
NHƯ SƯƠNG NHƯ ĐIỂN CHỚP… CÂU CHUYỆN DÒNG SÔNG
“Không còn biết nữa
thời gian có hiện hữu hay không, cảnh trước mắt đã hiện ra trong một
giây hay đã tròn một thếkỷ, không còn biết nữa đây là Tất Đạt Đa
hay đức Thế Tôn, một tiểu ngả hay cái gì khác. Thiện hữu như vừa nhận
mũi tên thần diệu đâm sâu vào trong chàng đem lại cho chàng niềm hân
hoan. Vô cùng mừng rỡ, Thiện Hữu vẫn đứng một lúc, nghiêng mình trên
nét mặt bình an của Tất Đạt mà chàng vừa hôn lên, nét mặt đã là
sân khấu cho tât cả những hình hài hiện tại, vị lai. Vẻ mặt chàng
không đổi sau khi làn gương của muôn nghìn hình thái đã biến mất. Tất
Đạt mỉm cười bình an, hiền từ, nụ cười có vẻ đầy ơn huệ cũng có
vẻ châm biếm, hệt như đấng Giác Ngộ đã cười. Thiện hữu cúi thấp.
Những giọt nước mắt không ngăn rỉ xuống khuôn mặt già nua. Chàng thấy
tràn ngập một cảm giác yêu thương lớn rộng, ngập tràn niềm kính cẩn.
Chàng phủ phục qùy trước con nguời đang ngồi bất động, mà nụ cười
nhắc chàng nhớ đế mọi sự chàng đã từng yêu thương trong cuộc sống,
mọi giá trị và thánh thiện trong đời
chàng.”
Hermann Hesse, Siddharta, Câu chuyện giòng sông,
Phùng Khánh dịch, trang 165, tái bản song ngữ trong Tuyển Tập Văn Học Đức
Việt, tập 3, Giao Lưu Việt Đức, 2002)
Những giòng chữ này đã đến
với chúng tôi trong thập niên 60, trong những ngày tháng của tuổi trẻ bồng
bột và hăng say, nơi đó khát vọng và đam mê còn đầy như giờ thủy triều
đang lên, tình yêu và ảo vọng còn căng ứ như những cánh diều lộng
gió, và mọi hứa hẹn còn là những thúc dục lên đường viễn khơi mạo
hiểm. Giữa những ngổn ngang đam mê dại khờ đầy vọng tưởng cao xa và
vọng ngoại như thế, “câu chuyện dòng sông”
bỗng hé mở một thứ ánh sáng lạ lùng đến từ góc nhìn của một
người nơi một hành tinh khác, phản ảnh như một tấm gương để nhìn lại
mình, và bỗng thấy nhân vật chủ thể là mình
đang vong thân xa lạ vơi chính mình. Mơ hồ câu hỏi tự vấn bỗng dấy
lên ở một ngõ ngách nào đó trong dòng ý thức sống mà chính mình trong
vô minh và ham muốn chưa nhận được chân tướng bản lai. Một câu hỏi từ
đó đi theo cả suốt đời người, như một tìm kiếm, không phải hòng
mong tìm được một vật thể ở ngoài để sở hữu trong tay. Trực giác của
tuổi trẻ chỉ báo tin rằng, đây là một hành trình ngược chiều, trên
con đường tìm về nội tâm, để gặp điều mà Thái tử Tất Đạt Đa mấy
nghìn năm trước đã chứng ngộ…
Tôi đã gặp chị Phùng Khánh lần đầu tiên như thế, không bằng
hình hài, mà qua “câu chuyện dòng sông” hay “Siddharta” của H. Hesse,
qua ngọn bút dịch thuật tài hoa của chị. Như một kẻ đầu đàn trong giới
lưu nữ tiếp cận với văn hoá tây phương, Phùng Khánh đã khám phá “Siddharta”
như một của báu và trao lại cho chúng tôi. Từ đó không thể nào quên những
giây phút lạ lùng giữa những cuốn hút của giòng văn, con mắt của chính
mình đã hơn một lần choàng tỉnh nhận ra “của báu trong nhà tìm kiếm
mãi” đang được một người ngoại cuộc nâng niu, rồi có một ngưòi
chung cuộc trang trọng trao lại cho mình. Bỗng
như một liên cảm, tuy chỉ văn kỳ thanh mà đã thấy tri ân chị Phùng
Khánh xa lạ chưa quen
Khi tôi gặp chị trong phong trào Phật giáo giữa năm 1964 – 1965 thì
chị đã là Sư Cô Trí Hải trong chiếc khăn bịt đầu và tấm áo nâu
đơn giản, đã là một cánh tay đắc lực cho qúy ôn và qúy Thầy trong
công việc Phật sự văn hoá. Trong một giây tôi đã nghĩ rằng : chị đã
lên đường rồi đây, cương quyết hơn tất cả những người cùng thế hệ,
giả từ cuộc chơi phiêu lưu ảo tưởng là cuộc đời nhiều hứa hẹn cám
dỗ. Chị đang cất bước trên “đường
về nội tâm”, làm cuộc thể nghiệm đích thực theo dấu vết của nhân
vật siêu nhiên Tất Đạt Đa. Bỗng thấy có một chút kính nể và sợ
hãi nơi dáng điệu khắc khổ và nghiêm trang của vị nữ tu trẻ tuổi
này. Gương mặt và đôi mắt sáng ngời tỏa ra nghị lực nội tâm không
có gì có thể lay chuyển trong chí nguyện tu học, sư cô Trí Hải đã
không ngừng thể hiện tri và hành trong thế nhất quán Bi Trí Dũng
của lời dạy Đức Phật và của các bậc Đạo sư. Đôi khi quá nghiêm khắc
và nghiêm minh đến nỗi làm e dè những
kẻ hay dễ dãi vơi chính mình trong việc tu tâm. Ni cô đã nổi tiếng trí
tuệ nhất mực, chuyên cần nhất mực, giữ giới nghiêm túc không ai bằng,
nhưng không bao giờ tự mãn. Có lần sư cô đã tâm sự sau khi sư bà Diệu
Không, HT Thiện Siêu viên tịch : rằng sự học nơi những vị tôn sư không
bao giờ cạn, luôn luôn ta có thể khám phá nơi người đi trước những NÉT
ĐẠO tuyệt đẹp mà chỉ những giờ phút gần gũi ta mới thụ nhận được.
Không cần một chút son phấn phù hoa, người nghe bỗng thấy được tham dự
trong một vùng ánh sáng rực rỡ của vẻ đẹp tinh thần đến từ đức hạnh
cao qúy của vị nữ tu.
Chính vẻ đẹp cao qúy
tổng hợp được những nét của con người Phật tử Viêt nam bằng trí tuệ
và tình thương này đã có sức mạnh thuyết phục những ngừơi xa lạ. Có
lần một sinh viên Đức làm luận án cao học
về so sánh các tôn giáo hỏi tôi về PGVN
và những vị trong hàng giáo sĩ. Tôi đã giới thiệu các vị tôn túc ở
VN. Sau chuyến đi tham khảo, sinh viên ấy trở lại Đức, gặp tôi để cám
ơn đã cho anh ta cơ hội gặp, tìm ra
và hiểu được PGVN qua một vị nữ tu sĩ. Ngưòi sinh viên đã tả hình
dáng và gương mặt của vị mà từ đó anh ngưỡng mộ là vị Thầy VN.
Tôi nghe và biết đó là sư cô Trí Hải. Hôm ấy tôi đã vui và hạnh phúc
như chính mình được gặp cố nhân.
Một người Đức khác, xúc động
nghe tin Ni Sư viên tịch, gặp Ni Sư trong công tác từ thiện hơn 10 măm, TS W. Boehme của Hội W.P.
Schmitz - Stiftung, đã nhận chân được ý nghĩa sâu xa đạo Phật nằm trong
từ bi và trí tuệ qua hành sự cùa Ni sư. Ông đã từng nói : chương trình
cứu trợ từ thiện nào ở VN có sự đỡ đầu của Ni Sư Trí Hải đều
nên được bảo trợ.
Không gặp sư cô, những lúc như thế tôi cảm nhận được thọ ơn
đầy an lành !
Trong những năm sau, có thể
nói mỗi lần gặp Ni Sư Trí Hải là mỗi lần vui pha lẫn với kính trọng.
Vui trong niềm an lạc, vì nhận ra bước chân của sư cô càng lúc càng
thanh thoát nhẹ nhàng, mọi chiến đấu
nội tâm trong thuở ban đầu không để lại đấu vết, tâm hồn nghệ sĩ
thoáng mát trên gương mặt sáng rỡ nụ cười rộng lượng. Không chỉ
còn một con đường nội tâm hạn hẹp mà Nụ cười ấy là muôn nẻo vào
cửa Giác Ngộ : “bạn có thể vào Thiền bằng bất cứ ngõ nào, vì toàn
thể đời sống là một thiền định sâu xa : núi đồi, trăng sao, hoa lá,
cây cỏ, toàn trái đất đều đang nhập định. Bởi thế, bât cứ gì cũng
có thể trở thành ngõ vào thiền” (Thích nữ Trí Hải, Cảm hứng từ
những Pháp thoại Osho, viết theo lời thỉnh nguyện của TKL, website
Khuông Việt)
Từ nơi xa, đọc những lời của sư cô, thấy như tâm được chỉ
nơi an trú và biết rằng ni sư Trí Hải đang cười khi nghe những kẻ còn
vướng tục lụy như tôi đang làm chay hát bội trong cõi ta bà, rằng Ni Sư
cũng muốn có một tấm vé đi xem hát như một người mê hát, chỉ khác
chúng tôi một điều : nơi sư cô “mê ngộ” đã trong suốt như tiếng
cười pha lê. Và tôi đã đinh ninh an tâm như thế ở nơi phương trời xa:
biết rằng nơi quê nhà, - thảng lúc tôi có dịp quay về, ở đó có một
dòng sông đang chảy, và có một cô lái đò với nụ cười đang thong dong
chờ những kẻ biết quay về muốn qua sông mà bơ vơ không có người chỉ
nẻo.
Tin sư cô liễu sinh đã đến với em trong một tâm thức như thế,
thưa sư cô ! Chắc chắn sư cô đang cười và đưa một ngón tay lên trong
thế hoa sen và bảo rằng : “chị Kim Lan thấy chưa, chị đang chấp vào một
hình ảnh ! Chị còn mê mờ lắm ! Chị chưa thiền !” Cô đã nói : “Khi
Thiền định, ta thấy mình chỉ như một làn sóng trên đại dương cuộc
đời. Nói cho cùng thì chỉ có biểu hiệu sự hiện hữu mà thôi. Không thể
có những làn sóng mà không có biển. Sóng chỉ là hiện tượng mà biển
chì là thực chất.” (đã dẫn trên)
Quả thật như thế, thưa sư cô, tin sư cô và cùng với hai thị giả
là cô Tuệ Nhã và Phước Tịnh đã như một tiếng sét, như ánh chớp vụt
đến làm rụng rời. Nhưng ngay sau
giây phút bàng hoàng, không hiểu sao từ lúc ấy hình ảnh sư cô hiển hiện
trong tâm không dứt : thong dong, tự tại, hoan hỉ, cô đang cầm tay hai ngưòi
đệ tử cùng đoàn lữ nhân du hành trên biển cả. Vũ trụ đang quay cuồng
trong pháp hữu vi “mộng huyển bào ảnh”, cô
đang cùng đệ tử vượt cơn sóng dữ trong nụ cười :
“Chúng ta cũng chỉ là những làn sóng trên đại dương và vũ trụ.
Hơi thở vào của mỗi người là hơi thở ra của người khác và của cây
cối, mọi sinh vật khác. Trong ta có toàn thể mọi người, mọi sự.” (TN
TH, đã trích dẫn).
Có phải không Tuệ Nhã và Phước Tịnh và những ngưòi lâm chung ?,
có phải hai vị đang cùng với Ni Sư đang vượt giông tố để đến vùng
ánh sáng móng trời? Cô Tuệ Nhã ơi, em đã giật mình khi nhận ra cô trên
di ảnh, sư cô có cặp mắt đen như hai hạt nhãn, nét mặt sáng như sao,
người ốm nhỏ như sóc, mỗi lần gặp cô ra mở cửa, là mỗi lần kính
phục ni sư Trí Hải thâu dạy đệ tử nghiêm minh mà hoà ái, tao nhã mà
ân cần, là mỗi lần thương qúy các sư cô vô hạn. Biết rằng qúi cô thương
yêu và qúi trọng vị thầy của mình bất diệt. Hai sư cô đang bỏ dòng
sông như sương như điển chóp theo Thầy trên đại đương bao la. Có phải hai sư cô là ngôi sao, hay cánh bướm,
hay hoa ngâu trong vườn ưu đàm, rơi trên vạt áo ni sư trưởng đang chỉ nẻo
vào cõi vô sanh ?

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net