
CHARLIE NGUYỄN
Trong lịch
sử văm hóa Tây phương, Abraham là người đầu tiên đưa ra chủ thuyết chỉ
tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất (The Unity God) vào khoảng năm 2000 trước
Công nguyên (TCN). Do đó, Abraham được coi là ông tổ chung của các đạo
Độc Thần (Monotheism) tức là các đạo Thiên Chúa. Năm 1250 TCN, Maisen
(Moses) canhm cải lại đạo của Abraham với sách Torah (Law) để thành lập
ra Đạo Do Thái như hiện nay (Mosaic Judaism). Đạo này còn được gọi là
Đạo Maisen để phân biệt với Đạo Do Thái cũ của Abraham (Abraham
Judaism).
Đầu
thế kỷ I sau Công nguyên (SCN), Jesus sinh ra và lớn lên trong lòng Đạo Do
Thái đã có những tư tưởng cải cách tôn giáo và xã hội. Sau 3 năm rao
giảng chủ thuyết của mình, Jesus đã bị đế quốc La Mã giết chết, một
số người ở Hy Lạp viết sách kể chuyện cuộc đời và thuật lại những
lời nói của Jesus. Những sách này được gọi là sách Tin Mừng (Good
News), tiếng Hy Lạp gọi là Gospel, người Tàu dịch là Phúc Âm. Các sách
Phúc Âm đã biến Jesus thành Thiên Chúa của đạo Kitô.
Đến
đầu thế kỷ VII, một thương gia tên Muhammad tại thành phố Mecca, thuộc
xứ Arabia, đã bỏ ra 23 năm ròng để viết sách Qu’ran (Koran) thuật lại
những điều Thiên Chúa phán dạy qua trung gian là thiên thần Gabriel.
Muhammad không nhận mình là tác giả của kinh Koran mà chỉ là người thuật
lại mà thôi (a reciter).
Kinh Torah trở thành đại diện cho Bộ Kinh Thánh
Cựu Ước của Đạo Do Thái. Các sách Phúc Âm Gospels) là nòng cốt của đạo
Kitô. Kinh Koran là căn bản của đạo Hồi.
Muhammad đã xác định
trong kinh Koran: Đạo Hồi là đạo thờ một Thiên Chúa duy nhất. Kinh Koran được Thiên Chúa soi sáng để xác
nhận lại những điều Chúa đã mặc khải trong kinh Torah (Cựu Ước Do Thái)
và trong sách Phúc Âm (sách Tân Ước của đạo Kitô). Kinh Koran nói rõ
điều đó:
“Chúa đã mặc khải cho con –Muhammad- cuốn Thánh Kinh của Chân lý
để xác nhận những điều đã được mặc khải trước đó như đã mặc
khải trong kinh Torah và trong Phúc Âm”. (God hath revealed to thee –Muhammad-
the Scripture with truth confirming that which was revealed before it as He revealed the
Torah and the Gospel – Koran 3: 3).
Như vậy,
chính giáo chủ Mahammad đã xác định Đạo
Hồi là đạo thứ ba trong hệ thống tôn giáo độc thần của Abraham, sau
đạo Do Thái và đạo Kitô.
Tuy
nhiên, theo quan điểm của đạo Hồi, hai đạo Do THái và Kitô có trước từ
lâu nhưng các tín đồ Do Thái cũng như các tín đồ Kitô đều đã đi sai
đường với những giáo lý lầm lạc. Ông kêu gọi các tín đồ Hồi giáo
đừng kết bạn với những người đó để khỏi bị lầm lạc như họ:
“Hỡi
các tín đồ Hồi giáo! Đừng kết bạn với các tín đồ Do Thái và Kitô
giáo. Thiên Chúa không dẫn đường cho những kẻ lầm lạc ấy” (Oh ye who believe! Take
not the Jews and Christians for friend. Allah guideth not wrongdoing folk – Koran 5:
51).
Vì hai
đạo thờ Chúa là đạo Do Thái và đạo Kitô đã bị các giới tu sĩ làm
cho sai lạc rất nhiều, nhất là đạo Kitô đã biến thành tà đạo Đa Thần
(thờ Thiên Chúa Ba Ngôi) và tôn thờ ảnh tượng như những kẻ ngoại giáo.
Họ đã làm mất đi ý nghĩa quan trọng của đạo Thiên Chúa là chỉ thờ
một Thiên Chúa Duy Nhất mà thôi. Chính vì vậy, Thiên Chúa đã lập đạo Islam là một đạo
Độc Thần đúng nghĩa. Kinh Koran ghi lời Chúa phán: “Hôm nay ta đã hoàn thiện một tôn giáo và
chọn cho tôn giáo đó tên gọi là Islam”. (This day have I perfected youe
religion and I have chosen foe you as religion al –Islam- Koran 5: 3).
Đọc
qua các kinh sách của đạo Hồi, cũng như các sách sử trong 14 thế kỷ tồn
tại của tôn giáo này, chúng ta nhận thấy một thái độ rất rõ của người
Hồi giáo là: Một mặt họ rất nghi kỵ
và thù nghịch với các tín đồ Do Thái và Kitô giáo, nhưng đồng thời họ
lại rất tôn kính các vị giáo chủ như Maisen (Moses), Jesus và các vị tiên tri của các sách
Thánh Kinh Cựu Ước và Tân Ước. Họ tôn kính gọi tất cả các vị
nói trên là Thiên Sứ (Messengers), tiếng Ả Rập là NABI.
Đối với
Hồi giáo, chỉ có sự sai lầm trong các tín đồ Do Thái giáo và Kitô giáo
mà thôi. Trái lại, các thiên sứ của đạo Do Thái và đạo Kitô đều không
sai lầm. Chính vì vậy, những điều mà
Thiên Chúa đã mặc khải cho các vị thiên sứ của hai đạo nói trên đều
là những điều cốt yếu của đức tin Hồi giáo. Điều này được
kinh Koran xác nhận rất rõ ràng: “Đức
tin của chúng ta là đức tin của Abraham. Chúng ta tin Thiên Chúa và những
điều Chúa đã phán truyền cho tổ phụ Abraham, Ismael, Isaac, Jacob và con
cháu của ngài. Chúng ta tin những điều
Thiên Chúa đã xác minh với Maisen và Jesus”. (Ours is the creed of
Braham. We believe in God and in that which has been bestowed upon Abraham, Ismael, Isaac,
Jacob and their descendants and that which has been vouched to Moses and Jesus –Koran 2:
35-).
Các
sách viết về giáo lý Hồi giáo đều đồng nhất tóm lược tất cả các
tín điều căn bản (fundamental beliefs) thành 6 điều chính yếu được gọi
là “SÁU TRỤ CỘT CỦA ĐỨC TIN”. (The Six Pillars of Faith):
TÍN ĐIỀU 1: TIN CÓ MỘT
THIÊN CHÚA DUY NHẤT
Điểm
đặc biệt trong quan niệm về Thiên Chúa của đạo Hồi là luôn luôn nhấn
mạnh đến đặc tính duy nhất tuyệt đối của Thiên Chúa (the absolute
Oneness of God). Đạo Hồi hoàn toàn phủ nhận các huyền thoại về “Con của
Thiên Chúa” hoặc “Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người”. Kinh
Koran ghi như sau: “Thiên Chúa không chọn ai
làm con và không chọn một đồng sự nào trong thẩm quyền tuyệt đối của
Ngài”. (God had chosen no son, nor had He any partner in the absolute sovereignty
–Koran 25: 2).
Căn cứ
vào kinh Koran, giáo lý của giáo phái Sunni đã giảng rộng thêm: “Thiên Chúa là Một, không có một ai tương
đương với Ngài, Thiên Chúa không có khởi đầu và không có kết thúc.
Ngài là thường hằng vĩnh cửu. Ngài vừa là Alpha vừa là Omega –chữ đầu
và chữ cuối trong mẫu tự Hy Lạp- Ngài vừa ẩn vừa hiện. Ngài có thật
và muôn đời”. (Allah is One, without any like Him, having no equal, having no
beginning, having no end. Ever –existing. He is both Alpha and Omega. The Manifest and
the Hidden. He is real and eternal).
Đạo Hồi
phủ nhận con người là hình ảnh của Thiên Chúa vì Thiên Chúa là đấng
vô hình, không có thân thể (God is not formed body). Ngài chẳng bao giờ xuống
thế làm người và vì là vô hình nên chẳng có ai ngồi ở bên tả hay
bên hữu của Ngài.
“Thiên Chúa là đấng chỉ có Một ngôi duy
nhất (không bao giờ có ba ngôi). Ngài không sinh Chúa Con và cũng không do ai
sinh ra. Chẳng một ai giống Thiên Chúa cả”. (Allah is One. He begets not,
nor is He begotten. And none is like Him –KOran 112: 1-).
Đạo Hồi quan niệm Thiên Chúa là Đấng Tạo
Hóa đã sáng tạo vũ trụ theo đúng quan niệm của đạo Do Thái và Kitô
trong sách Sáng Thế Ký (Genesis). Kinh Koran nhắc lại những điều đó như
sau:
“Thiên Chúa dựng nên bầu trời và mặt đất
trong sáu ngày và rồi Ngài ngự trên ngai của Ngài. Ngài kéo màn đêm phủ
lên ban ngày và ngày đêm cứ tiếp nối nhau không ngừng. Sau đó Ngài dựng
lên mặt trời, mặt trăng và những vì sao”. (Allah created the heavens and
the earth in six days then He descended his throne. He throws the veil of night over the
day which it persues incessantly and then He created the sun and the moon and the stars
–Koran 7: 54).
Đạo Hồi,
cũng như đạo Do Thái và đạo Kitô, đều tin tưởng Thiên Chúa đã tạo dựng
nên tổ tiên của loài người lá Adam và Evà từ một cục đất sét:
“Ta đã dựng nên con người từ đất sét khô và Ta thở vào nó
tinh thần của Ta”. (We created man from dry clay and breathed of My Spirit into
him –Koran 15: 23).
Trong
kinh Koran (chương 2 và chương 20) thuật lại chuyện Adam và Evà ăn trái cấm
giống như trong sách Sáng Thế Ký của đạo Do Thái. Nhưng Hồi giáo cũng như Do Thái giáo đều không
tin hành động ăn trái cấm của Adam – Evà cấu thành “Tội Tổ Tông”
đến nỗi Con của Chúa Trời phải đầu thai làm người và chịu chết
trên thập giá để chuộc cái tội đó! Huyền
thoại về Tội Tổ Tông (The Original Sin) là sản phẩm tưởng tượng của
tên đạo khùng Augustine (354-450) gốc Algeria. Tên đạo khùng Augustine được
coi là kẻ lập ra đạo Kitô, đứng hàng thứ hai sau Phaolô.
Tóm lại,
ý niệm về Thiên Chúa của đạo Hồi hoàn
toàn đồng nhất với ý niệm của đạo Do Thái. Cả hai đạo độc thần
nầy kịch liệt chống lại ý niệm Ba Ngôi Thiên Chúa và lề thói tôn thờ
ảnh tượng của đạo Kitô (Công giáo và Chính thống giáo).
TÍN ĐIỀU 2: TIN CÓ
CÁC THIÊN THẦN VÀ MA QUỈ
Niềm
tin vào các thiên thần, nhất là các thiên thần hộ mạng, là niềm tin
chung của các đạo Thiên Chúa. Theo các nhà nghiên cứu tôn giáo thì hiện
nay có tới 70% dân Mỹ tin có thên thần. Nói chung, người ta cho rằng thiên
thần là những sinh vật linh thiêng (spiritual beings) có nhiệm vụ làm trung
gian giữa Thiên Chúa và loài người. Vì vậy thiên thần cũng được coi là
thiên sứ (messengers of God).
Ý niệm
về thiên thần đã có từ trên 4000 năm qua. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy
lại thành phố UR ở Babylon một phiến đá có khắc hình nổi một người
đàn ông có hai cánh. Hình này được xác định thuộc niên đại 2300 năm
TCN. Tuy nhiên, ý niệm về thiên thần của Babylon đã không đi vào kinh
Thánh Do Thái.
Các
nhà tôn giáo học chuyên nghiên cứu về thiên thần cho rằng ý niệm thiên thần phát xuất từ Hỏa Giáo
Ba Tư (Zoroastrianism). Hỏa giáo được sáng lập bởi một triết gia Ba Tư
tên là Zoroaster vào khoảng thế kỷ 12 TCN. Hỏa giáo trở thành quốc giáo
của đế quốc Ba Tư từ thế kỷ 10 TCN đến thế kỷ 7 SCN. Vào năm 579
TCN, đế quốc Ba Tư chiếm Babylon (tức Iraq ngày nay), đến năm 539 TCN Ba Tư chiếm Do Thái và cai trị
vùng này nhiều thế kỷ. Do đó, đạo Do Thái đã du nhập các ý niệm về
thiên thần của Hỏa giáo từ thời gian này. Các sách kinh Thánh Cựu Ước
của Do Thái có trước thời gian này đều không nói gì đến các thiên thần.
Kitô
giáo du nhập ý niệm thiên thần của Hỏa giáo Ba Tư qua sách kinh Thánh Cựu
Ước của đạo Do Thái. Tuy nhiên, Kitô giáo đã khai thác ý niệm thiên thần
nhiều hơn đạo Do Thái.
Đối với
Kitô giáo, thiên thần Gabriel trở thành một thiên thần chuyên về việc
đi thông báo các mệnh lệnh của Thiên Chúa. Chẳng hạn, Gabriel báo tin cho
bà Maria về việc bà thụ thai để sinh ra Jesus hoặc báo tin cho Joseph phải
trốn sang Ai Cập v.v... Thiên thần Micae được Công giáo La Mã khắc họa
như một tên lính La Mã tay cầm cái giáo dài đâm vào đầu một con rắn mà
ông ta đạp ở dưới chân. Dưới thời Ngô Đình Diệm làm tổng thống
VNCH, thiên thần Micae (Micheal / Saint Michel) được Diệm chọn làm thánh tổ
của binh chủng nhảy dù. Con rắn ở dưới chân của thiên thần Micae được
giải thích là biểu tượng của chủ nghĩa “Cộng sản vô thần”. Trong
thực tế, binh chủng nhảy dù đã là lực lượng chủ yếu làm cuộc đảo
chánh chống Diệm năm 1960 và lật đổ chế độ Diệm năm 1963. Con rắn
dưới chân thiên thần Micae trong thực tế là biểu tượng chính chế độ
Công giáo Ngô Đình Diệm!
Ý niệm
về các thiên thần của Hỏa giáo Ba Tư truyền qua đạo Do Thái và đạo
Kitô sang đạo Hồi. Trong đạo Hồi, thiên thần Gabriel trở thành một vị
thiên sứ đặc biệt của Thiên Chúa Allah truyền mọi mệnh lệnh và mọi
điều mặc khải cho Muhammad ghi chép. Vì vậy kinh Koran được gọi là “Thiên
Kinh” ghi chép lời Chúa (words of God). Nếu
không tin có thiên thần thì kinh Koran sẽ bị mất hết giá trị và không
thể có đạo Hồi. Tin tức đầu tiênh mà Gabriel thông báo cho Muhammad
biết là việc Thiên Chúa đã chọn Ông làm Tông Đồ của Ngài: “Này Muhammad! Con đã được Thiên Chúa chọn
làm Tông Đồ của Ngài và ta là Gabriel!” (Oh Muhammad! Thou art the Apostle
of God and I am Gabriel! MUhammad, a
biography of the Prophet, by Karen Amstrong, Harper San Francisco 1992, p.83).
Ngoài
hai vị thiên thần Gabriel và Micae rất nổi danh trong các đạo độc thần
còn có một số thên thần khác không được các đạo này đồng nhất tin
theo:
-
Thiên
thần Raphael được Công giáo La Mã tin là vị thiên thần chuyên cứu nguy
(the helpful angel). Đạo Do Thái, đạo Hồi và Tin Lành phủ nhận sự hiện
hữu của thiên thấn Raphael.
-
Về
thiên thần của sự chết: KItô giáo tin rằng tên của ngài là Andrew. Ngài
rất đẹp và nhân từ, thường giúp người ta trút linh hồn trong bình an
êm ái. Đạo Hồi gọi tên ngài là Arazel. Ngài đón linh hồn các tín đồ
ngoan đạo để rước về thiên đàng. Ngài hành hạ những kẻ không tin
Chúa và vứt linh hồn của chúng xuống hỏa ngục.
-
Thiên
thần Israfel: Cả hai đạo Kitô và Hồi đều tin rằng đến ngày tận thế,
tức là ngày Phán Xét Cuối Cùng, thiên thần Israfel sẽ thổi kèn trumpet để
đánh thức tất cả mọi người chết sống dậy để tập trung tại thung
lũng Kindron ở ngoại ô Jerusalem nghe Chúa phán xử lần chót có tính chung
quyết!
Quan niệm về Quỉ: Cả ba đạo độc thần
đều đồng nhất trong quan niệm cho rằng Quỉ là những thiên thần sa ngã (lallen
angels) nên bị Chúa phạt đầy xuống hỏa ngục. Kitô-giáo học theo sách
Enoch (Book of Enoch) trong bộ Kinh Thánh của Do Thái, một sản phẩm du nhập
thần học của Hỏa giáo Ba Tư, cho rằng thiên thần Lucifer lãnh đạo một
cuộc đảo chánh trên Thiên Đàng để cướp ngôi của Thiên Chúa. Lucifer
trở thành hiện thân của lòng kiêu ngạo bị Chúa phạt thành quỉ có đuôi,
có sừng và có tai giống tai dơi. Từ đó Lucifer mang tên là Satan. Người Hồi
giáo gọi Satan là Shaitan hoặc Iblis (do phiên âm từ tiếng Hy Lạp là
Diablos).
Hồi
giáo tin rằng Satan sẽ được Thiên Chúa tha tội trong Ngày Phán Xét Cuối
Cùng và được phục hồi tư cách thiên thần như xưa. Satan không phải là
thủ lãnh của bầy quỉ cai quản hỏa ngục mà chỉ là kẻ cai quản các kẻ
ác trên thế gian. Thiên Chúa trao chức vụ thủ lãnh hỏa ngục cho thiên thần
Malik (Koran 43: 77).
Ngoài
niềm tin về thiên thần và quỉ, đạo Hồi còn có thêm một loại thần
linh thứ ba là Jinn (số ít) hoặc Jinni (số nhiều). Kitô giáo không tin có
loại thần linh này. Theo đạo Hồi thì Jinn là một loại thần linh thường
biến hình thành người hoặc loài vật, được Thiên Chúa cấu tạo lên từ
lửa. Kinh Koran ghi rằng: “Con người được
tạo nên bằng đất sét, jinn được chế tạo từ ngọn lửa” (Man is
created from clay, jinn from flames of fire –Koran 55: 14-15).
Quan niệm
về jinn xuất phát từ Babylon vào khoảng 3000 năm TCN. Người Babylon gọi
jinn là “Cherubims”. Đạo Do Thái du nhập Cherubims vào sách Sáng Thế Ký
(genesis) là sách đầu tiên trõng bộ Thánh Kinh của đạo Do Thái. Sách
Sáng Thế Ký kể rằng: Sau khi Adam và Evà phạm tội ăn trái cấm liền bị
Chúa đuổi ra khỏi vườn Địa Đàng. Chúa sai các Cherubims trú đóng ở
phía đông vườn Địa Đàng để chặc lối dẫn đến (Cây của Sự Sống”.
(God drove out the man and He placed at the east of the Garden of Eden Cherubims to keep
the way of the Tree of Life –Genesis 4: 23-24).
Cũng cùng
một nguồn gốc từ Kinh Thánh Cựu Ước, Kitô giáo bác bỏ Cherubims nên
không bao giờ nhắc tới chúng. Trong khi đó, đạo Hồi chấp nhận niềm tin vào Cherubims
và gọi chúng bằng tiếng Ả Rập là Jinn.
TÍN ĐIỀU 3: TIN CÁC SÁCH MẶC KHẢI (KINH
THÁNH)
Kinh
Koran nói rất nhiều đến các Sách Mặc Khải (Books of Revelation). Nhưng Kinh
Koran là sách mặc khải cao quí nhất và quan trọng nhất đối với đạo Hồi.
Do vậy, Koran được gọi là “Mẹ của tất cả các Sách” (Mother of
Books).
Kinh
Koran, các Sách Cựu Ước của Do Thái cũng là một phần của Sách Mặc Khải:
“Các người không thấy những người Do
Thái đã được Chúa ban cho một phàn của Sách Mặc Khải hay sao? Họ đã
được mời gọi đến với Sách Mặc Khải của Chúa”. (Have you not
considered Jews who are given a partion of Book? They are invited to the Book of Allah –Koran
3: 23).
Bộ
Kinh Thánh của đạo Do Thái có nhiều sách, nhưng chỉ có Sách Torah (Sách
Luật) của Maisen là được kinh Koran nhắc đén nhiều nhất. Sách Torah của đạo Do Thái, sách Phúc Âm của
đạo Kitô và kinh Koran đều được coi là các sách do Thiên Chúa mặc khải
để dạy dỗ và hướng dẫn loài người. Koran ghi lời của thên thần
Gabriel nói với Muhammad: “Thiên Chúa đã
mặc khải cho con sách Thánh Kinh của Chân lý để xác nhận những điều
đã được mặc khải trước đó như Ngài đã mặc khải trong kinh Torah và
trong Phúa Âm để hướng dẫn loài người và bây giờ Ngài gửi cho con
kinh Koran”. (God hath revealed into thee before it as He revealed the Torah and the
Gospel, a guidance for the people and He sent you the Qu’ran –Koran 3: 3).
Mặc dầu
Muhammad ca ngợi các Sách Mặc Khải của đạo Do Thái và đạo Kitô, nhưng
Muhammad biết rõ thái độ cố chấp hẹp hòi của các tín đồ Do Thái và
Kitô nên ông đã cảnh giác các tín đồ Hồi giáo: “Người Do Thái và Kitô không bao giờ hài
lòng với các tín đồ Hồi giáo, ngoại trừ trường hợp các người theo
đạo của họ”. (The Jews will not be pleased with you, nor the Christians,
until you follow their religions –Koran 2: 120).
Các tín đồ Do Thái và Kitô đều độc quyền
Chân lý. Đối với họ, chẳng ai có thể được vào thiên đàng, ngoại trừ
phải là tín đồ đạo Do Thái hay đạo Kitô. (None shall enter the
paradise, except he who is a Jew or a Christian –Koran 2: 111). Muhammad gọi chung những
tín đồ Do Thái và Kitô là “Những người của Sách Thánh Kinh” (The
people of Book). Ông cảnh cáo họ đừng quá lộng hành trong tôn giáo của họ
(Oh people of the Book, commit no excesses in your religion –Koran 4: 171).
Những
người Do Thái và Kitô chửi bới nhau và giết hại nhau trong thời của
Muhammad vào cuối thế kỷ 6, đầu thế kỷ 7. Do đó, Muhammad viết trong
kinh Koran: “Người Do Thái chê người Kitô
không theo điều tốt, người Kitô chê người Do Thái không theo điều tốt
mặc dầu họ đều đọc cùng một Sách Mặc Khải. Cho nên Thiên Chúa Allah
sẽ xét xử những điều khác biệt của họ trong Ngày Phán Xét Cuối Cùng”.
(The Jews say the Christians do not follow anything good, the Christians say the Jews do
not follow anything good while they recite the same Book. So, Allah judge between them on
the Day of Resurection in what they differ –Koran 2: 113).
Muhammad
thù ghét những người Kitô giáo vì họ là những kẻ thờ ảnh tượng
(idolers). Tại chương 9, câu 5 của kinh Koran, Muhammad ra lệnh cho tín đồ giết
hoặc bắt bỏ tù những kẻ thờ ảnh tượng: “Khi các tháng thiêng liêng đã qua đi, các
tín đồ hãy giết những kẻ thờ ảnh tượng
ở bất cứ nơi nào gặp chúng hoặc bắt chúng làm tù binh”. (When
the sacred months passed away, then slay the idolers wherever you find them or take them
captives –Koran 9: 5).
Về
các sách mặc khải, kinh Koran nói rất nhiều đến sách Torah của Maisen,
các Thánh Vịnh (Psalms) của David và sách Phúc Âm (gospel) của đạo Kitô. Vậy
tôi xin trình bày sơ lược về những sách này và tìm hiểu ảnh hưởng của
chúng trong đạo Hồi như thế nào:
1. Torah (The Law).
Nhiều
sách kinh Hồi giáo gọi sách này là Tawrah theo phiên âm tiếng Ả Rập. Đây
là sách mặc khải quan trọng nhất của đạo Do Thái vì ngưới Do Thái đồng
hóa Đạo Do Thái với Luật Do Thái hoặc người ta gọi Đạo Do Thái là Đạo
của Luật. Bộ Luật này được Thiên Chúa mặc khải trên núi Sinai vào thế
kỷ 11 TCN, tóm tắt lại thành “Kinh Mười Điều Răn” (The Ten
Commandments). Đem phân tích luật Torah, mười điều răn trở thành bộ luật Pentateuch gồm có 613 điều luật. Bộ
luật này đã chim phối toàn bộ đời sống tinh thần, đời sống kinh tế
xã hội của mọi người dân Do Thái trong nhiều ngàn năm qua. Có nhiều
điều luật rất chi tiết, chẳng hạn như những điếu luật về nghi lễ
thờ kính Thiên Chúa: Khi đi lễ phải mang theo súc vật, giết súc vật lấy
máu để rưới lên bàn thờ và phải đọc sách mặc khải cho mọi người
cùng nghe...
- Luật Torah của đạo Do
Thái đã đi vào đạo Kitô với bài “Kinh Mười Điều Răn” trong các
Sách Kinh Nguyện.
- Đạo Hồi không có Kinh Mười
Điều Răn như đạo Kitô nhưng kinh Koran cũng liệt kê mười điều tương
tự:
2. Thánh Vịnh David (Psalms of David).
Theo đạo
Hồi thì các Thánh Vịnh của David là do Thiên Chúa mặc khải (God revealed
to Dawood/ David Zabur/ Psalms –Sura 4: 163). Sở dĩ David được đề cao trong đạo
Do Thái vì lịch sử của dân tộc Do Thái coi David là một anh hùng và là một
minh quân hàng đầu. David trở thành biểu tượng của một vị “Cứu tinh
Dân tộc” (Savior of the People). Cứ mỗi lần
Do Thái gặp nguy khốn, dân Do Thái lại cầu xin Chúa ban cho họ một Đấng
Cứu Nguy (Savior) dần dần tạo nên tâm lý của toàn dân Do Thái mong chờ một
Đấng Cứu Thế (Messiah) với ý nghĩa là “một David mới” (The New King
David). Cũng do vậy nên đã nẩy sinh truyền thuyết cho rằng Đấng Cứu Thế
phải là người thuộc dòng dõi vua David.
-
Đạo
Kitô khai thác triệt để truyền thuyết nầy nên đã tìm mọi cách chứng
minh Jesus thuộc dòng dõi của vua David và là Chúa Cứu Thế mà dân Do Thái
mong đợi từ lâu.
-
Đạo
Hồi không quan tâm đến những điều nói trên mà chỉ quan tâm đến những
lời ca ngợi Thiên Chúa đầy nhiệt tính của David mà thôi.
(Trong bài viết “Chủ
nghĩa khủng bố là đặc tính chung của các đạo Chúa”, tôi đã trích dẫn
nhiều câu trong Thánh Vịnh của David nên tôi xin miễn nhắc lại ở đây).
3. Phúc Âm (Gospels).
Sách
Phúc Âm là một bộ sách viết về cuộc đời của Jesus sau khi Jesus đã chết
trên 40 năm. Jesus sinh trưởng tại Do Thái nhưng lại nói tiếng Aramaic là
ngôn ngữ của xứ Syria. Các sách Phúc Âm được viết bằng tiếng Hy Lạp
căn cứ trn những lời đồn đại về Jesus ở Jerusalem trên 40 năm trước!
Chỉ bấy nhiêu sự kiện cũng đủ cho thấy các Sách Phúc Âm không có gì
là chính xác.
Đạo
Do Thái hoàn toàn phủ nhận các Sách Phúc Âm của đạo Kitô. Trái với đạo
Do Thái, đạo Hồi công nhận các Sách Mặc
Khải của Thiên Chúa và công nhận Jesus là một sứ giả của Thiên Chúa
(Messenger of God) đứng hàng thứ hai, sau Muhammad. Tuy vậy, quan niệm của
đạo Hồi về Phúc Âm và Jesus rất khác biệt với quan niệm của Kitô
giáo. Tôi đã trình bày vấn đề này trong bài “Chân dung Jesus nhìn qua lăng
kính Do Thái Giáo và Hồi Giáo”, vậy xin miễn nhắc lại ở đây.
TÍN ĐIỀU 4: TIN CÁC VỊ THIÊN SỨ
Theo
giáo lý của đạo Hồi thì từ tạo thiên lập địa đến nay Thiên Chúa
đã gửi xuống thế gian 25 sứ giả của Ngài để dạy dỗ loài người. Vị
sứ giả đầu tiên chính là Adam, tổ tiên của loài người, và vị sứ giả
cuối cùng chính là Muhammad. Sau Muhammad không còn bất cứ một sứ giả
nào khác. Tất cả các người kế vị Muhammad được gọi là Caliph (Khalif)
đều chỉ là kế vị với tư cách lãnh đạo cộng đồng Hồi giáo mà
thôi (leader of Islamic community) chứ không ai có tư cách kế vị thiên sứ cả
(no successor to Messenger of God). Muhammad là thiên sứ bất khả kế nhiệm và
là thiên sứ lớn hơn tất cả mọi thiên sứ khác. Đối với các tín đồ Hồi giáo, thiên sứ
Muhammad chỉ là một người thường như mọi người nhưng không có ai vượt
qua Ngài về sự khôn ngoan và đạo đức.
Trong 25
vị thiên sứ thì đạo Do Thái chiếm tới 18 vị, 3 vị thuộc Kitô giáo, 4
vị còn lại thuộc về Ả Rập. Trong phạm vi bài viết này, nếu kể hết
tiểu sử của 25 vị thiên sứ thì bài này thành một quyển sách. Chúng
tôi xin tóm lược tiểu sử của một số vị quan trọng trong cả ba tôn
giáo độc thần mà thôi.
Một số tiên tri của đạo Do Thái cũng là
thiên sứ của đạo Hồi:
+ Adam: Đạo Hồi có một quan
niệm về Adam khác với đạo Do Thái và đạo
Kitô. Ngoài thiên sứ là tổ tông của loài người, Adam còn là vị thiên sứ
đầu tiên của Chúa. Vì vậy, sau khi dựng nên Adam, Thiên Chúa đã ra lệnh
chi các thiên thần phải cúi rạp xuống để kính chào Adam và phải tuân lệnh
của Adam. Theo đạo Hồi, Adam cao quí hơn các thiên thần. Thiên thần Iblis
(Lucifer) không chịu cúi chào Adam nên bị Chúa phạt thành quỉ Satan.
Kinh
Koran nói về Adam: “Khi Thiên Chúa Allah tạo nên Adam xong, Ngài thổi thần
linh của Ngài vào Adam. Xong Ngài ra lệnh cho các thiên thần phải cúi rạp
xuống để chào Adam. Tất cả các thiên thần đều vâng lời Chúa. Chỉ một
mình Iblis (Lucifer) không chịu vâng lời nên bị Chúa phạt thành quỉ từ
đó cho đến Ngày Phán Xét Cuối Cùng”. (When your Lord said to the Angels:
Surely I am going to create a mortal from dust. So when I have made him complete and I
breathed into him My Spirit, then all angels fall down making obeisance to him. And the
angels did obeisance, all of them. But not Iblis because he was proud. Surely, my curse is
on Iblis/Shaitan to the Day of Last Judgement –Koran 38: 71-78).
+ Noah: Người Công giáo Việt
Nam thường gọi ông là No-E. Noah là cháu đời thứ 10 của Adam và Evà.
Noah là người công chính trong thế hệ của ông nên Chúa cho ông biết tin
trước về trận đại hồng thủy. Ông đóng một chiếc tàu lớn đủ để
chứa gia đình ông và mỗi thứ súc vật một cặp. Sau trận đại hồng thủy
thì cả loài người đều chết hết chỉ còn lại những người và những
vật ở trên tàu mà thôi. Trận lụt kéo dài 7 ngày. Khi nước rút thì tàu
của Noah bị kẹt trên đỉnh núi Ararat (cao 5168 mét ở miền đông Thổ Nhĩ
Kỳ). Noah và mọi người giết súc vật làm lễ hy sinh để thờ lạy Chúa.
Chúa ngửi thấy mùi thịt nướng sinh vật nên Ngài từ trời nhìn xuống
chúc phúc lành cho Noah và các con của ông sinh sản con cháu đầy mặt đất.
Noah sống trên 600 tuổi mới chết. Con út của ông tên Shem, là tổ phụ
các dân tộc Do Thái và Ả Rập. (Sau này Do Thái, Ả Rập được gọi chung
là giống người Semites, có nghĩa là con cháu của tổ phụ Shem).
+ Maisen (Moses) và Aaron: Đó là hai nhân vật
hàng đầu sáng lập đạo Do Thái hiện hành được kể trong hai cuốn sách
thuộc Cựu Ước là Xuất Hành (Exodus) và Dân Số Ký (Numbers).
Chương
34 sách Exodus kể rằng: Chúa truyền cho Maisen mang hai tảng đá lên núi
Sinai (ở gần Biển Chết). Tại đây, Chúa hiện ra và dùng ngón tay của
Ngài viết lên hai phiến đá, mỗi phiến đá Ngài viết 5 điều răn, tổng
cọng là 10 điều răn. Viết xong Ngài biến mất. Maien ở lại trên núi
nhièu ngày để tạ ơn Chúa.
Dân
chúng Do Thái qui tụ dưới chân núi Sinai nhiều ngày để chờ đón Maisen
mà không thấy Maisen xuống, họ nghĩ rằng Maisen đã chết. Do đó, dân
chúng Do Thái tôn người anh của Maisen là Aaron lên ngôi vị lãnh đạo dân
tộc Do Thái thay thế Maisen.
Theo
truyền thống lâu đời của dân Do Thái kể từ thời Abraham đến bấy giờ
là 850 năm, dân chúng vẫn quen thờ thần El dưới hình tượng Con Bò Vàng
(The Golden Carf). Do vậy, Aaron ra lệnh thâu góp các nữ trang của dân chúng
để đúc thành tượng một con bò to bằng thật để thờ.
Sau khi
đúc xong tượng bò vàng, dân Do Thái lập bàn thờ ở chân núi và đặt
tượng bò lên bàn thờ. Xong, dân chúng làm lễ cúng tế thần bò El và
cùng nhau nhảy múa ca hát tưng bừng. Vừa lúc đó thì Maisen ở trên núi
đi xuống, thấy vậy bèn nổi giận, ông dùng hai phiến đá phá nát tượng
bò thần El. Ông ra lệnh cho dân chúng không được tôn thờ ảnh tượng từ
đó và đổi tên Thiên Chúa từ Elohim (số nhiều của El) thành Jehovah.
Do chuyện trên trong Cựu Ước Do Thái,
Muhammad đã kết tội dân Do Thái là những kẻ thờ bò thay vì thờ Chúa.
Ông tôn trọng Maisen trong việc cấm thờ ảnh tượng và ông tin là Chúa đã
cho Maisen thẩm quyền cai trị. Kinh Koran ghi: “Những tín đồ của Kinh Thánh đã thờ
bò vàng thay vì thờ Thiên Chúa mặc dầu Chúa đã tỏ cho họ thấy những
dấu hiệu rõ ràng về Ngài. Nhưng Chúa đã tha thứ cho họ tội này và đã
ban cho Maisen thẩm quyền cai tri.” (The followers of the Book took the golden
carf for God after clear signs had come to them. But we pardoned this and gave to Moses
clear authority –Koran 4: 153).
+ Elijah (Elisha): Chương 4 sách Các Vua
(Kings) kể chuyện Elijah làm nhiều phép lạ như biến một cái bình kgông
thành một bình đầy dầu (oil) hoặc biến mấy cái thúng trống rỗng
thành những cái thúng đầy những ổ bánh mì khiến cho nhiều trăm người
ăn no. (sau này các sách Phúc Âm cũng kể chuyện Jesus làm phép lạ tương tự
như vậy).
Kinh
Koran ca ngợi Elijah là một trong những người tốt nhất thế gian và là
tông đồ của Chúa (Koran 6: 86, 38: 48).
+ Jonah (Yunus): Thiên Chúa dự tính hủy
diệt thành phố Nineveh vì thành phố này có nhiều kẻ không tin Chúa.
Thiên Chúa sai Jonah tới thành phố này để khuyên họ trở lại với Chúa
thì Chúa sẽ tha tội và không hủy diệt nữa. Chúa ra thời hạn 40 ngày để
Jonah thi hành.
Thay vì
đi Nineveh, JOnah đã bất tuân lệnh Thiên Chúa dùng thuyền tới thành phố
Tarshish. Để trừng phạt Jonah, Chúa tạo nên một cơn bão lớn. Các thủy
thủ trên thuyền biết đây là một hình phạt mà Chúa dành riêng cho Jonah
nên họ ném Jonah xuống biển. Một con cá lớn đớp Jonah vào bụng. Jonah
biết Chúa phạt mình về tội không vâng lời nên ông đã ăn năng hối cải
và cầu nguyện Chúa suốt 3 ngày ở trong bụng cá. Cuối cùng, Chúa tha tội
cho Jonah và hóa phép cho con cá lớn nhả ông ra trên bãi biển. Câu chuyện
này được cả ba đạo Do Thái, Kitô và Hồi giáo công nhận là chân lý.
Kinh Koran ca ngợi Jonah là tông đồ của Chúa (Koran 6: 86, 21: 87).
+ Soloman: Solomon là con thứ của
vua David. Y giết anh là Adonaijah để đoạt ngôi vua. Bản chất của Solomon
còn dâm dật hơn David nên khi lên làm vua y xây cất cung điện rất lớn để
chứa trên 3000 cung nữ. Tuy vậy, lịch sử và đạo Do Thái vẫn coi Solomon
như một minh quân. Solomon xây một ngôi đền thờ Chúa được dân Do Thái
gọi là Đền Thánh (The Holy Temple) và được truyền tụng là một kỳ
công kiến trúc. Thực sự ngôi đền rất nhỏ (rộng 12 mét x dài 37 mét).
Nếu so sánh với đền Ankor Watt của xứ Campuchiă, được xây vào thế kỷ
8, thì đền Ankor Watt lớn hơn đền của Solomon rất nhiều (75 mét x 176
mét). Solomon nổi tiếng là người khôn ngoan và là tác giả cuốn sách
Châm Ngôn (Proverbs) trong bộ Kinh Thánh Cựu Ước. Kinh Koran ca ngợi Solomon
“là tôi tớ xuất sắc của Thiên Chúa và luôn luôn quay về với Chúa”
(Solomon was most excellent the servant and he was frequent in returning to Allah –Koran
28: 30).
+ Isaiah: Isaiah xuất hiện trong
thế kỷ 8 TCN, ông được coi là người đầu tiên trong đạo Do Thái đưa
ra thuyết Tận Thế và tiên đoán sẽ có một vị Cứu Thế (Messiah) ra đời.
Tuy nhiên, ông đã định nghĩa “Chúa Cứu Thế là người giải thoát tất cả
mọi người bị áp bức” (To let the oppressed go free –Isaiah 6: 9 và
6: 1- 2). Như vậy, Chúa Cứu Thế nào không giải thoát được những kẻ bị
áp bức trên thế gian thì đó chính là Chúa Cứu Thế giả mạo. Đạo Hồi
hoàn toàn phủ nhận tư cách “Chúa Cứu Thế” của Jesus, nhưng họ không
qui trách Jesus mà qui trách các tín đồ Kitô là những kẻ lầm lạc đã
tin những điều bậy bạ như vậy.
Ba vị của Kitô Giáo được Hồi Giáo coi là
Thiên Sứ:
Ba nhân
vật trong Phúc Âm của Kitô giáo được Muhammad đề cao trong kinh Koran là
Jesus, Gioan Baotixia và thân phụ Gioan là Zakaria.
Jesus
được Muhammad ca ngợi trong 114 câu thơ, rải rác trong 15 chương sách cũa
kinh Koran. Điều đó chứng tỏ Jesus có một
chỗ đứng khá quan trọng trong đạo Hồi. Người Hồi giáo tôn kính gọi Muhammad là Thiên Sứ (Nabi) và họ
cũng gọi Jesus là thiên sứ theo ngôn ngữ Ả Rập là Nabi Isa.
Mặc
dù tôn kính Jesus và coi trọng sách Phúa Âm, đạo Hồi đã có những quan
niệm rất khác biệt về Jesus và Phúc Âm so với quan niệm của các tín đồ
Kitô giáo.
Kinh
Koran rất tôn trọng Gioan Baotixita và song thân là ông Zakaria và bà Elizabeth
(Công giáo Việt Nam gọi là bà Thánh I-sa-ve). Zakaria là cậu của bà Maria.
Khi bà I-sa-ve có mang Gioan được 6 tháng thì bà Maria mới bắt đầu mang
thai Jesus. Khi bà Maria đến nhà thăm vợ chồng ông cậu Zakaria thì bà
I-sa-ve đã chúc tụng bà Maria: “Hỡi bà
Maria! Chúa đã chọn bà và thanh tẩy bà, Chúa đã chọn bà cao hơn hết thảy
các người nữ trên thế gian” (Oh Mary! Allah has chosen you and purified you
and chosen you above all women of the world –Koran 3: 42). Lời chúc tụng của bà
I-sa-ve (mẹ của Gioan Baotixita) đối với bà Maria (mẹ của Jesus) như nói
trên là ý chính của Kinh Kính Mừng (Horil Mary) trong đạo Công giáo: “Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ".
Đạo Hồi
cấm thờ ảnh tượng nhưng họ thường vẽ tranh treo tường hoặc dệt thảm
những bức họa diễn cảnh Abraham hy sinh con trai Ismael (chứ không phải là
Isaac) để tế lễ Thiên Chúa và họ cũng thường vẽ tranh bà Maria bế
hài nhi Jesus. Trong đền thờ Ka’aba ở Mecca, thánh địa thiêng liêng nhất
của thế giới Hồi giáo, hiện vẫn còn một bức tranh vẽ bà Maria bế
hài nhi Jesus. Bức tranh này đã được người Kitô giáo vẽ vào thế kỷ
VI. Tháng Giêng năm 630, Muhammad mang 10.000 quân đến chiếm Mecca, ông đã ra
lệnh phá hủy tất cả tượng thần và các tranh vẽ trên tường của đền
thờ Ka’aba. Tuy nhiên, Muhammad đã tỏ lòng tôn kính đặc biệt đối với
bà Maria và thiên sứ Jesus nên ông đã cởi áo choàng của mình phủ lên bức
tranh duy nhất của Kitô giáo tại đền Ka’aba và ra lệnh không ai được
phá hủy bức tranh này. Nhờ đó, bức tranh vẫn tồn tại đến ngày nay.
Các tiên tri Ả Rập:
Kinh Koran chỉ kể tên
vài vị tiên tri Ả Rập như Hud, Salid... nhưng
không kể tiểu sử của họ nên chúng ta không có tài liệu để bàn tới.
Như vậy, chỉ còn một vị tiên tri duy nhất là Muhammad mà thôi. Nhưng nói
về Muhammad thì có tới biết bao nhiêu sách nói cho hết. Sau khi đọc nhiều
sách về tiểu sử của Muhammad, tôi đã cố gắng tóm lược trong hai bài:
Trong số
25 vị thiên sứ (gồm 18 vị thuộc đạo Do Thái, 3 vị thuộc đạo Kitô
và 4 vị Ả Rập) chỉ có 6 vị được đạo Hồi coi là những vị thiên sứ
quan trọng nhất. Đó là:
| Tên Anh Ngữ |
Tên phiên âm theo tiếng
Arabic |
| 1- Thiên sứ Mohammed | Nabi Muhammad |
| 2- Thiên sứ Jesus Christ | Nabi Isa |
| 3- Thiên sứ Moses (Maisen) | Nabi Musa |
| 4- Tổ phụ Abraham | Nabi Ibrahim |
| 5- Thiên sứ Noah (ông No-e) | Nabi Nuh |
| 6-Thiên sứ Adam (ông A-dong) | Nabi Adam |
Đối
với đạo Hồi, chỉ có Moses và Jesus là người Do Thái, còn các vị khác
như Adam, Noah và Abraham không thuộc chủng tộc nào cả. Điều đặc biệt
cần nhấn mạnh: Đạo Hồi không coi Moses là người lập đạo Do Thái hay
Jesus là người lập đạo Kitô. Đạo Hồi
coi tất cả các vị thiên sứ đều là những tín đồ đạo Hồi.
TÍN ĐIỀU 5: MỌI NGƯỜI CHẾT SẼ SỐNG
LẠI TRONG NGÀY TẬN THẾ -
Tín điều
5 là một tín điều tổng hợp liên quan đến nhiều vấn đề phức tạp
nhưng lại là những điều mà cả 3 đạo độc thần chấp nhận hoàn
toàn. Đó là:
1.
Tin rằng
con người có hai phần, hồn và xác. Hồn là phần linh thiêng vĩnh cữu. Xác
sau khi chết bị hủy hoại hoàn toàn, nhưng đến ngày tận thế xác của mọi
người đều sống lại nhập với hồn và sẽ tồn tại vĩnh cửu.
2.
Tin
có ngày tận thế.
3.
Khi chết,
mỗi người đều được Chúa xét xử tạm thời. Đến ngày tận thế, tất
cả mọi người sống và chết (sống lại) đều được xét xử chung trong
Ngày Phán Xét Cuối Cùng.
4.
Tin
có Thiên Đàng và Hỏa Ngục. Riêng đạo Hồi tin Hỏ NGục không có tính vĩnh
cửu mà chỉ là hình phạt tạm thời. Chúa là đấng nhân lành nên mọi tội
đều được Chúa tha thứ. Trái lại, Kitô giáo tin rằng Hỏa Ngục là
hình phạt đời đời. Đạo Do Thái và đạo Kitô nói rất ít về thiên đàng.
Trái lại, đạo Hồi mô tả Thiên Đàng với nhiều chi tiết hấp dẫn:
Thiên Đàng có những con sôngh nước mát và trong vắt, có những con sông
đầy sữa hoặc đầy rượu nho, có những con sông đầy mật, những khu
vườn đầy trái cây, và đặc biệt có những cô trinh nữ đẹp tuyệt trần
chưa bao giờ có ai đụng tới (bashful virgins whom neither man nor a spirit have
touched before –Koran 55: 41). Những trinh nữ mắt đen cư ngụ trong những
căn lều, dựa lên những chíc gối màu xanh và những chiếc thảm đẹp (Dark-eyed virgins sheltered in their tents, they
recline on green cushions and fine carpets. Which
of your Lord ‘s blessing would you deny?
–Koran 55: 68). Đó là những thứ Chúa
ban cho anh, há anh lại từ chối sao?
Ngày Tận
Thế là ngày trái đất này bị hủy diệt hoàn toàn. KInh Koran mô tả:
Toàn mặt đất và núi non đều bị nâng lên và đập xuống vỡ vụn. Bầu
trời nứt ra từng mảnh (the heaven will split asunder). Ngày Tận Thế cũng là
ngày mọi kẻ chết sống lại (Day of Resurrection –Koran 50: 42), ngày họp mặt
của toàn thể nhân loại (Day of Assembly –Koran 42: 7 và 64: 9), ngày mở đầu
cuộc sống vĩnh cửu (Day of Eternal Life –Koran 50: 34)
và cũng là ngày tính
sổ của Thiên Chúa (Day of Reckoning –Koran 37: 19- 74). Kẻ lành được lên
thiên đàng, kẻ ác bị đầy xuống hỏa ngục.
Đối với
niềm tin HỒi giáo thì những kẻ không tin vào tính duy nhất của Thiên
Chúa (như thờ Thiên Chúa Ba Ngôi) hoặc thờ ảnh tượng đều phải xuống
hỏa ngục.
Cũng
xin nói thêm ở đây là Hồi giáo và Do Thái giáo chỉ tìm có hai nơi trong
đời sau là Thiên Đàng và Hỏa Ngục. Riêng Công giáo La Mã tin có một nơi
thứ ba là Luyện Ngục (Purgatory). Đó là một thứ ngục tối để giam giữ
linh hồn có tính cách tạm thời mà thôi.
TÍN ĐIỀU 6: MỌI SỰ DO THIÊN CHÚA TIỀN ĐỊNH
Cả 3
tôn giáo độc thần (Do Thái, Kitô và Hồi) đều xác nhận mọi sự trên
đời đều do Thiên Chúa tiền định, như người ta thường nói: “Sợi
tóc ở trên đầu rụng xuống cũng do ý Chúa định từ trước vô cùng”.
Nếu đã
tin vào thuyết tiền định (Predestination) thì ngưới ta có thể nói rằng:
mọi hành vi tốt xấu của mỗi người cũng do Chúa định, vậy không một
ai phải chịu trách nhiệm về những hành vi của mình cả. Nói cách khác,
con người không có quyền tự do chọn lựa vì số phận của con người tốt
hay xấu, sướng hay khổ đều đã do Thiên Chúa ấn định từ trước vô
cùng. Sự tiền định của Thiên Chúa và Ý chí tự do của con người là
hai ý niệm tương phản nhau. Nếu đã tin vào thuyết tiền định thì không
thể tin rằng con người có ý chí tự do. Ngược lại, nếu đã tin con người
có quyền tự do chọn lựa thì không có tiền định.
Tuy vậy,
cả 3 tôn giáo độc thần đều chấp nhận cả hai. Hồi giáo lập luận: “Thiên Chúa
dựng nên ta, là Ngài đã ấn định số phận của ta” (Thy God hath
created and hath fixed thy destinies –Koran 87: 2- 3). Nhưng mỗi người có quyền
tự do chọn lựa, hoặc tin hoặc không tin: “Chân
lý từ Thiên Chúa, ai muốn thì hãy tin, ai không muốn thì đừng tin”
(Say the truth is from your Lord, whoever wisheth he may believe, whoever wisheth not he
may disbelieve –Koran 18: 30).
Sau khi
đã tìm hiểu 6 tín điều trụ cột của đạo Hồi, chúng ta nhận thấy chỉ
có sự khác biệt về chi tiết so với các tín điều của đạo Do Thái và
đạo Kitô. Xét theo đại thể, các tín điều của 3 đạo độc thần đều
đồng nhất.
Muhammad
đã xác nhận đạo Hồi không mang lại một điều gì mới mà chỉ xác nhận
lại những điều Thiên Chúa đã mặc khải trong Kinh Thánh Cựu Ước của
đạo Do Thái và trong Sách Phúc Âm của đạo Kitô. Kinh Koran chỉ là một sự
NHẮC LẠI (Nay, It is an Reminder –Koran 80: 11). Muhammad cũng tự coi mình là kẻ
nhắc lại: “Kẻ nhắc lại đó đến với anh từ Thiên Chúa để cảnh báo
anh” (A Reminder has come to you from the Lord that he might warn you –Koran 7: 69) .
CHARLIE NGUYỄN
In ra @
Modified by Web Giaodiem
CThe best: set screen res. 1024 x 768 | Browser IE v. 5.0 or higher | mail: set Outlook Exp. [copyright:MedSoft]
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net