chúng ta không thể bỏ  qua Võ Văn Ái, “thủ trưởng” Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, Phát Ngôn Viên, Tổng vụ trưởng ngoại vụ Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, có thể nói là nhạc trưởng cầm nhịp hòa tấu của ban hợp ca GHPGVNTN-Hải Ngoại.  Vì quá khứ đã cho biết, Võ Văn Ái muốn phát ngôn bừa bãi thế nào thì phát ngôn, đúng hay sai, GHPGVNTN-Hải Ngoại cũng ca theo, vì trên danh nghĩa, Võ Văn Ái là Phát Ngôn Viên kiêm Tổng Vụ Trưởng Ngoại Vụ của  Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, nghĩa là tiếng nói của GHPGVNTN-Hải Ngoại.  Nhưng Võ Văn Ái là ai?  Chính là người trong nhiều năm đã lãnh tiền của cơ quan NED (National Endowment for Democracy), cơ quan xuất cảng dân chủ của Mỹ (exporting American democracy), mặt nổi của CIA, thường tung ra những thông tin bịa đặt để vu khống Việt Nam, thí dụ như, trong bài phỏng vấn của đài Chân Trời Mới vào đầu năm 2003:

    “Họ (Việt Nam) áp dụng Nghị  định 31/CP quản chế bất cứ ai bất đồng chính kiến. Nghị định này biến   nhà ở thành nhà tù, biến chùa viện, giáo đường thành nhà giam tại chỗ... Nay làm xong công tác biến miền Nam cũ thành một Nhà tù lớn qua Nghị định quản chế hành chính 31/CP...” 

     Với một câu chống Cộng hết sức sai sự thực như trên mà tôi đã phân tích trong bài Quê Mẹ! Nhưng Mẹ Nào? trước đây, tôi nghĩ làm sao mà chính quyền Việt Nam không nghi ngờ sự liên kết giữa GHPGVNTN-Nội Địa và GHPGVNTN-Hải Ngoại, một tổ chức ở ngoại quốc thù nghịch với Chính quyền.   Thật vậy, chúng ta không nên quên rằng Đại Hội Bất Thường Chính Thức ở Úc  mà HT Huyền Quang ra giáo chỉ tổ chức đã được tổ chức với lá cờ vàng ba sọc đỏ, khai mạc bằng lễ chào “quốc kỳ” và hát “quốc ca” của Việt Nam Cộng Hòa khi xưa. Vấn đề nay chuyển sang lãnh vực chính trị chứ không còn là thuần túy tôn giáo nữa.  Và việc chính quyền có phản ứng trước những sự kiện này không phải là điều đáng ngạc nhiên. 

     28 năm qua sống ở trong nước mà tại sao quý thầy ở bên nhà  không ý thức được cái điểm tế nhị chính trị này thì kể cũng lạ. Rất có thể là quý thầy đã thiếu thông tin xác thực, đã quá tin tưởng vào thực lực và hậu thuẫn của GHPGVNTN-Hải Ngoại của VNCH khi xưa, của Võ Văn Ái, nên  quý thầy đã không để ý đến khía cạnh chính trị này?  Hay quý thầy cố ý đưa chính quyền vào bẫy để tạo thêm cơ hội cho GHPGVNTN-Hải Ngoại  chống đối và vận động dư luận thế giới chống Việt Nam là không có Tự Do Tôn Giáo?  Nếu vậy thì quý thầy có thể đã thành công một phần dù những sự chống đối hay vận động ở ngoại quốc không dựa trên cơ sở vững chắc, vì như tôi đã viết, không một ai có thể đánh đồng HT Huyền Quang, hay bất cứ nhân vật Phật Giáo nào, với Phật Giáo hay Tôn Giáo.  Danh đã không chính thì ngôn không thể thuận, và lẽ dĩ nhiên không có tính cách thuyết phục.  Tôi cho đây là một bước đi rất vụng về của những “cố vấn chính trị” cho HT Huyền Quang, nguyên nhân chính đưa đến biến cố Nguyên Thiều.

     Đó là về vấn đề chính trị.

      Về mặt tôn giáo, thứ nhất, không hiểu ở trong nước HT Huyền Quang và GHPGVNTN-Nội Địa có biết rõ về cá nhân HT Hộ Giác và dư luận ngoại quốc về HT Hộ Giác trong những vụ lên tiếng, ra văn thư bênh vực các sư Thích Thiện Dũng và Thích Chánh Lạc, với kết quả như thế nào không, mà lại giao trọng trách cho HT Hộ Giác triệu tập một Đại Hội Bất Thường tại Hải Ngoại.  Phải chăng chỉ vì HT Hộ Giác mang chức vụ Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo (Văn Phòng II) kiêm Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTN tại Hoa Kỳ?  Thiếu thông tin và bị Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế của Võ Văn Ái lừa dối, lạc dẫn nên quý thầy Huyền Quang, Quảng Độ v..v.. bên nhà đã quá hấp tấp khi đưa ra những quyết định quan trọng có ảnh hưởng tới chính GHPGVNTN ở bên nhà.

     Thứ nhì, quý thầy ở trong nước ra Giáo chỉ cho GHPGVNTN-Hải Ngoại   tổ chức Đại Hội Bất Thường Chính Thức ở hải ngoại để làm gì?  Để hoằng dương Đạo Pháp? để đưa ra chương trình đào tạo Tăng Ni tài đức song toàn? để suy cử HT Huyền Quang lên chức Tăng Thống và một số thành viên trong Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương – Viện Tăng Thống, và Văn Phòng Viện Hóa Đạo II, hay để thanh tẩy GHPGVNTN-Hải Ngoại [GHPGVNTN-Hải Ngoại có cần phải thanh tẩy hay không?]  Một nhân vật như Thích Chánh Lạc rất nổi tiếng ở Hoa Kỳ về kết quả vụ kiện tụng ở Denver, Colorado, mà nay, qua Đại Hội Bất Thường Chính Thức ở hải ngoại,  vẫn được suy cử lên làm thành viên của Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương – Viện Tăng Thống, và cũng là Phó Viện Trưởng Văn Phòng II Viện Hóa Đạo mà Viện Trưởng Văn Phòng I  ở trong nước là Hòa Thượng Thích Quảng Độ, thì thử hỏi danh tiếng và thực chất của Viện Tăng Thống cũng như Viện Hóa Đạo, I cũng như II,  thành ra cái gì.  Lẽ dĩ nhiên, không ai có thể đồng nhất hóa một cá nhân với các cơ quan chỉ đạo của Giáo hội, nhưng sự suy cử như vậy có thể chấp nhận được hay không, và có ảnh hưởng gì đến sự suy cử các chức vụ khác, kể cả chức vụ Tăng Thống của HT Huyền Quang hay không?  Phật tử chúng tôi khó có thể không lên tiếng đặt thành vấn đề dù rất đau lòng.  Là một Phật tử không thuộc một giáo hội nào, hay một tổ chức Phật Giáo nào, nhưng tôi thật sự quan tâm đến tiền đồ Phật Giáo.  Phật Giáo không bao giờ nên đi vào con đường của Vatican, dung dưỡng những con nội trùng để giữ tiếng cho Phật Giáo.  Chúng ta ai cũng biết rằng, sức mạnh của Phật Giáo không nằm ở những chức vụ, những quyền lợi thế tục, mà là ở trí tuệ và phẩm hạnh mà chúng ta thường gọi là “đạo cao đức trọng” của các bậc xuất gia.

     Thật là đáng tiếc, quý thầy bên nhà, có thể vì thiếu thông tin, không nắm được tất cả những yếu tố chính trị và tôn giáo của vấn đề, không hiểu rõ thực chất của  GHPGVNTN-Hải Ngoại cũng như của một số thành viên trong GHPGVNTN-Hải Ngoại nên đã đi sai một bước, và đây là một bước hết sức quan trọng làm cản trở đến việc hòa hợp thống nhất Phật Giáo nơi quê nhà, một việc mà quý thầy đáng lẽ đã phải thực hiện từ lâu.   Hòa hợp và thống nhất ra sao tùy thuộc đạo tâm và sáng kiến của quý thầy bên nhà, thống nhất cũng như không thống nhất, vì trong cuộc hội kiến với TT Phan Văn Khải, TT đã nói để cho các thầy tùy ý “sắp xếp lại nội bộ Phật Giáo”. 

     Nói tóm lại, vấn đề ở đây không phải là vấn đề tổ chức Đại Hội Bất Thường Chính Thức ở Úc mà là GHPGVNTN-Hải Ngoại, đạo diễn bởi Võ Văn Ái, là một tổ chức thù nghịch với chính quyền Việt Nam hiện nay. Quý vị hãy tưởng tượng ở Mỹ có một tổ chức thường xuyên liên lạc với một tổ chức thù nghịch Mỹ ở ngoại quốc thì Đạo Luật Yêu Nước (Patriot Act) sẽ được áp dụng như thế nào đối với tổ chức này? [Đạo Luật này cho phép các viên chức chính phủ bắt giữ những cá nhân nghi là đe dọa đến An Ninh Quốc Gia mà không cần đến trát Tòa... Những người bị bắt giữ không được biết đến ngay cả những bằng chứng.  Họ không được phép có luật sư.  Họ có thể bị bắt giữ và giam vô thời hạn mà không ai biết được tại sao và ở đâu... Các viên chức chính phủ không nói rõ tội trạng và không đưa ra bằng chứng.  Không có ông tòa nào duyệt lại trường hợp của anh và anh không được phép có luật sư bảo vệ. (It [The Patriot Act] allowed officials to detain individuals suspected of posing a threat to National Security without a warrant or prior judicial approval. Targets can’t even see the evidence.  They are denied lawyers.  They can be arrested and detained indefinitely without anyone ever know why or where... They don’t detail the charges or show you the evidence.  No judge reviews your status and you don’t even get a lawyer.)]  Đó là đạo luật của một nước được coi là tôn trọng nhân quyền vào bậc nhất thế giới để đối phó với những thành phần thù nghịch với nước Mỹ.

     Thù nghịch có nhiều mặt, và An Ninh Quốc Gia cũng có nhiều mặt, không cứ phải là khủng bố mới là thù nghịch, và không cứ phải là nổ bom phá hoại mới mới là đe dọa đến nền An Ninh Quốc Gia.

     Thứ ba, trong nước có 80 triệu dân, và GHPGVNTN-Nội Địa vẫn tự cho rằng là một giáo hội chính thống, truyền thừa, và theo TT Tuệ Sỹ trong bài Sự Biến Lương Sơn: GHPGVNTN-Nội Địa “thực sự đang lãnh đạo tinh thần Phật Giáo Việt Nam”, và là giáo hội mà “đại bộ phận Tăng Ni Phật tử Việt Nam đang hướng về”, vậy tại sao lại phải nhờ đến Đại Hội Bất Thường chính thức được tổ chức tại tu viện Quảng Đức, Úc Đại Lợi, biết rằng GHPGVNTN-Hải Ngoại là Giáo hội của cờ vàng ba sọc đỏ, chẳng phải là giáo hội quy tụ được đa số Tăng Ni Phật tử hải ngoại trong số trên 2 triệu dân di cư, khoan nói đến chuyện có tư thế và uy tín gì đối với dân quốc ngoại và quốc nội.  Cái nghịch lý nằm ở chỗ này, một nghịch lý khó có thể giải thích sao cho hợp lý.  Vẫn biết rằng GHPGVNTN ở trong nước không phải là dễ dàng có thể tổ chức được một đại hội, nhưng làm sao có thể biện minh cho nghịch lý trên.  Chúng ta  có thể thấy rõ vấn đề hơn nữa như sau.

     Nghe nói, Đại Hội Bất Thường chính thức được tổ chức tại tu viện Quảng Đức, Úc Đại Lợi, đã quy tụ được 134 Tăng Ni từ các nơi về, và có vài ngàn Phật tử tham dự, nhân dịp khánh thành Tu Viện Quảng Đức, làm lễ an vị Phật v..v.., nghĩa là có thể lợi dụng lễ khánh thành Tu Viện Quảng Đức để tổ chức Đại Hội Bất Thường chính thức cho được đông đảo.   Dù sao thì như vậy cũng có nghĩa là hơn 100 Tăng Ni ở hải ngoại, trong đó có những khuôn mặt như Thích Hộ Giác, Thích Quảng Ba, Thích Giác Lượng, Thích Chánh Lạc và “Pháp sư” (sic) Giác Đức, người đã hoàn tục về lấy vợ sinh con đẻ cái, nay lại nghiễm nhiên khoác bộ áo vàng vào lên làm “Pháp sư” tham dự lễ “suy cử” ở Úc, v..v.. đã thay mặt đại bộ phận Tăng Ni Phật tử Việt Nam của gần 40000 Tăng Ni trong nước để suy cử HT Huyền Quang lên chức Tăng Thống Viện Hóa Đạo I, và đề cử Sư Thích Chánh Lạc vào trong Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương – Viện Tăng Thống,  đồng thời làm Phó Viện Trưởng Văn Phòng II Viện Hóa Đạo.  Những sự suy cử này có giá trị gì, có chính đáng và hợp lý hay không, và chư Tăng Ni Phật tử trong nước sẽ nghĩ sao về những hành động có tính cách áp đặt từ ngoại quốc như trên. Tôi tự hỏi không biết HT Huyền Quang có cảm thấy thoải mái trước sự suy cử Ngài lên chức Tăng Thống cũng như suy cử các thành viên khác vào trong Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương – Viện Tăng Thống này hay không.

    Trong bài Sự Biến Lương Sơn, TT Tuệ Sỹ biện minh cho việc tổ chức Đại Hội Bất Thường như sau:

     Ý tưởng về một Đại Hội Bất Thường của Giáo Hội Thống Nhất được gợi ý từ cuộc hội kiến giữa Thủ Tướng Phan Văn Khải với Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống, GHPGVNTN.  Trong cuộc hội kiến, hai vị lãnh đạo tối cao của Nhà nước và Giáo hội nhận định thực tế trên hai điểm.

     Thủ Tướng nói: trong quá khứ có nhiều sai lầm; nên nhìn vấn đề với tâm từ bi.   Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang đáp ứng lời Thủ Tướng rằng ngài cũng sẽ nhìn vấn đề với tâm hỷ xả.  Lời Thủ Tướng là điều được nhắc nhở rất nhiều từ khi có chủ trương sửa sai và đổi mới của đảng CS Việt Nam: hãy quên đi quá khứ để hướng về tương lai.

     Điểm thứ hai, Thủ Tướng nói: các vị tự sắp xếp lại nội bộ Phật Giáo.  Tuy chưa cụ thể nói sắp xếp theo hướng nào, nhưng điều xác định rõ ràng là vị trí của Đại Lão Hòa Thượng trong toàn thể Phật Giáo Việt Nam được Thủ Tướng khẳng định.   Vị trí không chỉ đơn giản là Cao Tăng của Phật Giáo Việt Nam.  Ngài cũng không phải là thành viên của Hội Phật Giáo thành viên của Mặt Trận.  Vị trí của Ngài rõ ràng cả thế giới đều biết, đó là lãnh đạo tối cao của GHPGVNTN.  Tất nhiên, lời Thủ Tướng không nên xem chỉ là xã giao, mà là đề nghị thực tiễn hành động trong cương vị của người lãnh đạo đất nước.   Một cách mặc nhiên, Thủ Tướng đã xác định sự tồn tại của GHPGVNTN với lãnh đạo tối cao là Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang.

     Đó là cơ sở pháp lý, có thể gọi là cơ sở bất thành văn, để GHPGVNTN tiến hành Đại Hội Bất Thường, củng cố lại cơ cấu, tiến tới “sắp xếp lại nội bộ Phật Giáo” như lời đề nghị của Thủ Tướng.

     Nếu không theo dõi tình hình Phật Giáo quốc nội cũng như quốc ngoại, thì đọc những điều biện minh của TT Tuệ Sỹ như trên, chúng ta thấy có vẻ hợp lý.  Nhưng điều đáng nói ở đây là TT Tuệ Sỹ đã cố tình diễn đạt sự việc sai với sự thật nếu không muốn nói là xuyên tạc sự thật.   Tôi sẽ chứng minh điều này bằng chính những đoạn mâu thuẫn trong bài của TT Tuệ Sỹ. 

     Đúng vậy, Thủ Tướng Phan Văn Khải đã nói với Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang “Quý vị hãy tự sắp xếp lại nội bộ Phật Giáo”.  Nhưng đây có phải là cơ sở pháp lý, cơ sở bất thành văn, để GHPGVNTN-Nội địa liên lạc với một tổ chức tôn giáo chống đối ở ngoại quốc để tiến hành Đại Hội Bất Thường Chính Thức của GHPGVNTN hay không?   Đối với những người từng theo dõi tình hình Phật Giáo bên nhà thì không ai mà không hiểu rằng cuộc hội kiến giữa Thủ Tướng Phan Văn Khải và Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang bắt nguồn từ cuộc VẬN ĐỘNG HÒA GIẢI HÒA HỢP HAI GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT THÀNH LẬP 1964 VÀ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THÀNH LẬP 1981 của HT Thích Quảng Liên.  Trong bài tường trình về nỗ lực vận động trên, HT Quảng Liên đã cho biết thái độ của HT Huyền Quang như sau:

     Hòa Thượng Huyền Quang hạ giọng nói: “Hòa Thượng (Quảng Liên) và tôi là đồng nghiệp, là cộng sự viên, sự trình bày hòa hợp đưa ra rất thích hợp, tôi đồng ý với Hòa Thượng, chư Tôn Đức Hòa Thượng hai Giáo Hội Thống Nhất và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, hòa hợp nhau làm Phật sự là điều rất tốt và đó là trách nhiệm và bổn phận của chúng ta.  Tuy nhiên, không biết bên Chánh Quyền như thế nào?  Họ có cho phép chúng ta hòa hợp đồng tâm phát triển Phật Giáo không?  Nếu chư Tôn Đức trong GHPGVN có thiện chí hòa hợp, và Chánh Phủ thật tâm ngoại hộ thì sự hòa hợp phụng sự đạo pháp của chúng ta sẽ đạt kết quả tốt đẹp.”

     Cho nên, trong cuộc hội kiến, TT Phan Văn Khải đã nói với Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang là nhà nước không có ngăn cản sự hòa hợp giữa hai giáo hội và xin để cho “các vị tự sắp xếp lại nội bộ Phật Giáo”.  Vậy rõ ràng là hai chữ “Phật Giáo” ở đây tuyệt đối không phải là GHPGVNTN mà là đại khối Phật Giáo Việt Nam trong tinh thần hòa hợp.  Mà dù cho có xuyên tạc lời nói của TT Phan Văn Khải để diễn đạt rằng “Phật Giáo” mà TT Khải nói chính là GHPGVNTN đi chăng nữa thì “Phật Giáo” đó tuyệt đối không có dính dáng gì tới GHPGVNTN-Hải Ngoại vì đây là một tổ chức tàn dư ở miền Nam chạy sang ngoại quốc và luôn luôn có thái độ chống đối nhà nước, khoan nói đến chuyện chống đối đúng hay sai, dựa trên những thông tin chính xác hay bịa đặt.  Nhưng vấn đề ở đây là TT Tuệ Sỹ cũng đã biết rõ TT Phan Văn Khải muốn nói gì nhưng vẫn cố ý diễn đạt lệch đi để biện minh cho những hành động không thể biện minh được.  Thật vậy, trong một đoạn sau TT Tuệ Sỹ viết:

     “Về hình thức, người ta muốn HT Huyền Quang làm tâm điểm hội tụ để thống nhất hai Giáo hội...  Tại sao Nhà Nước cần sự hợp nhất như vậy, để phải đưa một người tù sau hơn 21 năm chưa có lệnh phóng thích lên hàng cao tăng nhất nước, được Thủ Tướng long trọng tiếp đón với nghi thức mà chưa vị nào trong GHPGVN (của Mặt Trận) được vinh dự?”

     Đã biết rõ như vậy mà TT Tuệ Sỹ vẫn còn diễn đạt câu “các vị tự sắp xếp lại nội bộ Phật Giáo” của TT Phan Văn Khải là cơ sở pháp lý, cơ sở bất thành văn, để GHPGVNTN-Nội địa liên lạc với một tổ chức tôn giáo chống đối ở ngoại quốc, tiến hành tổ chức Đại Hội Bất Thường Chính Thức của GHPGVNTN ở ngoại quốc để sắp xếp lại nội bộ GHPGVNTN ở trong nước.  Phải chăng TT Tuệ Sỹ cho rằng, với địa vị của Ngài trong GHPGVNTN, Ngài muốn viết sao cũng được, Phật tử chúng tôi chỉ có việc nuốt trọn tất cả nhưng gì Ngài viết dù nó vô lý và mâu thuẫn đến đâu đi chăng nữa.?  Thưa với Ngài, “Y Pháp Bất Y Nhân”, đó là lời Phật dạy.

     Tôi đã thất vọng khi đọc bài Sự Biến Lương Sơn của TT Tuệ Sỹ vì trong đó còn nhiều điểm mâu thuẫn, phi lý cần phải phân tích, phê bình, nhưng tôi càng thất vọng hơn nữa khi tôi đọc bức tâm thư của TT viết cho tăng sinh Huế.   Có thể tưởng tượng được hay không, một “cao tăng” của GHPGVNTN như Ngài Tuệ Sỹ đã đặt bút viết dạy tăng sinh như sau:

     “So với khối lượng tăng ni sinh trong cả nước, các con chỉ là một nhóm nhỏ.  Ít, nhưng đây là những hạt lúa chắc.  Nhiều, nhưng chỉ là vỏ trấu, và là những hạt chưa được ủ mầm mà đã mục rỗng bên trong.”

     Tôi không hiểu quý độc giả và các tăng ni sinh trong nước, không phải là tăng sinh của TT Tuệ Sỹ, nghĩ sao khi đọc câu trên.   Riêng tôi, tôi không muốn phê bình câu này mà chỉ có một đề nghị nhỏ:  Xin Ngài Tuệ Sỹ hãy suy nghĩ lại câu viết trên của Ngài và nếu cần thì diện bích ít lâu để sám hối về những tội vọng ngôn, cống cao ngã mạn, miệt thị tuyệt đại đa số tăng ni sinh Việt Nam, cùng lúc để quán chiếu chính cái câu mà TT đã viết trong một đoạn sau: “Chớ khoa trương bảo vệ Chánh Pháp, mà thực tế chỉ là ôm giữ chùa tháp làm chỗ ẩn núp cho Ma vương.”.   Xin TT Tuệ Sỹ cũng nên nhớ lại trước đây Ngài đã có một tiền án tử hình vì hô hào bạo động chống nhà nước mà Hoàng Nguyên Nhuận đã viết trong bài Cuộc Chơi Hơn Nửa Đời Người như sau: “Thầy Tuệ Sỹ một lần nộ khí xung thiên để rồi Phật tử trong ngoài nước phải “đi lạy thiên hạ sói đầu” để Thầy khỏi bị tử hình, chỉ vì Thầy [Thầy của những hạt lúc chắc. TCN] trót quên rằng thầy tu không cầm chuông mõ thì cầm bút chứ không hô hào bạo động, nhất là với người Việt, nhất là khi đất nước đã hòa bình thống nhất.”

     Đến đây, chúng ta hãy đi vào vấn đề chính.  Có một nghi vấn chúng ta cần đặt ra là, tại sao HT Huyền Quang lại không tiếp tục tập trung nỗ lực vào việc vận động hòa hợp giữa hai giáo hội, hoặc làm Phật sự như: “sẽ có những đóng góp tích cực cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo Tăng tài của Giáo hội và biên dịch trích lục Đại Tạng Kinh nhằm giúp Tăng Ni có điều kiện tập trung nghiên cứu những nội dung trọng tâm” như Ngài đã nói với HT Thích Thanh Tứ nhân dịp HT Thích Thanh Tứ thăm viếng Ngài ở Bình Định?  Động cơ nào đã thúc đẩy Ngài bỏ sở trường đi làm sở đoản để đi một bước chính trị vụng về như tôi đã phân tích ở trên?  Có một điều chúng ta biết rõ là Ngài sẽ được suy cử lên chức Tăng Thống, nhưng tôi không tin là vì cái danh này mà một vị cao Tăng như Ngài phải thay đổi lập trường.   Vậy cá nhân nào hay thế lực nào đã dùng những gì khác hay áp lực nào để kéo Ngài sang con đường khác?  Tôi chỉ đặt những câu hỏi mà không dám suy đoán, vì suy đoán dựa trên những yếu tố mà mình không biết rõ thì chỉ là đoán mò. 

     Về phía chính quyền, phản ứng trước sự kiện HT Huyền Quang ra Giáo chỉ cho HT Hộ Giác của GHPGVNTN ở ngoại quốc tổ chức Đại Hội Bất Thường Chính Thức ở Úc, quyết định mọi việc, sắp xếp mọi nhân sự cho GHPGVNTN ở bên nhà, là một điều dễ hiểu.   Không có phản ứng mới là chuyện lạ.  Nhưng có thể chính quyền cũng biết là có bàn tay nào điều động đàng sau với một áp lực nào đó mới khiến cho HT Huyền Quang bước ngoặt sang một hướng khác với ý muốn của Ngài.  Có lẽ vì vậy mà chính quyền đã ngăn cản không muốn để HT Huyền Quang đi cùng với HT Quảng Độ và TT Tuệ Sỹ vào Saigon, gây thêm rắc rối, cùng lúc để nhắc nhở Ngài những lời Ngài đã hứa với  HT Thích Quảng Liên cũng như với TT Phan Văn Khải và HT Thích Thanh Tứ.  Chúng ta cũng không nên quên là HT Quảng Độ là người rất dễ nổi nóng, rất cứng rắn không chịu thỏa hiệp.

     Tuy nhiên, những phương pháp mà các chính quyền địa phương dùng để ngăn cản HT Huyền Quang thì không được thông minh cho lắm.

     Thứ nhất, huy động cán bộ địa phương ra ngăn cản rồi đưa ra luận cứ là Phật tử địa phương muốn giữ HT Huyền Quang ở lại Tu Viện Nguyên Thiều để làm Phật sự, biên dịch trích lục Đại Tạng Kinh v..v.. không có tính cách thuyết phục nếu không muốn nói là một biện minh có tính cách “lạy ông tôi ở bụi này”.  Thật vậy, đáng lẽ chính quyền phải biết rằng Phật tử chẳng mấy khi quan tâm đến các chuyện các thầy đi đâu hay làm gì, nhất lại là chuyện biên dịch trích lục Đại Tạng Kinh   vì tuyệt đại đa số Phật tử, nhất là những Phật tử ở miền quê, có bao giờ đọc Đại Tạng Kinh đâu.  Ngay cả các bậc xuất gia cũng đâu có mấy người  quan tâm đến việc chuyện biên dịch trích lục Đại Tạng Kinh?    Phật tử chỉ cần có Chùa cho họ lễ Phật, có sư lo việc hiếu hỷ khi cần, và một năm dự vài lễ lớn như Phật Đản và Vu Lan.  Mặt khác, ai cũng biết rằng trong thể chế hiện tại ở Việt Nam, người dân rất hiếm khi tự động tập trung đòi hỏi một chuyện gì nhất là chuyện đó lại chẳng liên quan gì đến quyền lợi hay nếp sống hàng ngày của họ.  Cho nên, biện minh rằng nhân dân Phật tử tự động làm là một luận cứ thiếu trí tuệ, không có tính cách thuyết phục.

     Thứ nhì, dùng lý lẽ “hết hạn tạm trú” để buộc HT Quảng Độ và TT Tuệ Sỹ rời Tu Viện Nguyên Thiều chỉ chứng tỏ là chính quyền ngày nay vẫn hạn chế, khắt khe về vấn đề “tạm trú” của người dân.  Sự kiểm soát này chỉ nên áp dụng với người nước ngoài, nhất là đối với những người xâm nhập Việt Nam với mục đích truyền đạo, gây xáo trộn trong xã hội.  Thường thường người dân từ Nam ra Bắc hay từ Bắc vào Nam thăm thân nhân chỉ cần khai báo với phường phố địa phương và người chủ nhà chịu trách nhiệm về hành vi của người tạm trú.  Tại sao mấy vị tu hành như HT Quảng Độ, Tuệ Sỹ lại phải xin phép tạm trú ở Nguyên Thiều một thời gian nhất định?  Đó là những biện pháp không đẹp gì cho chính quyền, chỉ đưa lên một hình ảnh tiêu cực của chính quyền về chính sách khắt khe thiếu tự tin của chính quyền, không tin ở người dân nên mới phải đưa ra những biện pháp kiểm soát khắt khe.

     Thứ ba, tại sao chính quyền không thể chính thức ra mặt ngăn cản.   Tại sao chính quyền không thể tiếp xúc thẳng với các HT Huyền Quang, Quảng Độ, Tuệ Sỹ v..v.., trình bày những lẽ hơn thiệt của sự việc,  rằng các thầy đã đi quá xa dưới danh nghĩa tự do tôn giáo và khuyên các thầy nên kiểm điểm lại những hành động của mình, đừng gây thêm khó xử cho chính quyền.  Nếu cần, có thể công bố sự khuyến cáo này cho quốc dân đồng bào biết.  Chính quyền có đủ lý lẽ và phương tiện để làm như vậy, danh chính ngôn thuận.

     Nhưng dù sao thì cách đối xử của chính quyền như vậy cũng không cần thiết và không có lợi ích gì trước dư luận quốc tế, vì người ta rất dễ xuyên tạc để tổng quát hóa vấn đề để đi tới một mục đích khác với tôn giáo.  Thực tế cho thấy rằng, không chỉ có dư luận người Việt chống Cộng ở hải ngoại, mà một vài chính khách quê mùa quốc tế, vì thiếu trí tuệ hay vì chính trị thời thượng, hay một vài dân biểu Mỹ Mễ kiếm phiếu của người Việt di cư ở Cali  cũng lên tiếng phụ họa cho rằng Việt Nam không có Tự Do Tôn Giáo hay đàn áp Phật Giáo tuy rằng sự việc thuộc về chính trị và vài cá nhân chứ chẳng dính dáng gì tới tôn giáo hay Phật Giáo.  Cả trăm linh mục cưỡng dâm trẻ phụ tế và nữ tín đồ bị đưa ra tòa, bị cho vào tù và số tiền giáo hội Công giáo Hoa Kỳ phải bồi thường lên tới cả tỷ đô la nhưng chẳng có ai kết luận là Mỹ không có tự do tôn giáo.  Tại sao?  Vì đó là những hành động cá nhân của một số người theo một tôn giáo chứ không phải là tự thân tôn giáo, và không ai có thể đồng nhất hóa cá nhân với tôn giáo.   Kết hợp cá nhân với tôn giáo là một điều không có nước văn minh tiến bộ nào có thể chấp nhận.  Hơn nữa, tại sao mấy dân biểu này không hề dự thảo một nghị quyết nào lên án Saudi Arabia là vi phạm tự do tôn giáo?  Vì Saudi Arabia là đồng minh của Mỹ.  Mỹ đã nổi tiếng về sách lược lưỡng chuẩn (double standard), hi vọng nhà nước Việt Nam có thể hội đủ dữ kiện để cho hạ viện Mỹ một bài học về chính sách ngoại giao hai mặt của Mỹ.     Nói tóm lại, vấn đề chính trong biến cố Nguyên Thiều là vấn đề liên lạc với một tổ chức ở ngoại quốc chống đối chính quyền Việt Nam, dù là một tổ chức tôn giáo, để áp đặt những quyết định của tổ chức này trên đầu Tăng Ni Phật tử Việt Nam.  Đây không còn là vấn đề tôn giáo thuần túy nữa mà là những hành động có thể nói là phi lý và ngược ngạo coi thường chủ quyền quốc gia, dù là dưới danh nghĩa tôn giáo. 

     Tôi biết rằng, viết như trên chắc chắn là không thuận tai đối với những người đã có một định kiến rất tiêu cực đối với Việt Nam.  Và chắc chắn là tôi sẽ bị lên án ít ra là thân CS, hay hơn nữa là làm tay sai cho CS.  Nhưng lương tâm rí thức của một người được đào luyện trong ngành khoa học không cho phép tôi hùa theo những gì mà tôi thấy không đúng với sự thật.  Tôi viết với tư cách của một người Mỹ gốc Việt, không còn tâm cảnh Quốc-Cộng như ngày xưa, mà chỉ còn có một chữ Việt-Nam trong đầu.   Do đó, bất kể họ lên án tôi như thế nào, tôi đều bỏ ngoài tai, bởi vì tôi biết chắc là họ đã nói láo vì họ không hề biết đến cá nhân tôi như: bao nhiêu tuổi, làm gì ở miền Nam khi xưa, sang Mỹ làm gì, hoàn cảnh xã hội hiện nay ra sao v..v..và nhất là có những lý do hay động cơ hợp lý nào có tính cách thuyết phục để chứng minh là tôi làm tay sai cho CS.

Vài Lời Kết:  Phật Giáo là một bộ phận thiết yếu của cơ thể dân tộc và đã có một lịch sử gắn liền với sự thịnh suy vinh nhục của dân tộc.  Phật Giáo thịnh thì quốc gia thanh bình, Phật Giáo suy thì quốc gia cũng suy theo.  Đây là những sự kiện lịch sử bất khả phủ bác.  Cho nên, Phật Giáo không thể không ý thức được trách nhiệm của mình đối với dân tộc.  Vì vậy, bất cứ Phật tử nào, Tăng cũng như tục, đều có thể tham gia, nếu không muốn nói là có bổn phận phải tham gia, vào những hoạt động chính trị xã hội để góp phần làm cho nước nhà ngày càng tốt đẹp hơn về mọi mặt.  Nhưng chính trị Phật Giáo là chính trị Vạn Hạnh, chính trị Khuông Việt.. chứ không phải là chính trị cố chấp vào một danh xưng dĩ vãng, dù huy hoàng nhưng hào quang đã tắt. Và xã hội Phật Giáo là một xã hội thuần từ chứ không phải là một xã hội đối kháng, chia rẽ và bạo động.

     “Phật Giáo”, những lời Phật dạy, có nhiều điều giản dị nhưng thực tế cho thấy rất khó áp dụng, ngay cả đối với một số bậc tu hành.  Trong Kinh Người Biết Sống Một Mình, HT Thích Nhật Hạnh dịch và chú giải, câu kệ đầu tiên là “Đừng tìm về quá khứ”.  Thế nào tìm về quá khứ?  Kinh viết:

     “Này quý thầy, sao gọi là tìm về quá khứ?  Khi một người nghĩ rằng: Trong quá khứ hình thể ta từng như thế, cảm thọ ta từng như thế, tư tưởng ta từng như thế, hành nghiệp ta từng như thế, nhận thức ta từng như thế.  Nghĩ như thế và khởi tâm ràng buộc quyến luyến về những gì thuộc về quá khứ ấy thì khi ấy người đó đang tìm về quá khứ.”

     Và HT Nhất Hạnh giảng:  “Bụt dạy không nên tìm về quá khứ bởi vì quá khứ không còn nữa.  Tự đánh mất mình trong quá khứ tức là đánh mất hiện tại.  Sự sống nằm trong hiện tại; đánh mất hiện tại tức là đánh mất sự sống.  Ý của Bụt rất rõ: phải từ giã quá khứ để trở về hiện tại.  Trở về hiện tại để tiếp xúc với sự sống.”

     Dòng thời gian chỉ đi có một chiều, nhiều khi chúng ta cần phải ôn cái cũ để biết cái mới hay hoạch định cái mới chứ không phải để bám vào cái cũ.  Mặt khác, một chân lý đơn giản khác của Phật Giáo là thuyết Duyên Khởi:   Vạn Pháp do duyên mà thành cũng do duyên mà diệt.  Đầy đủ nhân duyên thì nó hiện hữu, không còn đủ duyên thì nó không còn hiện hữu nữa, và đây chính là lẽ vô thường của vạn Pháp.

     Quý thầy thuộc GHPGVNTN bên nhà, qua bao nhiêu năm, đã mất bao tâm huyết, năng lực để tranh đấu cho dân tộc và Đạo Pháp, đưa đến sự chuyển hóa suy tư và thay đổi chính sách của nhà nước đối với Phật Giáo. Không ai có thể phủ nhận công đức vô lượng của quý Ngài trong công cuộc tranh đấu này.  Nhưng mặt khác, quý Thầy cũng không uyển chuyển tư duy để thay đổi đường lối tranh đấu theo tình thế.  Qua cuộc hội kiến giữa TT Phan Văn Khải và HT Huyền Quang, rõ ràng là chính quyền đã coi trọng HT Huyền Quang, công nhận vị thế của HT trong đại khối Phật Giáo Việt Nam, và đã giơ ra cánh tay hòa giải.  Thật đáng tiếc, HT đã không nắm lấy cơ hội này để chấn hưng Phật Giáo.   Thực tế, qua biến cố Nguyên Thiều, HT đã cùng với một số Thầy khác đã phí mất bao tâm huyết, năng lực, chỉ để tìm về quá khứ, đánh mất đi sự sống trong hiện tại.  Hiện tại, Việt Nam có nhiều vấn nạn: tham nhũng, công bình xã hội, tệ đoan xã hội, giáo dục ... Phật Giáo có thể đóng góp rất nhiều trong những lãnh vực này.  Có cần phải dưới danh nghĩa GHPGVNTN hay GHPGVN mới có thể đóng góp cho xã hội hay không.

     Tại sao quý thầy không thể mang những kinh nghiệm về đạo về đời của mình giúp cho Phật Giáo Việt Nam, không thể nhân danh  là những bậc tu hành Phật Giáo vì dân vì nước, đưa ra những đề nghị làm sao giảm thiểu tham nhũng, xóa bỏ bất công trong xã hội, góp phần xây dựng mở mang dân trí, cải tiến giáo dục v..v.., những chuyện thiết thực trong đời sống hiện tại của người dân mà cứ phải bám trụ vào cái danh xưng GHPGVNTN, biết rằng cái tên không nói lên điều gì mà quan trọng chính là những cái chứa đàng sau cái tên.

     Về mặt chính quyền, TT Phan Văn Khải đã nhìn nhận “có thiếu sót, có nhiều sai trái” trong chính sách của nhà nước đối với Phật Giáo.  Vậy mong chính quyền đừng có lập lại những thiếu sót, sai trái này nữa, mà hãy giúp cho Phật Giáo Việt Nam được độc lập với chính quyền, tự do phát triển trong phạm vi tôn giáo, giúp chính quyền trong vai trò mở mang dân trí, giảm thiểu tệ đoan xã hội, nâng cao đạo đức xã hội.  Ngày nay, chính quyền hẳn đã biết rằng Phật Giáo là tôn giáo của dân tộc, không bao giờ phản bội dân tộc, và Phật Giáo không bao giờ chủ trương lật đổ chính quyền hay lao đầu vào những sự ô trọc của chính trị thế tục quyền hành.  Nếu có một bộ phận nào của Phật Giáo đi vào con đường này thì chính các Phật tử chân chính sẽ ra tay ngăn cản.  Hãy giải phóng GHPGVN ra khỏi Mặt Trận Tổ Quốc, hãy để cho các HT Huyền Quang, Quảng Độ tự do, muốn đi đâu thì đi, muốn ở đâu thì ở, miễn là các Ngài đừng có cấu kết với các thế lực nước ngoài, xách động quần chúng, gây chia rẽ và xáo trộn trong xã hội.  Và sau cùng,  Chính quyền cũng nên để tâm nghiên cứu kỹ bài “Góp Vào Việc Nghiên Cứu Tư Tưởng Nhân Nghĩa Của Nguyễn Trãi” của Lê Mạnh Thát để có thể áp dụng phần nào trong thuật trị nước, yên dân.   Mong vậy thay.

   

Mark_03.gif (833 bytes) Go to top page

half_under_water_sw.gif (3365 bytes)

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net