04-gdtop.gif (3814 bytes)
 
whiteball.gif (923 bytes) Nghiên cứu & đối thoại tháng 2 năm 2004 whiteball.gif (923 bytes)

(Nguyễn Hoài Vân là tác giả từng cộng tác với Giao Điểm qua tuyển tập “Đối thoại với Giáo Hoàng John Paul II” do GĐ xuất bản năm 1995)

SÁNG THẾ KÝ ĐỌC BỞI MỘT NGƯỜI VIỆT NAM (*)

Nguyễn Hoài Vân

      “Khi Thiên Chúa bắt đầu dựng nên trời và đất (thì) mặt đất hoang vu trống rỗng, và tăm tối phủ trên vực thẳm; thần khí (hơi thở) Chúa lượn trên mặt nước ”…

      Đoạn văn trên mở đầu Sáng Thế Ký, quyển sách đầu tiên của Thánh Kinh được tôn sùng bởi Do Thái Giáo, các Giáo Hội Ky Tô và, với vài hạn chế, bởi Hồi Giáo. Riêng tôi, trong bài viết này, hoàn toàn muốn lùi ra khỏi truyền thống tôn sùng ấy, và nhìn Sáng Thế Ký đơn thuần như một áng văn kỳ thú, để cùng bạn đọc thưởng thức nó, bàn bạc về nó, như bất cứ tác phẩm văn chương giá trị nào của kho tàng văn hóa nhân loại. Các nhân vật trong áng văn ấy, đầu tiên là Thiên Chúa, cũng sẽ được phân tích như những nhân vật văn chương, đặc biệt là trên mặt tâm lý. Đọc giả nào không đồng ý với cách làm việc vừa nói, xin lập tức gạt bỏ bài này sang một bên, tuyệt đối đừng đọc nó, và đón nhận sự cúi chào cung kính của người viết.

ÁNH SÁNG NGUYÊN THUỶ

      Trở lại đoạn văn vừa được trích. Nó nói lên một điều đáng ghi nhận : tác giả Sáng Thế Ký bắt đầu câu chuyện ở thời điểm « t cộng 1 », tức là đã có đất, nước, vực thẳm, và … một nhân chứng nào đó, có thể là chính vị tác giả này (!), để tường thuật “trung trực” lại cho chúng ta mọi tự sự. Trước khi có đất, nước, vực thẳm, có gì, thì không thấy Sáng Thế Ký bàn đến. Cũng không thấy bàn vào chi tiết đất, nước v.v… hiện hữu do đâu, có phải do Chúa dựng nên hay không ? Câu chuyện chỉ bắt đầu từ lúc “t cộng 1” :

“Chúa nói : ánh sáng hãy hiện hữu ! Và ánh sáng hiện hữu”. Ánh sáng là “tạo vật” đầu tiên của Chúa, không kể những thứ đã có sẵn vừa bàn ở trên. Trong bài này, tôi muốn chia sẻ với bạn đọc những suy nghĩ của tôi như một người Việt Nam, với tâm lý và kiến thức thông thường của một người Đông Á và một người Việt Nam, về áng văn Sáng Thế Ký. Bàn về ánh sáng, người Đông Á và Việt Nam tôi không khỏi liên tưởng đến ánh sáng được nói đến trong Tử Thư. Người chết trở về với Chân Như, là làm một cuộc hành trình ngược về nguồn gốc của mình, của mọi con người, của mọi sinh vật, của mọi sự vật. Phải chăng cuộc hành trình ấy đưa về “điểm khởi thủy”, cái thời điểm “t cộng 1” vừa nói ? Và người chết thấy gì ? Tử Thư nói : thấy “ánh sáng”, ánh sáng nền tảng, màu trắng, của Đại Nhật Như Lai (Vairocana).  Vị Phật của Chân Không này là khởi điểm của tất cả, bản thể của tất cả, từ đó mà thị hiện thành vạn pháp. Sáng Thế Ký cũng đặt ánh sáng ở điểm khởi thủy của sự tác thành vạn vật. Trong Tử Thư, nếu người chết thấy “ánh sáng nguyên thủy” mà nhận ra rằng mình không thực có, mà chỉ là sự thị hiện của ánh sáng ấy, thì liền hòa nhập với Đức Đại Nhật Như Lai (Chân Không), và được giải thoát. Trong các kinh nghiệm “gần chết sống lại” (near death experience), người ta cũng thường ghi nhận việc nhìn thấy một ánh sáng. Trong truyền thống Ky Tô Giáo, thì người ta nguyện người chết được đặt trong ánh sáng, như trong đoạn kinh Requiem Aeternam, phỏng theo Esdras, tôi dịch thoát như sau  : 

            Trong giấc ngủ muôn đời

            Xin dang tay đón người

           Đặt người trong Ánh Sáng

            Nguồn sáng của Bầu Trời

      Được chan hòa Ánh Sáng, người chết trở về điểm khởi thủy, nơi chỉ còn Thiên Chúa, để qua Ánh Sáng ấy, trực diện với Ngài, và (hy vọng) nhận biết Ngài, để được giải thoát. Trực diện với Thiên Chúa ! Sự chết quả thực là một kinh nghiệm lý thú (và có lẽ càng lý thú hơn nữa nếu đó là kinh nghiệm của … người khác !).

      Tôi có từng đọc Nguyễn Kết trong Thế Kỷ 21 đã nhiều năm trước, cho rằng nếu bạn leo được lên một hạt quang tử (photon), và di chuyển với tốc độ của ánh sáng, thì bạn sẽ không còn thấy thời gian trôi nữa, không còn quá khứ, vị lai, mà chỉ còn hiện tại, giây lát, lúc nào cũng là lúc này. Bạn sẽ thấy Big Bang và tận thế cùng lúc, Đức Phật đản sanh và nước Pháp thắng giải túc cầu thế giới 2006 trong một khoảnh khắc duy nhất ! Bạn cũng sẽ được trực diện với Thiên Chúa, ít nhất là ở lúc Ngài tuyên bố : “Yhi ‘or ! - Ánh Sáng hãy hiện hữu !”.

TIẾNG NÓI NỘI TÂM VÀ SỰ HÌNH THÀNH Ý THỨC :

      Tuy nhiên, điều tôi thắc mắc là, vào thời điểm ấy, Thiên Chúa tuyên bố với ai ? Suốt tiến trình tạo thành vạn vật Thiên Chúa luôn nói. Nhưng ai là người nghe Ngài nói ? Vị Thần, vị Chúa nào khác ? Xin nhấn mạnh là chữ « Elohim » được dùng để chỉ Thiên Chúa trong đoạn văn này là một chữ mang số nhiều (có thể dịch là “những Thiên Chúa”) !

      Hay Thiên Chúa tự nói với mình ? Trần Đúc Thảo gọi đó là  “tiếng nói bên trong” , và coi tiếng nói bên trong ấy chính là nguồn gốc của sự hình thành ý thức. Phải chăng cùng lúc với việc tác tạo vạn vật, Thiên Chúa cũng xây dựng ý thức của chính mình, như một đứa trẻ khám phá mọi sự vật chung quanh, đầu tiên là ánh sáng, và bắt đầu ý thức về chúng ? Nhà Phật cho rằng : vạn pháp đều từ tâm mà sinh ra, và do ý thức mà được nhận biết. Làm im  được  “tiếng nói bên trong” , đạt  đến chân thường vô niệm, thì vạn pháp diệt, tâm trở thành trong sáng vì không còn gì trong đó, và trở về trạng thái nguyên thủy, «bản lai chân diện mục». Trên quan điểm mọi sự (vạn pháp) đều từ Tâm mà sanh ra, thì trở về với trạng thái nguyên thủy như thế, cũng tương đương với trở về giây lát trước điểm khởi đầu của Sáng Thế Ký, lúc mà chỉ có một sự hiện hữu duy nhất,  là Thiên Chúa.

VẠN PHÁP « RẤT TỐT » !

      Cùng với ánh sáng, Thiên Chúa cũng đã phát minh ra thời gian. Ngài phân chia ánh sáng với tăm tối và định ra « ngày » và « đêm ». Từ đó, tiến trình sáng tạo diễn ra « trong » thời gian, với những « ngày ». Mỗi ngày Thiên Chúa tạo nên một số sự vật, và tuyên bố : « điều ấy tốt ». Như thế Thiên Chúa cũng đồng thời tạo ra sự « tốt xấu », cùng với suy luận chủ quan.

      Điều cần chú ý là : tạo vật được Thiên Chúa dựng nên được so sánh với cái gì để được gọi là « tốt » ? Phải chăng đã có những kinh nghiệm sáng tạo khác, những thế giới khác đã được tạo nên nhưng « không được tốt lắm » ? Bạn nên lập tức bỏ bài viết này xuống, và đi xem ngay bộ phim «Matrix» nếu chưa xem. Trong bộ phim này, nhân vật Thiên Chúa (Đại Kiến Trúc Sư) cho biết đã sáng chế ra 5 hay 6 thế giới chi đó, nhưng chúng đều không “chạy” tốt. Cái thế giới mà chúng ta “sống” trong phim có vẻ chạy tốt, cho đến khi có vài trục trặc như được chứng kiến trên màn ảnh. Thiên Chúa trong Matrix là một thảo trình điện toán, thế giới cũng như vạn vật được ý thức, cũng đều là những thảo trình hiện hữu song song với một thực tại hoàn toàn độc lập …

      Đến đoạn này của Sáng Thế Ký, chúng ta bước vào một thế giới nhị nguyên, với đầy đủ gia vị của nó : chủ thể, khách thể, thời gian tức quá khứ, vị lai, tốt xấu, đêm ngày, trên dưới, v.v… và mọi sự vật. Một niệm khởi lên là vạn pháp tạo thành ! Chi tiết sự hình thành «vạn pháp » không quan trọng. Đại khái Thiên Chúa dựng nên trời ở giữa nước và phân ra nước trên và nước dưới, rồi gom nước dưới thành đại dương với phần còn lại là đất, rồi dựng nên cây cỏ hoa trái, sau đó gắn những ngọn đèn trên bầu trời (tức mặt trời, mặt trăng và các vì sao) để phân ngày và đêm (ở đây có sự lập lại và mâu thuẫn với sự phân định ngày đêm ở đoạn tạo thành ánh sáng), làm mốc thời gian cho năm tháng, và cả cho ngày lễ. Thiên Chúa, như mọi công nhân « lao động tốt », đã quan tâm  đến ngày nghỉ lễ ! Sau đó  Thiên Chúa tạo ra những loài vật sống dưới nước, rồi loài chim, rồi mới tới các loài vật sống trên đất, và cuối cùng là … loài người. Tiến trình tạo thành vạn vật như thế tùy thuộc ý thức về vũ trụ và sự vật mà tác giả Sáng Thế Ký gán cho nhân vật Thiên Chúa của mình. Người ta nghĩ Sáng Thế Ký được viết ra chung quanh giai đoạn người Do Thái bị lưu đày ở Babylone, 5 tới 6 thế kỷ trước Công nguyên. Ý thức về vạn vật, về vũ trụ, của thời ấy như thế, chúng ta chấp nhận như thế. Nó có những điểm không chính xác, như ý thức của chính chúng ta, ngày nay, về vũ trụ và sự vật, chắc chắn cũng vấp phải nhiều sai lầm thiếu sót.

CHÚA CÓ BIẾT MỆT HAY KHÔNG ?

      Đọc đến Gen 1:26 (Sáng Thế Ký chương 1 câu 26) chúng ta chứng kiến sự tạo thành con người. Con người được tác tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, gồm nam và nữ, với sứ mạng rõ rệt là ngự trị trên vạn vật. Không thấy nói các loài vật được dựng nên với giống đực và giống cái. Mặt khác, nếu loài người, nam và nữ, được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, thì Thiên Chúa là nam hay nữ ? có lẽ cả hai ? Giả sử Thiên Chúa có vừa nam vừa nữ thì phải công nhận rằng nữ tính trong Thiên Chúa đã hoàn toàn bị khoả lấp, đè bẹp trong suốt Thánh Kinh.

      Liền sau đó, Thiên Chúa tính tới một vấn đề quan trọng : Ăn ! Ngài chỉ định cho mọi loài động vật sống trên đất, các loài chim và con người, được quyền ăn mọi loài rau quả. Không thấy nói đến thực phẩm của các loài vật sống dưới nước. Quyền ăn thịt cũng chưa được công bố. Hết chương một.

      Chương 2 của Sáng Thế Ký nói rằng : đến ngày thứ bảy, mọi sự đã được tạo thành, Thiên Chúa cho rằng những điều ấy « rất » tốt (những đoạn trước Ngài chỉ nói « tốt »), và Ngài « ngừng làm việc » (theo bản TOB : traduction œcuménique de la Bible), hay Ngài « nghỉ ngơi » (theo nhiều bản khác). Từ đó đưa đến truyền thống nghỉ ngày Chủ Nhật, hay ngày Shabbat. Sự kiện Thiên Chúa nghỉ ngơi bị các nhà Thần Học Hồi Giáo chỉ trích : nếu có nghỉ là có mệt, vậy Thiên Chúa cũng biết mệt ? Biết mệt là sức Ngài có hạn, năng lực cũng như quyền phép của ngài không phải vô biên, điều mà các vị ấy không thể chấp nhận được. Bản dịch TOB, một bản dịch dung hoà giữa nhiều Giáo Hội (œcuménique), tránh chuyện nghỉ mệt, và chỉ nói « ngừng làm việc ». Dù sao chúng ta đã thấy hé lộ ra nơi đây, một chút yếu ớt của Thiên Chúa bên cạnh quyền phép của Ngài.

      Ngày thứ bảy … Con số bảy là một con số biểu tượng quan trọng trong văn hoá Ấn Âu, ảnh hưởng vào  văn hoá Sémite có lẽ qua cuộc lưu đày của dân Do Thái tại Babylone. Âm giai 7 nốt, ánh sáng 7 màu,  7 « luân xa » của Yoga, sau khi chào đời Đức Phật  đi 7 bước, Hoàng Hậu Maya chết 7 ngày sau khi hạ sanh Đúc Phật, Phật tu khổ hạnh 7 năm, 7 tầng Trời, 7 tầng Địa Ngục (Hồi Giáo), Nữ thần Sarasvati (Ấn Giáo) có cây đàn 7 giây, Nữ Thần Ishtar (Babylone) được bao quanh bởi 7 trinh nữ, Đức Giê Su đứng hàng thứ 77 trong gia phả của Ngài tính từ Adam (Luca 3 :23-38), và một Giê Su khác đứng hàng thứ 49, 7 lần 7, trong cùng gia phả, khi Giê Su hài nhi được đưa vào Đền Thờ, bà Anna nhận biết Ngài, bà này 84 tuổi, sống với chồng 7 năm rồi đi tu, cuộc đời bà đến 84 tuổi thì coi như sống độc thân … 77 năm ! Cũng phải kể Bạch Tuyết và bảy chú lùn, đôi hia 7 dặm và 7 anh em của thằng bé tí hon, thậm chí người Thượng Koho ở vùng Lâm Đồng hàng năm mừng lễ Lir Bong (1 tháng sau Tết), nhưng 7 năm một lần thì làm 1 ngày Đại Lễ, chứng tỏ liên hệ của họ với dòng văn hoá Ấn Âu …

YAHWEH VÀ ELOHIM

      Đọc xuống vài chữ đến Gen 2 : 5 thì chúng ta lại được chứng kiến một tiến trình tạo dựng khác, lần này với nhân vật Thiên Chúa được gọi là Yahweh thay vì Elohim, có lẽ do một tác giả khác viết ra, theo một truyền  thống (truyền khẩu) khác. Ở đây, đoạn Yavist,  tiến trình tạo dựng không đi vào những chi tiết như ở đoạn « Elohist », mà chỉ chú trọng vào việc dựng nên con người, trong một « Vườn Địa Đàng » Eden (chữ này có nghĩa là « lạc thú »). Trong Eden, Ngài trồng « cây trường sinh » (arbre de vie) và « cây phân biệt tốt xấu ». Chúa Yahweh cũng lấy đất nặn thành con người   và thổi vào trong lỗ mũi của người « hơi thở sống », sinh khí. Con người tiếng Do Thái là « adam », và tiếng chỉ đất là « adama ». Ở đây, ngôn ngữ semite của vùng Trung Đông có sự trùng hợp với ngôn ngữ Ấn Âu. Chữ « con người » trong ngôn ngữ Ấn Âu (homme, humain, hay homo) đến từ căn Ghyom. Căn ấy cũng cho ra chữ chỉ « đất » : « humus ». Homo và humus, « người » và « đất » đến từ cùng một gốc theo ngữ học Ấn Âu !

      Ở đoạn Sáng Thế Ký này, Chúa Yahweh không cho con người ngự trị trên toàn thể tạo vật, như Chúa Elohim đã phán, mà chỉ định cho hắn một môi trường hạn chế : Eden. Trong môi trường hạn chế ấy, con người không phải muốn làm gì cũng được : hắn bị cấm không cho ăn trái của « cây phân biệt tốt xấu ». « Ngày mà » hắn cãi lệnh, ăn trái cấm, thì « sẽ bị chết » (Gen 2 :17). Chúa Yahweh đã dựng nên sự cấm đoán, và liền theo đó, dự phóng sự chết. Sự cấm đoán nguyên thủy này có hợp lý hay không ? Tại sao con người lại  không được biết đến việc phân biệt tốt xấu ? Ở vào thời điểm ấy, khi mà sự chết chưa thực sự hiện hữu, Chúa và con người quan niệm sự chết như thế nào ?

TỪ NGUYÊN THUỶ LÀ CÔ ĐƠN

      Yahweh cho rằng con người sống một mình không tốt, và muốn tạo cho con người một phụ tá (aide). Chúng ta nhớ lại : Thiên Chúa lúc trước cũng sống một mình, và như thế hẳn là cũng « không tốt » ? Phải chăng sự tạo thành vũ trụ vạn vật là để điều chỉnh cái « không tốt » ấy, bằng cách tạo nên cho Thiên Chúa những người phụ tá, những kẻ thờ kính, hay những người bạn, người con v.v… ? Trong đoạn Elohist chúng ta đã bàn tới ý thức chủ quan của Thiên Chúa về cái tốt, khi Ngài tuyên bố : điều này điều nọ Ngài dựng nên là « tốt », và tất cả tạo vật « rất tốt ». Ý thức chủ quan ấy kêu gọi, gợi lên một cái gì trước mặt, cụ thể là một ý thức khác, có khả năng nhận biết, phản ảnh, làm dội lại những ý niệm khởi sinh trong tâm thức Thiên Chúa, để những ý niệm của Thiên Chúa không bị biến mất vào hư không. Vì tập hợp những ý niệm của Thiên Chúa chính là Thiên Chúa, nên nếu không muốn chính mình bị biến vào hư không, Thiên Chúa cần một đồi tượng. Từ nguyên thủy là cô đơn vậy …

      Tại sao cần tạo cho con người một đối tượng ? Hắn đã có đối tượng là Thiên Chúa rồi cơ mà ? Phải chăng Thiên Chúa, vì vốn vẫn sống một mình, nên không biết cư xử với đối tượng của mình như thế nào, và vì thế cần tạo ra một đối tượng cho con người được dựng nên theo hình ảnh của mình (hay mang hơi thở - tâm hồn - của mình), để xem con người xoay sở ra sao ? Thiên Chúa cần biết chính mình qua con người được dựng nên giống mình, và một trong những điều Ngài cần biết là cái tương quan « ta người » nó như thế nào ? Điều buồn cười là Chúa Yahweh đã lấy đất nặn thành các loài vật, muông thú, chim chóc … để đề nghị cho con người lấy chúng làm « phụ tá », nhưng con người chỉ đặt tên cho chúng, như một dấu hiệu uy quyền trên chúng, nhưng có vẻ không tìm thấy kẻ « phụ tá » mà mình mong ước trong đám heo bò trâu chó thằn lằn ễnh ương kia. Rốt cuộc Yahweh mới tạo nên … đàn bà !

      Người phụ nữ được tạo thành từ xương sườn của người nam, cùng một thân xác, một xương thịt, đưa đến  một liên hệ mà Sáng Thế Ký coi như khắng khít hơn cả liên hệ của người nam với cha mẹ mình (Gen 2:24). Trong phim Matrix, có một nhân vật (thảo trình) phụ nữ gọi là Oracle, có thể tương ứng với người phụ nữ đầu tiên. Vị Đại Kiến Trúc Sư (Thiên Chúa) tiết lộ rằng bà này được dựng nên để đem lại cho nhân loại một yếu tố không hoàn hảo. Nếu không có yếu tố không hoàn hảo ấy, thế giới (Matrix) sẽ không chạy tốt, do kinh nghiệm từ các lần tạo thiên lập địa trước. Phim Matrix đầy những biểu tượng như vậy : nhân vật Néo, có nghĩa là (người) mới, tên thật là Anderson, nghĩa là « Con Người » (Fils de l’Homme – tiềng thường dùng để chỉ Đức Ky Tô – « Ander » đến từ « Andros » là người, và « son » là con), người tình của cậu ta là Trinity (Ba Ngôi), người khai ngộ cho cu cậu là Morpheus (thần của mộng mơ), v.v…

TRÁI CẤM VÀ TINH DỤC

       « Yếu tố không hoàn hảo », theo quan điểm của tác giả Sáng Thế Ký, bắt đầu hoạt động từ Gen 3 :1. Người ta khám phá ra Con Rắn, con vật khôn lanh nhất trong các loài vật. « Yếu tố không hoàn hảo », tức người đàn bà, nói với Rắn rằng : Thiên Chúa không cho ăn trái cây ở giữa vườn, nếu không nghe theo thì sẽ phải chết. Rắn nói với người đàn bà : « Không, ông bà sẽ không chết, nhưng Thiên Chúa biết rằng ngày mà ông bà ăn trái của cây ấy, mắt của ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ trở thành giống như những vị Chúa, với sự hiểu biết về tốt và xấu ». Trong sự suy nghĩ của người đàn bà sau đó, ta phải đặc biệt ghi nhận ý tưởng rằng : ăn trái cây phân biệt tốt xấu sẽ giúp bà ta « hành động sáng suốt » (Gen 3 :6), một mong muốn rất đáng tôn trọng. Thế là bà ta ăn trái cây bị cấm, và đem cho người đàn ông cùng ăn. Liền sau đó, hai ông bà mở mắt ra, và, họ thấy gì ? Không thấy gì cao siêu, họ chỉ thấy mình trần truồng ! Họ hổ thẹn, và bắt đầu mặc quần áo.

      Sự hổ thẹn vì trần truồng của người đàn ông và người đàn bà sau khi ăn trái cấm đã khiến cho người ta gắn liền sự kiện « ăn trái cấm » với tình dục. Tại sao họ hổ thẹn ? Tại sao chính chúng ta hổ thẹn ? Chúng ta hổ thẹn vì  « dục tính » của mình, và sợ người khác biết được dục tính ấy, hay vì chính mình cũng bị người khác ham muốn, là đối tượng của dục tính của người khác ? Trong đoạn Sáng Thế Ký Yahvist, không thấy nói người đàn ông và người đàn bà có sinh hoạt tình dục trước khi ăn trái cấm. Có lẽ là không. Trước khi ăn trái cấm họ không biết mình trần truồng và không biết hổ thẹn (Gen 2 :25), có thể hiểu là cũng không có dục tính và không biết giao hợp. Tuy nhiên, cần nhớ lại rằng ở đoạn Elohist, Thiên Chúa đã ra lệnh cho con người, nam và nữ : « hãy sản sinh và nảy nở,  hãy tràn ngập và ngự trị trên mặt đất ».

      Chúng ta có thể giả dụ rằng cặp vợ chồng nguyên thủy, trong Sáng Thế Ký Elohist, đã làm những gì phải làm để thi hành mệnh lệnh này của Thiên Chúa. Ngược lại trong Sáng Thế Ký Yahvist, họ lại không có quan hệ xác thịt, cho đến khi ăn trái cấm. Vậy, việc ăn trái cấm phải chăng ngay từ đầu đã nằm trong chương trình của Chúa Yahweh ? Con rắn phải chăng chính là một thành phần của tâm thức (có thể là tiềm thức) của Yahweh, và việc con người ăn trái cấm thể hiện một ý muốn sâu kín của Ngài ? Thật vậy, bắt buộc phải có việc ăn trái cấm thì người nam va người nữ mới có sinh hoạt tình dục, và mới thực hiện được chương trình sinh sôi nảy nở của những hình ảnh của Ngài, đã được đề ra một cách rõ ràng trong đoạn văn Elohist, khi Thiên Chúa phát biểu dưới dạng Elohim.

TRÁI CẤM VÀ VÔ PHÂN BIỆT TRÍ

      Nếu người Tây Phương thường giải thích việc « ăn trái cấm » như một hiện tượng gắn liền với tình dục, thì theo quan điểm của người Đông Phương không có thói quen quy kết mọi việc vào tình dục, thiết tưởng chúng ta có thể nhìn vấn đề dưới một góc độ khác :

      Trước khi ăn trái « Cây Phân Biệt Tốt Xấu », ý thức của con người là một loại ý thức nhất nguyên, « vô phân biệt ». Họ không biết « ta người », nên không có vấn đề hổ thẹn, người nam và người nữ như cùng thân thể (người nữ đến từ xương thịt của người nam). Họ thở cùng một hơi thở với Thiên Chúa, và sống hòa hợp với Thiên Chúa. Họ cùng bản chất với các loài vật, cũng được tạo nên như họ từ đất cát. Họ không biết phân biệt  « tốt xấu », là mấu chốt nền tảng của óc Nhị Nguyên. Họ sống trong một cảnh giới chủ quan có tính Nhất Nguyên, tâm trí của họ là vô phân biệt trí. Con người không cần « phân biệt tốt xấu » vì họ chỉ cần chiều theo định luật của trời đất, chiều theo cái mà Thiên Chúa gọi là « rất tốt » khi hoàn tất sự Sáng Tạo. Họ sống như một với Thiên Chúa và không cần vận dụng đến cái ý thức cá biệt, cái bản ngã, của họ.

      Các bạn Công Giáo hẳn không quên chữ « rước lễ » đến từ chữ « communion » có thể phân tích ra thành « comme un » nghĩa là « như một ». Qua « rước lễ », chúng ta trở về Eden, « làm một » với Thiên Chúa. Ăn trái của « Cây Phân Biệt Tốt Xấu » là vận dụng bản ngã, tự tách mình ra khỏi Thiên Chúa, khỏi cái Đạo thường hằng của vũ trụ, là tự suy nghĩ « theo tôi », « tôi » quyết định cái này tốt, cái kia xấu … Nếu Rắn tượng trưng cho sự thông minh, thì đó là sự thông minh của Tiểu Ngã, của cái tôi cá biệt, tách rời khỏi Cái Tôi Lớn của vũ trụ, làm mờ ám cái Trí Tuệ của « bờ bên kia », trí tuệ Bát Nhã. Nói cách khác, khi ăn trái cấm, trí tuệ phân biệt của bản ngã được khai mở, khởi đầu bằng sự phân biệt tiêu biểu và nền tảng nhất : sự phân biệt giữa tốt và xấu. Từ đó kéo theo những cặp nhị nguyên khác : trẻ già, sống chết, sướng khổ, khoẻ bệnh, nam nữ, bạn thù, v.v… Và cuộc sống của con người bắt đầu rơi vào cảnh giới Nhị Nguyên, với vô minh và phiền não, khổ đau và ham muốn, oán hờn và bất mãn …

      Mang tâm hồn của một người Việt Nam, tôi chỉ muốn nhớ lại từ Sáng Thế Ký đoạn văn này, và coi những đoạn khác như hoàn toàn phụ thuộc.

NGƯƠI SẼ THÈM MUỐN ĐÀN ÔNG !

      Nhưng, chúng ta bắt buộc phải trở về với mạch văn, và xem tiếp đến đoạn Gen 3 :8. Yahweh hỏi người nam : « ngươi ở đâu ? »,  « có phải  ngươi đã ăn trái cấm ? », và hỏi người đàn bà : « ngươi đã làm gì ?» những  câu hỏi rất rởm bởi một kẻ đã biết câu trả lời. Chính chúng ta cũng hay làm như vậy, kiểu như bà mẹ gọi đứa bé, chỉ cái chén bể, hỏi : cái gì đây ! Yahweh quả là một nhân vật rất « người », rất gần với chúng ta. Sau đó Yahweh tuyên án. Đầu tiên là Rắn. Rắn phải đi bằng bụng, ăn cát bụi, và lãnh nhận một mối thù truyền kiếp với hậu duệ của người đàn bà, có lẽ phải hiểu là với tất cả những người đàn bà sau đó. Nếu Rắn tượng trưng cho ý thức về dục tính, như người ta thường nghĩ, thì người đàn bà hẳn là phải có « vấn đề » với dục tính. Sáng Thế Ký được viết bởi đàn ông, và điều này thể hiện mối lo sợ của đàn ông đối với tình dục của đàn bà.

      Thật vậy, khả năng tình dục của đàn ông có giới hạn, trong khi khả năng tình dục của đàn bà không giới hạn. Ông có nhiều lúc « không được nữa », mà bà lại cứ « muốn nữa ». Trong tiềm thức, ông rất sợ bà ! Vì thế, đàn ông đặt ra những quy luật tôn giáo cũng như xã hội nhiều khi rất khắt khe, để khoả lấp sự yếu kém của mình, và kiềm chế người đàn bà. Nếu Thiên Chúa là đàn bà, nếu các tôn giáo được lập ra bởi các bà, nếu các giáo hội do các bà chỉ huy, các luật lệ luân lý, xã hội, được quy định bởi « phái yếu », thì bộ mặt thế giới sẽ hoàn toàn khác. Gần nơi tôi ở có Tu Viện Fontevraud, là một tu viện do các bà làm chủ, nam nhân chỉ được dành cho những vai trò thứ yếu. Ở một hành lang trong tu viện có khắc những hình ảnh của Sáng Thế Ký, theo đó kẻ « phạm tội » đầu tiên là người nam, sau mới dụ người nữ tham gia !

      Hình phạt dành cho người nữ là mang nặng đẻ đau, và « ngươi sẽ thèm muốn người nam, và người nam sẽ làm chủ ngươi » (Gen 3 :16). « Làm chủ », đương nhiên, An Nam ta chẳng có chữ « chồng » nghĩa là « chồng lên trên » hay sao ? Điều quan trọng là sự làm chủ ấy là hệ quả của bản tính « thèm muốn đàn ông », được đặt ra ở đây như một vấn đề, một sự nguyền rủa. Chúng ta lại thấy một mâu thuẫn trong nhân vật Thiên Chúa : nếu muốn con người sinh sôi nảy nở tràn đầy mặt đất (lệnh của Chúa Elohim), thì tại sao sự sinh sản lại phải đau đớn khó khăn ? Tại sao ham muốn tình dục lại trở thành một nguyền rủa mà không phải là một hồng ân ?

      Hình phạt dành cho người nam (Gen : 17-19) là phải làm lụng vất vả, và phải « trở về với cát bụi », được hiểu là phải chết. Hình phạt Yahweh tuyên xử không chỉ áp dụng cho những kẻ « phạm tội », mà cho toàn thể hậu duệ của họ, tức trên vô số người vô tội ! Phạt oan là một chuyện thông thường trong Thánh Kinh, chúng ta sẽ trở lại vấn đề này.

      Thật ra, theo sự hiểu biết của người Việt Nam tôi, thì nhìn chung chung, các hình phạt của Yahweh là những hệ quả tự nhiên của óc Nhị Nguyên. Thật vậy, có ý thức sống thì có ý thức chết, có ý thức sướng thì có ý thức khổ, có ham muốn thì có thất vọng, có khoái lạc, thì cũng có những hệ quả đau đớn của khoái lạc (chẳng cần nói chi đến tình dục : nếu anh ăn uống quá độ thì khoái lạc thật đấy, nhưng … cholesterol sẽ lên, glycemie lên, và … tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim v.v… sẽ tới !). Người nam và người nữ trong Sáng Thế Ký chính là những đại diện cho mọi con người đã, đang, và sẽ hiện hữu, trong một huyền thoại đầy ẩn ngữ. Adam nghĩa là « người », có thể hiểu là « con người » nói chung, chứ không chỉ là một con người đặc biệt, ở một thời điểm đặc biệt, có địa chỉ rõ ràng, số căn cước chính xác, social security number hẳn hoi …

HỌC ĐƯỢC TÌNH YÊU QUA CON NGƯỜI

      Sau khi nghe Chúa Yahweh tuyên án xử phạt mình sẽ phải chết, người nam liền đặt tên cho người nữ là Eva, « mang sự sống » (Gen 3 :20), như một sự trả lời đối với bản án của Chúa. Ngài phạt tôi phải chết, nhưng tôi đã có « sự sống », Eva, bên cạnh tôi. Với Eva, tôi sẽ có hậu duệ, sẽ sống vĩnh cửu qua con cháu tôi … Eva được giao cho chức năng hoá giải hình phạt của Chúa, như một thành trì bảo vệ con người trước Yahweh.

      Ở Gen 3 :21, Chúa Yahweh làm một việc, theo tôi, rất cảm động : Ngài lấy da thú làm y phục và mặc cho Adam và Eva. Với cử chỉ từ ái ấy, cử chỉ của người cha nhân từ đối với những đứa con ngỗ nghịch, phải chăng Yahweh bày tỏ sự ân hận đối với hình phạt mà Ngài đã dành cho con người ? Chúng ta nhìn thấy Tình Yêu trong Yahweh. Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng tình yêu của Yahweh đã xuất hiện sau tình yêu của Adam dành cho người nữ, thể hiện qua những vần thơ mà Adam đã thốt ra khi nhìn thấy bạn đời của mình, trong Gen 2 :23. Ba nhận định : Một, phải chăng Chúa Yahweh đã “học” được tình yêu qua Adam, khi Ngài tạo ra cho Adam một đối tượng, một tha nhân, một con người khác từ chính xương thịt của Adam, như Adam chính là tha nhân đối với Chúa, mang hơi thở và hình ảnh của Chúa ? Hai, nếu Yahweh hối hận, tức là Yahweh có sai lầm. Sai lầm nguyên thủy này mở màn cho một chuỗi sai lầm khác, trong suốt Thánh Kinh. Ba, lấy da thú làm y phục là có sát hại thú vật. Từ đoạn này của Sáng Thế Ký, bạo lực bắt đầu ngự trị, và khởi điểm của bạo lực, là Yahweh …

RẮN NÓI THẬT, YAHWEH NÓI DỐI

      Nhân vật thứ tư xuất hiện trong Sáng Thế Ký, sau Thiên Chúa (tổng hợp Yahweh cộng Elohim), người nam và người nữ, là Con Rắn. Câu nói của Yahweh ở đoạn Gen 3 :22 cho thấy vị trí của Rắn trong câu chuyện. Chúa Yahweh nói : « Thế là con người đă trở nên như một kẻ trong chúng ta bởi sự hiểu biết tốt xấu. Bây giờ, phải ngăn cản không cho nó vươn tay hái lấy trái cây trường sinh, để ăn trái ấy mà sống mãi mãi ! ». Thì ra những cấm đoán của Yahweh không là gì khác hơn là sự bảo vệ những đặc quyền. Đặc quyền của ai ? Của « chúng ta ». « Chúng ta » là ai ? Không thấy nói. Chỉ biết con người, khi đạt được khả năng tự mình phân biệt tốt xấu, đã trở thành « như chúng ta ». Nhưng con  người còn một yếu kém đối với « chúng ta », đó là nó không được sống mãi mãi. « Chúng ta » phải ngăn cản đừng để nó đạt đến sự sống vĩnh cửu, phải đuổi nó ra khỏi Vườn Địa Đàng để nó không thể đến gần và ăn trái  « cây trường sinh ».

      Và, để bảo vệ đặc quyền của nhóm mình, Yahweh đã phải nói dối. Chúa Yahweh đã nói ở Gen 2:17, rằng : « ngày mà ngươi ăn trái cấm, ngươi sẽ phải chết ». Ngày mà con người ăn trái cấm, con người  đã không chết. Con rắn nói đúng : « Không, ông bà sẽ không chết, nhưng Chúa biết rằng ngày mà ông bà ăn trái của cây ấy, mắt của ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ trở thành giống như những vị Chúa, với sự hiểu biết về tốt và xấu » (Gen 3 :4). Rắn tiết lộ ưu tư bảo vệ đặc quyền của Yahweh và nhóm của Ngài, điều mà Yahweh đã thừa nhận ở đoạn Gen 3 :22 vừa nói ở trên. Tuy nhiên, Rắn là ai mà biết được ưu tư thầm kín của Chúa ? Chúng ta đã nêu lên sự kiện Rắn đã giúp Thiên Chúa thực hiện ước muốn con người sinh sôi nảy nở đầy mặt đất, bằng cách khai mở dục tính nơi con người, sau khi con người ăn trái cấm. Vậy, giả thuyết Rắn là một thành phần của tâm thức Thiên Chúa, là một giả thuyết rất hấp dẫn. Cũng cần ghi nhận mâu thuẫn giữa Elohim dựng nên con người giống hình ảnh mình, trong khi Yahweh nhất định không muốn con người giống « chúng ta »... (mà phải khác « chúng ta » ở sự chết).

      Nói đến Con Rắn, người ta thường liên tưởng đến Ác Quỷ. Thật ra Ác Quỷ, Shatan, nghĩa trong tiếng Do Thái là « kẻ buộc tội », chỉ xuất hiện trong Thánh Kinh từ sách Job. Trong sách này, Shatan đứng trong hàng ngũ những « Con Thiên Chúa » (Job 1:6), đến gặp và gợi ý cho Chúa Yahweh làm những công việc rất quỷ quái. Nhiều nhà bình luận Thánh Kinh cho rằng bản tính của Quỷ Shatan tiềm ẩn trong Chúa cho đến sách Job thì mới tách ra khỏi Ngài, và hiện hữu như một cá thể riêng biệt. Điều này đối với người  Đông Á chúng ta không có gì là kỳ dị. Phật là Ma, Ma là Phật. Mỗi vị Như Lai trong Kim Cang Giới đều có những Ác Quỷ tương ứng. Các Ác Quỷ này là những sự thị hiện của các Ngài, cũng như tất cả chúng ta. Trong Tử Thư Tây Tạng, nếu người chết không nhận ra và không hoà hợp được với các vị Phật, Thánh, lần lượt hiện đến trong tâm thức họ, thì họ sẽ phải thấy những Ác Quỷ ghê rợn, ăn gan uống máu, hiện ra. Nếu người chết nhìn nhận được những Ác Quỷ kia cũng chính là những thành phần của tâm thức mình, thì họ sẽ được giải thoát. Nếu bạn có xem phim Little Buddha thì chắc còn nhớ cảnh Đức Phật soi bóng  mình trong ánh nước, và nhận ra Quỷ Vương Maya !

      Nếu Rắn nói thật và Chúa Yahweh nói dối, thì những hình phạt Chúa tuyên phán là bất công. Trong Thánh Kinh có nhiều thí dụ Chúa xử phạt bất công. Trong sách Lưu Đày (Exode), Chúa Yahweh ảnh hưởng vào tâm thức của Vua Pharaon, khiến Pharaon trở nên cứng rắn, không chịu cho dân Do Thái rời đất Ai Cập (Exode 9 :12; 10 :20; 10 :27; 11 :10 ) và sau đó lại áp dụng những hình phạt khủng khiếp, không những chỉ đối với Pharaon mà thôi, mà còn cả đối với toàn dân Ai Cập, thậm chí giết hết tất cả các đứa con đầu lòng của người Ai Cập ! Sau đó, khi Vua Pharaon đã thoả thuận cho Dân Do Thái rời Ai Cập, Yahweh lại ảnh hưởng vào tâm thức của Nhà Vua, để  thúc đẩy ông đem quân đuỗi theo dân Chúa, để lại chịu phạt thêm một chuyến nữa, khi biển cả mở ra cho dân Do Thái đi qua, và phủ lại nhận chìm toàn thể quân đội Ai Cập (Exode 14 :4; 14 :8).

      Sách Job thì kể việc Chúa Yahweh tàn sát dã man gia đình Job, một nhân vật được công nhận như một người chính trực, đạo đức. Bảy con trai, ba con gái, rất đông đày tớ, chưa kể 10 ngàn gia súc của Job đã bị Chúa thẳng tay sát hại, chỉ vì một màn đánh cuộc rất vớ vẩn với Shatan. Riêng Job thì phải mang bệnh ghẻ lở vô cùng kinh tởm, nằm ăn mày trên đống rác. Sau Chúa phục hồi sức khoẻ và tài sản cho Job, nhưng những người vô tội đã bị Chúa giết, như các con của Job và đám đày tớ (không kể gia súc), thì … coi như xí xoá !

ĐẢ ĐẢO ĐỊA CHỦ !

      Trở lại Sáng Thế Ký. Thế là Chúa đuổi Adam và Eva ra khỏi Vườn Địa Đàng Eden, với chủ ý được tuyên bố rất rõ ràng là để « con người » không thể đến gần và ăn trái « cây tường sinh ». Cho chắc chắn hơn, Chúa sai những Thiên Thần Cherubins gác cửa Eden với gươm lửa sấm sét, « để bảo vệ con đường đi đến cây trường sinh » (Gen 3 :24). Rời Eden, chữ có nghĩa là « lạc thú », con người coi như trầm luân trong bể khổ …

      Adam và Eva sinh ngay hai người con : Cain, rồi Abel. Cain làm nông, Abel chăn cừu. Hai anh em cùng đem lễ vật hiến dâng Thiên Chúa. Yahweh nhận lễ vật của Abel, và ngoảnh mặt không thèm nhìn Cain và lễ vật của Cain. Cain ganh ghét giết Abel. Chúa phạt Cain phải chịu đất đai cằn cỗi, cày cấy vất vả. Thật ra, hình phạt này Chúa đã tuyên án toàn thể con người qua Adam, nên lập lại cũng như không. Ngược lại, Chúa ra lệnh không cho bất kỳ ai được giết Cain, nếu không sẽ bị trả thù bảy lần (Gen 4 :15). Chỉ trong vài câu văn ngắn ngủi mà chúng ta thấy xuất hiện trên mặt đất bao nhiêu là hình thức của bạo lực : bạo lực của cư xử không công bằng, của ghen tuông đưa đến giết chóc, rồi bạo lực của sự hăm doạ « trả thù bảy lần » ...

      Nguồn gốc của bạo lực nơi đoạn này đến từ một sự bất công. Chúa không có lý do gì để ngoảnh mặt không thèm nhìn Cain và lễ vật của ông. Đây không phải là thái độ của một người cha nhân từ. Tế lễ Chúa trở thành một trò chơi may rủi : Chúa nhận hay Chúa gạt bỏ, không làm sao biết trước được. Có lẽ Yahweh đã không ý thức được hậu quả tai hại của thái độ bất công của mình, nên sau đó ân hận và chỉ xử phạt Cain một cách tương đối nhẹ nhàng, đồng thời lại doạ trả thù bảy lần kẻ nào dám đụng tới Cain. Ở Sáng Thế Ký cho đến đoạn này Yahweh vẫn chưa  phát minh ra luân lý, đạo đức.

      Như vậy, thì khi nói « tốt », « rất tốt », hay « không tốt », trong những đoạn văn ở trên, Chúa muốn nói gì ? Phải chăng « tốt » hay « không tốt » chỉ được quan niệm như tốt hay không tốt cho Chúa, tức từ một quan điểm hoàn toàn vị kỷ ? Đừng quên rằng trước khi tạo nên trời đất, Chúa hoàn toàn cô độc, và không thể có một kinh nghiệm nào khác ngoài kinh nghiệm chính mình. Khi ấy, không hề có tha nhân nào ở đó để làm nảy nở óc vị tha nơi Thiên Chúa ! Luân lý đạo đức đến từ đời sống xã hội. Muốn nảy sinh ra được óc luân lý, đạo đức nơi mình, Chúa phải thực tập đời sống xã hội thêm một thời gian nữa ... 

      Có lẽ việc Cain giết Abel, em mình, là một ngạc nhiên lớn đối với Thiên Chúa. Thiên Chúa ban sự sống, rồi có lúc hăm doạ Adam và Eva phải chết, nhưng trong thực tế vẫn chưa giết ai cả. Chưa một ai đã phải chết cho đến giờ phút ấy. Cain đã phỗng tay trên Thiên Chúa, để đem lại sự chết (đúng hơn là sự giết hại lẫn nhau) trong xã hội loài người. Thiên Chúa khám phá ra rằng con người có quyền hạn nhiều hơn mình tưởng : con người có thể cho sự sống, như ý nghĩa việc Adam đặt tên vợ mình là « mang sự sống », và con người cũng có thể cho sự chết, như Cain vừa làm. Ý thức quyền hạn của con người càng rộng lớn, cũng là ý thức quyền hạn của chính mình, Thiên Chúa, càng bị hạn chế. Nhận xét này giúp chúng ta hiểu được dễ dàng hơn thái độ của nhân vật Thiên Chúa trong những đoạn văn kế tiếp.

      Câu chuyện Cain và Abel thật ra nói lên sự đối nghịch truyền thống giữa dân du mục chăn nuôi và dân định cư trồng trọt, với một sự thiên vị rõ ràng của Thiên Chúa. Ngoài ra nếu chữ « Cain » có nghĩa là « sinh sản » thì việc Chúa ngoảnh mặt không nhìn Cain và lễ vật của ông ta như nhắc lại những khó chịu của Yahweh đối với tình dục và sự sinh sản mà chúng ta đã thấy hé lộ ở những đoạn trước ? Chúng ta sẽ còn gặp lại thái độ mâu thuẫn của Thiên Chúa trong lãnh vực này ở nhiều đoạn khác trong Sáng Thế Ký.

      Rồi đời sống vẫn trôi, Adam có nhiều người con khác, và sống đến 930 tuổi (Gen 5 :5), đại khái cũng cỡ như ông Bàn Cổ nhà mình …

GIẾT SẠCH !  ... VÀ ÂN HẬN

      Đến chương 6 của Sáng Thế Ký thì có chút trục trặc. Chương này mở đầu với những câu kỳ quái. Câu 2 (Gen 6 :2) nói rằng những người Con Trai Thiên Chúa thấy con gái của loài người xinh đẹp nên lấy làm vợ. Câu 4 nói đến những « người khổng lồ », và cho biết hôn nhân giữa các Con Trai Thiên Chúa và con gái loài người cho ra những « vị Anh Hùng » ! Các cậu ấm « Con Thiên Chúa » kia là ai ? Chúng ta , mọi con người được Chúa dựng nên, không phải là con Thiên Chúa hết cả hay sao ? Hay là các cậu « con Thiên Chúa » ấy mới thực sự là con Thiên Chúa được sinh ra từ một người cha (Thiên Chúa) và một người mẹ mà Thánh Kinh quên không cho biết tên tuổi ? Trong câu ba (Gen 6 :3), thì Chúa Yahweh tuyên bố : « Thánh Thần của ta sẽ không điều khiển được con người mãi mãi, vì những sai lầm của nó, nó chỉ là xác thịt, và cuộc sống của nó sẽ chỉ kéo dài 120 năm ».

      Khi tống cổ con người ra khỏi Eden, Chúa đã biết rằng ngài không điều khiển được con người rồi cơ mà ? Tại sao lại tiếp tục ngạc nhiên vá giáng xuống trên đầu con người một hình phạt mới (trước đó con người sống khoảng tám chín trăm năm) ? Hay là chính sự sinh sản mạnh mẽ của nhân loại đã gây khó chịu cho Chúa khiến Ngài phải hạn chế tuổi thọ của con người ?

      Sang câu 7 của chương 6, Chúa thẳng thừng quyết định : « ta sẽ xoá khỏi mặt đất con người mà ta đã dựng nên, cùng với mọi loài vật lớn nhỏ, kể cả loài chim, vì ta hối hận đã tạo nên chúng ». Kinh khủng ! Lý do ? Vì sự ác của con người, vì suốt ngày con người chỉ nghĩ đến sự xấu (Gen 6:5). Ác ra sao ? Xấu thế nào ? Không thấy nói. Nếu con người xấu và ác thì tại sao lại phạt lây đến tất cả loài vật ? Chúa Yahweh là một nhân vật nguy hiểm …

      Thêm vào đó, sự ân hận của Chúa cho thấy Ngài có thể lầm lẫn, và có thể sẽ còn lầm lẫn. Ở Gen 6 :13, thì dưới  dạng Elohim (không phải Yahweh), Chúa lên tiếng :  « Đối với ta, ngày tàn của xác thịt đã đến ! Vì do lỗi của con người mà mặt đất tràn  đầy bạo lực, do đó, ta sẽ tiêu diệt chúng cùng với trái đất ». Vậy, lý do được đưa ra ở đây là : bạo lực. Chúa phạt bạo lực bằng cách áp dụng bạo lực gấp triệu triệu lần ! Chúng ta nhớ lại việc trả thù gấp bảy lần trong câu chuyện Cain và Abel. Chỉ vài câu văn sau đó, bạo lực đã bùng nổ thêm đến mức không còn đo lường được nữa.  

      Đại Hồng Thủy, một trận lụt vĩ đại, bắt đầu. Cũng như ở   đoạn tạo thiên lập địa, có hai câu chuyện Đại Hồng Thủy được viết song song. Nhân vật Thiên Chúa được gọi là Elohim trong một câu chuyện và Yahweh trong câu chuyện thứ hai. Có những khác biệt giữa hai câu chuyện này, cũng như ở đoạn tạo thành vạn vật. Trận lụt vĩ đại có bổn phận tiêu diệt toàn bộ loài người và loài vật, có lẽ trừ tôm cá (!). Tuy nhiên, thay vì giết hết, rồi lấy đất nặn thành người và vật khác, Chúa lại cứu gia đình Noah, và những cặp súc vật tiêu biểu mà ông này đem vào trú ẩn cùng với gia đình mình trong một chiếc tàu, được chính Elohim chỉ dạy cách đóng với sơ đồ kích thước rất rõ rệt.

      Phải chăng con người, “hình ảnh Thiên Chúa" là một cái gì không thể hủy diệt được, kể cả bởi Thiên Chúa ? Nếu Thiên Chúa tận diệt con người thì cũng không khác gì hủy diệt chính mình ? Có thể quan niệm rằng một sự hiện hữu chỉ thực sự hiện hữu khi có sự hiện hữu khác ý thức mình hiện hữu. Diệt cái ý thức ấy đi thì mình cũng hết hiện hữu. Trở lại câu chuyện. Khi nước rút đi, thì Chúa gọi Noah ra khỏi tàu cùng các bạn đồng hành, người và vật, và ra lệnh cho tất cả sinh sôi nảy nở, tràn ngập mặt đất, y hệt như lúc vừa tạo ra vạn vật. Chuyện Đại Hồng Thủy là một cuộc tái tạo vạn vật, một khởi đầu mới.

      Liền sau Đại Hồng Thủy Yahweh tuyên bố « mặc dù tâm hồn con người hướng về sự xấu từ tuổi ấu thơ, nhưng ta sẽ không bao giờ tàn sát tất cả sự sống như ta đã làm » (Gen 8 :21). Hối hận ! Elohim cũng phát biểu tương tự, nhưng thêm vào đó vài điều quan trọng. Thứ nhất, con người được toàn quyền thống trị mọi loài vật, và được quyền ăn thịt chúng. Cho đến đây con người chỉ được ăn hoa quả rau trái. Phải chăng sau màn biểu dương bạo lực tuyệt đối vừa xảy ra, việc « giết để ăn » không còn là một vấn đề đối với Thiên Chúa nữa ? Tuy nhiên, không được ăn thịt có máu, và không được làm đổ máu người khác, vì « như hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa đã tạo nên con người ». Một nhận xét đến rất đúng lúc, vào một thời điểm mà chúng ta bắt đầu quên đi sự kiện này.

      Cần nhận xét : Yahweh tuyên bố con người có bản chất xấu xa, trong khi Elohim nhắc lại con người được tạo nên theo hình ảnh Thiên Chúa. Nhân vật Thiên Chúa có hai cá tính khác biệt, và nếu chúng ta gộp hai lời tuyên bố này lại, thì sự xấu xa cũng nằm trong nhân vật Thiên Chúa. Đừng quên chính Thiên Chúa đã  đoạt giải vô địch trong việc làm đổ máu con người ! Thật ra, hạn chế tình dục và sinh sản với cấm làm đổ máu người khác, quy kết vào hai đặc quyền của Thiên Chúa, cần được bảo vệ, là quyền ban phát và hủy diệt sự sống. Elohim cũng đồng thời đặt ra một giao ước với con người và mọi loài sinh vật được làm chứng bởi cái cầu vòng. Giao ước này chỉ ràng buộc Thiên Chúa, con người không phải làm gì cả. Thiên Chúa thề sẽ không bao giờ tiêu diệt mọi loài sinh vật nữa, như thể bạo lực vừa xảy ra đã làm cho Chúa Elohim kinh tởm. Cầu vòng với nhiều màu sắc cũng làm liên tưởng đến những tính chất phức tạp trong tâm thức của Thiên Chúa.

      Rồi cuộc sống lại tiếp diễn. Con người được ăn thịt, và tập tành uống rượu (Gen 9 :21), đến nỗi say rượu nằm trần truồng như Noah. Rượu  đưa con người trở lại thời trước khi ăn trái cấm, không biết hổ thẹn vì sự trần truồng của mình ...

CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

      Rồi, một ngày kia, sự phát triển của con người lại làm Thiên Chúa lo ngại. Ở câu 3 chương 11, con người sáng chế ra gạch và xi măng, và dựng nên đô thị với nhà chọc trời, như chúng ta hiện làm. Đó là chuyện Tháp Babel, chữ có nghĩa là "Cánh Cửa của Thiên Chúa" (Bab là cửa, El, Eli, chỉ Thiên Chúa). Trại "Cổng Trời" ở nước Đại Nam ta cũng có thể gọi là Babel ! Yahweh không thích Cổng Trời và tuyên bố : "Bọn chúng đoàn kết thành một dân tộc, nói cùng một tiếng nói, và đây là công trình đầu tiên của chúng nó ! Với khả năng ấy, chúng sẽ có thể thực hiện được tất cả những gì chúng muốn thực hiện ! Ta hãy xuống làm rối loạn tiếng nói của chúng, để chúng không còn có thể nói cùng một tiếng nói nữa !" Chiến dịch gây chia rẽ của Yahweh khiến con người không tạo nên nổi những công trình vĩ đại tương tự được nữa, không còn tạo nên được các đô thị, và phải “phân tán khắp mặt đất”.

      Câu chuyện Babel đưa chúng ta trở lại thời kỳ mà con người được chia làm hai loại : du muc và định cư. Đoạn Sáng Thế Ký này được viết ra bởi một tác giả du mục. Cần nói Babel cũng chính là Babylon. Khi bị lưu đày ở Babylon, người Do Thái, tác giả Sáng Thế Ký, mặc dù choá mắt trước văn minh rực rỡ của dân xứ này, cũng vẫn phải vì tự hào dân tộc, tìm cách hạ thấp kẻ thống trị, gán cho họ những đường nét tiêu cực, y hệt như con người ngày nay hiện làm đối với "văn minh cơ giới Tây phương", với "đế quốc Mỹ", với "toàn cầu hoá" v.v... là những thế lực thống trị thế giới.

      Tuy nhiên điều chúng ta phải nhìn nhận, là Thiên Chúa đã ganh tỵ với khả năng tạo tác của con người, và tìm cách phá hoại công trình của nhân loại. Tính ganh tỵ của Cain, ở trên, đến từ Thiên Chúa ! Phương pháp mà Chúa Yahweh chọn lựa là : gây chia rẽ. Ngôn ngữ gốc La Hy, như tiếng Pháp chang hạn, gọi Ác quỷ là "Diable". Chữ này đến tử tiếng Hy Lạp Dia Balein. Dia là ngang qua (như diagonale là ngang qua góc). Balein là ném (cho ra balle, ballon, balistique ...). Dia balein là « ném ngang qua », nên chữ Diable, Ác Quỷ, thường được diễn giải là "kẻ gây chia rẽ". Chúng ta tìm lại được tính Quỷ Ma trong nhân vật Thiên Chúa của Thánh Kinh.

SAI CỨ SỬA, SỬA CỨ SAI …

      Chúng ta chỉ mới cùng nhau đọc 11 chương đầu của Sáng Thế Ký, gồm 50 chương cả thảy. Trong phạm vi hạn chế của một bài báo, tôi buộc phải ngừng lại ở đây. Các đoạn còn lại rất lý thú. Sáng Thế Ký kể chuyện  Abraham, rồi Ismael, tổ phụ người Ả Rập, anh của Isaac, tổ phụ người Do Thái, đến chuyện Jacob, được Chúa đặt tên lại là Israel nghĩa là « đánh vật với Chúa » (lutter avec Dieu) và 12 người con của ông, cho ra 12 bộ lạc của dân Do Thái, rồi chuyện ông Joseph sang tận nước Ai Cập làm đến chức Thủ Tướng. Trong một quyển sách khổ bỏ túi, Sáng Thế Ký chỉ dài cỡ 75 trang, các bạn nên tìm đọc (nhớ chọn các bản dịch khả tín : TOB - Traduction Oecuménique de la Bible, JPS - Jewish publication Society, hay BJ - Bible de Jerusalem …).

      Khi ta đã phác hoạ ra được những nét chính của tâm lý nhân vật Thiên Chúa thì các câu chuyện tiếp theo của Sáng Thế Ký và Thánh Kinh được nhìn dưới một ánh sáng khá rõ ràng. Thiên Chúa tạo nên con người theo hình ảnh của chính mình, nhưng lại không bằng lòng với hình ảnh ấy, nên phải phá hủy và tái tạo. Lần đầu tiên Thiên Chúa đứng trước thất bại là khi buộc phải đuổi Adam và Eva ra khỏi vườn Địa Đàng, nơi được đặc biệt tạo ra cho con người. Đây là màn "tái khởi đầu" thứ nhất. Rồi Thiên Chúa chứng kiến cảnh Cain tước đoạt sự sống. Thêm vào đó, quyền ban sự sống cũng vuột khỏi tầm tay Thiên Chúa qua việc sinh sản mạnh mẽ của con người. Quyền hạn của Thiên Chúa bị giảm thiểu. Con người trở thành chủ nhân của sự sống, cạnh tranh với Chúa, và trở thành "xấu xa", theo tiêu chuẩn "không tốt cho Chúa", như chúng ta đã có dịp bàn đến ở trên.

      Và một cuộc "tái khởi đầu" thứ hai diễn ra, với Đại Hồng Thủy, lần này mang một tính chất tàn bạo vô biên, như thể Thiên Chúa muốn chứng minh rằng Ngài cũng có thể tước đoạt sự sống một cách dữ tợn hơn con người gấp bội phần. Tuy nhiên, ở giai đoạn này, vì hối hận, Thiên Chúa đã tự trói tay mình cho đến muôn đời : Ngài tuyên hứa, với cái cầu vòng làm chứng, là Ngài sẽ không bao giờ tổ chức giết người tập thể nữa. Kẹt to, vì sau đó con người lại vẫn tiếp tục phát triển theo bản tính của mình, bản tính đến từ Thiên Chúa, con người là hình ảnh của Thiên Chúa, xin nhắc lại. Và con người lại không vừa ý Thiên Chúa, không "rất tốt" như Thiên Chúa đã tuyên bố sau khi tác thành loài người và vạn vật. Khổ nỗi, Thiên Chúa không còn có thể giết sạch con người như Ngài đã làm với Đại Hồng Thủy. Vậy phải làm sao ?

DÂN CHÚA NHẬP CUỘC

      Trong câu chuyện "Tháp Babel", ngài dùng mưu (lần đầu chúng ta thấy Chúa mưu trí), chia rẽ con người để giới hạn quyền năng của con người. Tuy nhiên như thế vẫn chưa đủ. Đến một lúc nào đó Thiên Chúa lại thấy phải làm một cái gì. Đó là lúc Abraham nhập cuộc. Chúa chọn Abraham để làm nên Dân Chúa. Điều ấy có nghĩa là thay vì giết toàn nhân loại và chọn vài người để tiếp tục nòi giống, hay giết sạch và tạo lại một thế giới mới, những điều mà Ngài đã thề không làm, thì Thiên Chúa tìm ra giải pháp là lờ đi tất cả nhân loại, và chỉ chọn chăm sóc một nhóm người hạn chế gọi là "Dân Chúa". Vì không thể lập lại màn chọn gia đình Noah, giết đám người còn lại, nên Chúa bèn chọn Abraham và hậu duệ của ông, và gạt mọi con người khác ra khỏi tâm trí Ngài.

      Thật ra, có thể nghĩ rằng vấn đề của Thiên Chúa bắt nguồn từ sự bất lực của Ngài trong việc kiểm soát dục tính và sự sinh sản của con người. Từ chuyện Adam đến Đại Hồng Thủy, chúng ta đã thấy điều đó. Trong chuyện Abraham, sự thể có phần rõ ràng hơn. Bảy lần, Thiên Chúa hứa sẽ cho Abraham con đàn cháu đống, nhiều như sao trên trời, như cát dưới biển. Nhưng Abraham và Sara, vợ ông, lại hiếm muộn. Khi ông gần 100 tuổi và Sara 90 tuổi, hai ông bà vẫn chưa có con ! Thiên Chúa buộc Abraham phải cắt da quy đầu, và áp dụng điều ấy cho tất cả hậu duệ của ông cùng với các đày tớ và nô lệ. Nghĩa là Abraham và con cháu phải nộp một phần "nam tính" của mình cho Thiên Chúa, như dấu hiệu của sự phục tùng Thiên Chúa trên mặt tình dục và ban phát sự sống.

      Với giá đó Thiên Chúa cho Abraham và Sara một con trai, là Isaac. Thiên Chúa cũng biểu dương quyền lực của mình trên lãnh vực thu hồi sự sống khi bắt Abraham phải đem giết Isaac để tế lễ mình. Trong các câu chuyện tiếp theo, chuyện Isaac, chuyện Jacob, và nhiều chuyện khác trong Thánh Kinh, vấn đề hiếm muộn rất hay được đặt ra và được giải quyết với sự can thiệp của Thiên Chúa. Sáng Thế Ký kết thúc với chuyện Joseph, con của Jacob, sang Ai Cập làm đến thủ tướng. Dân Chúa lập nghiệp tại Ai Cập, và sinh sôi nảy nở mạnh đến nỗi Vua Ai Cập Pharaon phải « có biện pháp » áp bức và ngược đãi họ rất  nặng nề (Exode 1 :9-14), cho đến khi Moshe đưa được họ ra khỏi Ai Cập, đi chinh phục đất hứa, sau 40 năm lưu lạc trong sa mạc.

NHỮNG AI THOÁT KHỎI ĐƯỜNG GƯƠM CỦA JEHU SẼ CHẾT VÌ TAY ELISÉE !

      Trên vùng đất được Thiên Chúa hứa ban cho mình, Dân Chúa phát triển, có lúc hùng mạnh nhưng cũng lắm gian truân, phải bị đô hộ, lưu đày, phải mất nước, lưu vong … Thiên Chúa có bằng lòng với Dân của Ngài không ? Rất nhiều lần không. Lắm lúc Thiên Chúa đã muốn tiêu diệt Israel, từ thời Moshe và sau đó. Trong sách Quân Vương thứ nhất (Rois 1) chương 19, câu 15, Yahweh nói với Tiên Tri Elie (Elyahou) : "Hãy trở lại sa mạc Damas và sức dầu tôn Hazael làm Vua Aram, Jehu làm Vua Israel, rồi sức dầu tôn Elisée làm Tiên Tri thay ngươi". Các nhân vật này được lệnh giết toàn bộ dân Do Thái, trừ 7000 người. Yahweh nói : "những ai thoát khỏi lưỡi gươm của Hazael, Jehu sẽ giết nó, những ai thoát khỏi thanh kiếm của Jehu, sẽ chết vì tay Elisée".

      Nhiều lần Israel bại trận và bị đô hộ, Dân Chúa phải lưu đày, vong quốc, Thánh Kinh đều cho là do bàn tay Thiên Chúa mượn sức mạnh của ngoại bang để trừng phạt dân mình ! Sách Deutéronome chương 28, nói : « Yahweh sẽ khiến một dân tộc xa xôi tấn công ngươi (…) họ sẽ làm đổ những thành trì kiên cố nhất của ngươi (…) vì đói kém ngươi sẽ phải ăn gan ruột chính mình, sẽ ăn thịt các con trai và con gái mà Yahweh đã ban cho ngươi (…) người đàn bà nhu mì nhất trong dân tộc ngươi (…) sẽ ẩn nấp để ăn thịt con cái mình (…) Yahweh sẽ giáng xuống đầu ngươi và con cháu ngươi những tai hoạ kỳ bí, những tai hoạ vĩ đại và trường kỳ, những bệnh tật bất trị và dai dẳng …».

      Trong bối cảnh này, biết bao giờ Abraham, qua hậu duệ của mình, mới là « Cha của vô số quốc gia », như lời giao ước của Thiên Chúa ? Ngược lại, chính lời giao ước này đã góp phần làm nền tảng cho những phán đoán hồ đồ về  « âm mưu thống trị » của người Do Thái trên thế giới, đưa đến tinh thần bài Do Thái, và phần nào đã gây ra thảm hoạ tàn sát 6 triệu con cái Israel dưới thời Đức Quốc Xã cũng như vô số hành vi chống Do Thái cho đến ngày nay. Thậm chí Do Thái của thời hiện đại là quốc gia phải chịu nhiều đe doạ nhất trên thế giới. Israel chỉ cần bại trận một lần, duy nhất một lần mà thôi, thì sẽ hoàn toàn bị tiêu diệt, sẽ không còn một con cháu nào của Isaac, của Jacob, trên toàn "Đất Thánh" !

VẠN PHÁP TẠI TÂM

      Có phải là Thiên Chúa đã thất bại hay không ? Nhân vật Thiên Chúa của Sáng Thế Ký đã thất bại. Nhưng nhân vật ấy là ai ? Các tác giả Sáng Thế Ký và Thánh Kinh đã thành công trong việc tạo nên một tác phẩm văn chương ngoại hạng. Giá trị của tác phẩm này nằm ở chỗ nó đã biến lịch sử của một dân tộc thành câu chuyện của một Nhân Vật xuyên lịch sử, một Nhân Vật lẫy lừng hơn mọi nhân vật mà lịch sử hay văn chương có thể tạo ra, đó là Thiên Chúa. Thật ra, rất nhiều huyền thoại đã gắn liền lịch sử của những dân tộc với Thần Thánh, như huyền thoại Hy Lạp, Ấn Độ, hay các chuyện thần thoại thời khai quốc ở nước mình.

      Tuy nhiên, các tác giả Thánh Kinh đã chọn kết tụ tất cả các thần thánh vào một cá nhân duy nhất, và kể chuyện của nhân vật này. Khi chọn làm như vậy, nhân vật Thiên Chúa mặc nhiên trở thành phức tạp, với nhiều mâu thuẫn. Khi có chuyện thảm khốc xảy ra, người ta không thể đổ lỗi cho một vị Thần Ác, mà vẫn phải quy kết vào Thiên Chúa. Đại Hồng Thủy trong huyền thoại Sumer-Babylone do hành vi của một Ác Thần, và một vị Thần Thiện đã đến cứu vạn vật khỏi tai hoạ. Ở đây, chỉ có một mình Thiên Chúa … Các vị Thần, Thiện hoặc Ác, như những thảo trình, có thể phức tạp, nhưng hoạt động với những đặc tính đã được quy định. Nhân vật Thiên Chúa thì đa dạng, đầy mâu thuẫn, bất định, muôn vàn sắc thái, tóm lại, rất gần với chúng ta.

       Nhân vật Thiên Chúa luôn phải dung hoà những điều đối nghịch trong tâm thức mình, như chính chúng ta cũng thường phải làm như vậy. Có thể nói nhân vật Thiên Chúa biểu tượng cho tâm thức của mỗi người chúng ta. Trong tâm thức của bạn và của tôi, từ khởi thủy của cuộc sống, lần lượt hiện ra những sự vật, được ý thức một cách càng ngày càng phức tạp như tiến trình tạo thiên lập địa. Ý thức về chính mình cũng vậy, cũng phát triển cùng với ý thức về những đối tượng của mình. Ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng ... như lời Kinh Kim Cương.

      Nói cách khác, khi gom tất cả vào một Thiên Chúa duy nhất, các tác giả Sáng Thế Ký buộc phải tưởng tượng hành vi của một vị Thần vĩ đại chưa từng có. Và họ phải đào trong tâm thức chính họ, đến những phần sâu thẳm nhất để tìm ra một nguồn sáng, để có thể nhìn được trong tấm gương mờ tối của thâm tâm, cái khuôn mặt nguyên thủy của chính họ. Điều họ nói ra, nên được hiểu trong tinh thần này. Đừng rơi vào cạm bẫy bài bác Thiên Chúa của Sáng Thế Ký và của Thánh Kinh. Thiên Chúa ấy chính là tâm hồn bạn, Thần Khí của Ngài là hơi thở bạn, và cuộc đời Ngài là sự tuyệt vọng của bạn …

      Từ sự tuyệt vọng ấy, rất nhiều người đã rút tỉa ra được một con đường tâm linh đáng quý.

                                                                                                            Nguyễn Hoài Vân
                                                                                                            23 tháng 11  2003

_______

(*) Đã đăng trên Thế Kỷ 21, số Tết Giáp Thân – 2004.


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

Modified by Web Giaodiem

CThe best: set screen res. 1024 x 768 | Browser IE v. 5.0 or higher | mail: set Outlook Exp. [copyright:MedSoft]

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net