
1. Thư của sử gia Vũ Ngự Chiêu
(@ Texas, ngày
8/12/2003)
Ông Nguyễn Văn Hóa thân quí:
Mấy tuần nay bị cúm nặng, nằm liệt giường.
Chờ cuốn sách của ông chưa thấy đến. Vừa khoe khỏe, phải lo giấy tờ
xin học bổng về Việt Nam, nghiên cứu khoảng 10 tháng về khía cạnh luật
pháp của chương trình Đổi Mới, từ 1986 tới 2005. Hiện tôi đã được
Hội đồng Trao Đổi Học Giả Quốc Tế (CIES) đề nghị cho học bổng niên
khóa 2004-2005, nhưng kết quả cuối cùng tùy thuộc vào Tòa Đại sứ Mỹ
ở Hà Nội (với sự chấp thuận của Việt Nam) và Hội đồng Fulbright Ngoại
Quốc của Liên bang Mỹ. Khoảng 3,4 tháng nữa sẽ có kết quả chính thức.
Tôi vẫn mong không có gì trở ngại về phía Việt Nam, và có thể làm việc
ở Việt Nam từ đầu tháng 9/2004. Sau đó, nếu có cơ hội, tôi sẽ qua Nga
và Pháp, mỗi nơi vài ba tháng bằng một học bổng khác. Hy vọng mọi chuyện
hanh thông, đóng góp cho kế hoạch cải cách pháp luật ở đất nước mình,
giúp quốc dân Việt vững mạnh tiến bước vào tương lai. Một chế độ
chính trị thường không kéo dài quá vài thế kỷ. Một dân tộc và quốc
gia như Việt Nam sẽ tồn tại đời đời.
Tôi có đọc qua bài của ông gì đó về cuộc
tranh đấu của Phật Giáo năm 1963 (Nguyễn Văn Lục thì phải). Thấy ông Lục
có nhắc đến tôi vài ba nơi trong bài “Lịch sử còn đó.” Ông Lục
không phải là người nghiên cứu lịch sử chuyên nghiệp, nên tôi chẳng
muốn trả lời. Lớn tuổi rồi, lo việc nghiên cứu và sáng tác hơn là
tranh luận vô ích. Nếu ông Lục là một nhà nghiên cứu sử học, hẳn
tôi sẵn lòng đối thoại về triết lý, phương pháp nghiên cứu, phương
pháp lượng giá tài liệu sử học và phương pháp viết sử.
Điều khiến tôi đặc biệt quan tâm là ông
Lục có vẻ muốn theo chủ trương dân dốt dễ cai trị. Đây là một quan
điểm cực kỳ nguy hiểm, thường chỉ có trong những xã hội độc tài,
chuyên chế; kiểu những xã hội nhận Ki-tô làm quốc giáo ở Âu châu,
Islam Trung Đông thời Trung cổ, hay Liên sô Nga thời Stalin, Trung Cộng thời
Mao Trạch Đông; Việt Nam trước năm 1975. Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang, trong
bộ Thực chất Giáo hội La Mã, đã phân tích khá kỹ hai quan điểu
giáo dục nhồi sọ và giáo dục khai phóng, cùng hậu quả của chúng.
Riêng câu hỏi của ông Lục rằng “tác giả
[Chính Đạo] đã làm gì” với kiến thức sử hiện thoạt nhìn có vẻ
“lạc đề” (irrelevant). Chỉ vài hàng dưới câu ông Lục trích dẫn, đã
có câu trả lời: Hai thập niên qua, nếu chẳng phải từ những tác phẩm
trước năm 1975, tôi không ngừng kêu gọi người Việt biết rõ lịch sử
trung thực của đất nước mình để thoát khỏi cảnh làm những tên lính
lê dương ngay trên chính quê hương mình như trong những cuộc “thánh chiến”
bấy lâu từ năm 1858.
Nhưng ông Lục có lẽ còn hàm ý khác.
Socratus tuyên bố “Điều đáng xấu hổ nhất là cứ tưởng mình biết những
điều mình thực ra chẳng biết gì cả;” nên phải chịu uống thuốc độc
vì tội “làm ung hoại tuổi trẻ.” Khổng Khâu cùng đệ tử lang thang khắp
nơi mà không rao bán nổi chủ thuyết thiên mệnh và vương đạo. Plato bị
bán xuống thuyền nô lệ vì cổ Greece chưa có triết gia làm quốc trưởng.
Huss bị thiêu sống vì không chịu tin vào những lời rao giảng của Giáo hội
Ki-tô Roma. Chỉ có Gallileo đành chịu quì gối tuyên bố xin rút lại phát
minh rằng “trái đất quay quanh mặt trời,” ngược lại với lời dạy
khả kính, khảm khắc vào đá quí của Giáo hội rằng “mặt trời quay
quanh trái đất.” Tôi, một bại binh sống lưu vong ở Mỹ trong cảnh cơ hàn
sau 12 năm tôi đòi đao binh, chẳng thể so sánh với các hiền triết cổ thời.
Mớ kiến thức thu lượm được bấy lâu, hẳn nhiên, khó thể ứng dụng
ở Việt Nam. Nên chỉ muốn bắt chước cổ nhân, lưu lại cho hậu thế mớ
kiến thức hạn hẹp của mình, biết đâu chẳng giúp khai mở huệ tâm cho
một vài cá nhân nào đó.
Câu hỏi của ông Lục, ngoài ra, còn có thể
khiến tôi dễ bị lạc đường vào một chứng bệnh vỗ ngực, khoe công,
kể trạng. Cái tôi đáng ghét, nhưng cũng chẳng sao. Đã 62 tuổi trời, có
thể tóm ôn vài việc tiêu biểu mình đã làm.
Nhờ kiến thức sử học, tôi đã có khả năng
vượt trên sự yêu ghét và quan điểm chính trị cá nhân, âm thầm bước
trên sạn đạo mà huệ tâm và sự lương thiện trí thức hướng dẫn. Tôi
từng từ bỏ Viện nghiên cứu Đông Nam Á tại Singapore năm 1985, vì không
muốn viết một nghiên cứu về xã hội Việt Nam từ 1975 tới 1985 do Viện
trưởng yêu cầu—một nghiên cứu hẳn chẳng lợi ích gì cho Việt Nam ở
thời điểm đó. Nhờ kiến thức lịch sử, năm 1986, tôi từ chối lời mời
qua Đại học Bắc Kinh nghiên cứu, giữa lúc liên hệ Trung-Việt cực kỳ
gay go, sự từ chối có khể khiến vài học giả Trung Quốc thân hữu bất
bình. Trong thập niên 1990, tôi nỗ lực cổ võ việc bãi bỏ cấm vận, nối
lại bang giao Mỹ-Việt, và rồi cho Việt Nam tình trạng bình thường hóa
thương mại—tôi không tán thành việc trút thù hận lên đầu quốc dân
Việt, của cả hai phe Bắc và Nam, do những lỗi lầm và luật kẻ mạnh chẳng
liên hệ gì đến và vượt ngoài khả năng quyết định của dân Việt. Đó
là chưa kể, những năm nào đã xa, tôi từng công khai tuyên bố “Nếu Tổng
thống Thiệu chấp nhận có hai nước Việt Nam, lịch sử sẽ nguyền rủa
đời đời,” khiến cố ký giả Dương Hùng Cường bị vạ lây, và gây
phiền toái cho gia đình, cùng bao bằng hữu.
Nếu không có kiến thức sử học, biết đâu
cá nhân tôi đã chẳng nhắm mắt, đưa chân, theo một câu ngạn ngữ Trung
quốc, “gọi bất cứ ai cho bú sữa làm mẹ.”
Chỉ lúc sắp nhắm mắt buông xuôi hai tay, một
cá nhân mới biết mình đã làm những gì trong cuộc đời ngắn ngủi, phù
du của mình. Với tinh thần truyền thống Việt Nam, cùng kiến thức lịch
sử, tôi tin rằng “chớ lấy thắng bại mà luận anh hùng.” Và, kẻ thù
nguy hiểm nhất là thứ “ông quan” trong lòng mỗi người chúng ta—thứ
đam mê, đắm đuối danh hờ, lợi mọn quen thuộc giúp tạo nên giai tầng
trung gian bản xứ tại các nước nhược tiểu.
Tôi gửi qua ông Hóa bài “Phiến Cộng trong
Dinh Gia Long” mới hiệu đính. Nếu có thể post trên webside Giao Điểm tháng
này hoặc tháng tới.
Thân quí
2. Vài lời thưa với sử gia Vũ Ngự
Chiêu, tác giả Nguyễn Văn Lục, và quý độc giả.
Trong hơn hai năm góp mặt trên làng
báo chí điện tử toàn cầu, Giao Điểm đã nhận được sự ủng hộ nhiệt
tình của độc giả khắp nơi. Mặc dù phương tiện và máy móc xuất phát
từ bang California nước Mỹ, nhưng có những độc giả định cư từ những
nơi xa xôi như Do Thái, vùng Tây Bắc
Trong vài tháng trước đây, chúng
tôi có nhận được bài đóng góp (bài thứ hai) của tác giả Nguyễn Văn
Lục, “Lịch sử còn đó”, đã được đăng trong phần Diễn đàn bạn
đọc tháng 12 này. Trách nhiệm lựa chọn bài vở của người phụ trách
trang web có hai mặt : đối nội, bài viết phải phù hợp với chủ trương
của nhóm; hai, đối ngoại là trách nhiệm với tác giả và độc giả. Sau
khi nhận thấy bài “Lịch sử còn đó” bị vấp phải một số khiếm
khuyết về nguyên tắc “ghi chú, dẫn chứng”, chúng tôi đã hoàn trả
cho tác giả với lời yêu cầu điều chỉnh. Với thiện chí của một người
cầm bút, tác giả đã điều chỉnh và gửi lại, dù vậy không hẳn đã
hoàn hảo theo ý chúng tôi. Ngoài việc biết tác giả Nguyễn Văn Lục từng
cộng tác với tạp chí Đi Tới ở Canada, mới đây, do tình cờ
theo dõi các diễn đàn internet của người Việt, chúng tôi còn biết tác
giả đã "gây sóng gió" qua bài viết “Gió đã đổi chiều” (đã
được mạng lưới Chuyển Luân đăng lại trong tháng 12) phản ứng về vụ
kiện của ông Nguyễn Hữu Luyện (và nhóm chống cộng
Dĩ nhiên khi đã đăng tải các bài
viết của tác giả gửi tới, dù ở mục “diễn đàn độc giả”, chúng
tôi không thể làm công việc phê bình bài viết đó nữa, phần thẩm xét
nội dung của nó tuỳ thuộc vào độc giả. Trong nội dung của bài “Lịch
sử còn đó” của tác giả NVL có đề cập đến một vài nhân vật, dữ
kiện lịch sử, tầm lý luận và trích dẫn có thể trở thành đối tượng
cho sự bất đồng ý kiến, đối thoại xảy ra.
Lá thư đăng tải ở trên, chúng
tôi vừa nhận được từ sử gia Vũ Ngự Chiêu (tức nhà văn Nguyên Vũ)
[xin mở ngoặc ở đây để minh định danh xưng “sử gia”: chúng tôi gọi
ông Vũ Ngự Chiêu là sử gia không phải là cách gọi tâng bốc, nhưng căn
cứ trên học vị và các công trình nghiên cứu sử của ông đã được thực
chứng trước công luận và trong các giới học giả trong lãnh vực Sử học.].
Nội dung của lá thư - dù mang tính cách trao đổi trong tình thân giữa
chúng tôi, hơn nữa, sử gia Vũ Ngự Chiêu là cây viết đã từng cộng tác
chặt chẽ với Giao Điểm; tác giả không có ý định trả lời với bài
viết của ông Nguyễn Văn Lục, chúng tôi vẫn nghĩ việc cho phổ biến lá
thư này là một sự cần thiết và công bằng.

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net