
(Nguyễn
Hoài Vân là tác giả từng cộng tác với Giao Điểm qua tuyển tập “Đối
thoại với Giáo Hoàng John Paul II” do GĐ xuất bản
SÁNG THẾ KÝ
ĐỌC BỞI MỘT NGƯỜI VIỆT NAM (*)
Nguyễn Hoài Vân
“Khi Thiên Chúa bắt
đầu dựng nên trời và đất (thì) mặt đất hoang vu trống rỗng, và tăm tối phủ trên
vực thẳm; thần khí (hơi thở) Chúa lượn trên mặt nước ”…
Đoạn văn trên mở đầu
Sáng Thế Ký, quyển sách đầu tiên của Thánh Kinh được tôn sùng bởi Do
Thái Giáo, các Giáo Hội Ky Tô và, với vài hạn chế, bởi Hồi Giáo.
Riêng tôi, trong bài viết này, hoàn toàn muốn lùi ra khỏi truyền thống
tôn sùng ấy, và nhìn Sáng Thế Ký đơn thuần như một áng văn kỳ thú,
để cùng bạn đọc thưởng thức nó, bàn bạc về nó, như bất cứ tác
phẩm văn chương giá trị nào của kho tàng văn hóa nhân loại. Các nhân vật
trong áng văn ấy, đầu tiên là Thiên Chúa, cũng sẽ được phân tích như
những nhân vật văn chương, đặc biệt là trên mặt tâm lý. Đọc giả nào
không đồng ý với cách làm việc vừa nói, xin lập tức gạt bỏ bài này
sang một bên, tuyệt đối đừng đọc nó, và đón nhận sự cúi chào cung
kính của người viết.
ÁNH SÁNG
NGUYÊN THUỶ
Trở lại đoạn văn vừa
được trích. Nó nói lên một điều đáng ghi nhận : tác giả Sáng Thế
Ký bắt đầu câu chuyện ở thời điểm « t cộng 1 », tức là đã
có đất, nước, vực thẳm, và … một nhân chứng nào đó, có thể là
chính vị tác giả này (!), để tường thuật “trung trực” lại cho chúng
ta mọi tự sự. Trước khi có đất, nước, vực thẳm, có gì, thì không
thấy Sáng Thế Ký bàn đến. Cũng không thấy bàn vào chi tiết đất, nước
v.v… hiện hữu do đâu, có phải do Chúa dựng nên hay không ? Câu chuyện
chỉ bắt đầu từ lúc “t cộng 1” :
“Chúa nói
: ánh sáng hãy hiện hữu ! Và ánh sáng hiện hữu”. Ánh sáng là “tạo vật”
đầu tiên của Chúa, không kể những thứ đã có sẵn vừa bàn ở trên.
Trong bài này, tôi muốn chia sẻ với bạn đọc những suy nghĩ của tôi như
một người Việt Nam, với tâm lý và kiến thức thông thường của một
người Đông Á và một người Việt Nam, về áng văn Sáng Thế Ký. Bàn về
ánh sáng, người Đông Á và Việt Nam tôi không khỏi liên tưởng đến
ánh sáng được nói đến trong Tử Thư. Người chết trở về với Chân Như,
là làm một cuộc hành trình ngược về nguồn gốc của mình, của mọi
con người, của mọi sinh vật, của mọi sự vật. Phải chăng cuộc hành
trình ấy đưa về “điểm khởi thủy”, cái thời điểm “t cộng 1” vừa
nói ? Và người chết thấy gì ? Tử Thư nói : thấy “ánh sáng”,
ánh sáng nền tảng, màu trắng, của Đại Nhật Như Lai (Vairocana). Vị Phật của Chân Không này là khởi điểm
của tất cả, bản thể của tất cả, từ đó mà thị hiện thành vạn
pháp. Sáng Thế Ký cũng đặt ánh sáng ở điểm khởi thủy của sự tác
thành vạn vật. Trong Tử Thư, nếu người chết thấy “ánh sáng nguyên thủy”
mà nhận ra rằng mình không thực có, mà chỉ là sự thị hiện của ánh
sáng ấy, thì liền hòa nhập với Đức Đại Nhật Như Lai (Chân Không),
và được giải thoát. Trong các kinh nghiệm “gần chết sống lại”
(near death experience), người ta cũng thường ghi nhận việc nhìn thấy một
ánh sáng. Trong truyền thống Ky Tô Giáo, thì người ta nguyện người chết
được đặt trong ánh sáng, như trong đoạn kinh Requiem Aeternam, phỏng theo
Esdras, tôi dịch thoát như sau :
Trong giấc ngủ muôn đời
Xin dang tay đón người
Đặt người trong Ánh Sáng
Nguồn sáng của Bầu Trời
Được chan hòa Ánh
Sáng, người chết trở về điểm khởi thủy, nơi chỉ còn Thiên Chúa, để
qua Ánh Sáng ấy, trực diện với Ngài, và (hy vọng) nhận biết Ngài, để
được giải thoát. Trực diện với Thiên Chúa ! Sự chết quả thực là một
kinh nghiệm lý thú (và có lẽ càng lý thú hơn nữa nếu đó là kinh nghiệm
của … người khác !).
Tôi có từng đọc
Nguyễn Kết trong Thế Kỷ 21 đã nhiều năm trước, cho rằng nếu bạn leo
được lên một hạt quang tử (photon), và di chuyển với tốc độ của
ánh sáng, thì bạn sẽ không còn thấy thời gian trôi nữa, không còn quá
khứ, vị lai, mà chỉ còn hiện tại, giây lát, lúc nào cũng là lúc này. Bạn
sẽ thấy Big Bang và tận thế cùng lúc, Đức Phật đản sanh và nước Pháp
thắng giải túc cầu thế giới 2006 trong một khoảnh khắc duy nhất !
Bạn cũng sẽ được trực diện với Thiên Chúa, ít nhất là ở lúc Ngài
tuyên bố : “Yhi ‘or ! - Ánh Sáng hãy hiện hữu !”.
TIẾNG NÓI
NỘI TÂM VÀ SỰ HÌNH THÀNH Ý THỨC :
Tuy nhiên, điều tôi
thắc mắc là, vào thời điểm ấy, Thiên Chúa tuyên bố với ai ? Suốt
tiến trình tạo thành vạn vật Thiên Chúa luôn nói. Nhưng ai là người
nghe Ngài nói ? Vị Thần, vị Chúa nào khác ? Xin nhấn mạnh là chữ
« Elohim » được dùng để chỉ Thiên Chúa trong đoạn văn này là
một chữ mang số nhiều (có thể dịch là “những Thiên Chúa”) !
Hay Thiên Chúa tự nói
với mình ? Trần Đúc Thảo gọi đó là “tiếng nói bên trong” ,
và coi tiếng nói bên trong ấy chính là nguồn gốc của sự hình thành ý
thức. Phải chăng cùng lúc với việc tác tạo vạn vật, Thiên Chúa cũng xây
dựng ý thức của chính mình, như một đứa trẻ khám phá mọi sự vật
chung quanh, đầu tiên là ánh sáng, và bắt đầu ý thức về chúng ?
Nhà Phật cho rằng : vạn pháp đều từ tâm mà sinh ra, và do ý thức mà
được nhận biết. Làm im được
“tiếng nói bên trong” , đạt đến
chân thường vô niệm, thì vạn pháp diệt, tâm trở thành trong sáng vì
không còn gì trong đó, và trở về trạng thái nguyên thủy, «bản lai chân
diện mục». Trên quan điểm mọi sự (vạn pháp) đều từ Tâm mà sanh ra,
thì trở về với trạng thái nguyên thủy như thế, cũng tương đương với
trở về giây lát trước điểm khởi đầu của Sáng Thế Ký, lúc mà chỉ
có một sự hiện hữu duy nhất, là
Thiên Chúa.
VẠN PHÁP
« RẤT TỐT » !
Cùng với ánh sáng,
Thiên Chúa cũng đã phát minh ra thời gian. Ngài phân chia ánh sáng với tăm
tối và định ra « ngày » và « đêm ». Từ đó, tiến
trình sáng tạo diễn ra « trong » thời gian, với những
« ngày ». Mỗi ngày Thiên Chúa tạo nên một số sự vật, và
tuyên bố : « điều ấy tốt ». Như thế Thiên Chúa cũng đồng
thời tạo ra sự « tốt xấu », cùng với suy luận chủ quan.
Điều cần chú ý
là : tạo vật được Thiên Chúa dựng nên được so sánh với cái gì
để được gọi là « tốt » ? Phải chăng đã có những kinh
nghiệm sáng tạo khác, những thế giới khác đã được tạo nên nhưng
« không được tốt lắm » ? Bạn nên lập tức bỏ bài viết
này xuống, và đi xem ngay bộ phim «Matrix» nếu chưa xem. Trong bộ phim này,
nhân vật Thiên Chúa (Đại Kiến Trúc Sư) cho biết đã sáng chế ra 5 hay 6
thế giới chi đó, nhưng chúng đều không “chạy” tốt. Cái thế giới
mà chúng ta “sống” trong phim có vẻ chạy tốt, cho đến khi có vài trục
trặc như được chứng kiến trên màn ảnh. Thiên Chúa trong Matrix là một
thảo trình điện toán, thế giới cũng như vạn vật được ý thức, cũng
đều là những thảo trình hiện hữu song song với một thực tại hoàn
toàn độc lập …
Đến đoạn này của
Sáng Thế Ký, chúng ta bước vào một thế giới nhị nguyên, với đầy đủ
gia vị của nó : chủ thể, khách thể, thời gian tức quá khứ, vị lai, tốt
xấu, đêm ngày, trên dưới, v.v… và mọi sự vật. Một niệm khởi lên
là vạn pháp tạo thành ! Chi tiết sự hình thành «vạn pháp »
không quan trọng. Đại khái Thiên Chúa dựng nên trời ở giữa nước và
phân ra nước trên và nước dưới, rồi gom nước dưới thành đại
dương với phần còn lại là đất, rồi dựng nên cây cỏ hoa trái, sau đó
gắn những ngọn đèn trên bầu trời (tức mặt trời, mặt trăng và các
vì sao) để phân ngày và đêm (ở đây có sự lập lại và mâu thuẫn với
sự phân định ngày đêm ở đoạn tạo thành ánh sáng), làm mốc thời
gian cho năm tháng, và cả cho ngày lễ. Thiên Chúa, như mọi công nhân
« lao động tốt », đã quan tâm đến
ngày nghỉ lễ ! Sau đó Thiên
Chúa tạo ra những loài vật sống dưới nước, rồi loài chim, rồi mới tới
các loài vật sống trên đất, và cuối cùng là … loài người. Tiến
trình tạo thành vạn vật như thế tùy thuộc ý thức về vũ trụ và sự
vật mà tác giả Sáng Thế Ký gán cho nhân vật Thiên Chúa của mình. Người
ta nghĩ Sáng Thế Ký được viết ra chung quanh giai đoạn người Do Thái bị
lưu đày ở Babylone, 5 tới 6 thế kỷ trước Công nguyên. Ý thức về vạn
vật, về vũ trụ, của thời ấy như thế, chúng ta chấp nhận như thế. Nó
có những điểm không chính xác, như ý thức của chính chúng ta, ngày nay,
về vũ trụ và sự vật, chắc chắn cũng vấp phải nhiều sai lầm thiếu
sót.
CHÚA CÓ BIẾT
MỆT HAY KHÔNG ?
Đọc đến Gen 1:26 (Sáng
Thế Ký chương 1 câu 26) chúng ta chứng kiến sự tạo thành con người. Con
người được tác tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, gồm nam và nữ, với sứ
mạng rõ rệt là ngự trị trên vạn vật. Không thấy nói các loài vật
được dựng nên với giống đực và giống cái. Mặt khác, nếu loài người,
nam và nữ, được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, thì Thiên Chúa
là nam hay nữ ? có lẽ cả hai ? Giả sử Thiên Chúa có vừa nam vừa
nữ thì phải công nhận rằng nữ tính trong Thiên Chúa đã hoàn toàn bị
khoả lấp, đè bẹp trong suốt Thánh Kinh.
Liền sau đó, Thiên
Chúa tính tới một vấn đề quan trọng : Ăn ! Ngài chỉ định cho
mọi loài động vật sống trên đất, các loài chim và con người, được
quyền ăn mọi loài rau quả. Không thấy nói đến thực phẩm của các
loài vật sống dưới nước. Quyền ăn thịt cũng chưa được công bố. Hết
chương một.
Chương 2 của Sáng Thế
Ký nói rằng : đến ngày thứ bảy, mọi sự đã được tạo thành,
Thiên Chúa cho rằng những điều ấy « rất » tốt (những đoạn
trước Ngài chỉ nói « tốt »), và Ngài « ngừng làm việc »
(theo bản TOB : traduction œcuménique de la Bible), hay Ngài « nghỉ ngơi »
(theo nhiều bản khác). Từ đó đưa đến truyền thống nghỉ ngày Chủ Nhật,
hay ngày Shabbat. Sự kiện Thiên Chúa nghỉ ngơi bị các nhà Thần Học Hồi
Giáo chỉ trích : nếu có nghỉ là có mệt, vậy Thiên Chúa cũng biết
mệt ? Biết mệt là sức Ngài có hạn, năng lực cũng như quyền phép
của ngài không phải vô biên, điều mà các vị ấy không thể chấp nhận
được. Bản dịch TOB, một bản dịch dung hoà giữa nhiều Giáo Hội (œcuménique),
tránh chuyện nghỉ mệt, và chỉ nói « ngừng làm việc ». Dù sao
chúng ta đã thấy hé lộ ra nơi đây, một chút yếu ớt của Thiên Chúa
bên cạnh quyền phép của Ngài.
Ngày thứ bảy … Con
số bảy là một con số biểu tượng quan trọng trong văn hoá Ấn Âu, ảnh
hưởng vào văn hoá Sémite có lẽ qua
cuộc lưu đày của dân Do Thái tại Babylone. Âm giai 7 nốt, ánh sáng 7 màu, 7 « luân xa » của Yoga, sau khi
chào đời Đức Phật đi 7 bước, Hoàng
Hậu Maya chết 7 ngày sau khi hạ sanh Đúc Phật, Phật tu khổ hạnh 7 năm, 7
tầng Trời, 7 tầng Địa Ngục (Hồi Giáo), Nữ thần Sarasvati (Ấn Giáo)
có cây đàn 7 giây, Nữ Thần Ishtar (Babylone) được bao quanh bởi 7 trinh nữ,
Đức Giê Su đứng hàng thứ 77 trong gia phả của Ngài tính từ Adam (Luca
3 :23-38), và một Giê Su khác đứng hàng thứ 49, 7 lần 7, trong cùng gia
phả, khi Giê Su hài nhi được đưa vào Đền Thờ, bà Anna nhận biết
Ngài, bà này 84 tuổi, sống với chồng 7 năm rồi đi tu, cuộc đời bà đến
84 tuổi thì coi như sống độc thân … 77 năm ! Cũng phải kể Bạch
Tuyết và bảy chú lùn, đôi hia 7 dặm và 7 anh em của thằng bé tí hon, thậm
chí người Thượng Koho ở vùng Lâm Đồng hàng năm mừng lễ Lir Bong (1 tháng
sau Tết), nhưng 7 năm một lần thì làm 1 ngày Đại Lễ, chứng tỏ liên hệ
của họ với dòng văn hoá Ấn Âu …
YAHWEH VÀ
ELOHIM
Đọc xuống vài chữ
đến Gen 2 : 5 thì chúng ta lại được chứng kiến một tiến trình tạo dựng
khác, lần này với nhân vật Thiên Chúa được gọi là Yahweh thay vì
Elohim, có lẽ do một tác giả khác viết ra, theo một truyền thống (truyền khẩu) khác. Ở đây, đoạn
Yavist, tiến trình tạo dựng không đi
vào những chi tiết như ở đoạn « Elohist », mà chỉ chú trọng
vào việc dựng nên con người, trong một « Vườn Địa Đàng »
Eden (chữ này có nghĩa là « lạc thú »). Trong Eden, Ngài trồng
« cây trường sinh » (arbre de vie) và « cây phân biệt tốt xấu ».
Chúa Yahweh cũng lấy đất nặn thành con người
và thổi vào trong lỗ mũi của người « hơi thở sống »,
sinh khí. Con người tiếng Do Thái là « adam », và tiếng chỉ đất
là « adama ». Ở đây, ngôn ngữ semite của vùng Trung Đông có sự
trùng hợp với ngôn ngữ Ấn Âu. Chữ « con người » trong ngôn ngữ
Ấn Âu (homme, humain, hay homo) đến từ căn Ghyom. Căn ấy cũng cho ra chữ chỉ
« đất » : « humus ». Homo và humus, « người »
và « đất » đến từ cùng một gốc theo ngữ học Ấn Âu !
Ở đoạn Sáng Thế
Ký này, Chúa Yahweh không cho con người ngự trị trên toàn thể tạo vật,
như Chúa Elohim đã phán, mà chỉ định cho hắn một môi trường hạn chế :
Eden. Trong môi trường hạn chế ấy, con người không phải muốn làm gì cũng
được : hắn bị cấm không cho ăn trái của « cây phân biệt tốt
xấu ». « Ngày mà » hắn cãi lệnh, ăn trái cấm, thì
« sẽ bị chết » (Gen 2 :17). Chúa Yahweh đã dựng nên sự cấm
đoán, và liền theo đó, dự phóng sự chết. Sự cấm đoán nguyên thủy
này có hợp lý hay không ? Tại sao con người lại không được biết đến việc phân biệt
tốt xấu ? Ở vào thời điểm ấy, khi mà sự chết chưa thực sự hiện
hữu, Chúa và con người quan niệm sự chết như thế nào ?
TỪ NGUYÊN
THUỶ LÀ CÔ ĐƠN
Yahweh cho rằng con người
sống một mình không tốt, và muốn tạo cho con người một phụ tá (aide).
Chúng ta nhớ lại : Thiên Chúa lúc trước cũng sống một mình, và như thế
hẳn là cũng « không tốt » ? Phải chăng sự tạo thành vũ trụ
vạn vật là để điều chỉnh cái « không tốt » ấy, bằng cách
tạo nên cho Thiên Chúa những người phụ tá, những kẻ thờ kính, hay những
người bạn, người con v.v… ? Trong đoạn Elohist chúng ta đã bàn tới
ý thức chủ quan của Thiên Chúa về cái tốt, khi Ngài tuyên bố : điều
này điều nọ Ngài dựng nên là « tốt », và tất cả tạo vật
« rất tốt ». Ý thức chủ quan ấy kêu gọi, gợi lên một cái
gì trước mặt, cụ thể là một ý thức khác, có khả năng nhận biết,
phản ảnh, làm dội lại những ý niệm khởi sinh trong tâm thức Thiên
Chúa, để những ý niệm của Thiên Chúa không bị biến mất vào hư không.
Vì tập hợp những ý niệm của Thiên Chúa chính là Thiên Chúa, nên nếu
không muốn chính mình bị biến vào hư không, Thiên Chúa cần một đồi
tượng. Từ nguyên thủy là cô đơn vậy …
Tại sao cần tạo cho
con người một đối tượng ? Hắn đã có đối tượng là Thiên Chúa
rồi cơ mà ? Phải chăng Thiên Chúa, vì vốn vẫn sống một mình, nên
không biết cư xử với đối tượng của mình như thế nào, và vì thế cần
tạo ra một đối tượng cho con người được dựng nên theo hình ảnh của
mình (hay mang hơi thở - tâm hồn - của mình), để xem con người xoay sở
ra sao ? Thiên Chúa cần biết chính mình qua con người được dựng nên
giống mình, và một trong những điều Ngài cần biết là cái tương quan
« ta người » nó như thế nào ? Điều buồn cười là Chúa
Yahweh đã lấy đất nặn thành các loài vật, muông thú, chim chóc … để
đề nghị cho con người lấy chúng làm « phụ tá », nhưng con người
chỉ đặt tên cho chúng, như một dấu hiệu uy quyền trên chúng, nhưng có
vẻ không tìm thấy kẻ « phụ tá » mà mình mong ước trong đám
heo bò trâu chó thằn lằn ễnh ương kia. Rốt cuộc Yahweh mới tạo nên …
đàn bà !
Người phụ nữ được
tạo thành từ xương sườn của người nam, cùng một thân xác, một xương
thịt, đưa đến một liên hệ mà
Sáng Thế Ký coi như khắng khít hơn cả liên hệ của người nam với cha mẹ
mình (Gen 2:24). Trong phim Matrix, có một nhân vật (thảo trình) phụ nữ
gọi là Oracle, có thể tương ứng với người phụ nữ đầu tiên. Vị Đại
Kiến Trúc Sư (Thiên Chúa) tiết lộ rằng bà này được dựng nên để
đem lại cho nhân loại một yếu tố không hoàn hảo. Nếu không có yếu tố
không hoàn hảo ấy, thế giới (Matrix) sẽ không chạy tốt, do kinh nghiệm
từ các lần tạo thiên lập địa trước. Phim Matrix đầy những biểu tượng
như vậy : nhân vật Néo, có nghĩa là (người) mới, tên thật là
Anderson, nghĩa là « Con Người » (Fils de l’Homme – tiềng thường
dùng để chỉ Đức Ky Tô – « Ander » đến từ
« Andros » là người, và « son » là con), người tình của
cậu ta là Trinity (Ba Ngôi), người khai ngộ cho cu cậu là Morpheus (thần của
mộng mơ), v.v…
TRÁI CẤM
VÀ TINH DỤC
« Yếu tố
không hoàn hảo », theo quan điểm của tác giả Sáng Thế Ký, bắt đầu
hoạt động từ Gen 3 :1. Người ta khám phá ra Con Rắn, con vật khôn
lanh nhất trong các loài vật. « Yếu tố không hoàn hảo », tức
người đàn bà, nói với Rắn rằng : Thiên Chúa không cho ăn trái
cây ở giữa vườn, nếu không nghe theo thì sẽ phải chết. Rắn nói với
người đàn bà : « Không, ông bà sẽ không chết, nhưng Thiên Chúa
biết rằng ngày mà ông bà ăn trái của cây ấy, mắt của ông bà sẽ mở
ra, và ông bà sẽ trở thành giống như những vị Chúa, với sự hiểu biết
về tốt và xấu ». Trong sự suy nghĩ của người đàn bà sau đó, ta
phải đặc biệt ghi nhận ý tưởng rằng : ăn trái cây phân biệt tốt
xấu sẽ giúp bà ta « hành động sáng suốt » (Gen 3 :6), một
mong muốn rất đáng tôn trọng. Thế là bà ta ăn trái cây bị cấm, và
đem cho người đàn ông cùng ăn. Liền sau đó, hai ông bà mở mắt ra, và,
họ thấy gì ? Không thấy gì cao siêu, họ chỉ thấy mình trần truồng !
Họ hổ thẹn, và bắt đầu mặc quần áo.
Sự hổ thẹn vì trần
truồng của người đàn ông và người đàn bà sau khi ăn trái cấm đã khiến
cho người ta gắn liền sự kiện « ăn trái cấm » với tình dục.
Tại sao họ hổ thẹn ? Tại sao chính chúng ta hổ thẹn ? Chúng ta
hổ thẹn vì « dục tính » của
mình, và sợ người khác biết được dục tính ấy, hay vì chính mình cũng
bị người khác ham muốn, là đối tượng của dục tính của người khác ?
Trong đoạn Sáng Thế Ký Yahvist, không thấy nói người đàn ông và người
đàn bà có sinh hoạt tình dục trước khi ăn trái cấm. Có lẽ là không.
Trước khi ăn trái cấm họ không biết mình trần truồng và không biết hổ
thẹn (Gen 2 :25), có thể hiểu là cũng không có dục tính và không biết
giao hợp. Tuy nhiên, cần nhớ lại rằng ở đoạn Elohist, Thiên Chúa đã ra
lệnh cho con người, nam và nữ : « hãy sản sinh và nảy nở, hãy tràn ngập và ngự trị trên mặt đất ».
Chúng ta có thể giả
dụ rằng cặp vợ chồng nguyên thủy, trong Sáng Thế Ký Elohist, đã làm những
gì phải làm để thi hành mệnh lệnh này của Thiên Chúa. Ngược lại
trong Sáng Thế Ký Yahvist, họ lại không có quan hệ xác thịt, cho đến khi
ăn trái cấm. Vậy, việc ăn trái cấm phải chăng ngay từ đầu đã nằm
trong chương trình của Chúa Yahweh ? Con rắn phải chăng chính là một
thành phần của tâm thức (có thể là tiềm thức) của Yahweh, và việc con
người ăn trái cấm thể hiện một ý muốn sâu kín của Ngài ? Thật
vậy, bắt buộc phải có việc ăn trái cấm thì người nam va người nữ mới
có sinh hoạt tình dục, và mới thực hiện được chương trình sinh sôi nảy
nở của những hình ảnh của Ngài, đã được đề ra một cách rõ ràng
trong đoạn văn Elohist, khi Thiên Chúa phát biểu dưới dạng Elohim.
TRÁI CẤM
VÀ VÔ PHÂN BIỆT TRÍ
Nếu người Tây Phương
thường giải thích việc « ăn trái cấm » như một hiện tượng
gắn liền với tình dục, thì theo quan điểm của người Đông Phương không
có thói quen quy kết mọi việc vào tình dục, thiết tưởng chúng ta có thể
nhìn vấn đề dưới một góc độ khác :
Trước khi ăn trái
« Cây Phân Biệt Tốt Xấu », ý thức của con người là một loại
ý thức nhất nguyên, « vô phân biệt ». Họ không biết « ta
người », nên không có vấn đề hổ thẹn, người nam và người nữ
như cùng thân thể (người nữ đến từ xương thịt của người nam). Họ
thở cùng một hơi thở với Thiên Chúa, và sống hòa hợp với Thiên Chúa.
Họ cùng bản chất với các loài vật, cũng được tạo nên như họ từ
đất cát. Họ không biết phân biệt « tốt
xấu », là mấu chốt nền tảng của óc Nhị Nguyên. Họ sống trong một
cảnh giới chủ quan có tính Nhất Nguyên, tâm trí của họ là vô phân biệt
trí. Con người không cần « phân biệt tốt xấu » vì họ chỉ cần
chiều theo định luật của trời đất, chiều theo cái mà Thiên Chúa gọi
là « rất tốt » khi hoàn tất sự Sáng Tạo. Họ sống như một với
Thiên Chúa và không cần vận dụng đến cái ý thức cá biệt, cái bản
ngã, của họ.
Các bạn Công Giáo hẳn
không quên chữ « rước lễ » đến từ chữ
« communion » có thể phân tích ra thành « comme un » nghĩa
là « như một ». Qua « rước lễ », chúng ta trở về
Eden, « làm một » với Thiên Chúa. Ăn trái của « Cây Phân Biệt
Tốt Xấu » là vận dụng bản ngã, tự tách mình ra khỏi Thiên Chúa,
khỏi cái Đạo thường hằng của vũ trụ, là tự suy nghĩ « theo
tôi », « tôi » quyết định cái này tốt, cái kia xấu … Nếu
Rắn tượng trưng cho sự thông minh, thì đó là sự thông minh của Tiểu
Ngã, của cái tôi cá biệt, tách rời khỏi Cái Tôi Lớn của vũ trụ, làm
mờ ám cái Trí Tuệ của « bờ bên kia », trí tuệ Bát Nhã. Nói
cách khác, khi ăn trái cấm, trí tuệ phân biệt của bản ngã được khai mở,
khởi đầu bằng sự phân biệt tiêu biểu và nền tảng nhất : sự
phân biệt giữa tốt và xấu. Từ đó kéo theo những cặp nhị nguyên
khác : trẻ già, sống chết, sướng khổ, khoẻ bệnh, nam nữ, bạn thù,
v.v… Và cuộc sống của con người bắt đầu rơi vào cảnh giới Nhị
Nguyên, với vô minh và phiền não, khổ đau và ham muốn, oán hờn và bất
mãn …
Mang tâm hồn của một
người Việt Nam, tôi chỉ muốn nhớ lại từ Sáng Thế Ký đoạn văn này,
và coi những đoạn khác như hoàn toàn phụ thuộc.
NGƯƠI SẼ
THÈM MUỐN ĐÀN ÔNG !
Nhưng, chúng ta bắt buộc
phải trở về với mạch văn, và xem tiếp đến đoạn Gen 3 :8. Yahweh hỏi
người nam : « ngươi ở đâu ? », « có phải ngươi đã ăn trái cấm ? », và hỏi
người đàn bà : « ngươi đã làm gì ?» những câu hỏi rất rởm bởi một kẻ đã biết
câu trả lời. Chính chúng ta cũng hay làm như vậy, kiểu như bà mẹ gọi
đứa bé, chỉ cái chén bể, hỏi : cái gì đây ! Yahweh quả là một
nhân vật rất « người », rất gần với chúng ta. Sau đó Yahweh
tuyên án. Đầu tiên là Rắn. Rắn phải đi bằng bụng, ăn cát bụi, và
lãnh nhận một mối thù truyền kiếp với hậu duệ của người đàn bà,
có lẽ phải hiểu là với tất cả những người đàn bà sau đó. Nếu Rắn
tượng trưng cho ý thức về dục tính, như người ta thường nghĩ, thì người
đàn bà hẳn là phải có « vấn đề » với dục tính. Sáng Thế
Ký được viết bởi đàn ông, và điều này thể hiện mối lo sợ của đàn
ông đối với tình dục của đàn bà.
Thật vậy, khả năng
tình dục của đàn ông có giới hạn, trong khi khả năng tình dục của đàn
bà không giới hạn. Ông có nhiều lúc « không được nữa », mà
bà lại cứ « muốn nữa ». Trong tiềm thức, ông rất sợ
bà ! Vì thế, đàn ông đặt ra những quy luật tôn giáo cũng như xã hội
nhiều khi rất khắt khe, để khoả lấp sự yếu kém của mình, và kiềm
chế người đàn bà. Nếu Thiên Chúa là đàn bà, nếu các tôn giáo được
lập ra bởi các bà, nếu các giáo hội do các bà chỉ huy, các luật lệ
luân lý, xã hội, được quy định bởi « phái yếu », thì bộ mặt
thế giới sẽ hoàn toàn khác. Gần nơi tôi ở có Tu Viện Fontevraud, là một
tu viện do các bà làm chủ, nam nhân chỉ được dành cho những vai trò thứ
yếu. Ở một hành lang trong tu viện có khắc những hình ảnh của Sáng Thế
Ký, theo đó kẻ « phạm tội » đầu tiên là người nam, sau mới
dụ người nữ tham gia !
Hình phạt dành cho người
nữ là mang nặng đẻ đau, và « ngươi sẽ thèm muốn người nam, và
người nam sẽ làm chủ ngươi » (Gen 3 :16). « Làm chủ »,
đương nhiên, An Nam ta chẳng có chữ « chồng » nghĩa là « chồng
lên trên » hay sao ? Điều quan trọng là sự làm chủ ấy là hệ
quả của bản tính « thèm muốn đàn ông », được đặt ra ở đây
như một vấn đề, một sự nguyền rủa. Chúng ta lại thấy một mâu thuẫn
trong nhân vật Thiên Chúa : nếu muốn con người sinh sôi nảy nở tràn đầy
mặt đất (lệnh của Chúa Elohim), thì tại sao sự sinh sản lại phải đau
đớn khó khăn ? Tại sao ham muốn tình dục lại trở thành một nguyền
rủa mà không phải là một hồng ân ?
Hình phạt dành cho người
nam (Gen : 17-19) là phải làm lụng vất vả, và phải « trở về với
cát bụi », được hiểu là phải chết. Hình phạt Yahweh tuyên xử
không chỉ áp dụng cho những kẻ « phạm tội », mà cho toàn thể
hậu duệ của họ, tức trên vô số người vô tội ! Phạt oan là một
chuyện thông thường trong Thánh Kinh, chúng ta sẽ trở lại vấn đề này.
Thật ra, theo sự hiểu
biết của người Việt Nam tôi, thì nhìn chung chung, các hình phạt của
Yahweh là những hệ quả tự nhiên của óc Nhị Nguyên. Thật vậy, có ý thức
sống thì có ý thức chết, có ý thức sướng thì có ý thức khổ, có ham
muốn thì có thất vọng, có khoái lạc, thì cũng có những hệ quả đau đớn
của khoái lạc (chẳng cần nói chi đến tình dục : nếu anh ăn uống
quá độ thì khoái lạc thật đấy, nhưng … cholesterol sẽ lên, glycemie
lên, và … tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim v.v… sẽ tới !).
Người nam và người nữ trong Sáng Thế Ký chính là những đại diện cho
mọi con người đã, đang, và sẽ hiện hữu, trong một huyền thoại đầy
ẩn ngữ. Adam nghĩa là « người », có thể hiểu là « con người »
nói chung, chứ không chỉ là một con người đặc biệt, ở một thời điểm
đặc biệt, có địa chỉ rõ ràng, số căn cước chính xác, social security
number hẳn hoi …
HỌC ĐƯỢC
TÌNH YÊU QUA CON NGƯỜI
Sau khi nghe Chúa Yahweh
tuyên án xử phạt mình sẽ phải chết, người nam liền đặt tên cho người
nữ là Eva, « mang sự sống » (Gen 3 :20), như một sự trả lời
đối với bản án của Chúa. Ngài phạt tôi phải chết, nhưng tôi đã có
« sự sống », Eva, bên cạnh tôi. Với Eva, tôi sẽ có hậu duệ,
sẽ sống vĩnh cửu qua con cháu tôi … Eva được giao cho chức năng hoá giải
hình phạt của Chúa, như một thành trì bảo vệ con người trước Yahweh.
Ở Gen 3 :21, Chúa
Yahweh làm một việc, theo tôi, rất cảm động : Ngài lấy da thú làm y
phục và mặc cho Adam và Eva. Với cử chỉ từ ái ấy, cử chỉ của người
cha nhân từ đối với những đứa con ngỗ nghịch, phải chăng Yahweh bày tỏ
sự ân hận đối với hình phạt mà Ngài đã dành cho con người ?
Chúng ta nhìn thấy Tình Yêu trong Yahweh. Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng
tình yêu của Yahweh đã xuất hiện sau tình yêu của Adam dành cho người nữ,
thể hiện qua những vần thơ mà Adam đã thốt ra khi nhìn thấy bạn đời
của mình, trong Gen 2 :23. Ba nhận định : Một, phải chăng Chúa
Yahweh đã “học” được tình yêu qua Adam, khi Ngài tạo ra cho Adam một đối
tượng, một tha nhân, một con người khác từ chính xương thịt của Adam,
như Adam chính là tha nhân đối với Chúa, mang hơi thở và hình ảnh của
Chúa ? Hai, nếu Yahweh hối hận, tức là Yahweh có sai lầm. Sai lầm nguyên
thủy này mở màn cho một chuỗi sai lầm khác, trong suốt Thánh Kinh. Ba, lấy
da thú làm y phục là có sát hại thú vật. Từ đoạn này của Sáng Thế
Ký, bạo lực bắt đầu ngự trị, và khởi điểm của bạo lực, là
Yahweh …
RẮN NÓI THẬT,
YAHWEH NÓI DỐI
Nhân vật thứ tư xuất
hiện trong Sáng Thế Ký, sau Thiên Chúa (tổng hợp Yahweh cộng Elohim), người
nam và người nữ, là Con Rắn. Câu nói của Yahweh ở đoạn Gen 3 :22
cho thấy vị trí của Rắn trong câu chuyện. Chúa Yahweh nói : « Thế
là con người đă trở nên như một kẻ trong chúng ta bởi sự hiểu biết
tốt xấu. Bây giờ, phải ngăn cản không cho nó vươn tay hái lấy trái
cây trường sinh, để ăn trái ấy mà sống mãi mãi ! ». Thì ra những
cấm đoán của Yahweh không là gì khác hơn là sự bảo vệ những đặc quyền.
Đặc quyền của ai ? Của « chúng ta ». « Chúng ta »
là ai ? Không thấy nói. Chỉ biết con người, khi đạt được khả
năng tự mình phân biệt tốt xấu, đã trở thành « như chúng ta ». Nhưng
con người còn một yếu kém đối với
« chúng ta », đó là nó không được sống mãi mãi. « Chúng
ta » phải ngăn cản đừng để nó đạt đến sự sống vĩnh cửu, phải
đuổi nó ra khỏi Vườn Địa Đàng để nó không thể đến gần và ăn trái « cây trường sinh ».
Và, để bảo vệ đặc
quyền của nhóm mình, Yahweh đã phải nói dối. Chúa Yahweh đã nói ở Gen
2:17, rằng : « ngày mà ngươi ăn trái cấm, ngươi sẽ phải chết ». Ngày
mà con người ăn trái cấm, con người đã
không chết. Con rắn nói đúng : « Không, ông bà sẽ không chết, nhưng
Chúa biết rằng ngày mà ông bà ăn trái của cây ấy, mắt của ông bà sẽ
mở ra, và ông bà sẽ trở thành giống như những vị Chúa, với sự hiểu
biết về tốt và xấu » (Gen 3 :4). Rắn tiết lộ ưu tư bảo vệ đặc
quyền của Yahweh và nhóm của Ngài, điều mà Yahweh đã thừa nhận ở đoạn
Gen 3 :22 vừa nói ở trên. Tuy nhiên, Rắn là ai mà biết được ưu tư thầm
kín của Chúa ? Chúng ta đã nêu lên sự kiện Rắn đã giúp Thiên Chúa thực
hiện ước muốn con người sinh sôi nảy nở đầy mặt đất, bằng cách
khai mở dục tính nơi con người, sau khi con người ăn trái cấm. Vậy, giả
thuyết Rắn là một thành phần của tâm thức Thiên Chúa, là một giả
thuyết rất hấp dẫn. Cũng cần ghi nhận mâu thuẫn giữa Elohim dựng nên
con người giống hình ảnh mình, trong khi Yahweh nhất định không muốn con
người giống « chúng ta »... (mà phải khác « chúng ta »
ở sự chết).
Nói đến Con Rắn,
người ta thường liên tưởng đến Ác Quỷ. Thật ra Ác Quỷ, Shatan, nghĩa
trong tiếng Do Thái là « kẻ buộc tội », chỉ xuất hiện trong Thánh Kinh
từ sách Job. Trong sách này, Shatan đứng trong hàng ngũ những « Con Thiên
Chúa » (Job 1:6), đến gặp và gợi ý cho Chúa Yahweh làm những công việc rất
quỷ quái. Nhiều nhà bình luận Thánh Kinh cho rằng bản tính của Quỷ
Shatan tiềm ẩn trong Chúa cho đến sách Job thì mới tách ra khỏi Ngài, và
hiện hữu như một cá thể riêng biệt. Điều này đối với người Đông Á chúng ta không có gì là kỳ dị.
Phật là Ma, Ma là Phật. Mỗi vị Như Lai trong Kim Cang Giới đều có những
Ác Quỷ tương ứng. Các Ác Quỷ này là những sự thị hiện của các
Ngài, cũng như tất cả chúng ta. Trong Tử Thư Tây Tạng, nếu người chết
không nhận ra và không hoà hợp được với các vị Phật, Thánh, lần lượt
hiện đến trong tâm thức họ, thì họ sẽ phải thấy những Ác Quỷ ghê
rợn, ăn gan uống máu, hiện ra. Nếu người chết nhìn nhận được những
Ác Quỷ kia cũng chính là những thành phần của tâm thức mình, thì họ sẽ
được giải thoát. Nếu bạn có xem phim Little Buddha thì chắc còn nhớ cảnh
Đức Phật soi bóng mình trong ánh nước,
và nhận ra Quỷ Vương Maya !
Nếu Rắn nói thật
và Chúa Yahweh nói dối, thì những hình phạt Chúa tuyên phán là bất công.
Trong Thánh Kinh có nhiều thí dụ Chúa xử phạt bất công. Trong sách Lưu Đày
(Exode), Chúa Yahweh ảnh hưởng vào tâm thức của Vua Pharaon, khiến Pharaon
trở nên cứng rắn, không chịu cho dân Do Thái rời đất Ai Cập (Exode 9 :12;
10 :20; 10 :27; 11 :10 ) và sau đó lại áp dụng những hình
phạt khủng khiếp, không những chỉ đối với Pharaon mà thôi, mà còn cả
đối với toàn dân Ai Cập, thậm chí giết hết tất cả các đứa con đầu
lòng của người Ai Cập ! Sau đó, khi Vua Pharaon đã thoả thuận cho
Dân Do Thái rời Ai Cập, Yahweh lại ảnh hưởng vào tâm thức của Nhà Vua,
để thúc đẩy ông đem quân đuỗi
theo dân Chúa, để lại chịu phạt thêm một chuyến nữa, khi biển cả mở
ra cho dân Do Thái đi qua, và phủ lại nhận chìm toàn thể quân đội Ai Cập
(Exode 14 :4; 14 :8).
Sách Job thì kể việc
Chúa Yahweh tàn sát dã man gia đình Job, một nhân vật được công nhận như
một người chính trực, đạo đức. Bảy con trai, ba con gái, rất đông đày
tớ, chưa kể 10 ngàn gia súc của Job đã bị Chúa thẳng tay sát hại, chỉ
vì một màn đánh cuộc rất vớ vẩn với Shatan. Riêng Job thì phải mang bệnh
ghẻ lở vô cùng kinh tởm, nằm ăn mày trên đống rác. Sau Chúa phục hồi
sức khoẻ và tài sản cho Job, nhưng những người vô tội đã bị Chúa giết,
như các con của Job và đám đày tớ (không kể gia súc), thì … coi như xí
xoá !
ĐẢ ĐẢO
ĐỊA CHỦ !
Trở lại Sáng Thế
Ký. Thế là Chúa đuổi Adam và Eva ra khỏi Vườn Địa Đàng Eden, với chủ
ý được tuyên bố rất rõ ràng là để « con người » không thể
đến gần và ăn trái « cây tường sinh ». Cho chắc chắn hơn, Chúa
sai những Thiên Thần Cherubins gác cửa Eden với gươm lửa sấm sét,
« để bảo vệ con đường đi đến cây trường sinh » (Gen
3 :24). Rời Eden, chữ có nghĩa là « lạc thú », con người coi
như trầm luân trong bể khổ …
Adam và Eva sinh ngay hai
người con : Cain, rồi Abel. Cain làm nông, Abel chăn cừu. Hai anh em cùng đem
lễ vật hiến dâng Thiên Chúa. Yahweh nhận lễ vật của Abel, và ngoảnh mặt
không thèm nhìn Cain và lễ vật của Cain. Cain ganh ghét giết Abel. Chúa phạt
Cain phải chịu đất đai cằn cỗi, cày cấy vất vả. Thật ra, hình phạt
này Chúa đã tuyên án toàn thể con người qua Adam, nên lập lại cũng như
không. Ngược lại, Chúa ra lệnh không cho bất kỳ ai được giết Cain, nếu
không sẽ bị trả thù bảy lần (Gen 4 :15). Chỉ trong vài câu văn ngắn
ngủi mà chúng ta thấy xuất hiện trên mặt đất bao nhiêu là hình thức của
bạo lực : bạo lực của cư xử không công bằng, của ghen tuông đưa
đến giết chóc, rồi bạo lực của sự hăm doạ « trả thù bảy lần »
...
Nguồn gốc của bạo
lực nơi đoạn này đến từ một sự bất công. Chúa không có lý do gì để
ngoảnh mặt không thèm nhìn Cain và lễ vật của ông. Đây không phải là
thái độ của một người cha nhân từ. Tế lễ Chúa trở thành một trò
chơi may rủi : Chúa nhận hay Chúa gạt bỏ, không làm sao biết trước được.
Có lẽ Yahweh đã không ý thức được hậu quả tai hại của thái độ bất
công của mình, nên sau đó ân hận và chỉ xử phạt Cain một cách tương
đối nhẹ nhàng, đồng thời lại doạ trả thù bảy lần kẻ nào dám đụng
tới Cain. Ở Sáng Thế Ký cho đến đoạn này Yahweh vẫn chưa phát minh ra luân lý, đạo đức.
Như vậy, thì khi nói
« tốt », « rất tốt », hay « không tốt »,
trong những đoạn văn ở trên, Chúa muốn nói gì ? Phải chăng « tốt »
hay « không tốt » chỉ được quan niệm như tốt hay không tốt
cho Chúa, tức từ một quan điểm hoàn toàn vị kỷ ? Đừng quên rằng
trước khi tạo nên trời đất, Chúa hoàn toàn cô độc, và không thể có
một kinh nghiệm nào khác ngoài kinh nghiệm chính mình. Khi ấy, không hề
có tha nhân nào ở đó để làm nảy nở óc vị tha nơi Thiên Chúa !
Luân lý đạo đức đến từ đời sống xã hội. Muốn nảy sinh ra được
óc luân lý, đạo đức nơi mình, Chúa phải thực tập đời sống xã hội
thêm một thời gian nữa ...
Có lẽ việc Cain giết
Abel, em mình, là một ngạc nhiên lớn đối với Thiên Chúa. Thiên Chúa ban
sự sống, rồi có lúc hăm doạ Adam và Eva phải chết, nhưng trong thực tế
vẫn chưa giết ai cả. Chưa một ai đã phải chết cho đến giờ phút ấy.
Cain đã phỗng tay trên Thiên Chúa, để đem lại sự chết (đúng hơn là sự
giết hại lẫn nhau) trong xã hội loài người. Thiên Chúa khám phá ra rằng
con người có quyền hạn nhiều hơn mình tưởng : con người có thể
cho sự sống, như ý nghĩa việc Adam đặt tên vợ mình là « mang sự sống »,
và con người cũng có thể cho sự chết, như Cain vừa làm. Ý thức quyền
hạn của con người càng rộng lớn, cũng là ý thức quyền hạn của
chính mình, Thiên Chúa, càng bị hạn chế. Nhận xét này giúp chúng ta hiểu
được dễ dàng hơn thái độ của nhân vật Thiên Chúa trong những đoạn
văn kế tiếp.
Câu chuyện Cain và
Abel thật ra nói lên sự đối nghịch truyền thống giữa dân du mục chăn
nuôi và dân định cư trồng trọt, với một sự thiên vị rõ ràng của
Thiên Chúa. Ngoài ra nếu chữ « Cain » có nghĩa là « sinh sản »
thì việc Chúa ngoảnh mặt không nhìn Cain và lễ vật của ông ta như nhắc
lại những khó chịu của Yahweh đối với tình dục và sự sinh sản mà
chúng ta đã thấy hé lộ ở những đoạn trước ? Chúng ta sẽ còn gặp
lại thái độ mâu thuẫn của Thiên Chúa trong lãnh vực này ở nhiều đoạn
khác trong Sáng Thế Ký.
Rồi đời sống vẫn
trôi, Adam có nhiều người con khác, và sống đến 930 tuổi (Gen 5 :5),
đại khái cũng cỡ như ông Bàn Cổ nhà mình …
GIẾT SẠCH
! ... VÀ ÂN HẬN
Đến chương 6 của Sáng
Thế Ký thì có chút trục trặc. Chương này mở đầu với những câu kỳ
quái. Câu 2 (Gen 6 :2) nói rằng những người Con Trai Thiên Chúa thấy
con gái của loài người xinh đẹp nên lấy làm vợ. Câu 4 nói đến những
« người khổng lồ », và cho biết hôn nhân giữa các Con Trai
Thiên Chúa và con gái loài người cho ra những « vị Anh
Hùng » ! Các cậu ấm « Con Thiên Chúa » kia là ai ?
Chúng ta , mọi con người được Chúa dựng nên, không phải là con Thiên
Chúa hết cả hay sao ? Hay là các cậu « con Thiên Chúa » ấy mới
thực sự là con Thiên Chúa được sinh ra từ một người cha (Thiên Chúa)
và một người mẹ mà Thánh Kinh quên không cho biết tên tuổi ? Trong
câu ba (Gen 6 :3), thì Chúa Yahweh tuyên bố : « Thánh Thần của
ta sẽ không điều khiển được con người mãi mãi, vì những sai lầm của
nó, nó chỉ là xác thịt, và cuộc sống của nó sẽ chỉ kéo dài 120 năm ».
Khi tống cổ con người
ra khỏi Eden, Chúa đã biết rằng ngài không điều khiển được con người
rồi cơ mà ? Tại sao lại tiếp tục ngạc nhiên vá giáng xuống trên
đầu con người một hình phạt mới (trước đó con người sống khoảng tám
chín trăm năm) ? Hay là chính sự sinh sản mạnh mẽ của nhân loại đã
gây khó chịu cho Chúa khiến Ngài phải hạn chế tuổi thọ của con người ?
Sang câu 7 của chương
6, Chúa thẳng thừng quyết định : « ta sẽ xoá khỏi mặt đất
con người mà ta đã dựng nên, cùng với mọi loài vật lớn nhỏ, kể cả
loài chim, vì ta hối hận đã tạo nên chúng ». Kinh khủng ! Lý
do ? Vì sự ác của con người, vì suốt ngày con người chỉ nghĩ đến
sự xấu (Gen 6:5). Ác ra sao ? Xấu thế nào ? Không thấy nói. Nếu con người
xấu và ác thì tại sao lại phạt lây đến tất cả loài vật ? Chúa
Yahweh là một nhân vật nguy hiểm …
Thêm vào đó, sự ân
hận của Chúa cho thấy Ngài có thể lầm lẫn, và có thể sẽ còn lầm lẫn.
Ở Gen 6 :13, thì dưới dạng Elohim
(không phải Yahweh), Chúa lên tiếng : «
Đối với ta, ngày tàn của xác thịt đã đến ! Vì do lỗi của con người
mà mặt đất tràn đầy bạo lực, do
đó, ta sẽ tiêu diệt chúng cùng với trái đất ». Vậy, lý do được
đưa ra ở đây là : bạo lực. Chúa phạt bạo lực bằng cách áp dụng bạo
lực gấp triệu triệu lần ! Chúng ta nhớ lại việc trả thù gấp bảy lần
trong câu chuyện Cain và Abel. Chỉ vài câu văn sau đó, bạo lực đã bùng nổ
thêm đến mức không còn đo lường được nữa.
Đại Hồng Thủy, một
trận lụt vĩ đại, bắt đầu. Cũng như ở
đoạn tạo thiên lập địa, có hai câu chuyện Đại Hồng Thủy
được viết song song. Nhân vật Thiên Chúa được gọi là Elohim trong một
câu chuyện và Yahweh trong câu chuyện thứ hai. Có những khác biệt giữa
hai câu chuyện này, cũng như ở đoạn tạo thành vạn vật. Trận lụt vĩ
đại có bổn phận tiêu diệt toàn bộ loài người và loài vật, có lẽ
trừ tôm cá (!). Tuy nhiên, thay vì giết hết, rồi lấy đất nặn thành người
và vật khác, Chúa lại cứu gia đình Noah, và những cặp súc vật tiêu biểu
mà ông này đem vào trú ẩn cùng với gia đình mình trong một chiếc tàu,
được chính Elohim chỉ dạy cách đóng với sơ đồ kích thước rất rõ rệt.
Phải chăng con người,
“hình ảnh Thiên Chúa" là một cái gì không thể hủy diệt được, kể
cả bởi Thiên Chúa ? Nếu Thiên Chúa tận diệt con người thì cũng không
khác gì hủy diệt chính mình ? Có thể quan niệm rằng một sự hiện hữu
chỉ thực sự hiện hữu khi có sự hiện hữu khác ý thức mình hiện hữu.
Diệt cái ý thức ấy đi thì mình cũng hết hiện hữu. Trở lại câu chuyện.
Khi nước rút đi, thì Chúa gọi Noah ra khỏi tàu cùng các bạn đồng hành,
người và vật, và ra lệnh cho tất cả sinh sôi nảy nở, tràn ngập mặt
đất, y hệt như lúc vừa tạo ra vạn vật. Chuyện Đại Hồng Thủy là một
cuộc tái tạo vạn vật, một khởi đầu mới.
Liền sau Đại Hồng
Thủy Yahweh tuyên bố « mặc dù tâm hồn con người hướng về sự xấu từ
tuổi ấu thơ, nhưng ta sẽ không bao giờ tàn sát tất cả sự sống như ta
đã làm » (Gen 8 :21). Hối hận ! Elohim cũng phát biểu tương tự, nhưng thêm
vào đó vài điều quan trọng. Thứ nhất, con người được toàn quyền thống
trị mọi loài vật, và được quyền ăn thịt chúng. Cho đến đây con người
chỉ được ăn hoa quả rau trái. Phải chăng sau màn biểu dương bạo lực
tuyệt đối vừa xảy ra, việc « giết để ăn » không còn là một vấn
đề đối với Thiên Chúa nữa ? Tuy nhiên, không được ăn thịt có máu,
và không được làm đổ máu người khác, vì « như hình ảnh Thiên Chúa,
Thiên Chúa đã tạo nên con người ». Một nhận xét đến rất đúng lúc,
vào một thời điểm mà chúng ta bắt đầu quên đi sự kiện này.
Cần nhận xét : Yahweh
tuyên bố con người có bản chất xấu xa, trong khi Elohim nhắc lại con người
được tạo nên theo hình ảnh Thiên Chúa. Nhân vật Thiên Chúa có hai cá
tính khác biệt, và nếu chúng ta gộp hai lời tuyên bố này lại, thì sự
xấu xa cũng nằm trong nhân vật Thiên Chúa. Đừng quên chính Thiên Chúa đã đoạt giải vô địch trong việc làm đổ
máu con người ! Thật ra, hạn chế tình dục và sinh sản với cấm làm đổ
máu người khác, quy kết vào hai đặc quyền của Thiên Chúa, cần được
bảo vệ, là quyền ban phát và hủy diệt sự sống. Elohim cũng đồng thời
đặt ra một giao ước với con người và mọi loài sinh vật được làm chứng
bởi cái cầu vòng. Giao ước này chỉ ràng buộc Thiên Chúa, con người không
phải làm gì cả. Thiên Chúa thề sẽ không bao giờ tiêu diệt mọi loài
sinh vật nữa, như thể bạo lực vừa xảy ra đã làm cho Chúa Elohim kinh tởm.
Cầu vòng với nhiều màu sắc cũng làm liên tưởng đến những tính chất
phức tạp trong tâm thức của Thiên Chúa.
Rồi cuộc sống lại
tiếp diễn. Con người được ăn thịt, và tập tành uống rượu (Gen 9
:21), đến nỗi say rượu nằm trần truồng như Noah. Rượu đưa con người trở lại thời trước khi
ăn trái cấm, không biết hổ thẹn vì sự trần truồng của mình ...
CHỐNG MỸ
CỨU NƯỚC
Rồi, một ngày kia, sự
phát triển của con người lại làm Thiên Chúa lo ngại. Ở câu 3 chương
11, con người sáng chế ra gạch và xi măng, và dựng nên đô thị với nhà
chọc trời, như chúng ta hiện làm. Đó là chuyện Tháp Babel, chữ có nghĩa
là "Cánh Cửa của Thiên Chúa" (Bab là cửa, El, Eli, chỉ Thiên
Chúa). Trại "Cổng Trời" ở nước Đại Nam ta cũng có thể gọi
là Babel ! Yahweh không thích Cổng Trời và tuyên bố : "Bọn chúng đoàn
kết thành một dân tộc, nói cùng một tiếng nói, và đây là công trình
đầu tiên của chúng nó ! Với khả năng ấy, chúng sẽ có thể thực hiện
được tất cả những gì chúng muốn thực hiện ! Ta hãy xuống làm rối
loạn tiếng nói của chúng, để chúng không còn có thể nói cùng một tiếng
nói nữa !" Chiến dịch gây chia rẽ của Yahweh khiến con người không
tạo nên nổi những công trình vĩ đại tương tự được nữa, không còn
tạo nên được các đô thị, và phải “phân tán khắp mặt đất”.
Câu chuyện Babel đưa
chúng ta trở lại thời kỳ mà con người được chia làm hai loại : du muc
và định cư. Đoạn Sáng Thế Ký này được viết ra bởi một tác giả du
mục. Cần nói Babel cũng chính là Babylon. Khi bị lưu đày ở Babylon, người
Do Thái, tác giả Sáng Thế Ký, mặc dù choá mắt trước văn minh rực rỡ
của dân xứ này, cũng vẫn phải vì tự hào dân tộc, tìm cách hạ thấp
kẻ thống trị, gán cho họ những đường nét tiêu cực, y hệt như con
người ngày nay hiện làm đối với "văn minh cơ giới Tây phương",
với "đế quốc Mỹ", với "toàn cầu hoá" v.v... là những
thế lực thống trị thế giới.
Tuy nhiên điều chúng
ta phải nhìn nhận, là Thiên Chúa đã ganh tỵ với khả năng tạo tác của
con người, và tìm cách phá hoại công trình của nhân loại. Tính ganh tỵ
của Cain, ở trên, đến từ Thiên Chúa ! Phương pháp mà Chúa Yahweh chọn lựa
là : gây chia rẽ. Ngôn ngữ gốc La Hy, như tiếng Pháp chang hạn, gọi Ác
quỷ là "Diable". Chữ này đến tử tiếng Hy Lạp Dia Balein. Dia là
ngang qua (như diagonale là ngang qua góc). Balein là ném (cho ra balle, ballon,
balistique ...). Dia balein là « ném ngang qua », nên chữ Diable, Ác Quỷ,
thường được diễn giải là "kẻ gây chia rẽ". Chúng ta tìm lại
được tính Quỷ Ma trong nhân vật Thiên Chúa của Thánh Kinh.
SAI CỨ SỬA,
SỬA CỨ SAI …
Chúng ta chỉ mới
cùng nhau đọc 11 chương đầu của Sáng Thế Ký, gồm 50 chương cả thảy.
Trong phạm vi hạn chế của một bài báo, tôi buộc phải ngừng lại ở đây.
Các đoạn còn lại rất lý thú. Sáng Thế Ký kể chuyện Abraham, rồi Ismael, tổ phụ người Ả Rập,
anh của Isaac, tổ phụ người Do Thái, đến chuyện Jacob, được Chúa đặt
tên lại là Israel nghĩa là « đánh vật với Chúa » (lutter avec
Dieu) và 12 người con của ông, cho ra 12 bộ lạc của dân Do Thái, rồi chuyện
ông Joseph sang tận nước Ai Cập làm đến chức Thủ Tướng. Trong một quyển
sách khổ bỏ túi, Sáng Thế Ký chỉ dài cỡ 75 trang, các bạn nên tìm đọc
(nhớ chọn các bản dịch khả tín : TOB - Traduction Oecuménique de la Bible,
JPS - Jewish publication Society, hay BJ - Bible de Jerusalem …).
Khi ta đã phác hoạ ra
được những nét chính của tâm lý nhân vật Thiên Chúa thì các câu chuyện
tiếp theo của Sáng Thế Ký và Thánh Kinh được nhìn dưới một ánh sáng
khá rõ ràng. Thiên Chúa tạo nên con người theo hình ảnh của chính mình,
nhưng lại không bằng lòng với hình ảnh ấy, nên phải phá hủy và tái tạo.
Lần đầu tiên Thiên Chúa đứng trước thất bại là khi buộc phải đuổi
Adam và Eva ra khỏi vườn Địa Đàng, nơi được đặc biệt tạo ra cho con
người. Đây là màn "tái khởi đầu" thứ nhất. Rồi Thiên Chúa
chứng kiến cảnh Cain tước đoạt sự sống. Thêm vào đó, quyền ban sự
sống cũng vuột khỏi tầm tay Thiên Chúa qua việc sinh sản mạnh mẽ của
con người. Quyền hạn của Thiên Chúa bị giảm thiểu. Con người trở thành
chủ nhân của sự sống, cạnh tranh với Chúa, và trở thành "xấu
xa", theo tiêu chuẩn "không tốt cho Chúa", như chúng ta đã có dịp
bàn đến ở trên.
Và một cuộc
"tái khởi đầu" thứ hai diễn ra, với Đại Hồng Thủy, lần này
mang một tính chất tàn bạo vô biên, như thể Thiên Chúa muốn chứng minh
rằng Ngài cũng có thể tước đoạt sự sống một cách dữ tợn hơn con
người gấp bội phần. Tuy nhiên, ở giai đoạn này, vì hối hận, Thiên
Chúa đã tự trói tay mình cho đến muôn đời : Ngài tuyên hứa, với cái cầu
vòng làm chứng, là Ngài sẽ không bao giờ tổ chức giết người tập thể
nữa. Kẹt to, vì sau đó con người lại vẫn tiếp tục phát triển theo bản
tính của mình, bản tính đến từ Thiên Chúa, con người là hình ảnh của
Thiên Chúa, xin nhắc lại. Và con người lại không vừa ý Thiên Chúa,
không "rất tốt" như Thiên Chúa đã tuyên bố sau khi tác thành
loài người và vạn vật. Khổ nỗi, Thiên Chúa không còn có thể giết sạch
con người như Ngài đã làm với Đại Hồng Thủy. Vậy phải làm sao ?
DÂN CHÚA NHẬP
CUỘC
Trong câu chuyện
"Tháp Babel", ngài dùng mưu (lần đầu chúng ta thấy Chúa mưu trí),
chia rẽ con người để giới hạn quyền năng của con người. Tuy nhiên như
thế vẫn chưa đủ. Đến một lúc nào đó Thiên Chúa lại thấy phải làm
một cái gì. Đó là lúc Abraham nhập cuộc. Chúa chọn Abraham để làm nên
Dân Chúa. Điều ấy có nghĩa là thay vì giết toàn nhân loại và chọn vài
người để tiếp tục nòi giống, hay giết sạch và tạo lại một thế giới
mới, những điều mà Ngài đã thề không làm, thì Thiên Chúa tìm ra giải
pháp là lờ đi tất cả nhân loại, và chỉ chọn chăm sóc một nhóm người
hạn chế gọi là "Dân Chúa". Vì không thể lập lại màn chọn gia
đình Noah, giết đám người còn lại, nên Chúa bèn chọn Abraham và hậu duệ
của ông, và gạt mọi con người khác ra khỏi tâm trí Ngài.
Thật ra, có thể nghĩ
rằng vấn đề của Thiên Chúa bắt nguồn từ sự bất lực của Ngài
trong việc kiểm soát dục tính và sự sinh sản của con người. Từ chuyện
Adam đến Đại Hồng Thủy, chúng ta đã thấy điều đó. Trong chuyện
Abraham, sự thể có phần rõ ràng hơn. Bảy lần, Thiên Chúa hứa sẽ cho
Abraham con đàn cháu đống, nhiều như sao trên trời, như cát dưới biển.
Nhưng Abraham và Sara, vợ ông, lại hiếm muộn. Khi ông gần 100 tuổi và
Sara 90 tuổi, hai ông bà vẫn chưa có con ! Thiên Chúa buộc Abraham phải
cắt da quy đầu, và áp dụng điều ấy cho tất cả hậu duệ của ông
cùng với các đày tớ và nô lệ. Nghĩa là Abraham và con cháu phải nộp một
phần "nam tính" của mình cho Thiên Chúa, như dấu hiệu của sự phục
tùng Thiên Chúa trên mặt tình dục và ban phát sự sống.
Với giá đó Thiên
Chúa cho Abraham và Sara một con trai, là Isaac. Thiên Chúa cũng biểu dương
quyền lực của mình trên lãnh vực thu hồi sự sống khi bắt Abraham phải
đem giết Isaac để tế lễ mình. Trong các câu chuyện tiếp theo, chuyện
Isaac, chuyện Jacob, và nhiều chuyện khác trong Thánh Kinh, vấn đề hiếm muộn
rất hay được đặt ra và được giải quyết với sự can thiệp của Thiên
Chúa. Sáng Thế Ký kết thúc với chuyện Joseph, con của Jacob, sang Ai Cập
làm đến thủ tướng. Dân Chúa lập nghiệp tại Ai Cập, và sinh sôi nảy
nở mạnh đến nỗi Vua Ai Cập Pharaon phải « có biện pháp » áp
bức và ngược đãi họ rất nặng nề
(Exode 1 :9-14), cho đến khi Moshe đưa được họ ra khỏi Ai Cập, đi chinh phục
đất hứa, sau 40 năm lưu lạc trong sa mạc.
NHỮNG AI
THOÁT KHỎI ĐƯỜNG GƯƠM CỦA JEHU SẼ CHẾT VÌ TAY ELISÉE !
Trên vùng đất được
Thiên Chúa hứa ban cho mình, Dân Chúa phát triển, có lúc hùng mạnh nhưng
cũng lắm gian truân, phải bị đô hộ, lưu đày, phải mất nước, lưu
vong … Thiên Chúa có bằng lòng với Dân của Ngài không ? Rất nhiều
lần không. Lắm lúc Thiên Chúa đã muốn tiêu diệt Israel, từ thời Moshe
và sau đó. Trong sách Quân Vương thứ nhất (Rois 1) chương 19, câu 15, Yahweh
nói với Tiên Tri Elie (Elyahou) : "Hãy trở lại sa mạc Damas và sức dầu
tôn Hazael làm Vua Aram, Jehu làm Vua Israel, rồi sức dầu tôn Elisée làm Tiên
Tri thay ngươi". Các nhân vật này được lệnh giết toàn bộ dân Do
Thái, trừ 7000 người. Yahweh nói : "những ai thoát khỏi lưỡi gươm của
Hazael, Jehu sẽ giết nó, những ai thoát khỏi thanh kiếm của Jehu, sẽ chết
vì tay Elisée".
Nhiều lần Israel bại
trận và bị đô hộ, Dân Chúa phải lưu đày, vong quốc, Thánh Kinh đều
cho là do bàn tay Thiên Chúa mượn sức mạnh của ngoại bang để trừng phạt
dân mình ! Sách Deutéronome chương 28, nói : « Yahweh sẽ khiến
một dân tộc xa xôi tấn công ngươi (…) họ sẽ làm đổ những thành
trì kiên cố nhất của ngươi (…) vì đói kém ngươi sẽ phải ăn gan ruột
chính mình, sẽ ăn thịt các con trai và con gái mà Yahweh đã ban cho ngươi (…)
người đàn bà nhu mì nhất trong dân tộc ngươi (…) sẽ ẩn nấp để ăn
thịt con cái mình (…) Yahweh sẽ giáng xuống đầu ngươi và con cháu ngươi
những tai hoạ kỳ bí, những tai hoạ vĩ đại và trường kỳ, những bệnh
tật bất trị và dai dẳng …».
Trong bối cảnh này,
biết bao giờ Abraham, qua hậu duệ của mình, mới là « Cha của vô số
quốc gia », như lời giao ước của Thiên Chúa ? Ngược lại, chính lời
giao ước này đã góp phần làm nền tảng cho những phán đoán hồ đồ về « âm mưu thống trị » của người
Do Thái trên thế giới, đưa đến tinh thần bài Do Thái, và phần nào đã
gây ra thảm hoạ tàn sát 6 triệu con cái Israel dưới thời Đức Quốc Xã
cũng như vô số hành vi chống Do Thái cho đến ngày nay. Thậm chí Do Thái của
thời hiện đại là quốc gia phải chịu nhiều đe doạ nhất trên thế giới.
Israel chỉ cần bại trận một lần, duy nhất một lần mà thôi, thì sẽ
hoàn toàn bị tiêu diệt, sẽ không còn một con cháu nào của Isaac, của
Jacob, trên toàn "Đất Thánh" !
VẠN PHÁP TẠI
TÂM
Có phải là Thiên
Chúa đã thất bại hay không ? Nhân vật Thiên Chúa của Sáng Thế Ký đã
thất bại. Nhưng nhân vật ấy là ai ? Các tác giả Sáng Thế Ký và
Thánh Kinh đã thành công trong việc tạo nên một tác phẩm văn chương ngoại
hạng. Giá trị của tác phẩm này nằm ở chỗ nó đã biến lịch sử của
một dân tộc thành câu chuyện của một Nhân Vật xuyên lịch sử, một
Nhân Vật lẫy lừng hơn mọi nhân vật mà lịch sử hay văn chương có thể
tạo ra, đó là Thiên Chúa. Thật ra, rất nhiều huyền thoại đã gắn liền
lịch sử của những dân tộc với Thần Thánh, như huyền thoại Hy Lạp,
Ấn Độ, hay các chuyện thần thoại thời khai quốc ở nước mình.
Tuy nhiên, các tác giả
Thánh Kinh đã chọn kết tụ tất cả các thần thánh vào một cá nhân duy
nhất, và kể chuyện của nhân vật này. Khi chọn làm như vậy, nhân vật
Thiên Chúa mặc nhiên trở thành phức tạp, với nhiều mâu thuẫn. Khi có
chuyện thảm khốc xảy ra, người ta không thể đổ lỗi cho một vị Thần
Ác, mà vẫn phải quy kết vào Thiên Chúa. Đại Hồng Thủy trong huyền thoại
Sumer-Babylone do hành vi của một Ác Thần, và một vị Thần Thiện đã đến
cứu vạn vật khỏi tai hoạ. Ở đây, chỉ có một mình Thiên Chúa … Các
vị Thần, Thiện hoặc Ác, như những thảo trình, có thể phức tạp, nhưng
hoạt động với những đặc tính đã được quy định. Nhân vật Thiên
Chúa thì đa dạng, đầy mâu thuẫn, bất định, muôn vàn sắc thái, tóm lại,
rất gần với chúng ta.
Nhân vật Thiên
Chúa luôn phải dung hoà những điều đối nghịch trong tâm thức mình, như
chính chúng ta cũng thường phải làm như vậy. Có thể nói nhân vật Thiên
Chúa biểu tượng cho tâm thức của mỗi người chúng ta. Trong tâm thức của
bạn và của tôi, từ khởi thủy của cuộc sống, lần lượt hiện ra những
sự vật, được ý thức một cách càng ngày càng phức tạp như tiến trình
tạo thiên lập địa. Ý thức về chính mình cũng vậy, cũng phát triển
cùng với ý thức về những đối tượng của mình. Ngã tướng, nhân tướng,
chúng sinh tướng, thọ giả tướng ... như lời Kinh Kim Cương.
Nói cách khác, khi gom
tất cả vào một Thiên Chúa duy nhất, các tác giả Sáng Thế Ký buộc phải
tưởng tượng hành vi của một vị Thần vĩ đại chưa từng có. Và họ
phải đào trong tâm thức chính họ, đến những phần sâu thẳm nhất để
tìm ra một nguồn sáng, để có thể nhìn được trong tấm gương mờ tối
của thâm tâm, cái khuôn mặt nguyên thủy của chính họ. Điều họ nói
ra, nên được hiểu trong tinh thần này. Đừng rơi vào cạm bẫy bài bác
Thiên Chúa của Sáng Thế Ký và của Thánh Kinh. Thiên Chúa ấy chính là
tâm hồn bạn, Thần Khí của Ngài là hơi thở bạn, và cuộc đời Ngài
là sự tuyệt vọng của bạn …
Từ sự tuyệt vọng
ấy, rất nhiều người đã rút tỉa ra được một con đường tâm linh đáng
quý.
_______
(*) Đã
đăng trên Thế Kỷ
In ra @
Modified by Web Giaodiem
CThe best: set screen res. 1024 x 768 | Browser IE v. 5.0 or higher | mail: set Outlook Exp. [copyright:MedSoft]
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net