
Thưa Thượng Tọa Thích Tuệ Sĩ,
Bạch
Thượng Tọa, tôi xin tự giới thiệu tôi là một công dân của nước Việt
Nam. Tôi không phải là một phật tử. Nhưng cũng như hàng triệu triệu người
Việt Nam khác, trong gia đình tôi có bàn thờ để thờ cúng trời phật và
tổ tiên. Tôi không đi chùa, nhưng ngày rằm mồng một bao giờ tôi cũng
nhang đèn quì dưới ban thờ để răn mình luôn minh tâm đặng phân biệt lẽ
đời phải trái và để cầu trời phật phù hộ độ trì cho tôi vượt
qua những hẩm hiu của số phận. Tuy không phải phật tử nhưng tôi biết
phật pháp dạy con người ta sống phải chân thật để sao cho “làm chúng sanh mà
tánh Phật không thiếu, khi thành Phật tánh ấy không thêm”.
Gần
đây khi search cụm từ “phật pháp với dân tộc” tôi tình cờ được
đọc bài “ĐẠO
PHÁP DÂN TỘC CHỦ NGHĨA XÃ HỘI BIẾN THÁI CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM
HIỆN TẠI” của Thượng Tọa. Trộm nghĩ những người có chung
suy nghĩ như Thượng Tọa không nhiều song cũng không phải ít, nên tôi,
nhân những ngày cuối năm, dốc cạn tâm can, mong trải tấm lòng nghĩ về
quê hương, về một xứ sở đã chót chôn nhau gửi hồn, mong được trao
đổi với Thượng Tọa đôi điều.
Tôi sẽ không dám mổ sẻ toàn
bộ mà chỉ có ý định luận bàn xung quanh tư tưởng toát lên của bài viết
của Thượng Tọa.
Vì
tôi là một người dân đất Việt, nên cũng như bao người con khác của
đất nước, tôi luôn tự hào về điều đó. Mỗi khi nhớ lại thời trẻ,
lúc đang du học ở Liên Sô, tôi không khỏi ân hận, hổ thẹn vì những
gì mình đã nghĩ về quê hương. Ngày đó anh chị em chúng tôi ra đường
không dám nhận mình là Việt Nam, hễ thấy nhau thường lảng tránh. Thậm
chí ngu xuẩn đến mức có anh bạn để râu rồi nhận mình là người Phi
Luật Tân, có anh cố gắng học Anh ngữ rồi bịa rằng mình sinh ra ở Hồng
Kông, lại có anh tên là Phan Văn Từ nhưng anh luôn viết thành Phon Vantu để
giải thích mình là người Indonesia mang họ quý tộc Phon của Hòa Lan.
Chúng tôi không sợ nhau, nhưng tránh nhau vì nghèo quá, sống tằn tiện, ky
góp tiền chỉ để mua đồ mang về nước. Với lại tránh mặt nhau vì người
này sợ người kia biết chỗ mua hàng của mình. Liên Sô ngày đó cũng túng
thiếu chứ không sẵn hàng hóa như nước Nga bây giờ. Ngày đó tôi không
thể giải thích được vì sao những người như ông Bớc-sét nhà báo Úc
châu, ông bác sĩ Ben-gia-min Spốc, bà Giên Phôn-đa v.v.. lại có thể dành
cho Việt Nam những tình cảm quý giá đến thế. Càng về sau tôi mới hiểu
người ta chỉ ước ao cái người ta chưa có. Cái hàng ngày được hưởng
thì lại xem ra sự thường. Cách đây mấy năm, trong cuộc chiêu đãi một
quan chức cao cấp của hãng phần mềm điện toán nổi tiếng Microsoft sang
thăm Việt Nam, một anh bạn tôi có nói đại ý :“ Hồi xưa chúng tôi sai
lầm đuổi người Mỹ đi, giờ mời mãi mà các vị không thấy đến”. Vị
phó chủ tịch nọ hơi ngạc nhiên, nhưng sau đó ông ta trả lời thế này
:“ Nếu không có một nước Việt Nam thống nhất tôi sợ rằng các ông
không có cơ hội ngồi với tôi hôm nay”.
Nhưng
gần đây tôi hơi ngạc nhiên vì cùng với sự lớn mạnh của quê hương,
nhiều bà con ta ở nước ngoài về thăm tổ quốc, nhiều người giầu có
mang tiền về đầu tư giúp cộng đồng trong nước có công ăn việc làm,
xóa đói giảm nghèo, nhưng lại có không ít những tiếng nói ngược dòng,
chất chứa đầy thù hận, không ít những tổ chức hội đoàn mang âm mưu
nhằm quay ngược lại thế sự đang có. Thử tìm hiểu, tôi không khỏi giật
mình vì có rất nhiều người trong số họ không hiểu hết bản chất của
sự việc. Sự thiếu thốn về thời gian vì phải lo cho công cuộc mưu sinh
dẫn đến thờ ơ với những chuyện quê hương mà bà con vô tình cho rằng
đó là chuyện chính sự, tình trạng thiếu thốn thông tin hoặc thông tin một
chiều kiểu luôn tô hồng-khiếm khuyết ấu trĩ của nhà cầm quyền Việt
Nam hiện nay-dẫn đến chỗ nghi ngờ sự thật, luôn là những trở ngại
cho nhận thức về đất nước của cộng đồng người Việt ở nước ngoài.
Tôn
giáo, và nhân quyền luôn là những câu chuyện xưa như Diễm của phương tây
mỗi khi chống Việt Nam. Chỉ có một điều, nếu ngày trước những bài
ca dân chủ đó đều do người phương tây tự bắt nhịp khởi xướng thì
hiện nay lại do một bộ phận người Việt đảm nhận. Và khi đến đoạn
điệp khúc thì phương tây mới hòa giọng đồng ca và đẩy bài ca đó đến
cao trào.
Thật ra lịch sử không công bằng với con người
và đất nước Việt Nam. Tổ quốc đã bị đánh cắp quá nhiều cơ hội
để vươn lên. Cùng vào cái thời Minh Trị Thiên Hoàng xứ Phù Tang làm
cách mạng, thực hiện công cuộc duy tân đất nước, đưa Nhật Bản lên
hàng các nước văn minh tiến bộ thì xứ An Nam ta vẫn còn chìm trong u muội.
Vua quan thì bảo thủ, để ngoài tai những lời vàng ngọc tâm huyết của
công thần yêu nước. Và đáng tiếc chính điều đó đã gián tiếp tiếp
tay cho các thế lực thực dân mượn cớ truyền đạo để biến nước ta
thành thuộc địa. Nhưng kháng Pháp là ý chí của toàn dân chứ đâu phải
của triều đình nào. Dân tộc này sẽ mãi mãi ghi nhớ công ơn của những
bậc anh hùng khởi xướng và các vị Cần Vương như Hàm Nghi, Tôn Thất
Thuyết, Mai Xuân Thưởng, Đinh Công Tráng, Phan Đình Phùng, Cao Thắng, Nguyễn
Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám... và những
nhà yêu nước của các thập kỷ đầu thế kỷ XX: Phan Bội Châu, Lương
Văn Can, Phan Châu Trinh, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thái Học, Nguyễn An Ninh…
Và chỉ đến khi phong trào Cộng sản với các
lãnh tụ của nó như: Nguyễn Ái Quốc, Trần Phú, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn
Thị Minh Khai, Lê Hồng Phong, Hoàng Văn Thụ... phất cao ngọn cờ độc lập
dân tộc thì cơn hồng thủy được tạo ra từ sức mạnh của các tầng lớp
dân chúng mới bùng lên, dẫn tới cuộc cách mạng long trời, sản sinh ra
nhà nước Việt Nam độc lập năm 1945.
Chúng
ta không thể kết tội những người cộng sản đầu tiên đã đem một thứ
chủ nghĩa ảo tưởng về Việt Nam. Xét cho cùng đó thực sự là những người
con ưu tú của dân tộc. Khi con thuyền đất nước đang ở trong giông tố
đêm đen, dưới nước sâu thì đầy loài cá dữ những người cộng sản
đã gồng mình lôi kéo người cùng khổ, gắng chè
Nghịch
lý lớn nhất của chủ nghĩa cộng sản ngày nay là để tồn tại, người
cộng sản phải tiến hành quá trình phi cộng sản hóa những nguyên lý căn
bản nhất của cộng sản. Tôi không muốn dùng từ “ngụy cộng sản”
vì từ “ngụy” nghe rất tiêu cực song chính quá trình phi cộng sản hóa
đã đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, và điều này cần phải ghi
nhận như thắng lợi của những người cộng sản. Một trong bốn nguy cơ
mà ông Đỗ Mười nguyên tổng bí thư đề cập đến trong đại hội Đảng
là nguy cơ chệch hướng. Xin hãy hiểu cho đúng: đó chắc chắn không phải
là hướng cộng sản như những nhà thủy tổ của chủ nghĩa này mong muốn.
Mặc dầu mơ hồ và phi lý thuyết nhưng trong thời điểm khủng hoảng ý
thức hệ hiện nay thì định nghĩa chủ nghĩa xã hội là dân giầu nước
mạnh xã hội dân chủ công bằng văn minh đang được những người cộng
sản Việt Nam dựa vào như bức tường tư tưởng, lại rất phù hợp với
nguyện vọng của toàn dân Việt Nam.
Cộng
sản là vô thần và họ cho rằng tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.
Nếu xem xét tôn giáo là thuốc phiện với ý thức không thể chung sống
và cần loại trừ khỏi đời sống cộng đồng thì đây là quan điểm phản
động. Nhưng điều này đúng nếu xét ở khía cạnh hiệu quả của nó.
Nghĩa là nó gây nghiện và rất khó cai. Những điều hay lẽ phải mà Phật
giáo dạy đã ngấm vào con tim khối óc người dân đất Việt từ nhiều
ngàn năm nay. Và lẽ đương nhiên hàng triệu dân ta đã nghiện thứ “thuốc
phiện” này. Người ta khi đã đến với cửa Phật thì hình như không ai
muốn cai mà còn vận động thêm nhiều đồng bào tham gia hoạt động chùa
chiền với ý thức tu nhân tích đức làm nhiều điều thiện. Và cũng thật
may nhà nước Việt Nam đã ý thức được điều này. Hoạt động Phật giáo
trong nước chưa bao giờ phát triển như ngày nay. Đó là những điều do chính
các hòa thượng Thích Thanh Tứ và Thích Chơn Thiện trả lời trực tuyến,
chắc Thượng Tọa đã đọc. Những điều mà ba cái website lá cải hải
ngoại đưa tin đều thất thiệt, phật tử hãy về nước tận mắt chứng
kiến rồi phán xét sau.
Ở Việt
Nam, nguyên lý xuyên suốt có tính định mệnh của chủ nghĩa cộng sản là
công hữu tư liệu sản xuất đã bị phá bỏ từ năm 1986. Mặc dầu nhà nước
còn độc quyền nhiều ngành kinh tế mũi nhọn, gây ra nạn ăn cắp, cửa
quyền, sách nhiễu, triệt tiêu động lực để phát triển, song xu hướng
chung sẽ phải từ bỏ phương thức này để nhường chỗ cho nền kinh tế
đa thành phần trong đó quá trình tư nhân hóa sẽ đóng vai trò quan trọng.
Tuy nhiên muốn làm được điều này đòi hỏi phải có thời gian để học,
vì người ta còn lúng túng chưa tìm được lối ra ưu việt, chưa biết cái
gì chính, cái gì phụ, chưa hiểu đâu là quy luật, đâu là hiện tượng kéo
theo. Nhưng thưa hòa thượng, là một công dân, tôi vô cùng bất bình trước
những điều vô lối xảy ra hàng ngày do cái cách điều hành vô trách nhiệm
của những người nhân danh cộng sản, thì tôi cũng phải thừa nhận rằng
thà chậm mà chắc còn hơn nhanh mà hỏng. Dục tốc bất đạt, trong trường
hợp này câu đó rất chính xác vì cái cũ thì đập mất rồi mà cái mới
thì chưa xây xong hoặc chưa biết xây từ đâu.
Hãy xem nước Nga với vụ lộn xộn “Khodorkovsky” để hiểu thêm về
Việt Nam, âu cũng là qui luật chung cho những nước cộng sản thời hậu cộng
sản. Những kẻ trục lợi vơ vét của cải của dân cần được xử lý,
nhưng làm như Putin cũng không ổn vì có cái gì đó không quân tử. Hãy
nhìn lại lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản thế giới. Họ
cũng đã phải mất hàng trăm năm tích lũy tư bản sơ khai với tất cả những
hình thức man rợ nhất mà chính chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến
cũng phải ngả mũ kính nể. Cướp biển, chiến tranh chiếm đất tiêu diệt
người thổ địa, chiến tranh phân chia thị trường vơ vét thuộc địa và
những cuộc cách mạng công nghiệp v.v..mới đem đến bộ mặt của họ
như ngày nay.
Và một
khi cái bản chất cộng sản không còn thì cái tên cũng chỉ có giá trị lịch
sử mà thôi. Thưa Thượng Tọa, ngài có đồng ý rằng các quý vị ở hải
ngoại thuộc thành phần “chống cộng chết bỏ - CCCB” cũng không thể
có lòng căm thù cộng sản như phương tây được đâu. Vậy mà phương tây
giờ đây đã quá hiểu cộng sản và chính họ đã cho rằng “bóng ma của
chủ nghĩa cộng sản giờ đây đã thực sự chỉ còn là bóng ma” và nó
không thể nguy hiểm bằng chủ nghĩa khủng bố được. Có như vậy mới
giải thích được rằng vì sao quan hệ Hoa Kỳ và Việt Nam ngày một được
thay đổi theo chiều hướng tích cực. Trông ra thế giới, từ khi Trung Hoa
đỏ đưa ra thuyết ba đại diện thì ranh giới giai cấp theo định nghĩa của
chủ nghĩa cộng sản coi như bị xóa bỏ. Và vấn đề đấu tranh giai cấp
một thời được CS xem như động lực phát triển của nhân loại cũng đã
được hiểu theo chiều hướng khác. Cái engine đã bị thay thế thử hỏi
cỗ máy đó có còn đáng được gọi theo đúng cái tên của nó hay không?
Về vấn
đề dân chủ tôi đã nghe nhiều anh chị em hải ngoại nói rằng những kẻ
kêu gào dân chủ to mồm nhất là những kẻ chẳng hiểu gì về dân chủ.
Chính cựu tổng thống Mỹ B. Clinton trong khi nói chuyện với sanh viên đại
học quốc gia Hà Nội phải thừa nhận:
“Cho đến nay, thành
tích của Hoa Kỳ trong lĩnh vực này vẫn chưa được hoàn hảo. Rút cuộc,
chúng tôi phải mất một thế kỷ mới xoá bỏ được nô lệ. Việc giành
quyền bầu cử cho phụ nữ thì phải mất một thời gian dài hơn thế nữa.
Và chúng tôi vẫn đang tìm tòi để thực hiện một liên bang hoàn hảo hơn
theo ước mơ của những nhà lập quốc của chúng tôi và những ngôn từ
trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập và Hiến pháp của chúng tôi.”-
(nguyên văn) - Now, America's record is
not perfect in this area. After all, it took us almost a century to banish slavery. It
took us even longer to give women the right to vote. And we are still seeking to live up
to the more perfect union of our founders' dreams and the words of our Declaration of
Independence and Constitution.
Nhưng
bây giờ nhiều người muốn bắt Việt Nam cộng sản phải tức thời thi hành
chính sách “đa đảng, đa nguyên” ngay. Lẽ đương nhiên, ai cũng hiểu rằng
nhiều ý kiến lành mạnh sẽ xây nên một tư tưởng đúng đắn. Nhiều đảng
đấu tranh vì quyền lợi dân tộc trong một đất nước thống nhất, hoạt
động dưới sự kiểm soát của cỗ máy luật pháp chặt chẽ hoàn thiện
sẽ là động lực bắt mỗi cá nhơn trong chính quyền làm việc chí công
vô tư. Môi trường đa ý tưởng sẽ là cái nôi cho ra đời và nuôi dưỡng
những sản phẩm tư tưởng lớn. Song hãy xem bức tranh đông Âu thời hậu
cộng sản sẽ thấy rùng mình vì đó là các xã hội vô chính phủ về mặt
tư tưởng. Một học giả Úc châu
nói rằng: “Chủ nghĩa xã hội sụp đổ đã giải phóng sức lao động bị
kìm nén từ hàng chục năm nay”. Cần bổ xung thêm như thế này: nó cũng
đã giải phóng sức giết người không ghê tay. Việt Nam chắc chắn không
thoát khỏi qui luật này. Dân chủ chỉ phát huy được tác dụng trong một
xã hội mà người dân trong xã hội đó nhận thức hoàn toàn được giá
trị của nó. Các nước thuộc khối cộng sản đông Âu cũ xét về nền tảng
kinh tế mặc dầu lạc hậu so với thế giới hiện đại nhưng họ cũng đã
vượt quá xa Việt Nam và lẽ đương nhiên nhận thức của họ về mọi
quyền con người chắc cũng đầy đủ hơn ta. Vậy mà họ vẫn đang chập
chũng dụt dè và vấp ngã liên tục trên con đường dân chủ hóa. Con người
ta khi bát cơm ăn còn chưa no, manh áo mặc còn chưa lành thì dân chủ chẳng
khác nào thứ hàng xa xỉ, phù phiếm. Lại có người trách thế thì tại
sao Việt Nam không làm cho dân no đủ, lành lặn để được hưởng dân chủ?
Xin thưa gần một thế kỷ thực dân đô hộ, lại một phần tư thế kỷ
đánh đuổi ngoại bang, một thập niên loay hoay với ý thức hệ, tôi
không dám chắc có quốc gia nào lại có thể trở thành rồng trong nháy mắt
được. Ông Bùi Tín có viết nhiều học giả cam kết với ông rằng cứ
dân chủ đi rồi Hoa Kỳ sẽ đổ vào bốn năm mươi tỷ USD là chắc, khi
đó GDP tăng không dưới 15%/năm. Vì ông này có bản chất tìm vinh hoa
chính trị theo kiểu tính cua trong lỗ nên sang lĩnh vực kinh tế cũng nghĩ
như thế là điều đương nhiên, và tôi tin ở hải ngoại, người mình dư
hiểu thế nào là cách tính phương tây nên chắc không ai ngây thơ như vậy.
Nhưng cơm no áo ấm rồi dân chủ cũng không tự đến. Nếu có cũng chỉ là
thứ dân chủ vô chính phủ, dân chủ quá trớn, dân chủ bát nháo. Mọi người
hãy thống kê xem để có hệ thống luật pháp như ngày nay, các nước
phương tây đã phải chi bao nhiêu tiền của? Không thể tính hết vì nếu
không có máu, nước mắt và mồ hôi của người dân hòa trộn trong hàng
thế kỷ để tạo nên bộ mặt thế giới hôm nay thì các nhà lập pháp
có giỏi cách mấy cũng không sáng tạo ra được. Và như vậy thì ở Việt
Nam phải để cho người ta soạn thảo ra pháp luật đã chứ. Tôi cho rằng
cách làm luật dưới sự giúp đỡ của các chuyên gia chính phủ phương tây
như Pháp và Canada là một cách làm rất cầu thị của tư pháp Việt Nam hiện
nay. Nghị viện (Quốc hội) ở Việt Nam giờ đã khác xa thứ nghị viện gật
ngày xưa rồi. Và bây giờ thử xem, giả sử nếu ở Việt Nam có dân chủ
như nhiều người mong đợi, chế độ đa đảng được vận hành, thì những
đảng phái nào sẽ xuất hiện trên chính trường? Chắc chắn có hàng chục
đảng của tầng lớp CCCB (Tôi nói hàng chục đảng vì trong số họ hiện
nay đâu có thống nhất đường lối chống cộng, cãi chửi nhau hoài như
con nít, hãy xem các diễn đàn chống cộng của họ sẽ rõ) . Kế đến đảng
của những người ăn theo (tôi gọi là ăn theo vì giờ đây họ chống cộng
theo mùa. Hễ có tiền thì biểu tình, hội thảo tùm lum tùm la, website cập
nhật liên hồi kỳ trận, khi không lại lo kiếm tiền và không hề biết
phân biệt phải trái, trắng đen. Đến nhạc sĩ đầy lòng nhân ái như Trịnh
Công Sơn họ cũng cho là cộng sản nằm vùng. Và thể nào cũng có đảng của
các ông Vũ Thư Hiên, Minh Cần, Bùi Tín...vì các ông này đã có ý đồ
tương đối rõ hơn đám múa rối ở trên. Ông Bùi Tín (BT) trước khi đào
tẩu đã tâm sự với đồng nhiệm rằng dân chủ đa đảng là xu hướng tất
yếu, ai cũng biết điều này chứ chẳng riêng gì ủy viên bộ chính trị
Trần Xuân Bách (ông này đã bị bãi nhiệm cũng vì quan điểm này). Nhưng
tiếng nói của mình (-ông BT) giờ thì không ai nghe, không chừng lại mang họa,
chi bằng ta ra nước ngoài lớn tiếng xem như cũng có công. Khi nước nhà
thay đổi, quay trở lại với vai trò lãnh tụ có phải thượng sách không.
Thật đáng tiếc cho ông BT vì tuổi ông đã cao mà thay đổi trong nước
chưa có, trong khi đó ở hải ngoại ông liên tục bị đám CCCB qui cho là
gián điệp cộng sản, trách nào ông chẳng hậm hực. Trong quốc nội còn
có ông Hà Sĩ Phu có quan điểm thế này: xã hội văn minh phải được quản
lý bởi những người có tài sản thế chấp. Học giả phương tây nghe cũng
phải phì cười chứ đừng nói cộng sản. Ông này mà lập đảng thì chắc
cũng giống các câu lạc bộ năm mươi triệu, một trăm triệu đô la bên
Hoa Kỳ. Cũng phải kể đến các đảng của các anh hùng chống cộng kiểu
như Lý Tống. Số này rất giống với đám con nít bên Việt Nam háo đua xe
gắn máy trên xa lộ. Thích làm những việc lên gân mà không hiểu việc
mình làm lợi hại ra sao. Chừng đó đảng tập họp lại dưới vòm trời
Việt Nam thử hỏi liệu có thể cùng tồn tại? Câu trả lời là không.
Và đã không thể chịu nhau thì tôi nghĩ rằng cuộc tắm máu huynh đệ
tương tàn còn diễn ra thê thảm gấp trăm triệu lần xã hội đông Âu. Ai
cũng biết ở Mỹ muốn chửi tổng thống cứ đến nhà trắng chửi thoải
mái, nhưng bước qua hàng rào sơn trắng là ăn đạn tức thì. Ở Việt Nam
sẽ hoàn toàn không có chuyện dừng lại ở hàng rào sơn trắng. Nếu được
phép chửi tổng thống họ sẽ xô cả hàng rào xông vào dinh tổng thống
và nhả đạn. Và những hành động như vậy chính là khởi sự cho những
cuộc tắm máu kinh hoàng. Ở Georgia để tránh đổ máu, giết hại hàng
ngàn sinh mạng như cách đó chục năm, trợ lý ngoại trưởng Mỹ đã phải
qua để dàn xếp. Nhưng thưa Thượng Tọa, ở Việt Nam tôi e cả tổng thống
Mỹ qua cũng không can nổi cuộc bắn giết lẫn nhau giữa các đảng phái
đâu. Khi biết không thể đủ chính nghĩa để đương đầu với chính thể
hiện tại, người ta còn định gửi “thỉnh nguyện thư” mượn bàn tay
nước ngoài về để tiêu diệt anh em đồng tộc thì thử hỏi nếu có
môi trường đa đảng họ có bỏ qua cơ hội để thực hiện cái cách trả
thù hèn hạ những người đã có công thống nhất đất nước không, thưa
Thượng Tọa?
Tôi
dám chắc nếu chính quyền Việt Nam hiện nay tuyên bố chúng tôi thôi cộng
sản rồi, từ nay chúng tôi theo Mỹ 100% thì những người đang lớn tiếng
ở hải ngoại cũng không im lặng đâu. Họ sẽ chỉ im lặng, à mà không,
từng cá nhơn trong họ sẽ chỉ im lặng nếu chính quyền hiện tại mời
đích danh cá nhơn đó cùng ngồi ghế ngai vàng để đè đầu cưỡi cổ bần
dân. Đó là bản chất của mấy ông CCCB.
Bạch
Thượng Tọa, hai lực lượng mà tôi đề cập đến trên đây là cộng sản
và CCCB. Họ thực sự xa lạ với tôn chỉ của nhà Phật. Giữa họ hiện
nay biển thù hận vẫn chưa khỏa lấp. Mặc dầu cộng sản hiện nay đang
có mong muốn tìm sự hòa hợp dân tộc nơi cộng đồng người Việt, bất
kể trong nước hay hải ngoại, song không phải vì thế họ bỏ qua mọi
nguyên tắc. Phật giáo luôn trường tồn vì nó đứng ngoài biển thù hận
đó. Tôi đồng ý với Thượng Tọa rằng còn nhiều vấn đề về tôn
giáo mà chính quyền Việt Nam hiện nay phải thay đổi và còn nhiều kẻ
nhân danh chính quyền để làm điều không đúng với Phật giáo. Song một
điều không thể chối cãi được là dù không tuyên bố nhưng ai cũng phải
thừa nhận rằng Phật giáo ngày nay đã gần như trở thành quốc giáo của
nước Việt Nam thống nhất. Là người tu hành không nên để những kẻ quá
khích, ăn tiền ngoại bang, lợi dụng vị trí của mình làm hại đến đất
nước mình, dân tộc mình và vô hình chung đánh đồng mình với kẻ tiểu
nhân.
Là người
không phải tu hành, ăn nói không được chỉnh chu rất mong Thượng Tọa xá
lỗi. Trong tôi trước nay luôn có lòng kính trọng vô bờ các bậc chân tu
đắc đạo. Tôi vô cùng trân trọng câu trả lời phỏng vấn Kí Con của
Hòa Thượng Thích Thanh Từ và xin trích ra đây thay lời kết
luận:
“Bây giờ chính quyền Xã hội
Chủ nghĩa quản lý, thì tôi là người dân của Xã hội chứ tôi không
khác hơn được. Vậy thôi”.

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net