
Bạch Thư – Viện Hóa Đạo
Theo công bố của Văn
phòng Quốc hội Hoa kỳ, ngày 19 tháng 11, Hạ nghị viện Hoa kỳ đã bỏ
phiếu thuận, 409 đối 13, Nghị quyết 427 bảo trợ bởi Bà Loretta Sanchez,
dân biểu Bang Calỉonia, đồng bảo trợ 22 Dân biểu. Nội dung Nghị quyết
“bày rỏ cảm tình của Viện Dân biểu Hoa kỳ đối với ban Chỉ đạo
dũng cảm của Giáo hội Phật giáo Việt nam thống nhất, và yêu cầu khẩn
thiết cho tự do tôn giáo và các quyền con người liên hệ tại nước Cộng
hòa Xã hội chủ nghĩa Việt nam.”
Tiếp theo đó, kể từ ngày 20
tháng 11, 2003, hầu hết cac báo chí, đài phát thanh và truyền hình trong nước
đã lên tiéng phản đối Hoa kỳ chen vào công việc nội bộ của Việt
nam, cũng như khẳng định “đường lối trước sau như một của Đảng và
Nhà nước luôn luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng.”
Vì Nghị quyết
liên hệ đến Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất, do đó, Ban Chỉ
Đạo Viện hoá đạo thấy cần phải bày bỏ quan điểm và lập trường của
Giáo hội để Tăng Ni, Phật tử, cùng đồng bào trong và ngoài nước có cơ
sở tham chiếu, ngoài quan điểm đơn phương của các các phương tiện truyền
thông đại chúng Việt nam dưới sự kiểm soát của Nhà nước Cộng sản.
1. Trước hết,
việc đệ trình Quốc hội Hoa kỳ hay thông qua Nghị quyết bởi các Dân biểu
Hoa kỳ, đó là vấn đề nội bộ của Hoa kỳ. Hội đồng Lưỡng viện,
cũng như Ban Chỉ đạo Viện hoá đạo không có thẩm quyền hay tư cách gì
để can thiệp.
Tuy nhiên,
trong phát biểu của mình trước Quốc hội, khẳng định lý do Nghị quyết
427 được đệ trình, Bà Dân biểu Loretta Sanchez nói rõ: “Tôi đại diện
cho cộng động người Việt lớn nhất ngoài Viêt nam trên thế giới, tại
Qụân Cam, bang California.” Chúng ta biết,
sau 1975, khi chế độ Việt nam Cộng hòa sụp đổ, một số lớn đồng bào
miền Nam đã rời bỏ quê hương tị nạn tại nhiều nước trên thế giới.
Ngày nay, họ là công dân của những nước đã cưu mang họ, hưởng quyền
lợi và có các bổn phận như các công dân thuộc các cộng đồng khác. Một
trong các bổn phận căn bản là đóng thuế. Một trong các quyền lợi căn
bản là sử dụng lá phiếu để quyết định Chính quyền.
Dù phải sống
lưu vong, nhưng đại bộ phận người Việt nước ngoài không thể quên
quê hương, cội nguồn. Họ có bổn phận với đất nước đang cưu mang họ,
đồng thời cũng còn mang trong tâm tư bổn phận thiêng liêng khác: đó là
sự tồn vong, thăng trầm hay vinh nhục, của Tổ quốc, của giống nòi. Vì
vậy, họ đã sử dụng lá phiếu của mình gây ảnh hưởng đối với Chính
quyền đương quốc để binh vực quyền lợi cho thân nhân, đồng đạo
cũng như đông bào của mình trong nước, mà họ cho rằng đang bị khống
chế hay áp bức. Đồng bào Việt đã gây ảnh hưởng như thế nào đối với
Chính quyền sở tại, và Chính quyền ở đó đáp ứng như thế nào, đó
là vấn đề nội bộ của nước đó.
Đảng Cộng
sản, kể từ khi mở cửa, sau khi thành trì bách chiến bách thắng của chủ
nghĩa xã hội là Liên xô sụp đổ, rõ ràng đã có thay đổi tư duy, đã
không còn xem người Việt tị nạn nước ngoài là “bọn phản quốc chạy
theo đế quốc tư bản,” mà bây giờ là một bộ phận không thể chia cắt
của dân tộc, nghĩa là cũng được đối xử bình đẳng như đồng bào
trong nước, cũng được thừa nhận là còn có nghĩa vụ thiêng liêng đối
với Tổ quốc. Cho nên, tại Washington D.C có Tòa Đại sứ Việt nam, tại
California có Tòa Tổng Lãnh sự để nhắc nhở người Việt lưu vong một
thời phản quốc đừng quên giống nòi và Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đảng
CS Việt nam còn được phép, nghĩa là một cách hợp pháp, tổ chức những
nhóm người Việt chấp nhận Chủ nghĩa Xã hội công khai vận đông ủng họ
và ca ngợi Đảng Cộng sản vinh quang, ngay trên đất Mỹ, được phép mở
các kênh truyền hình giới thiệu đất nước Việt nam giàu đẹp dưới tài
lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Viêt nam, đỉnh cao của trí tuệ
loài người. Đảng và Nhà nước có đủ tất cả phương tiện mà nước
Mỹ dành cho để chỉ cho đồng Việt kiều thấy đâu là vinh quang và đâu
là sỉ nhục của Tổ quốc để tự do lựa chọn. Giáo hội Phật giáo Việt
nam Thống nhất không đủ tầm vóc để tuyên truyền như vậy.
Ngay cả
trong nước, GHPGVNTN không có bất cứ phương tiện truyền thông nào để xác
minh việc làm của mình, mà theo đó đồng bào và Phật tử có quyền tự
do phê phán. Thế nhưng, thậm chí khi bộ Ngại giao công bố trước dư luận
thế giới rằng Hòa thượng Huyền Quang và Hòa Thượng Quảng Độ, cùng
các Thượng tọa Đại đức khác bị bắt giữ tại đồn Công an Biên
phòng Lương sơn, vì “có mang giữ tài liệu bí mật quốc gia.” Điều đó
không chỉ phạm luật Nhà nước, mà còn phạm giới Nhà tu. Dù bị lăng nhục
như vậy, nhưng Giáo hội không có bất cứ quyền hạn nào để tự xác
minh trước với sự vu khống và xúc phạm quá đáng đối với các bậc
Cao tăng mà Phật tử kính trọng. Nếu Tăng Ni trẻ trong nước có tò mò
tìm đọc các thông tin từ trên mạng để tìm hiểu sự thực, thì bị hăm
doạ trục xuất khỏi chùa, khỏi tu viện. Nghĩa là trường hợp phạm giới
nặng xét theo luật Nhà Chùa. Trong trường hợp như vậy đồng bào và Phật
tử nước ngoài có toàn quyền tự do phê phán, và tự thấy cần phải
làm gì để trân trọng phẩm giá của những người mà mình tôn kính. Và
họ đã sử dụng lá phiếu để yêu cầu Chính quyền sở tại, hoặc tán
thành hoặc phản đối hành vi Nhà nước Cộng sản. Ban Chỉ đạo Viện hoá
đạo không đủ tầm vóc để gây ảnh hưởng đó, bởi vì hai vị Đại lão
Hòa thượng lãnh đạo tối cao của Giáo hội bị cách ly, các Thượng tọa
thành viên Ban Chỉ đạo Viện hoá đạo phần lớn bị quản chế, hoặc bị
hăm dọa, sách nhiểu.
2. Thứ hai,
các phương tiện truyền thông đại chúng trong nước đã cho thấy rõ ý
nghĩa: vấn đề Phật giáo Việ nam là vấn đề nội bộ của nước Việt
nam. Điều đó đúng. Nhưng cũng cần phải xác đinh, trong giới hạn nào
thì được gọi là nội bộ. Có thể nói ngay rằng, những vấn đề của
các hội đoàn nhân dân khác, như Hội Liên hiệp Phụ nữ, Liên hiệp Thanh
niên, hay Hội Những người cao tuổi, là những vấn đề nội bộ, hoàn
toàn bị chi phổi bởi luật pháp Việt nam trong thời gian nào đó và trong
phạm vi lãnh thổ Việt nam. Vượt ngoài giới hạn thời gian và không gian
ấy, những hội đoàn ấy không tồn tại. Ý nghĩa nội bộ lại càng chặt
chẻ hơn nữa, khi các hội đoàn nhân dân này là một bộ phận tổ chức
quần chúng của Đảng. Ngay cả bản thân của Đảng Cộng sản Việt nam,
vượt qua giới hạn thời gian và không gian, trong chứng mực nhất định,
cũng hoàn toàn không tồn tại.
Đối với
Phật giáo, dù được tổ chức dưới hình thái nào, không hoàn toàn lệ
thuộc giới hạn thời gian và không gian như vừa nói. Trải qua trên hai mươi
lăm thế kỷ truyền bá, trên toàn bộ khu vực Á châu rộng lớn, và ngày
nay trên toàn thế giới, là một thực thể xã hội trong cộng đồng nhân
loại. Phật giáo Việt nam có bản sắc rêing, nhưng không thể nói hoàn
toàn khác biệt với Phật giáo tại các nước khác. Do ảnh hưởng hỗ
tương về mọi mặt, kể cả mặt tổ chức, nên Phật giáo Việt nam không
thể tự tách mình biệt lập với Phật giáo như một tôn giáo toàn cầu.
Có những sắc thái đặc thù của mỗi dân tộc, nhưng không thể phủ nhận
tính phổ quát. Với nhận thức như vậy, vấn đề Phật giáo, Việt nam
hay không phải Việt nam, đều không hoàn toàn là công việc nội bộ của
một nước.
Tất nhiên,
khi truyền bá vào đất nước nào, Phật giáo thích ứng với phong tục, tập
quán của nước đó, và cũng phải sinh hoạt trong khuôn khổ luật pháp của
nước đó. Nhưng không phải vì vậy mà Phật giáo hoàn toàn lệ thuộc
vào luật pháp của nước đó. Luật pháp của mỗi chế độ đều có chức
năng bảo vệ sự tồn tại của chế độ đó. Ngay trong một chế độ, luật
pháp cũng phải thay đổi theo thời đại, theo tổ chức quản lý xã hội của
chế độ trong từng giai đoạn. Và trên hết, trong lịch sử chính trị. chưa
có chế độ chính trị nào tồn tại
vĩnh viễn. Điều chắc chắn, chế độ chính trị này có thể sụp đổ,
được thay thế bằng chế độ chính trị khác, và do vậy cũng thay đổi
luôn nội dung của luật pháp. Trong trường hợp như vậy, Phật giáo vẫn
tồn tại. Đó là sự thực lịch sử. Cho nên, không một chế độ nào có
thể buộc chặt Phật giáo vào sinh mệnh tồn tại của mình, để rồi khi
nó sụp đổ, kéo theo cả sự sụp đổ của Phật giáo. Một vài vị lãnh
đạo Phật giáo Việt nam do không thấy điều này, mà là điều hiển nhiên
trong lời dạy của Phật, “cái gì có sinh thì có diệt,” hoặc thấy biết
nhưng không thể làm khác đi được vì nhiều lý do, hoặc có vị cũng thấy
biết nhưng, để cho quyền lợi vất chất chi phối, sẵn sàng tuân theo ý
chí của Đảng, bằng bất cứ giá nào phải đưa toàn bộ Phật giáo Việt
nam vào làm một bộ phận chính trị quần chúng của Đảng để bảo vệ
sự tồn tại lâu dài của Đảng. Như thế, thịnh suy của Đảng, thậm chí
cả đến sự trong sạch hay thoái hoá của Đảng, cũng kéo theo số phận của
Phật giáo Việt nam.
Bản
thân của Phật giáo cũng không phải là vĩnh viễn. Đức Phật chưa bao giờ
nói giáo pháp của Ngài tồn tại vĩnh viễn, mà những gì được nói
thành lời đều là hữu vi do đó phải chịu tác động sinh diệt. Nhưng không
phải vì thế mà Phật giáo mất hay còn tùy thuộc vào số phận của bất
cứ tổ chức hay đảng phái chính trị nào.
Chính vì Phật
giáo, trong bản chất, không thể là một bộ phận của Đảng CS Việt nam,
nên vấn đề Phật giáo không phải là vấn đề nội bộ của nước Việt
nam mà người làm chủ duy nhất hiện tại là Đảng Cộng sản Việt nam.
Có thể
một số sư tăng hay Phật tử chấp nhận lý tưởng xã hội chủ nghĩa,
cho rằng chỉ có thể đem lại hạnh phúc cho xã hội loài người khi mà
xã hội xã hội chủ nghĩa được xây dựng thành công, trong đó không có
giai cấp bóc lột và do đó tôn giáo cũng không còn chức năng lịch sử nữa,
nghĩa là không còn tồn tại. Các sư tăng và Phật tử ấy có quyền tự
do, và chắc chắn Phật cũng không cấm, họp nhau lại lập thành một Giáo
hội rồi tự nguyện phó thác sinh mạng của Giáo hội ấy trong tay các đảng
viên cộng sản, những chiến sỹ xung kích xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu
tranh cho một xã hội không giai cấp và không tôn giáo. Mọi hình thái tổ
chức và sinh hoạt của Giáo hội ấy hoàn toàn tuỳ thuộc sự chỉ đạo
của Đảng Cộng sản. Từ trên cao, ai được chỉ định làm Pháp chủ,
cho đến dưới hạ tầng, ai được chỉ định làm Chánh đại diện Phật
giáo quận huyện; đó hoàn toàn là công việc nội bộ của đảng Cộng sản.
Vì đảng là người duy nhất lãnh đạo đất nước, cho nên công việc đảng
là công viêc của nước.
Ý nghĩa
vấn đề Phật giáo Việt nam là vấn đề nội bộ của nước Việt nam cần
phải được nhận thức trong bối cảnh như vậy. Tất nhiên, đây là Phật
giáo của đảng cộng sản Việt nam, một thứ Phật giáo đang cố hoá
thân để trở thành chủ nghĩa xã hội.
Những tăng
ni Phật tử khác không chấp nhận điều đó, mặc dù không phủ nhận nhưng
cũng không thừa nhận chủ nghĩa xã hội là cứu cánh chân lý, có quyền tư
duy và sinh hoạt theo những gì mình học và hiểu từ kinh Phật. Không thể
bức ép họ tập họp làm thành một bộ phận của đảng cộng sản. Trong
gần ba thập kỹ qua, giết chóc, tử hình, tù đày, lăng nhục, tất cả vẫn
không làm sờn lòng, thoái chí, của những người quyết tâm đi thẳng theo
con đường mà mình đã lựa chọn.
3. Trong
nhiều trường hợp, để tránh né vấn đề có tính cách tế nhị trên phương
diện luật pháp, Nhà nước Việt nam, mà thường xuyên là bộ Ngoại giao
khi phải trả lời dư luận quốc tế về hiện tình của Phật giáo Việt
nam, trích dẫn lời phát biểu của các lãnh đạo của Giáo hội của Mặt
trận, luôn luôn khẳng định, người đại diện duy nhất của Phật giáo
Việt nam hiện tại là Giáo hội Phật giáo Việt nam. Vì được thừa nhận
là đại diện hợp pháp duy nhất, nên khi tổ chức này nói “không có đàn
áp tôn giáo tại Việt nam,” đảng CSVN muốn rằng cả thế giới, trong
cũng như ngoài nước, phải hiểu rằng không có đàn áp.
Tuy nhiên, Mặt
trận là tổ chức chính trị quần chúng của Đảng Cộng sản. Thế thì
tuyên bố của một tổ chức dưới quyền lãnh đạo của Mặt trận, dù
được gọi là Giáo hội hay hiệp hội, cũng vẫn là tuyên bố của Mặt
trận, nghĩa là, chính thức là của đảng CS.
Mặt trận là một tổ chức chính trị của đảng CSVN, thì phạm
vi hoạt động cũng chỉ giới hạn trong lãnh thổ VN mà thôi. Theo hệ luận,
trên nguyên tắc và chỉ trên nguyên tắc mà thôi, Giáo hội nào là thành
viên của Mặt trân, thì phạm vi sinh hoạt của nó cũng không thể vượt
ngoài tầm ảnh hưởng của Mặt trận. Nói là trên nguyên tắc, vì trong thực
tế, khi đảng CSVN muốn vươn tầm tay ra ngoài thế giới để tập hợp số
người Việt lưu vong trước đây được xem là phản quốc nay được đảng
tha thứ cho hướng về quê hương để xây dựng tổ quốc xã hội chủ nghĩa,
khi ấy đảng cần điều động Giáo hội của Mặt trận làm đội quân thứ
năm, bấy giờ đảng sẽ cho làm lại căn cước khác: Giáo hội thuần tuý
chứ không phải là thành viên của Măt trận.
Mặc dù được
Nhà nước yểm trợ bằng tất cả mọi phương tiện cần thiết, nhưng không
hiểu sao cho đến nay Giáo hội ấy vẫn chưa hoàn toàn lột xác khỏi Măt
trận để xứng đáng tầm vóc lãnh đạo đại bộ phận Phật tử Việt
nam hải ngoại, để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà đảng giao phó là
tập hợp quần chúng chung quanh đảng.
Ngày nay,
cùng chung số phận với đại khối đồng bào, một bộ phận lớn Phật tử
Việt nam tìm đường vượt biên tị nạn CS, định cư trong các quốc gia
phát triển hàng đầu của thế giới, khắp từ châu Mỹ, châu Âu, châu
Úc. Châu Á là bản địa của Phật giáo, và sự định cư của Phật tử
tại các nước ở đó cũng không phải là ít. Trong bối cảnh đó, bờ
cõi Việt nam không rộng lớn thêm và Nhà nước Việt nam mặc dù là Nhà nước
thống nhất cả hai miền Nam Bắc nhưng phạm vi vẫn không thể vượt qua các
đường ranh hải phận và đất liền; nhưng quả thực Phật giáo Việt nam
đã vượt qua bờ cõi của Tổ quốc.
Vì quốc
vận đảo điên nên phải lìa xa quê hương, nhưng người Việt lưu vong đã
không quên cội nguồn, trong đó có Phật giáo. Họ không thể nói “tôi
là công dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam,” nhưng họ
có đủ quyền tự do và được các công ước quốc tế bảo vệ để có
thể nói, “Tôi là Phật tử Việt nam.” Vì vậy Nhà nước Việt nam không
có quyền hạn gì với họ. Trái lại, các Thầy và các Sư cô Việt nam,
ở trong hay ngoài nước, theo Giáo hội này hay theo Giáo hội kia, đều có
thể có ảnh hưởng nào đó trong đời sồng thường nhật của các Phật
tử ấy, và họ tự do lựa chọn vị Thầy thích hợp cơ duyên cho đời sống
tâm linh của mình. Khi họ nghĩ rằng các Thầy của mình đang bị áp chế,
họ tự thấy có bổn phận chiếu cố. Đó là đạo nghĩa của con người,
sống và hành động đúng theo lương tâm và nhận thức. Tuy là thân phận
lưu vong, nhưng là công dân của quốc gia dân chủ, có đủ quyền lợi và
nghĩa vụ như các công dân khác, không phân biệt chủng tộc; họ sử dụng
quyền công dân của mình, bày tỏ quan điểm của mình bằng lá phiếu. Kết
án các Tăng Ni Phật tử trong nước không khứng chấp nhận làm thành viên
của Mặt trận Tổ quốc VN là “biến chất, thoái hóa”; kết án các Phật
tử định cư nước ngoài nghĩ đến Thầy tổ của mình bằng lá phiếu
dân chủ là bọn “phản động lưu vong”; tố cáo các Chính quyền làm
theo điều mà cử tri muốn là “thế lực thù địch”; những vị có tư
tưỏng phê phán như vậy nên xét lại vấn đề, hãy chiêm nghiệm thực tế
để đừng nhầm lẫn lý tưởng phụng sự Chánh pháp với mục tiêu phục
vụ thế quyền. Không có cái gì dựa trến sự dối trá mà có thể tồn tại
lâu dài.
4.
Nghị Quyết 427 được thông qua tại Viện Dân biểu Hoa Kỳ ở Washington
DC, ngày 19/11/2003
lúc 4:27pm (giờ
địa phương) với 409 phiếu thuận trên 13 phiếu chống; và Nghị Quyết của
Quốc hội Âu châu thông qua lúc 17 giờ chiều thứ năm 20.11.2003 với đa số
tuyệt đối của 626 Dân biểu; sự thông qua hai Nghị quyết tại hai diễn
đàn dân chủ có tầm ảnh hưởng quyết định hàng đầu của thế giới
đã phản ảnh rất rõ hình ảnh của Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống
nhất trong các cộng đồng quốc tế.
5.
Trong hiện tình của Giáo hội Việt nam Thống nhất trong nước, trong khi
hai vị Đại lão Hòa thượng lãnh đạo tối cao bị cách ly, và một số
các Thượng tọa trong Tân Ban Chỉ đạo Viện hoá đạo bị quản chế, nên
chỉ có thể tổ chức cuộc hội kiến nhỏ không theo một nghị trình và
địa điểm cố định, do đó không thể thảo luận chi tiết mọi khía cạnh
của vấn đề. Nhưng cấp thiết, trong giới hạn cho phép, Ban Chỉ đạo Viện
Hóa đạo tự thấy có trách nhiệm, dưới hình thức phổ biến bạch thư,
nêu quan điểm và lập trường của Giáo hội để Phật tử và đồng bào
có cơ sở phán đoán các nguồn thông tin và bình luận của các phương tiện
truyền thông đại chúng trong nước liên quan đến hai Nghị quyết đã đề
cập trên.

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net