Nghiên cứu & đối thoại tháng
12 quý bốn năm 2003 
Ba Cái Chết Sau Nửa Thế
Kỷ
Thường
Đức - USA
Thế
hệ chúng tôi vào các năm đầu thập niên 60 còn nhỏ tuổi, nhưng đã có
dịp làm quen với nhà văn Graham Greene qua bản dịch “Người Mỹ Trầm Lặng”
(The Quiet American, TQA), đăng từng kỳ trên tạp chí Sáng Tạo.
Phải đợi chừng thập niên sau đó, mới có cơ hội đọc được nguyên
tác. Và mới đây, năm 2002, hãng phim Miramax đã cho chiếu cuốn phim “Người
Mỹ Trầm Lặng”,
lại
có cơ hội xem thêm phim. TQA
là câu
chuyện xoay quanh một mối tình tay ba giữa Fowler, Pyle và Phượng (qua vai Đỗ
Thị Hải Yến), một cô gái thuộc dân làng chơi trong bối cảnh chính trị
xã hội Sài Gòn năm 1952. Michael Caine trong vai Fowler, một ký giả người
Anh thâm trầm, tế nhị, không tin Chúa - người tình chăn gối của Phượng.
Tài tử Brendan Fraser trong vai Alden Pyle, một anh chàng Mỹ trẻ tuổi,
đẹp trai, tốt nghiệp Harvard, lý tưởng nhưng ngây thơ, sang Việt Nam trong
vai trò chuyên viên viện trợ kinh tế cho miền Nam (qua Cơ quan US
Economic Aid Mission) nhưng che đậy đàng sau một nhiệm vụ bí mật, khuynh đảo
chính trị, hổ trợ khủng bố (qua nhóm của tướng Trình Minh Thế), thăm
dò và tạo dựng một chế độ đi theo đường lối của Mỹ. Pyle
yêu Phượng, dù rất vụng về trong tình yêu, nhưng Pyle theo đuổi và chiếm
đoạt Phượng khỏi tay Fowler. Cuối cùng Pyle bị một tổ chức chính
trị bí mật yêu nước giết chết, Phượng lại trở về với Fowler...
Đây
là cuốn tiểu thuyết rất khó thực hiện thành phim hay, nhưng Roger Ford đã
thực hiện cuốn phim khá thành công. John Lehman trong The New Republic
đã viết về nó : “Người Mỹ Trầm Lặng là một trong những cuốn
sách chống Mỹ lạnh lùng nhất mà tôi đã từng đọc. Nó mang một số
tính chất chống Mỹ và các tính chất đó được biếm họa không thương
tiếc.” (The Quiet American is one of the most icily anti-American book I have ever
read. There are a number of anti-American characters in it, and they are all mercilessly
caricatured.) William Clancy trong Commonweath
nhận xét nhân vật người-Mỹ-trầm-lặng (qua vai tài tử
Brendan Fraser) đã được đạo diễn biếm họa với tính chất “tốt
bụng và đần độn” (well-intentioned and stupid), dưới cặp mắt của
Fowler, “Hắn chẳng làm được trò trống gì ngoài việc tạo ra rắc rối
khi hắn xía vào chuyện, dù là trong chính trị hay tình yêu.” (He can
cause mothing but trouble wherever he happens to meddle whether is be in politics or love).
Pyle là một mẫu người Mỹ điển hình - khờ khạo và nguy hiểm
(the innocent and dangerous American).
Điều
đáng nói thêm là trong phim The Quiet American, vai trò tướng Trình Minh
Thế đã được đề cập khá đậm. Trong đó có cảnh nhóm tướng Thế
với sự hổ trợ bí mật của Pyle, cung cấp chất nổ
đã tạo ra một vụ khủng bố bằng bom tại nhà hát lớn Sài Gòn. (Trong
thực tế, vụ khủng bố ấy xảy ra vào ngày 9/2/1952 làm cho 50 người thiệt
mạng, cả Pháp lẫn Việt). Xem tới đây, người ta bỗng liên tưởng
vai trò của Pyle cũng
tương tự như một nhân vật có thật là Edward Lansdale. Lansdale gần gũi,
hổ trợ tướng Thế và đến năm 1955 đã dụ dỗ Trình Minh Thế về đầu
hàng Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Trên con đường trở về hợp tác với
chế độ Diệm, tướng Thế bị bắn chết gần cầu Tân Thuận ngày
3/5/1955. Cái chết của tướng Thế sau hơn bốn thập niên, người Việt
vẫn còn đề cập tới. Trong Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (Văn
Nghệ xuất bản 1993) tác giả Đỗ Mậu cho rằng, “Sở dĩ cái
chết của tướng Thế cho đến ngày nay vẫn còn nằm trong vòng bí ẩn lịch
sử vì chưa có một chứng nhân nào hay một nhà viết sử nào chứng minh
được một cách xác quyết kẻ nào hay tổ chức nào đã chủ trương giết
tướng Thế. Ký giả Brown (trong The New face of War) cho rắng cái chết của tướng
Thế ở vào trong trường hợp có thể đưa tới nhiều nghi vấn về một vụ
ám sát. Ông Nhị Lang (trong hồi ký: Phong Trào Kháng Chiến Trình Minh Thế)
thì gán cho tướng Mai Hữu Xuân đã giết tướng Thế. Còn tướng CIA
Landsdale, người bạn chí thiết của tướng Thế, người đã lôi kéo tướng
Thế về với ông Diệm, thì không nói ai là kẻ chủ mưu giết tướng Thế.
Trong hồi ký In the Midst of War, Landsdale đã kể lại rằng ngày 3 tháng 5 năm
1955 ông ta đang ngồi trong Dinh Độc Lập, trong lúc ông ta đang tỏ lời giận
dữ Tổng thống Diệm vì ông Diệm có những lới lẽ khinh mạn và vong ân
đối với tướng Thế thì bỗng ông Nhu đi vào cho biết tướng Thế đã từ
trần trên cầu Tân Thuận trong lúc đang chỉ huy trận tấn công Bình
Xuyên. Nghe được tin này ông Diệm khóc và xin lỗi Lansdale.” (trang
129, sách đã dẫn).
Qua
sự kiện trên, dĩ nhiên chúng ta có quyền nghĩ cái khóc của ông Diệm là
giọt nước mắt cá sấu, đóng kịch trước mặt Lansdale. Nhưng tác
giả Đỗ Mậu còn viết thêm : “Trong lúc ấy thì dư luận Sài Gòn lại
cho rằng ông Ngô Đình Nhu là kẻ chủ mưu giết tướng Thế. Sở dĩ
có dư luận ấy vì Nhu nổi tiếng là người thủ đoạn, “ăn cháo đá
bát”, và đã phản bội lại bạn bè từ sau khi cầm được chính quyền,
huống chi Nhu lại không muốn bất kỳ ai có thể trỏ thành anh hùng để có
thể qua mặt được anh em ông Diệm.” (trang 129)
Gần 9 năm sau, anh em ông Diệm cũng bị hạ sát
(2/11/1963), nhưng so với cái chết của tướng Thế thì cái chết của anh
em ông Diệm dễ hiểu hơn. Ở chỗ, tình thế trong lúc đó chỉ có hai thế
lực thù nghịch : đại đa số quần chúng đang uất hận và chế độ Diệm-Nhu.
Vai trò của Mỹ trong cái chết của anh em ông Diệm chỉ là chuyện phụ,
và vai trò của Hội đồng Tướng lãnh đảo chánh chỉ là vai trò thi hành
cái mệnh lệnh từ tâm lý quần chúng và chính trị thực tiễn, nhổ cỏ
thì phải nhổ tận rễ. Nói theo lời của ông Nguyễn Hữu Đống thì
anh em ông Diệm chết vì người ta sợ họ: dân chúng sợ, các tướng đảo
chánh sợ, đảng
phái đối
lập
sợ.
Anh em ông Diệm không chết mới là điều đáng làm người ta ngạc nhiên.
(qua phỏng vấn của Nguyễn Đắc Xuân, đăng trên trang nhà GĐ tháng 11).
Hai
mươi ngày sau (22/11/1963) ở Dallas, bang Texas, Tổng thống J. F. Kennedy cũng bị
hung thủ bắn chết. Trong 40 năm sau cái chết của Kennedy, có hàng
ngàn cuốn sách và phim ảnh nói về nó, dư luận công chúng khắp nơi vẫn
chưa dứt khoát ai là kẻ đã giết ông, bởi có rất nhiều lý thuyết về
âm mưu chung quanh biến cố đó: Tình báo Mỹ (CIA), cán bộ của ông Fidel
Castro, nhóm cực hữu chống cộng lưu vong Cuba, MAFIA, âm mưu của một thế
lực chính quyền Mỹ... Và
có một lý thuyết khó tin nhất cũng được nêu ra : thủ phạm có thể là
bà quả phụ Ngô Đình Nhu, kẻ đã dùng thế lực tiền bạc nhúng tay vào
vụ sát nhân Tổng thống Kennedy để trả thù. Qua lý thuyết này, có
một dữ kiện đáng lưu ý là Allen Dulles (từng làm Giám đốc CIA), người
trợ giúp thiết kế quân đội Sài Gòn, sau đó lại liên lạc với nhóm tướng
lãnh đảo chánh, lại là người nằm trong Hội đồng Warren, điều tra về
vụ ám sát Tổng thống Kennedy mấy năm sau đó.
(Xem trang nhà: http://www.geocities.com/verisimus101/conspiracy.htm
The Conspiracy Theories)
Nhắc
lại về cái chết của tướng Thế, nhà báo Nga Sergi Blagov, một
ký giả từng ở Việt Nam trong 6 năm, (tác giả “Honest Mistakes: The
Life and Death of Trinh Minh The”, Nova Science xuất bản 2001) cho rằng chính
quyền Diệm tung ra bằng chứng nguỵ tạo là tướng Thế bị bắn từ mắt
trái, không
phải bắn từ phía sau,
có
nghĩa là do lằn đạn đến
từ phía
“kẻ thù” (ý đổ tội cho Việt Minh hoặc Pháp) là một âm mưu che đậy
sự nhúng tay của chính quyền và kẻ đứng phía sau là Lansdale; cũng như sự
nguỵ tạo các bằng chứng hung
thủ Lee Harvey Oswald tôn thờ chủ nghĩa Mác-xít, phản bội Mỹ thừa
lệnh KGB ám sát Kennedy... mà quên đi vai trò trong bóng tối của Edward
Lansdale. Chính Lansdale trong năm 1960 đã thiết kế một kế hoặch tạo
ra khủng bố, đổ lỗi cho Castro để có bằng cớ tấn công Cuba.
Sergi Blagov nhắc lại, có nhiều lần Lansdale từng nói, “Đừng để những
chuyện tiểu tiết trong cuộc sống cản trở hành động” (Don’t let
the little formalities of life stop you.) [A tale of two assassinations: Vietnam’s
JFK, trang nhà AsiaTimes.com ngày 22/11/2003].
Nhận
xét vai trò của E. Lansdale có liên hệ đến cái chết của tướng Thế và
cố Tổng thống Kennedy là một yêu tố khá bất ngờ. Nhưng Giao Điểm
vừa nhận được bản phân tích của Viện Stratford, chuyên phân tích tình
báo chiến
lược và
tiên đoán về chính trị thế giới [ngày 24/11/2003, The Mystery of Marina
Oswald, by Dr. George Friedman] đã nêu ra vai trò khá quan trọng đã bị bỏ
quên là người vợ của Oswald, bà Marina Prusakova. Trong phân tích của
Friedman có 3 điểm then chốt: Một, Marina là phần tử giai cấp được ưu
đãi ở Nga, có trình độ giáo dục, đẹp, chỉ gặp Lee Harvey Oswald (một
người Mỹ tầm thường) có vài lần và quyết định lấy nhau trong vòng hơn
tháng? Hai, Chính quyền Sô-viết cấp giấy phép đồng ý cho Marina cưới
Oswald (một người Mỹ đào tị) trong vòng 10 ngày mà không cần quan tâm đến
yếu tố Marina có người cậu là đại tá của Cơ quan Mật vụ MVD (the
Russian Interior Ministry secret service)? Ba, liền sau đó, Oswald đòi trở về
Hoa Kỳ với sự đồng ý của Marina và được sự chấp thuận của người
cậu và chính quyền Sô-viết trong vòng vài tuần lễ? Qua ba câu hỏi này, Friedman đã để cho chúng
ta tự suy luận, và nếu đồng ý, sẽ nảy sinh một hệ luận mới: Nếu
chúng ta đồng ý chính Lee Oswald là kẻ đã bắn chết Kennedy, và lý thuyết
âm mưu là do bàn tay Tình báo Mỹ, liệu có sự nhúng tay của Tình báo Nga
trong đó không, và tại sao?
Gỡ
được một nút thắt từ nghi
vấn chưa hẳn đã làm sáng tỏ vấn đề, mà có thể nảy sinh ra vấn
đề mới của âm mưu. Chúng ta không ngạc nhiên trong tháng 9/2003 vừa
qua, việc tiết lộ cuốn băng của cố Tổng thống L.B. Johnson song song với
cuốn sách “Triangle of Death” làm cho dư luận tin rằng chính Johnson đã từng
kết án cố Tổng thống Kennedy giết Diệm trong quá khứ
-
còn
có
nghĩa sự thật đó là điều hiển nhiên. Nhưng nếu chúng ta hiểu rằng
kẻ có quyền lực chủ động tạo ra âm mưu
ám
sát chính trị một vị tổng thống, họ cũng sẽ có khả năng tạo
ra các âm mưu lạc
dẫn dư luận, để
với thời gian những câu hỏi mới cứ kéo dài ra mãi.
L.
Fletcher Prouty, tác giả “JFK: The CIA, Vietnam and the Plot to Assassinate John
F. Kennedy”, nhà xuất bản Birch Lane Press, cuốn sách làm nền tảng cấu
tạo cho cuốn phim của đạo diễn Oliver Stone, JFK, đã lý luận rằng:
“... Castro đã không giết Kennedy, cũng chẳng phải CIA, mà chính là
những kẻ nằm trong vòng quyền lực đã thiết kế cho việc sát nhân.
Họ có đủ phương tiện để giảm thiểu sự an ninh thông thường và
cho phép chọn lựa lộ trình nguy hiểm (kẻ thu xếp lộ trình mà đoàn xe của
Tổng thổng Kennedy sẽ đi qua cho sát thủ dễ bắn - người viết ghi thêm).
Đồng thời những kẻ đó có quyền lực tiếp nối che đậy tội
ác trong mười hai năm” sau đó (Castro did not kill Kennedy, nor did the CIA. The
power source that arranged that murder was on the inside. It has the means to reduce
normal security and permit the choice of a hazardous route. It also has had the continuing
power to cover up that crime for twelve years.)
Ai
là kẻ thủ phạm của ba cái chết sau nửa thế kỷ vẫn còn quanh quẩn
trong đầu một số người qua các lý thuyết về âm mưu, hay từ một nỗi
hận lòng nhỏ mọn. Nhưng làm chính trị là chấp nhận giữa cái trụ
(quyền lực) và cái diệt
(chết chóc). Có người nhận xét rằng, nếu không bị giết, giờ
này Tổng thống Kennedy cũng đã ra người thiên cổ từ lâu, vì chứng bệnh
Parkinson quái ác vẫn hành hạ ông đau đớn mỗi ngày. Tướng Thế,
hai anh em ông Diệm Nhu cũng chẳng thể còn hiện diện trên cõi đời.
Cái tồn tại chính là kẻ làm chính trị có
biết hành xử đạo đức chính trị trong lúc còn sống
hay
không. Sau 40 năm, hình ảnh và
con người của Kennedy vẫn còn nằm nguyên vẹn trong tâm khảm của đại
đa số dân chúng Mỹ. Riêng ông Thế, nếu lúc còn sống, không chịu
quy phục để đi theo con đường “bất chính” là trở về hợp tác với
chế độ Diệm Nhu, giờ đây hẳn ông đã trở thành hình ảnh một người
hùng trong lòng một số đông quần chúng Nam bộ. Hai ông Diệm Nhu, nếu
không mê muội và tàn ác, hẳn giờ này không cần phải có đám “nha trảo”,
hậu duệ ở nước ngoài phải vất vả điếu đóm viết sách ca tụng, dựng
bàn thờ để tưởng niệm mỗi năm, vẫn được dân chúng tiếc thương.
Đọc cuốn “Những Huyền Thoại & Sự Thật về Chế Độ Ngô Đình Diệm”
(Văn
Nghệ xb. 1998) của Vĩnh Phúc, chúng ta mới biết rằng, các ngôi mộ
của anh em ông Diệm, Nhu, Cẩn đã được chính quyền cho phép cải táng về
nghĩa trang Quảng Đông ở Lái Thiêu, dù vậy trên ngôi mộ, gia đình họ vẫn
không dám đề tên thật mà phải nguỵ trang dưới các hàng chữ: “Mộ
ông Huynh ông Đệ, bà cụ Khả và ông Can” và mộ của ông Huynh (Diệm)
được tráo thành mộ của ông Đệ (Nhu) (sách như trên, trang 438), chỉ vì
lo sợ dân chúng thù ghét mà phá hại chăng? Có những cái chết chính
trị phải chịu hậu quả khốn nạn như vậy đó, bởi khi sống hai ông
là những kẻ đã tha hóa, đánh mất linh hồn Việt Nam. Linh hồn của
hai ông thuộc về nước Chúa của Công giáo La mã.
Ngày
còn nhỏ, chúng tôi từng nghe cái giọng trầm của ông Diệm qua làn sóng
vô tuyến: Tôi thức khuya dậy sớm chăm lo việc nước hàng ngày, hàng
tháng. Nếu ai cũng như tôi vậy thì quốc gia này phải có ngày thịnh vượng,
phú cường... Khi ra nước ngoài, tình cờ nghe một vài người quen tín
đồ Công giáo thường kể giai thoại để ca tụng ông Nhu: Một buổi sáng
nào đó, đứng bên balcon của Dinh Độc Lập nhìn trời mây, ông Nhu thổ lộ
chuyện bắt tay với Hà Nội với một thuộc cấp và nói rằng: Trời đẹp
như ri mà chiến tranh thì phi lý quá, toi hỉ! Nhìn vào chiều sâu tâm lý của
những tâm chất như vậy, có thể làm cho một số người băn
khoăn với những lời kết án hai ông thuộc loại những tên “Việt
gian, bán nước, làm tay sai ngoại bang...”, nhưng những sai lầm chính trị,
những điều tệ hại hai ông đã tạo ra trong lúc cầm quyền xuất phát từ
bản chất của những tín đồ Công giáo cuồng tín và kiêu căng. Hai ông
chính là nạn nhân của đạo Catô La mã. Nhưng để cho những "đám ruồi
nhặng" muốn bám vào xác chết của hai ông ý thức được điều đó
thì không biết đến bao giờ!
- 29.11.03
- Thường
Đức
Go to top page

Home | Về trang mục lục
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net