
NGHIÊN CỨU
Kính thưa
quý độc giả của Hoa Sen,
Từ tháng
11/2003, khi Quốc Hội Đài Loan thông qua một dự luật cho phép hành pháp tổ
chức trưng cầu dân ý. Và Tổng thống Đài Loan Trần Thủy Biển tuyên bố
dự tính tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý, vào tháng 3/2004, cùng ngày
với cuộc bầu cử tổng thống. Chính quyền Trung Quốc lên tiếng phản đối
mạnh mẽ dự tính này. Do đó, mối căng thẳng ngang qua eo biển Đài Loan lại
một lần nữa trở nên sôi sục.
Đến tháng
12/2003, trong dịp Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo thăm viếng Hoa Kỳ, Tổng
thống George W. Bush nói với Bắc Kinh rằng : Hoa Kỳ chống bất cứ quyết
định đơn phương nào, của Trung Quốc lẫn Đài Loan, nhằm thay đổi tình
trạng hiện thời. Lời tuyên bố này được
xem là sự báo động thẳng thừng đối với kế hoạch trưng cầu dân ý của
Đài Loan. Làm cho chính quyền Đài Loan phải lên tiếng trấn an, rằng :
Đài Loan chuộng hòa bình và ổn định trong vùng, và cuộc trưng cầu dân
ý không nhằm gây hấn phía đối nghịch hay thay đổi nguyên trạng.
Sự việc
gì đã, đang và sẽ xảy ra giữa Đài Loan và Trung Quốc ?
Đây là vấn
đề trọng đại mà quyết định của mỗi bên, Trung Quốc và Đài Loan, đều
có khả năng đem đến những thay đổi to lớn trong vùng Đông Á và Đông-Nam
Á.
Để hiểu
thêm về vấn đề này, BBT chúng tôi xin gởi đến quý vị bài khảo cứu
giá trị dưới đây, trích từ Tập san Tư Tưởng phát hành ở Úc châu, để
cùng nhau chiêm nghiệm trong 3 ngày Tết.
Chúng tôi
xin chân thành cảm tạ Ban chủ biên của Tập san Tư Tưởng - Úc châu. Và
cầu chúc cho toàn Ban chủ biên cùng chư quý quyến một năm mới, Giáp
Thân 2004, an khang thịnh vượng, vững tiến trên đường phục vụ văn hóa
dân tộc – BBT Hoa Sen.
Đài
Loan và cội nguồn Bách Việt
Nguyễn Đức Hiệp
Năm 2000, một sự kiện lịch sử xảy ra ở
ven bờ Thái Bình Dương. Sự kiện đó không phải là Thế vận hội 2000
ở Sydney mà thế giới chú ý đến trong vài tuần, mà là một diễn biến
í người để ý đến. Một sự kiện sẽ có ảnh hưởng lâu dài đến chính
trị và có thể làm thay đổi cách nhìn của thế giới bên ngoài của nhiều
nước trong vùng. Sự kiện đó chính là kết quả bầu cử ở hòn đảo Đài
Loan bé nhỏ. Ứng cử viên Trần Thủy Biển (Chen Shui-Bian) của đảng Dân Chủ Tiến Bộ
(Democratic Progressive Party) đã thắng Quốc
Dân Đảng và trở thành Tổng Thống Đài Loan, một sự thay đổi chính quyền
không đổ máu, không bạo động lần đầu tiên trong lịch sử mấy ngàn năm
của Trung Quốc. Lịch sử Trung Quốc ? Thực ra trong tâm của vị tân tổng
thống thì hướng đi của chính sách mà ông đã theo đuổi từ nhiều năm
trước, mà đại đa số dân đã đồng ý, thì hòn đảo này với dân số
hơn 20 triệu sẽ không còn là bộ phận của Trung Quốc nữa. Nó sẽ là một
quốc gia khác đứng ngoài quỹ đạo của dân tộc Trung Hoa, nó không còn
dính gì trực tiếp đến Trung Quốc hay lịch sử Trung Quốc nữa, cũng như
Hoa Kỳ hơn 200 năm trước đây đã cắt lìa khỏi nước Anh để tạo riêng
vận mệnh của mình.
Phản ứng của Trung Quốc that dữ dội và giận
dữ, báo chí Trung Quốc dùng những lời lẽ nặng nề chưa từng thấy đối
với một cá nhân, không kém những từ ngữ dùng trong cách mạng văn hóa
đối với các kẻ thù giai cấp và đế quốc xưa kia trong thập niên 1960.
Mấy tuần trước ngày bầu cử, hải quân Trung Quốc đã tập trận bắn
tên lửa ở eo biển Đài Loan. Trên đất liền, Trung Quốc dàn tên lửa hướng
về Đài Loan đe dọa tinh thần dân chúng, đặt áp lực với chủ ý sẽ
làm cho cử tri run sợ chiến tranh mà phải bầu cho ứng cử viên Quốc Dân
Đảng ! Oái ăm thay, Quốc Dân Đảng là kẻ thù trước đây của đảng cộng
sản Trung Quốc. Lúc này cả hai lại cùng chính sách, cùng quan điểm rút từ
một nền tảng tư tưởng trung ương tập quyền Đại Hán truyền thống
lâu đời.
Điều gì đã gay ra sự cố động trời như
vậy ? Ngoài sự kiện ông Trần Thủy Biển là một người Đài Loan bản xứ
chính cống, không phải từ lục địa di đến khi Quốc Dân Đảng thua bỏ
chạy sang, thì tư tưởng và hoài bão của ông, đại diện cho hoài bão của
đa số người Đài Loan bản xứ, chính là điều mà Trung Quốc sợ hải hơn
hết. Thật sự thì không phải mà đột nhiên có sự tự phát, xuất hiện
một tư tưởng tự chủ như vậy, mà nó đã có một lịch sử khá lâu
dài. Tư tưởng ấy đã bị đè nén, thay thế bởi một tư tưởng khác từ
bên ngoài ép đặt trên văn hóa, tư tưởng của dân tộc Đài Loan trong nhiều
năm qua.
Tôi đặc biệt lưu ý đến lịch sử Đài
Loan và hoài bão của người dân khi tôi viến Đài Loan trong một dịp dự
hội nghị khoa học về môi trường khí quyển ở thành phố Đài Trung (Taitung), do hai Viện Hàn Lâm Khoa Học Đài
Loan và Hàn Lâm Khoa Học Úc tổ chức vào tháng 6/2000. Trước đây tôi chỉ
để ý và nghiên cứu chút ít về người bản xứ thổ dân sống ở Đài
Loan trước khi người Hoa từ lục địa di dân sang. Bài này có mục đích
tìm hiểu những diễn biến về sự thay đổi trong xã hội, văn hóa và tư
tưởng của người dân Đài Loan trong vòng 20 năm nay. Nó gợi lại trong lịch
sử và trong tiềm thức của người Việt những gì tương tự mà dân tộc
Việt Nam đã trải qua cách đây hơn 1.000 năm.
Cách Mạng
Văn Hóa Hay Tuyên Ngôn Độc Lập ?
Buổi lễ nhậm chức tổng thống ngày
20/5/2000 ở Đài Bắc được tổ chức tại sân trước cửa dinh Tổng Thống,
một kiến trúc thời Minh Trị xây trước đây làm dinh cho viên toàn quyền
của Nhật khi họ còn cai trị Đài Loan. Dinh này cũng biểu trưng quyền lực
của Quốc Dân Đảng trong bao năm trước đây khi họ nắm quyền hơn nửa
thế kỷ. Những sự kiện xảy ra ở buổi lễ mang nay những biểu tượng
đáng kể, mà một nhà nghiên cứu ở Viện Xã Hội học, thuộc Hàn Lâm
Trung Hoa (Academia Sinica) ở Đài Bắc đã
viết lại như sau trên diễn đàn điện tử về Đông Nam Á (Southeast Asia Discussion List, SEASIA-L) (1).
Buổi lễ bắt đầu 9:50 sáng, quan khác trong
và ngoài nước tưởng sẽ nghe bài quốc ca Cộng Hòa Trung Quốc (Republic of China) đầu tiên, nhưng tất cả
đều ngạc nhiên khi một nhóm nhạc sĩ thổ dân của bộ lạc Bunum bản xứ (thuộc tộc Austronesian) đứng lên hát bài ca dân tộc
truyền thống “Báo tin vui”. Sau đó là phần trình diễn của các bộ
laic bản xứ Austronesian khác, tiếp theo
là bài hát dân ca của người Hakka (Khách
trú) và dân ca người Hoklo. Chỉ khi Tổng
Thống Trần Thủy Biển và Phó Tổng Thống, bà Annette Lu bước ra từ dinh
Tổng Thống thì bài quốc ca mới được hát sau cùng. Người hát quốc ca
là cô ca sĩ nổi tiếng ở Đài Loan (và Trung Quốc) Cheng Hui-Mei (Amei), gốc
người thổ dân bộ lạc Puyma. Cô rất
được thính giả ái mộ, không những ở Đài Loan mà còn ở Trung Hoa lục
địa. Trước kia không bao giờ có sự có mặt của văn hóa địa phương
trong những nghi lễ trịnh trọng. Nay thì ngay cả bài quốc ca cũng xuống hàng
thứ yếu. Sự phá vỡ nghi thức này rất có ý nghĩa. Nó có chủ đích cho
thấy là chính phủ mới từ đây về sau sẽ theo đuổi chính sách đứng
trên quan điểm của người địa phương (Hoklo,
Hakka, Austronesian) chứ không như chính phủ Quốc Dân Đảng trước kia
đứng trên quan điểm trọng Hán.
Hiểu được hậu ý của chính phủ Trần Thủy
Biển, Trung Quốc đã giận dữ, ngay cả Amei cũng không thoát khỏi sự tức
giận ấy. Sauk hi cô tham dự và hát bài quốc ca Đài Loan (Cộng Hòa Trung
Hoa) ở lễ nhậm chức của Tổng Thống Trần Thủy Biển, chính phủ Trung
Quốc ra lệnh tẩy chay Amei. Đài truyền hình, truyền thanh từ ngày đó
không được trình chiếu, phát hành các bài hát của ca sĩ Amei. Báo chí bị
cấm đề cập đến co, ngay cả các biểu ngữ quảng cáo cũng không được
đăng các hình ảnh ca sĩ Amei. Ở Bắc Kinh và Thượng Hải, hình Amei trên
các bảng quảng cáo nước ngọt Sprite của công ty Coca-Cola bị bôi xóa
đi. Tuy vậy các đĩa CD của cô, người ta vẫn còn có thể tìm thấy được
ở một số các cửa hàng nếu chịu khó lùng kiếm. Wu Bai, một nam ca sĩ nổi
tiếng ở Đài Loan và Trung Quốc, cũng chịu chung số phận, khi ông hát và
ủng hộ Trần Thủy Biển.
Bài diễn văn của Trần Thủy Biển rất ít
đề cập đến sự quan hệ với Trung Quốc, một vấn đề thời sự nóng
bỏng lúc đó, mà hầu hết là về lịch sử và văn hóa Đài Loan, về cải
tổ chính trị và chính sách đối nội. Trần Thủy Biển nói tới Đài
Loan 40 lần. Cộng Hòa Trung Quốc (ROC) 9 lần. Trung Quốc chỉ có 1 lần nhưng
Formosa (tên cũ của đảo Đài Loan) 2 lần
và 4 lần nhấn mạnh nói lớn “Đài Loan đứng lên !”.
Đài Loan đã thực sự đứng day về văn hóa
và chính trị. Trần Thủy Biển nêu lên những sự áp bức, xâm lược bởi
đế quốc mà dân chúng ở cả Trung Quốc lẫn Đài Loan đã là nạn nhân
trong thế kỷ 20. Thật sự Đài Loan còn khổ sở nặng hơn dưới chế độ
thực dân Nhật. Những kinh nghiệm lịch sử tương tự như thế đáng ra đã
mang lại sự thông cảm giữa hai dân tộc ở hai bên eo biển Đài Loan để
từ đó đặt nền tảng cho việc thiết lập tự do, dân chủ và nhân quyền
cùng với nhau. Tuy nhiên, do sự phân ly lâu dài trong lịch sử, hai vùng đã
phát triển theo hai hướng khác nhau, đi đến sự khác biệt tột độ về
nhiều phương diện, từ hệ thống chính trị đến văn hóa và phong cách sống.
Điều này đã cản trở sự thông cảm và thiết lập tình hữu nghị giữa
hai nước.
Bài diễn văn này là một tuyên bố chính trị
quan trọng. Ông phân biệt rõ sự khác biệt giữa lịch sử Trung Quốc và
lịch sử Đài Loan. Đài Loan đã trải qua thời kỳ bị Nhật đô hộ lâu
dài và đã có lịch sử riêng chứ không phải chỉ có lịch sử mới đây
mới đây tách ra khỏi Trung Quốc bắt đầu từ 1949, với nhãn quan của người
Hán đặt trọng tâ vào cuộc nội chiến quốc – cộng. Ông nói là cách
đây 400 năm, Đài Loan được gọi là Formosa,
hòn đảo xinh đẹp, nay Đài Loan còn là một hòn đảo của một nền dân
chủ trưởng thành. Ông cho rằng lịch sử Đài Loan tiếp diễn cách đây
400 năm từ di sản của thổ dân Austronesian,
cư dân đầu tiên, chứ không phải xuất phát từ 5.000 năm của lịch sử
Trung Quốc. Ông là vị Tổng thống Đài Loan đầu tiên đã đặt trọng tâm
của vũ trụ quan vào lịch sử đảo và vào di sản Austronesian. Ông đặc biệt nói về văn hóa
địa phương, các tổ chức cộng đồng phi chính phủ đã được thành lập
để phát triển, bảo tồn lịch sử, văn hóa ở mọi địa phương, làng
xã. Tất cả đó là một phần của văn hóa Đài Loan. Đài Loan là một xã
hội đa văn hóa, trong đó mọi người dân chấp nhận sự đa dạng và giao
lưu với nhau giữa các người Austronesian,
Hoklo, Hakka và người Hoa ở lục địa sang. Ông nói về văn hóa Hoa kiều
và đặt cộng đồng người Hoa ở Đài Loan giống như cộng đồng người
Hoa trên thế giới như ở Singapore, Sydney hay San Francisco trong môi trường
đa văn hóa, chứ không phải người Hoa giữa dân số của một nước Trung
Quốc thống nhất.
Ông nhấn mạnh đến cuộc sống “văn hóa”
thường ngày của người dân bình thường và nói về bản thân ông xuất
thân là con của một tá điền trong một gia đình nghèo và đã vươn lên
để trở thành tổng thống của một nước được sự tín nhiệm của
dân Formosa, những người con của Đài
Loan như ông. Tinh thần bài diễn văn giống như tinh thần của một bản
tuyê bố độc lập hơn là một bài diễn văn nhậm chức bình thường.
Các Dân Tộc
ở Đài Loan.
Vì đâu mà ông Trần Thủy Biển đã “tuyên
bố độc lập” như vậy ? Bài ông nói đã phán ảnh được những gì
sâu xa xảy ra trong tư tưởng của xã hội Đài Loan trong nhiều năm vừa
qua ở nhiều lãnh vực. Một hiện tượng xã hội đáng chú ý gần đây
là một số vấn đề nghiên cứu trong phạm vi khoa học có liên hệ đến
các dân tộc ở Đài Loan đã lan ra khỏi phạm vi hạn hẹp và đã trở
thành một đề tài nóng bỏng trong xã hội mà trước đây ít xảy ra.
Giáo sư Lâm Mã Lý, nhà di truyền học ở bệnh
viện Mckay Memorial ở Đài Bắc, đã bỏ ra nhiều năm nghiên cứu về nguồn
gốc di truyền của các bộ tộc thổ dân sống lâu đời từ thời tiền sử
ở Đài Loan. Một đề tài hầu như lúc đó không ai ở Đài Loan để ý.
Sau khi công bố kết quả trên tạp chí khoa học vào năm 2000 (2), bà đã nhận
được rất nhiều thư, điện thư từ những người “Đài Loan” không phải
thổ dân (Mân Nam và Hakka) muốn tìm hiểu thêm về nguồn gốc
của họ, họ không cho rằng họ có nguồn gốc từ người Hán. Giáo sư Lâm
Mã Lý từ đó chuyển trọng tâm nghiên cứu của bà sang người Mân Nam (Minnan)
và Hakka. Sau hơn một năm nghiên cứu di
truyền trên hệ thống miễn nhiễm (Human
Leucocyte Antigen, HLA) ở nhiễm sắc thể 6 (chromosome 6) qua máu của các dân Mân Nam (Hoklo),
Hakka và các mẫu máu từ nhiều nước kết
hợp được trong tổ chức hoạt động quốc tế về HLA (International Histocompatibility Workshop) ở Nhật
năm 1998, giáo sư Lâm Mã Lý đã công bố kết quả (3) về sự liên hệ và
khoảng cách của các nhóm dân trên sơ đồ cây di truyền. Kết quả cho thấy
người Mân Nam và Hakka rất gần với người Việt, Thái và các dân thuộc
chủng Mongoloid Nam Á, khác xa với người Hán thuộc chủng
Mongoloid Bắc
Á. Giáo sư Lâm Mã Lý cho rằng người “Đài Loan” thuộc dân Mân Việt (Min
Yeuh) chứ không phải dân tộc Hán, mặc dù đã có sự pha trộn trong lịch
sử với người Hán di cư đến từ phương Bắc.
Trong cuộc phỏng vấn trên báo Taipei Times (Đài Bắc thời báo) (4), có
câu hỏi là có phải ngiên cứu của bà đã gay chú ý và bàn luận rất
nhiều là vì nó đã thách thức chủ nghĩa ‘Hán trung tâm’ cho rằng người
Hán và văn minh Hán Hoa là cội nguồn của tất cả, do đó đã gây nên cuộc
tranh luận chính trị về sự thống nhất với Trung Quốc. Bà trả lời là
bà đã biết trước kết quả nghiên cứu di truyền sẽ khơi động cuộc
tranh cãi, nhưng bà cũng nói rằng kết luận của nghiên cứu cũng không phải
là điều gì mới lạ, vì trước đây hai nhà nhân chủng học nổi tiếng
đã công bố lâu rồi về dân tộc và văn minh của người Mân Việt, Hakka và Bách Việt. Kết quả nghiên cứu của bà
chỉ chứng minh một cách khoa học thêm mà thôi. Cả hai công trình nghiên cứu
này đã được biết từ lâu trước khi có chủ đề bàn luận về về thống
nhất hay độc lập ở Đài Loan. Đó là công trình nghiên cứu của Lin Hui
Shaing, “The Ethnology of Chine”, xuất bản
năm 1937 và W. Meacham, “Origins and development
of Yeuh coastal Neolithic : A microcosm of cultural change on the mainland of East Asia”,
công bố vào năm 1981. Cả hai đã có cùng kết luận về nguồn gốc của
dân Bách Việt.
Cũng trong cuộc phỏng vấn này, có câu hỏi
là có phải nghiên cứu của bà có mục đích chính trị không, vì hiện
nay có rất nhiều người đã dùng nghiên cứu của bà trong chính trường.
Bà nói rằng mọi người nên hiểu biết về nguồn gốc của mình. Và bà
chỉ muốn tìm ra nguồn gốc của người địa phương sống lâu đời ở
Đài Loan. Bà không hiểu tại sao người Mỹ gốc Phi châu lại có thể đi
tìm được nguồn gốc của họ, mà người Đài Loan lại không thể nói
được “Chúng tôi là người Mân Việt cổ
xưa”. Bà muốn rằng người Đài Loan nên xem mình là người địa
phương Mân Việt chứ không phải là Hán từ bắc Trung Quốc. Bà nói : “Bài nghiên cứu của tôi đơn giản là chỉ
để hiểu biết về nguồn gốc. Tôi không biết gì về chính trị và
không thuộc tổ chức chính trị nào”.
Để có một cái nhìn tổng quát về tình
hình Đài Loan và hiểu thêm về các dân tộc và văn hóa ở hòn đảo này,
chúng ta phải bắt đầu từ các dữ kiện lịch sử và dân tộc học mà
tôi cố gắng tóm lược như sau :
Bộ tộc
Austronesian
Những người bản xứ thuộc dòng ngôn ngữ Austronesian là những người dân đã sống
lâu đời ở Đài Loan từ trước thế kỷ 17 khi những người ngoại quốc
như Hòa Lan, Tây Ban Nha và sau đó là Trung Quốc bắt đầu đến chiếm đóng
và định cư. Ngôn ngữ của các bộ tộc bản xứ cũng rất đa dạng và
khác nhau, nhưng tất cả đều thuộc họ ngôn ngữ Austronesian, cùng họ với ngôn ngữ Phi Luật
Tân, Indonesian, Mã Lai và ở nhiều đảo khác trong Thái Bình Dương. Hiện
nay người thổ dân Austronesian chỉ
còn có khoảng 2% dân số Đài Loan và gồm các bộ tộc sau (theo thứ tự
dân số) : Amis (130.000), Paiwan (60.000), Atayal (50.000), Bunum (38.000), Taroko (30.000), Puyuma (8.000), Rukai (8.000), Tsu (6.000), Yami (4.000), Saisiat (4.000), Thao (250). Một số bộ tộc khác ở đồng
bằng và bờ biển trước đây đã biến mất, qua sự đồng hóa trong cộng
đồng các người Hoklo, Hakka di dân từ
Trung Quốc trong các thế kỷ trước. Ngôn ngữ của các bộ tộc này chỉ
còn giữ lại trong các từ điển và bài viết về họ của người Hòa
Lan, Nhật và Đài Loan sau này, và một số từ còn sót lại trong ngôn ngữ
Hoklo.
Trong suốt lịch sử từ 1624, khi người Hòa
Lan đến chiếm, cho đến thời kỳ thuộc nhà Thanh, rồi thuộc Nhật Bản
và gần đây dưới chế độ Quốc Dân Đảng, người thổ dân thường bị
phân biệt, chèn ép trong xã hội. Có lúc họ đã nổi day, như năm 1930, một
bộ lạc đã nổi lên chống Nhật nhưng họ đã bị đàn áp đẫm máu. Đất
đai của họ đã bị lấn chiếm và mất dần (cách đây không lâu, có nơi
đất của họ đã được dùng để chôn các chất thải nguyên tử nguy hiểm).
Năm 1984, Liên minh thổ dân Đài Loan đã được thành lập bởi một số
trí thức và các vị lãnh đạo các bộ tộc để bảo vệ quyền lợi và
văn hóa thổ dân. Họ đã tranh đấu trong nhiều năm cùng với đảng Dân
chủ Tiến bộ Đối lập chống lại các chính sách văn hóa và bất công của
chính quyền. Ngày nay, quyền lợi và văn hóa thổ dân đã được khuyến
khích phát triển nhất là từ khi chính phủ Trần Thủy Biển nắm quyền
vào năm 2000.
Như các người Austronesian khác ở Đông Nam Á (Mã Lai, Phi
Luật Tân, Nam Dương), các bộ tộc thổ dân đều có tục ăn trầu và xâm
mình. Đặc biệt người Atayal còn xâm
rất nhiều trên mặt. Theo truyền thuyết của họ, lúc khởi thủy chỉ có
hai an hem. Vì muốn dòng giống được lưu truyền, người em giá đã xâm
lên mặt để che dấu hầu gait anh mình mà kết thành vợ chồng, sinh sản
con cháu. Người Rukai, trong lễ hội xuân
còn có phong tục chơi đu xích đu. Người con gái đu xích đu, trong khi người
con trai nay và bắt lấy. Trò chơi ở lễ hội xuân này tương tự như trò
chơi trong lễ hội của người Việt và chúng có nguồn gốc phồn thực.
Vì là thiểu số, hiện nay văn hóa của người
thổ dân có nguy cơ biến mất khi đa số thanh niên cố gắng hòa nhập vào
xã hội Đài Loan. Trước đây vì bị phân biệt, đa số đã cố gắng dấu
đi nguồn gốc thổ dân của mình. Ngày nay với chính sách bảo vệ và
phát triển văn hóa bản xứ trong giáo dục, chính trị và kinh tế, họ đã
có mặt ở mọi thành phần trong xã hội Đài Loan và hãnh diện là người
có gốc tích thổ dân, cư dân đầu tiên của nước Đài Loan. Cuối năm
2001, ở Đài Trung, nơi có nhiều thổ dân thuộc các bộ tộc khác nhau, đã
có lễ hội về văn hóa Austronesian, với
sự hiện diện của nhiều học giả thế giới đến dự hội nghị nghiên
cứu Austronesian tổ chức cùng thời
gian. Chang Hui-Mei (Amei), ca sĩ nổi tiếng Đài Loan, là người gốc thổ dân
thuộc bộ lạc Puyuma bản xứ đã trình
diễn nhiều bài dân ca Austronesian khai mạc
liên hoan văn hóa này. Viện Hàn Lâm Academia
Sinica cũng đã xuất bản nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa và
con người Austronesian. Cùng với “Hiệp
hội nghiên cứu tiền sử Ấn và Thái Bình Dương”, Academia Sinica đã tổ chức nhiều hội nghị
quốc tế về người Austronesian, như ở
Đài Trung và Đài Bắc vừa rồi.
Người
Hoklo
“Hoklo”,
danh từ cổ xưa gốc địa phương nay được dùng để chỉ chung giống
người dân tộc và ngôn ngữ vùng Phúc Kiến thay vì dùng từ Phúc Kiến như
trước đây thường xử dụng để chỉ người thuộc địa phương Phúc Kiến
Trung Quốc. Các danh từ thường dùng khác, như Hokkien, Minnan (Mân Nam, Min (Mân), hay Đài Loan cũng đã được dùng để chỉ
dân tộc này. Nay thì danh từ “Hoklo”
bản địa có khuynh hướng được dùng nhiều (nhất là trong giới hàn lâm
nghiên cứu) vì nó thống nhất cho một giống dân trong dân tộc học,
không mang màu sắc chính trị, thích hợp hơn là dùng danh từ về vị trí
địa lý của một tỉnh. Người Hoklo không
những cư trú ở Phúc Kiến mà còn có mặt ở nhiều nơi như Hải Nam, Đài
Loan và ở nhiều nước khác trong khu vực Đông Nam Á do truyền thống đi
biển của họ. Ở Đài Loan, hiện nay 70% dân số là người Hoklo.
Ngôn ngữ người Hoklo có nguồn gốc cổ xưa ở Nam Trung Quốc.
Theo nhà ngôn ngữ học Norman (5) và Mei Tsu Lin (6) thì tiếng Hoklo (Mân), Hakka
và Quảng Đông có cùng nguồn gốc. Chúng xuất phát từ các bộ tộc
Bách Việt, phi Hán, sống ở phía Nam sông Dương Tử. Những ngôn ngữ này
có các thành phần gốc Thái cổ,
Austronesian và Austroasiatic ở tầng
ngôn ngữ dưới, và pha trộn với tiếng Hán ở tầng trên. Thành phần Austronesian và Thai (Austro-Thai) có trội hơn thành phần Austroasiatics, nhưng cả ba đều hiện diện
trong các ngôn ngữ này. Họ ngôn ngữ Austroasiatics,
như ta biết, gồm có các ngôn ngữ Mon-Khmer. Việt, Munda. Điều này cho thấy
là các tộc người nói tiếng Austroasiatics đã
có mặt tại Nam Trung Quốc từ lâu đời, trước thời kỳ nhà Tần-Hán
(xem #6). Hiện nay trong ngôn ngữ Mân Nam (Hoklo),
ta vẫn còn tìm thấy có các sự liên hệ với ngôn ngữ Việt thuộc họ Autroasiatics qua các từ (xem #6). Một vài
thí dụ về các từ Hoklo với các từ trong tiếng Việt, như :
và một sớ từ có nguồn gốc Austroasiatics
– Austronesian (theo thuyết Austric), như :
Ngoài ra, theo tôi, một số các từ Hoklo sau
đây cũng có gốc chung (cognates) với các từ Việt :
Ngoài sự liên hệ về ngôn ngữ giữa người
Hoklo (Mân Việt) và người Việt, trong lịch
sử, ta cũng được biết là tổ tiên nhà Trần, một triều đại rực rỡ
văn hóa Việt ở Việt Nam, vào thế kỷ thế 13, đã đi từ Phúc Kiến
(Mân) theo đường biển đến định cư ở Việt Nam trước đó. Họ sống
về nghề đánh cá dọc theo bờ biển Nam Trung Quốc. Người Hoklo ở Đài Loan, sau bao thế kỷ chung sống
và hợp chủng với nhiều bộ tộc bản xứ ở vùng thấp và đồng bằng
đã dẫn đến sự biến mất của một số bộ tộc. Qua quá trình giao lưu
này, một số ngôn ngữ Austronesian đã
được thu nhận, và ngôn ngữ Hoklo ở
Đài Loan có nét địa phương khác với ngôn ngữ Hoklo ở tỉnh Phúc Kiến trong lục địa.
Ngôn ngữ Hoklo ở Đài Loan nay được
gọi là Đài ngữ.
Người khách
trú (Hakka)
Danh từ “Hakka”
chữ Hán có nghĩa là “khách trú”, do người Quảng Đông dùng để chỉ
những người di dân xuống địa phận vùng Bắc Quảng Đông và Nam Phúc Kiến
hiện nay. Thật sự người Hakka đã có
mặt từ ngàn năm trước ở vùng Nam sông Dương Tử, chủ yếu ở khu vực
Nam tỉnh Giang Tây, giáp giới với Phúc Kiến. Vì hoàn cảnh địa lý và lịch
sử họ đã di dân xuống Quảng Đông. Hiện nay chúng ta không rõ lịch sử
và khi nào từ này đã được dùng, chỉ biết là người Quảng Đông đã
đối xử phân biệt với họ, cho họ là dân phi Hán, thuộc một loại dân
tộc man di, như các tộc Thái, Choang (Zhuang)
hay Mèo (Miao), ở miền núi hoang dã di
dân vào ở các khu vực Hán. Thật sự thì cả người Quảng Đông cũng không
phải nòi Hán, nhưng vì bị Hán hóa quá lâu nên cộng đồng của họ đã
không còn giữ được trong ký ức trước kia họ thuộc chủng phi Hán.
Vì bị coi như người ngoài đến lấn chiếm,
và bị đối xử phân biệt nên một số người Hakka đã cũng tự cho họ là người Hán từ
Bắc Trung Quốc xuống. Quyển sách cổ điển nói về nguồn gốc của người
Hakka là của giáo sư Lo Hiong Lim, xuất bản năm 1933 (An introduction to the study of the Hakka : its ethnic,
historical and cultural aspects). Ông chủ yếu dựa vào gia phả cho rằng người
Hakka là từ Bắc Trung Quốc đã di dân
xuống phương Nam qua nhiều đợt vì quê hương của họ đã bị các rợ phương
Bắc xâm lăng.
Ngày nay, nhiều công trình nghiên cứu khảo cổ,
ngôn ngữ học và di truyền học đã cho thấy là thuyết của ông Lo không
đúng. Ngay cả tư liệu gia phả cũng không chính xác và có nhiều sai lầm.
Nhà ngôn ngữ học J. Norman cho rằng tiếng Hakka, Mân (Min) và Quảng Đông,
“Việt” (Yueh) có cùng một nguồn gốc trong lịch sử, đã hiện diện
ở Nam Trung Quốc từ trước thời Hán, mà ông gọi chung là tiếng Cổ Nam
Trung Quốc (Old Southern Chinese) (xem #5).
Nhà ngôn ngữ học Laurent Sagart, trong một
nghiên cứu mới đây (2002) về nguồn gốc tiếng Hakka, đã cho thấy là ngôn ngữ này có nguồn
gốc ở phía Nam Trung Quốc, với lớp tầng cổ nhất thuộc họ ngôn ngữ
Mèo-Dao (Miao-Yao), hay còn gọi là Hmong-Mien (xem #4). Ngôn ngữ Hakka cũng rất gần với ngôn ngữ của người
Gan (Cám) cư ngụ dọc lưu vực sông Cẩm
Giang. Hiện nay, ở vài khu vực các tỉnh Giang Tây (Jianxi), Triết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông,
người She (Hẹ), thuộc họ ngôn ngữ
Hmong-Miên vẫn còn hiện diện. Ông Sagart cho rằng chính họ là tổ tiên của
người Hakka và Gan, sau này bị Hán hóa dần từ thời Tống. Trước đây,
nhà ngôn ngữ học Haudricourt cũng đã cho rằng tiếng Quảng Đông và Hakka có nguồn gốc từ tiếng Thái và
Mèo-Dao, sau khi trải qua các quá trình Hán hóa lâu dài trong lịch sử (7).
Giáo sư Fong Hok-Ka, trong sách nghiên cứu về
người Hakka xuất bản tại Trung Quốc
năm 1994 (Investigating in depth about the origin
of Hakka), đã dùng những tài liệu lịch sử và khảo cổ tìm được
ở các vùng của người Hakka trước đây cư ngụ. Ông cho thấy đã có một
nền văn minh rất cao hiện diện rất lâu trước khi nhà Tần đánh chiếm
các dân tộc phương Nam. Từ đó (221 tr. TL.) bắt đầu có quá trình Hán
hóa cho đến giai đoạn sau thời Nam-Bắc Triều (589 TL.), khi nhóm Tiền-Hakka (Proto-Hakka) bắt đầu được
thành lập và phát triển.
Nói chung, các công trình nghiên cứu của các
ông Norman, Sagart và Fong là có cơ sở hơn hết về nguồn gốc con người và
ngôn ngữ Hakka. Sau người Hoklo, người Hakka bắt đầu di dân đến đảo Đài Loan
vào khoảng thế kỷ 18, nhiều nhất là dưới triều đại nhà Thanh. Hiện
nay, dân số người Hakka có khoảng 3
triệu, tức khoảng 15% dân số Đài Loan, đứng hàng thứ hai sau dân Hoklo.
Vài nét về
lịch sử hiện đại của Đài Loan
Đài Loan đã có người thổ dân Austronesian sinh sống từ lâu đời. Tài liệu
xưa nhất ở Trung Quốc đề cập đến Đài Loan là vào năm 230 TL., nói về
một số người chạy loạn từ bờ biển Phúc Kiến, Quảng Đông đến cư
ngụ tại đảo. Một tài liệu địa lý khác ở thế kỷ thứ 3 có nói về
các bộ tộc sống trên đảo (7). Họ có phong tục và cách sống rất khác
nhau, chứ không phải thuần nhất.
Từ cuối thế kỷ 16 đến năm 1624, chỉ có
một số rất ít người từ lục địa sang sinh sống dọc theo bờ biển phía
Bắc. Họ sống ngoài vòng kiểm soát của triều đình Trung Quốc. Trong đó
không ít là cướp biển. Thỉnh thoảng có một số người bị đắm tàu
trôi dạt vào đảo. Họa hoằn lắm mới có các thương thuyền của người
Bồ Đào Nha, Hòa Lan và các nước tạt qua trên đường hàng hải buôn bán
với Nhật và Trung Quốc. Người Bồ Đào Nha gọi đảo này là Formosa (“hòn đảo đẹp”). Thổ dân Austronesian trên đảo cũng có tiếng là
hung dữ, nhất là ở phía sâu trong đảo. Thêm nữa, vì không có cảng hay
thành phố mà chỉ có các làng mạc thưa thớt dọc biển, nên không ai để
ý đến.
Với sự cạnh tranh ngày càng gia tăng của các
nước Tây phương trong thị trường thương mại hàng hải với Nhật và
Trung Quốc, người Hòa Lan đầu tiên chiếm các đảo nhỏ ở eo biển Đài
Loan, như quần đảo Pescadores, và bắt
đầu từ năm 1624 đến lập các cơ sở ở bờ biển phía Tây Đài Loan. Người
Tây Ban Nha cũng đến phía Bắc đảo để chiếm đóng và lập các căn cứ
làm thuộc địa từ năm 1626. Người thổ dân bị lấn chiếm và không chống
trả nổi. Chiến tranh giữa Hòa Lan và Tây Ban Nha diễn ra liên tục trên đảo.
Trong thời gian này, người Hoa từ lục địa cũng bắt đầu di dân sang ở
một vài nơi phía Tây và Nam trên đảo.
Biến cố
28/2 – Thảm sát ở Đài Bắc và khắp Đài Loan
Cuối năm 1945, sau khi Nhật đã đầu hàng Đồng
Minh, chính phủ Trung Quốc của Quốc Dân Đảng gởi người và quân đội
đến Đài Loan để giải giới và thiết lập chính quyền mới trên đảo.
Họ đến từ lục địa nhưng nắm hết quyền trong chính phủ, quân đội.
Từ sự các biệt gần 100 năm lịch sử trong thời kỳ lệ thuộc Nhật và
trước đó trong thời nhà Thanh, lối sống xã hội của người Đài Loan bản
xứ đã khác nhiều với tập tục, suy nghĩ và nếp sống của những người
tràn qua từ đất liền. Điều này bắt đầu dẫn đến những bất đồng
và căng thẳng, nhất là sự hối lộ, tham nhũng, vơ vét, áp bức dân địa
phương của chính quyền Quốc Dân Đảng trong các năm đầu khi họ vừa đến
Đài Loan. Người dân bản xứ không quen với tệ nạn tham nhũng, vơ vét
khi còn dưới thời Nhật cai trị, nên rất ta thán. Họ đã biểu tình phản
đối, bắt đầu từ Đài Bắc rồi lan ra khắp Đài Loan. Quốc Dân Đảng
đã phản ứng lại bằng cách “dạy dân địa phương một bài học”, như
một số tướng và nhân vật Quốc Dân Đảng đã tuyên bố. Trong ngày
28/2/1947, quân đội đã nổ súng vào đoàn biểu tình và mở chiến dịch tấn
công càn quét vào dân bản xứ, hậu quả thật khốc liệt, hơn 20.000 người
đã bị thảm sát. Thiết quân luật đã được ban hành và áp dụng trên
toàn lãnh thổ. Biến cố này là một bản lề quan trọng nhất trong lịch
sử cận đại Đài Loan.
Năm 1949, chính phủ Quốc Dân Đảng ở Trung
Quốc, sau khi bị thua trận trong cuộc nội chiến, đã phải chạy ra đảo
Đài Loan. Thiết quân luật được áp dụng chặt chẽ hơn, viện cớ tình
trạng chiến tranh với đảng Cộng sản ở lục địa. Thiết quân luật chỉ
chấm dứt sau này, vào năm 1987. Biến cố ngày 28/2/1947 có ảnh hưởng sâu
rộng và hằn sâu trong tiềm thức của dân Đài Loan. Mặc dầu nó đã bị
các chính phủ Quốc Dân Đảng che nay và cấm đề cập đến từ lúc đó
cho đến cuối thập niên 1980, nhiều trí thức bản xứ và ngay cả một số
trong Quốc Dân Đảng ly khai đã đặt lại vấn đề và từ đó thành lập
đảng Dân Chủ Tiến Bộ đối lập cới chính quyền.
Năm 1972, Đài Loan đã lỡ một cơ hội để
trở thành một nước độc lập gia nhập vào Liên Hiệp Quốc. Trong thời
điểm này, Mỹ đang hòa hoãn với Trung Quốc lục địa (Cộng hòa Nhân
dân Trung quốc). Liên Hiệp Quốc cũng vừa công nhận chính phủ Cộng hòa
Nhân dân Trung quốc (PRC) là đại diện cho Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc,
thay thế chính phủ Cộng hòa Trung quốc (ROC) của Quốc Dân Đảng ở Đài
Loan. Đài Loan lúc đó có thể từ bỏ chính sách là mình có chủ quyền
ở lục địa và là thực thể đại diện cho tất cả mọi người dân
Trung Hoa. Thay vào đó, Đài Loan nên tuyên bố độc lập xin vào Liên Hiệp
Quốc với tư cách một nước mới. Đây cũng là hành động mà Mỹ khuyên
Đài Loan nên theo trong cơ hội này, lúc Mỹ thương lượng với Trung Quốc,
nhưng cính phủ Đài Loan đã từ chối và tiếp tục theo đuổi đòi chủ
quyền cho cả Trung Quốc lục địa. Đây là một sai lầm chiến lược lớn
mà sau này Đài Loan hối hận. Nhiều người đã đặt lại vấn đề là tại
sao lại không có hai hoặc ba nước nói tiếng Trung Hoa trong Liên Hiệp Quốc,
cũng như Liên Sô trước đây đã có Ukraine và Bielorussia hiện diện trong tổ
chức này. Chính sách sau này của chính phủ Quốc Dân Đảng Đài Loan là cố
gắng thiết lập được quan hệ ngoại giao với mọi nước (đa số là
các nước nhỏ ở Trung Mỹ và Thái Bình Dương) và xin được vào các tổ
chức quốc tế, như Y Tế Thế Giới (WHO), Phát Triển Văn Hóa (UNESCO), Thương
Mại (WTO).
Từ lúc đảng Dân Chủ Tiến Bộ (DPP) đối
lập được thành lập, đấu tranh về đường lối giữa Quốc Dân Đảng
và đảng Dân Chủ diễn ra rất gay gắt trong suốt thập niên 1980. Đến cuối
thập niên 1990 thì người địa phương Đài Loan đã thực sự thắng lợi,
với bản sắc Đài Loan được đặt làm nền tảng cho mọi chính sách đối
ngoại và đối nội. Ngay cả Quốc Dân Đảng đã chọn người địa
phương Đài Loan, ông Lý Đăng Huy, là vị tổng thống với chính sách mới
ở giai đoạn cuối cùng trước khi đảng Dân Chủ lên nắm quyền năm
2000, mở đầu cho một kỷ nguyên và một thế kỷ mới.
Sự hình
thành và phát huy văn hóa truyền thống bản địa của các dân tộc ở Đài
Loan
Tôi đến Đài Trung (dọc bờ biển hướng Tây,
cách Đài Bắc 150km phía Nam) vào tháng 6 năm 2000, một tháng sau khi ông Trần
Thủy Biển nhậm chức Tổng Thống. Trung Quốc vẫn còn dàn hỏa tiển hướng
về Đài Loan ngăn cách qua một eo biển nhỏ hẹp. Dân chúng tuy vậy rất
bình tỉnh, tự tinh và không còn sợ hải như trước đây. Mặc dầu thị
trường chứng khoán chưa hồi phục ở mức bình thường như trước lúc
khủng hoảng, hoạt động kinh tế đã trở lại như trước, các trung tâm
thương mại rất náo nhiệt, trừ các trung tâm của các công ty Nhật có rất
nhiều ở Đài Loan vẫn vắng khách như xưa vì giá rất cao. Thành phố Đài
Trung là thành phố lớn mà dân Hoklo hầu
như chiếm gần hết, với một số ít còn lại là người các dân tộc thổ
dân Austronesian.
Thành phần dân ở Đài Loan gồm khoảng 15%
là người Hakka (khách trú), 70% là người
Phúc Kiến, 2% là người bản xứ thổ dân, 13% là người từ các vùng ở
lục địa mới đến sau này. Mặc dầu không phải là đa số, nhưng những
người mới đến từ lục địa đã chiếm lĩnh các vị trí quan trọng
trong chính phủ, quân đội. Các hoạt động kinh tế phần lớn nằm trong
tay họ , trong số đó có một số công ty có sự liên hệ rất mật thiết
ới Quốc Dân Đảng. Ngay Quốc Dân Đảng cũng có những công ty riêng rất
lớn với nguồn tài chánh và lợi nhuận khổng lồ. Tình trạng trên kéo
dài trong hơn 40 năm, cho đến năm 1988, đảng Dân Chủ Tiến Bộ đối lập
được thành lập. Đảng Dân Chủ Tiến Bộ đòi hỏi có sự công bằng
và đấu tranh giành lại quyền chính trị với khuynh hướng độc lập, từ
bỏ là đại diện Trung Quốc để lấy lại Hoa Lục của chính thể Đài
Loan từ khi Quốc Dân Đảng thua chạy qua tá túc ở Đài Loan. Mặc dầu có
nhiều khó khăn và trở ngại do chính phủ Quốc Dân Đảng tạo ra, dần dần
tiếng nói của dân bản xứ đã được thể hiện. Trong những năm cuối
thập niên 1980s và đầu 1990s, sự đối lập của đảng Dân Chủ Tiến Bộ
và Quốc Dân Đảng chủ yếu là về khuynh hướng và chính sách, không những
gay gắt trên chính trường (nhiều khi đưa đến xô xát bạo động trong quốc
hội, các nơi diễn thuyết công cộng giữa hai phe mà chúng ta thường thấy
trên truyền hình) mà còn được thể hiện ở dân chúng tùy theo dân thuộc
thành phần nào, bản xứ hay không bản xứ.
Năm 1996, ông Trần Thủy Biển được bầu làm
Thị trưởng thành phố Đài Bắc. Trong thời gian làm Thị trưởng, ông đã
đổi tên đại lộ trước dinh tổng thống từ “Đại lộ Tưởng Giới
Thạch muôn năm” thành “Đường Ketagalan”. Ketagalan là tên một bộ lạc
thổ dân Austronesian cư ngụ vùng xung
quanh Đài Bắc đã bị tuyệt chủng từ lâu sau khi họ đã bị đồng hóa
vào xã hội Đài Loan. Mặc dầu không phải là người gốc thổ dân, nhưng
ông Trần Thủy Biển đã tích cực ủng hộ và phát triển quyền lợi và
văn hóa thổ dân khắp Đài Bắc. Quan trọng hơn, ông đã lập ra một viện
bảo tàng giữa một công viên lớn trong trung tâm thành phố để tưởng niệm
biến cố ngày 28/2/1947. Công viên được đổi tên thành “Công viên Hòa
bình 282”. Tôi có ghé thăm công viên và viện bảo tàng trong dịp viếng
Đài Bắc vào năm 2000. Thật là cảm động khi thấy những hình ảnh, thơ
từ, áo của các nạn nhân mang những lổ đạn, sách, báo chí, chứng từ,
nói lên sự bất nhẫn qua hình ảnh của quân đội Tưởng Giới Thạch bắn
giết hơn 20.000 người... ... Viện bảo tàng mang một biểu tượng với dòng
chữ lớn “confused identity leads to tragedy
– Taiwan has to know its past tragic event in 28/2/1847” (bản sắc bị map mờ
dẫn đến thảm kịch – Đài Loan phải biết biến cố thê thảm đã xảy
ra vào ngày 28/2/1947). Dĩ nhiên viện bảo tàng đã bị chính phủ Quốc Dân
Đảng lúc bấy giờ chống đối và lên án. Nhưng cũng từ lúc ấy, đa số
người Đài Loan gốc bản xứ (Hakka và Hoklo) đã bắt đầu ý thức được quyền
độc lập và tự hào về sự khác biệt văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ của
họ đối với văn hóa quan thoại của Quốc Dân Đảng và của Trung Quốc
lục địa.
Ngay cả trong Quốc Dân Đảng, nhiều người
(nhất là cá đảng viên gốc người bản xứ) đã đòi hỏi phải có cải
tổ, thay đổi chính sách để thể hiện nguyện vọng của dân một cách
thực tế và áp dụng được trong tình hình mới. Nó phải thích hợp với
khuynh hướng và trào lưu dân chủ mà quần chúng đòi hỏi. Lý Đăng Huy, vị
Tổng thống Quốc Dân Đảng cuối cùng trước khi Trần Thủy Biển lên
thay, là người bản xứ, đã có những chính sách cởi mở. Chính ông cũng
có những hoài bão độc lập như đảng Dân Chủ Tiến Bộ. Điều này đã
làm cho chính quyền Trung Quốc rất tức giận và hằn học, gây nhiều khó
khăn cho ông Lý Đăng Huy, ngay cả khi ông không còn trong chính trường và
là một công dâ bình thường như hiện nay. Thí dụ như khi ông dự định
đi viếng các nước như Anh, Mỹ, và gần đây là Nhật, với tư cách cá
nhân riêng tư, chính quyền Trung Quốc cũng đã gây sức đến các nước sở
tại để không cho ông thị thực nhập cảnh (visa). Ai nói là thù sẽ phai
nhạt theo thời gian ?
Để có thể phân biệt và tạo ra được sự
khác nhau về xã hội, văn hóa giữa Đài Loan và Trung Quốc, Đài Loan từ
Lý Đăng Huy đến Trần Thủy Biển đã khuyến khích phát triển và quảng
bá rộng rãi văn hóa của những dân tộc thổ dân trong văn hóa Đài Loan.
Ý thức về sự quan trọng của nền văn hóa thổ dân có nguồn gốc Mã
Lai (Malayo-Indonesian) vào sự đóng góp
chung với các văn hóa Hakka và Phúc Kiến để tạo nên một nền văn hóa
khác biệt với văn hóa Hán Trung Hoa. Điều này đã được chấp nhận là
yếu tố quan trọng bậc nhất đặt nền tảng cho sự thành hình một căn
cước (identity) mới cho Đài Loan. Thêm nữa, mặc dầu Đài Loan đã có thời
gian ngắn chỉ khoảng hơn 80 năm là một phần của Nhật Bản, trong thời
kỳ Nhật cai trị, nhưng ảnh hưởng văn hóa Nhật đã thể hiện một phần
trong văn hóa và con người Đài Loan. Đài Loan và Nhật Bản hiện nay có
quan hệ kinh tế và văn hóa khá sâu rộng.
Đặc tính riêng biệt là điều kiện tiên
quyết cho sự khởi đầu thành lập quốc gia của một quần thể có văn hóa
riêng. Quá trình văn hóa, tư tưởng như nói trên xảy ra ở Đài Loan trong
việc tạo thành một nước có bản sắc riêng cũng mang máng tựa như quá
trình mà người Việt đã trải qua trong thời kỳ Bắc thuộc. Trong quá
trình này, nguy cơ văn hóa bản xứ có thể bị Hán hóa và tiêu diệt, trước
khi có sự độc lập trong thế kỷ thứ 10 là rất cao, nếu không nhờ có
văn hóa làng xã thuần Việt ở nông thôn được giữ vững.
Sau bao nhiêu năm dưới các chính phủ Quốc
Dân Đảng, ngôn ngữ Hakka, Hoklo và các
thổ ngữ bị cấm dùng trong nền giáo dục và các công sở, thay thế bởi
ngôn ngữ chính thức Quan Thoại (Mandarin).
Trước đây, một số trí thức Hakka và
Hoklo đã cố gắng giữ gìn tiếng nói của
họ bằng nhiều phương cách. Một trong những phương cách là sáng tạo ra
chữ viết mới dùng chữ Hán tạo ra loại chữ gọi là Koa-a-chheh vào thế kỷ 17 dưới thời kỳ
thuộc nhà Thanh. Cấu tạo loại chữ này cũng tương tự một phần như chữ
Nôm (Việt Nam), hoặc dùng âm chữ Hán để chỉ chữ địa phương, hoặc dùng
nghĩa chữ Hán cho âm địa phương. Tuy nhiên các tiêu chuẩn chưa được thống
nhất và có sự tùy tiện của người viết. Đến cuối thế kỷ 19, loại
chữ viết này biến mất dần. Đầu thế kỷ 20, chữ cái Latin cũng được
dùng để thể hiện tiếng nói địa phương (tương tự như chữ Quốc ngữ
sau này ở Việt Nam). Nhưng hệ thống chữ này, gọi là Peh-oe-ji, đã không thành công, một phần
là do chính sách của Quốc Dân Đảng. Chính sách của Quốc Dân Đảng là
phát triển chính thức chữ Hán Quan Thoại để nó trở thành phổ thông
trong đời sống xã hội, chính trị. Chữ mới này có thể gây nguy cơ giúp
văn hóa địa phương phổ biến đe dọa sự độc tôn của Hán văn cổ điển
mà Quốc Dân Đảng xây dựng từ khi đến Đài Loan (8), vì thề chính quyền
Quốc Dân Đảng đã ngăn cấm loại chữ này.
Vì chính sách ngôn ngữ và văn hóa độc tôn,
trọng Hán của chính phủ Quốc Dân Đảng trước đây, rất nhiều thanh
niên thuộc các thế hệ mới gần đây đã quên đi tiếng mẹ đẻ của họ.
Chính sách này được thể hiện qua việc cấm dùng tiếng địa phương trên
truyền thanh và truyền hình. Không những thế, trường học nào 9ể học
sinh nói tiếng địa phương, không phải tiếng Quan Thoại, bị phạt tiền.
Ông Trần Thủy Biển hiện nay (và trước đó
ông Lý Đăng Huy), đã có chính sách cho phép các ngôn ngữ địa phương
được dùng và dạy trong môi trường đa văn hóa ở xã hội Đài Loan. Bảo
tồn và phát triển các loại văn hóa bản xứ đều được khuyến khích.
Ở Đài Bắc, Cao Hùng và nhiều nơi khác, các trung tâm văn hóa Hakka, Hoklo, thổ dân đã được thành lập.
Tháng 4/2001, ông Trần Thủy Biển cũng đã chính thức khánh thành viện bảo
tàng văn hóa và lịch sử Hakka lớn nhất
Đài Loan ở thành phố Meinung, thuộc quận
Cao Hùng. Trong nội các chính phủ, ông thành lập Ủy ban Văn hóa Hakka, với hy vọng sẽ biến Đài Loan
thành trung tâm nghiên cứu về văn hóa Hakka
cao cấp nhất thế giới.
Từ giữa thập niên 1980s cho đến nay, song
song với sự thành lập phong trào dân chủ và đảng đối lập Dân Chủ Tiến
Bộ, có phong trào Taibun (Đài văn) phổ
biến văn học bản xứ Taigi (Đài ngữ).
Mục đích của pong trào Đài văn là phổ biến văn học Đài Loan, dùng
ngôn ngữ và chữ viết địa phương trong các địa hạt giáo dục, xã hội,
để chống lại quan điểm là chỉ có văn học Hán văn viết về Trung Quốc
là có văn hóa cao được quý trọng. Còn văn học viết về Đài Loan chỉ
là văn hóa “xóm làng” ở địa hạt nhỏ bé trong văn học rộng lớn
Trung Quốc. Quan điểm coi nhẹ, đánh giá thấp văn hóa địa phương từ
trước đến nay của chính quyền Quốc Dân Đảng và của đa số các nhà
trí thức Hán học quan thoại cổ điển từ lục địa đi qua, đè nặng
vào lối suy nghĩ tâm linh của họ, đã bị chỉ trích.
Phong trào Đài văn, ngược lại, lấy văn học,
những gì liên quan hay viết đến Đài Loan bản xứ làm sự hãnh diện, chứ
không phải là một sự hổ thẹn “xóm làng”.Phong trào Đài văn một phần
đã thành công trong sự gợi dậy niềm tin và phát triển văn hóa, cũng
như ngôn ngữ Đài Loan bản địa (Hoklo).
Nhưng sự thống nhất và tiêu chuẩn hóa chữ viết chưa thực hiện được.
Lý do chính là vì có nhiều hệ thống chữ dùng các từ Hán để phát âm
(tương tự như chữ Koa-a-chheh trước đây) được sáng chế khác nhau. Ngay
cả khi một trong các loại chữ này, như chữ Ganbun chẳng hạn, được nhiều người dùng
hơn, thì vấn đề kỷ thuật trên máy tính và phần mềm xử lý để tạo
ra chữ Ganbun đã gặp khó khăn. Vì hiện
nay chỉ có chữ Hán là có sẵn và phổ thông trên thị trường máy tính
mà thôi. Do đó hiện nay chỉ có chữ Hán Đài ngữ và Latin Đài ngữ (Peh-oe-ji) là được dùng nhiều nhất trong
phong trào Đài văn.
Nói tóm lại, có thể cho rằng tình trạng
các dân tộc Hakka, Hoklo (Mân Việt) ở
Đài Loan ngày nay cũng giống như tình trạng ở Giao Châu trước khi Ngô Quyền
giành được độc lập cho Lạc Việt. Dân tộc Lạc Việt đã cố gắng giữ
gìn văn hóa của mình, trong gần 1.000 năm Hán thuộc, để không bị Hán
hóa. Nhưng tình hình ở thế kỷ 21 khác nhiều về không gian thế giới, do
đó tình trạng của họ có khó khăn nhiều hơn, và có thể không có nhiều
hy vọng trên con đường tiến đến độc lập như ông cha ta thuở trước.
Tuy vậy, không ai có thể đoán trước được những gì sẽ ảy ra trong tương
lai. Đối với Việt Nam, những gì sẽ xảy ra ở Đài Loan đều có ảnh hưởng
ít nhiều về phương diện kinh tế và chính trị. Quan trọng hơn, nó còn
chứa nhiều ý nghĩa đáng cho ta suy nghĩ về chính mình trong lãnh vực tư
tưởng.
_______
1)
Scott S., “Formosa diary #22, May 20 : A
great proletarian cultural revolution”, Southeast Asia Discussion List, 25 May 2000.
2)
Lin M., Chu L., Lee H. et al., “Heterogeneity
of Taiwan’s indegenious population : possible relation to prehistoric Mongoloid
dispersals”. Issue Antigens, 2000:55:1-9.
3)
Lin M., Chu CC., Chang SL., Lee HL., Loo JH., Akasa T., Juji T., Ohashi J.,
Tokunaga K., “The origin of Minnam and Hakka, the
so-called “Taiwanese”, inferred by HLA study”. Issue Antigens, 2000:57:192-199.
4)
Tsai Ting-I, “Tracing Taiwanese bloodlines”,
The Taipei Times, 6 May 2001.
5)
Norman J., “Chinese”. Cambridge language surveys, Cambridge University
Press 1988.
6)
Norman J., Mei Tsu-lin, “The Austroasiatics
in ancient south China : some lexical evidence”. Menumenta Serica, 1976, 32.274-301.
7)
Sagart L., “Gan, Hakka and the formation of
Chinese dialects”, tài liệu qua liên lạc cá nhân (chưa đăng trên tạp
chí).
8)
Wi-vun, Taiffalo Ching, “Language, Literacy
and nationalism : A comparative study of Taiwan and Vietnam”. Vietnam Journal, Vol.
1, Oct. 2001.
In ra @
Modified by Web Giaodiem
CThe best: set screen res. 1024 x 768 | Browser IE v. 5.0 or higher | mail: set Outlook Exp. [copyright:MedSoft]
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net