04-gdtop.gif (3814 bytes)
 
whiteball.gif (923 bytes) Nghiên cứu & đối thoại tháng 2 năm 2004 whiteball.gif (923 bytes)
CHUƠNG 13 (sách sắp xuất bản)
KHÁC BIỆT GIỮA  ĐẠO LÝ CỔ TRUYỀN VỊ THA

VỚI NỀN ĐẠO LÝ GIA TÔ BẠO NGƯỢC VÀ BỊP BỢM

Nguyễn Mạnh Quang

      Vào cái thuở loài người còn ở trong tình trạng ngu dốt, đứng trước những cảnh núi non hùng vĩ, cây rừng bát ngát, biển cả trùng trùng cùng   thiên tai giông bão, sấm sét với mưa tuôn lũ và nắng hạn triền miên, con người trở nên run sợ tưởng rằng tất cả những hiện tượng thiên nhiên trên đây đều do các đấng thần linh gây nên cả. Vì thế mà  thuở đó, người ta tin rằng "đât có thổ công", "sông có hà bá", "núi có sơn thần" và đâu đâu cũng có thần linh ngự trị . Đồng thời, họ cũng tin rằng những đấng thần linh này cũng có thất tình lục dục như con người, nhưng có khả năng che chở hay cứu giúp cho những người mang lễ vật đến cầu xin được thoát khỏi những  tai họa hay những bất hạnh rủi ro bất ngờ, và cũng chính những đáng thần linh này cũng có thể gieo tai giáng họa cho những kẻ nào làm phật ý các ngài. Tinh trạng này đã  sinh ra bọn người làm trung gian giữa thế giới thần linh và những người muốn dâng lễ vật lến các ngài để câu xin được che chở và cứu giúp. Thói đời nghề đẻ ra nghề. Khi hành nghề, bọn người trung gian  này lại bịa đặt thêm ra nhiều điều hão huyền khác để mê hoặc và làm cho người đời lầm tưởng rằng sẽ có sự linh nghiệm mang lại những lợí ích lớn lao cho những ai sùng bái và dâng cúng lễ vật để tỏ lòng thành kính và tin tưởng vào các đáng thần linh. Nhờ vậy, mà bọn người làm ăn bất lương theo kiểu này đã moi được khá nhiều tiền của thiên hạ, rồi trở nên giầu có và được nhiều người nể trọng. Khi đã trở nên giàu có và được nhiều người nể trọng, bọn người nay tính đén chuỵện tạo vây cánh,  gây ra nhiều điều tệ hại khác cho xã hội.

      Sự kiện trên đây cho chúng ta thấy việc bịa đặt ra những tín lý hoang đường quái đản là một trong tệ trạng buôn thần bán thánh đã có từ thời Thượng Cổ và chỉ nẩy sinh ở trong hòan cảnh xa hội mà trình độ dân trí còn quá thấp kém  chưa được khai hóa..

ĐẠO LÝ ĐÔNG PHƯƠNG CỐ GẮNG CHẶN ĐỨNG TỆ TRẠNG BUÔN THẦN BÁN THÁNH

(MỘT ĐẶC ĐIỂM CỦA NỀN ĐẠO LÝ VỊ THA)

      Trên đây là tình trạng chung của nhân lọai ở vào thời  Thượng Cổ.. Riêng ở Đông Phương nói chung, Trung Hoa nói riêng, may mắn có được những bậc đại hiền đã nhìn thấy rõ dã tâm thâm độc của bọn người lưu manh mượn danh thần thánh mưu sinh một cách bất lương như vậy. Họ  đã cố gắng tìm ra những biện pháp chặn đứng tệ trạng trên đây.Sự kiện này được sách Nho Giáo ghi lại như sau:

"Phàm  người đời đã bị cực khổ mà lại học hành không có, việc hay dở không biết thế nào, tất là phải chìm đắm vào những điều mê hoặc và tin những việc quái lạ. Vu là người con gái và hích là người con trai làm nghề đồng bóng, tức là bọn đồng cốt thày cúng, thày pháp, v.v... lấy điều cát hung, họa phúc, dùng những phương thuôc huyễn hoặc mà đánh lừa những người ngu dại, đem sự thần thánh ma quỉ mà dọa nạt  người thường để làm nghê kiếm ăn.  Ở nước Tầu, về đời Thượng Cổ, bọn vu hích có thế lực rất mạnh, thậm chí nhà nào cũng thờ quỉ, thờ thần. Cổ thư nói rằng, "dân thần tạp nhụ, gia vi vu sử : Dân với thần lẫn lộn, nhà nào nhà ấy cũng có vu sử." Nhà vua thấy thế mới sai quan định rõ việc thần và việc người để ngăn cấm bọn vu hích làm mê hoặc lòng người. Thiên Lữ hình trong Kinh Thi nói rằng: "Mệnh, Trọng, Lê tuyệt địa thiên thông, võng hữu giáng cách : Vua sai họ Trọng, họ Lê định điển lễ rõ ràng, để phân biệt việc người việc thần, không cho người ta nói bậy là thế nào thần cũng giáng, hay dùng cách không chính đáng mà cũng cảm cách được đến thần." Đế vương đời trước cho dân mê tín những sự yêu quái, là vì không hiểu rõ cái chính lý của trời đất, không phân biệt điều thiện điều ác, cứ hay tìm mối họa phúc ở chỗ mơ màng mờ mịt. Vậy nên định rõ việc thờ cúng để chính lòng người và làm cho rõ đạo thường..

Tuy vậy, lòng người vẫn bị những vật dục làm mờ tối đi, thành ra thế lực của bọn vu ích càng ngày càng mạnh. Về sau vua phải đặt: "Tư vu chưởng quần vu chi chính lệnh : Quan tư vu cai quản và sai khiến bọn vu nhân" (Chu Lễ : Tư vu). Xem thế biết rằng đạo thánh hiền tuy là công chính, nhưng vẫn không có thế lực bằng cái thuật của bọn vu hích. Vì đạo của thánh hiền chỉ riêng cho những người đi học mà thuật của bọn vu hích thì lan ra khắp cả ban dân thiên hạ."  [1] .

      Qua bản văn trên đây, chúng ta thấy rằng ngay từ thời Thượng Cổ, Trung Hoa đã có những người lãnh đạo chính quyền biết lo lắng đến quyền lợi của đại khối nhân  dân. Vì thế cho nên họ mới có những hành động ngăn chặn bọn, không để cho "vu  hích" tung tác mượn danh thần thánh bịa đặt ra "những điều hung ác, họa phúc dùng những phương thuốc huyễn hoặc mà đánh lừa những người ngu dại, đem sự thần thánh ma quỉ mà dọa nạt  người thường để làm nghê kiếm ăn."  Một khi đã hành động như vậy là gây nên thù  oán với bọn  nguời "vu hích"  và rất có thể  bị chúng trả thù này bằng cách dùng ảnh hưởng của chúng xúi giục đám dân ngu dốt nặng lòng mê tín nổi lọan chống lại chính quyền hay bằng những thủ đoạn gian manh khác gây nguy hại đến sinh mạng của nhà cầm quyền và những người dám nói lên sự thật về việc làm gian ác của chúng..

      Việc làm trên đây của nhà vua nước Trung Hoa trong thời Thượng Cổ chắc chắn không phải vì quyền lợi cá nhân của nhà vua, mà  vì quyền lợi của đại khối nhân dân hay vì quyền lợi chung của xã hội. Làm một việc không phải vì quyền lợi của chính mình mà chỉ    quyền lợi của đại khối nhân dân hay quyền lợi chung của xã hội, lại có thể nguy hiểm đến quyền lợi hay sinh mạng của chính  mình, tất nhiên phải là những bậc đại hiền mới có thể làm được. Các bậc đại hiền này chỉ biết hành xử theo  lương tâm trách nhiệm, theo đạo lý công bằng và lẽ phải, dùng luật pháp trừng trị những kẻ gian manh làm ăn bất chính và bảo vệ quyền lợi của những người bị  lường gạt hay bị bóc lột. Cung cách hành xử  cao đẹp như vậy của các bậc đại hiền  vào thời kỳ này được coi là nền  tảng hay những  viên gạch đầu tiên  trong công trình kiến tạo "căn nhà đạo lý vị tha"  trong xã hội Trung Hoa nói riêng  và Đông Phương nói chung. Nền đạo lý vị tha trên đây sau này lại được Đức Không Tử gom lại và hệ thống hóa, rồi lại được Đức Mạnh Tử và các bậc chính nho đời sau khai triển, bổ túc và được người đời gọi là nền đạo Lý Khổng Mạnh hay "đạo Khổng " (Confucianism).

      Gọi là "đạo lý vị tha" vì trong nền đạo lý này chỉ đưa ra những nguyên tắc hay những lời khuyên bảo nhằm phục vụ cho quyền lợi cho tất cả mọi người trong đồng nhân loại mà KHÔNG NHẰM để phục vụ cho cho một  giai cáp nào trong xã hội và CŨNG KHÔNG VINH DANH một đấng thần linh nào cả. Những nguyên tác hay những lời khuyên bảo này đề có những đặc tính  cao cả, vô tư, nếu có lợi thì là lợi chung của mọi người trong xã hội. Nền đạo lý này có chủ trương dạy người đời hướng vào nội  tâm suy nghĩ,   sửa mình sao cho tâm hồn đựoc ngay thẳng, trong cậy vào chính mình làm bổn phận của chính mình  đới với  cha mẹ, đối với anh em, đối với vợ con, đối với bà con láng giềng đội với dân  làng, đối với quốc gia  và dân tộc Tất cả nguyên tắc của nền đạo lý này là “những cái lý đương nhiên ai cũng phải công nhận”. Nói cho rõ hơn,   nền đạo lý vi tha của các dân tộc Đông Phương  là một hệ thống gồm những  tiêu chuẩn mẫu mực vô cùng  khách quan, hết sức công bằng và thích hợp đối với tất cả mọi thành phần trong  xã hội không phân biệt giầu nghèo, tôn giáo, chủng tôc, địa phương và kẻ sang người hèn. Bất luận  ở vào địa vị nào, dù là ông vua hay người lãnh đạo quốc gia cũng phải theo đó mà hành sử đúng theo quy luật đạo lý "pháp bất vị thân". Sự kiện này đều được các sách sử trình bày khá rõ rệt. Sách The Ageless Chinese  viết:về sự kiện này như sau

“Xã hội là một tập thể nhiều người thuộc nhiều thành phần và địa vị khác  nhau và mỗi người có một trách nhiệm riêng biệt. Tuy nhiên, chính quyền   không có nghĩa là một chế độ độc tài chuyên chế. Theo Khổng Tử thì mỗi  chức vụ của một người có kèm theo một nghĩa vụ. Không làm tròn cái nghĩa  vụ được giao phó cho mình thì ý nghĩa của cái chức vụ của mình sẽ không  còn nữa. Như vậy, một ông vua sẽ không thể gọi là vua được nếu không làm  tròn cái nghĩa vụ đã giao phó cho ông ta. Nếu ông ta dùng quyền hành để   theo đuổi những mục đích ích kỷ thay vì chăm lo phúc lợi cho muôn dân thì  ông ta chỉ còn mang cái tên ông vua thôi, chứ thực sự ông ta không còn là  vua nữa. Nhà lãnh đạo nắm quyền cai trị cũng như người dân bị trị đều có  nghĩa vụ thiên định. Người cầm quyền cai trị muôn dân phải nêu gương tốt cho  muôn dân noi theo. Chỉ khi nào người cầm quyền là người hiền đức thì mới  hy vọng được muôn dân trung thành và tuân phục. Cái nguyên tắc này cũng  được áp dụng trong mối liên hệ tương quan giữa những người trong cùng  một gia đình. Dầu rằng người chồng có quyền thế hơn người vợ, cha mẹ có  quyền hơn con cái, anh có quyền hơn em, nhưng cũng phải có những nghĩa  vụ hỗ tương đối với nhau: người trên phải thương yêu và che chở cho kẻ  dưới, và bổn   phận của kẻ dưới thì phải trung thành và tuân phục người trên.  Bằng cách nào đi nữa thì sự kính trọng và tùng phục của kẻ dưới đối với  người trên cũng không phải là tự động. Khổng Tử đã nói rằng chỉ khi nào  nhà vua biết dùng lễ đối với quần thần và muôn dân thì mới hy vọng họ đem  lòng trung đáp lại. Tương tự như vậy, một người cha tàn ác và bất nhân đối với con cái là  tự làm mất đi cái quyền đòi hỏi con cái phải có lòng hiếu thảo đối với mình.   Mối tương quan đúng nghĩa và chính đáng là phải  áp đặt  nghĩa vụ cho cả kẻ trên và người dưới; kẻ  nào không sẵn lòng hay không có thiện ý hy sinh làm tròn nghĩa vụ của mình thì không có quyền đòi hỏi người khác phải làm đầy đủ nghĩa vụ của họ đối với mình."

(”Society was composed of a variety of individuals and each individual  had a special function to perform. However, authority did not and  should not imply despotism. With each name, according to Confucius,  there was a reality; without reality a name would be deprived of its  meanings. Thus a prince (name) could not be rightly called a prince if he  did not perform the functions (reality) assigned to him. If, for  instance, he used his authority for selfish purposes instead of the   welfare of his subjects, he was a prince in name only, but not a real  prince. There was a heavenly imposed duty on the ruler as well as on the  ruled. A ruler should set an example to his subjects. Only when the ruler  was wise and virtuous could the people be expected to be loyal and  obedient. The same principle was also applied to the household. Though  the husband was superior to his wife, parents superior to children, and   alder brothers superior to the young ones, there were mutual obligations  governing each other: love and protection on the part of the superiors  and loyalty and obedience on the part of the inferiors. The respect and   obedience a superior received was not automatic by any means. Only when  a king treated his ministers with li (propriety), said Confucius, could  the ministers reciprocate it with chung (loyalty). By the same token, a   cruel, unloving father forfeited all rights of demanding filial piety  from his son. A correct relationship imposed obligations on both sides; those who were not willing to give should receive either.")  [2]    

      Nền đạo lý vị tha không đề cập đến thần thánh trong những luật lệ quản lý các phạm vi sinh họat  đời sống con người. Sự kiện này được ghji lại rõ ràng trong sách sử với nguyên văn như sau:

"Họ (Nho giáo) cũng không quan tâm đến thế  giới thần linh hay siêu nhiên vì họ cho rằng những khó khăn của con người  chỉ có thể do chính con người giải quyết được. Sống ở cõi trần gian này  họ chỉ mong sao làm cho nơi đây trở thành một nơi tốt đẹp hơn để sinh  sống. Họ tích cực quan tâm đến công việc chính trị, kinh tế và quan trọng  hơn cả là vấn đề đạo đức. Về siêu hình và tôn giáo, nếu cần, thì chỉ nên  áp dụng giới hạn trong các công việc trần tục. Ý thức hệ của họ là  lấy con người làm tụ điểm và mọi khả năng kiến thức là để phục vụ cho con  người.”  (”They were not interested in the supernatural forces either because  they believe that man's problems could only be solved by man himself.  They were in this world, and they wished to make it a better place to  live. They dealt extensively in politics, economics, and most   importantly, ethics. Their interest in metaphysics and religion was  confined to applying them if possible to the more mundane, worldfly  affairs. Theirs was a “man-centered” ideology to which all branches of  knowledge must submit themselves.”)  [3]   

      Nền đạo lý vị tha trong xã hội Đông Phương đòi hỏi TÔN GIÁO PHẢI TÁCH RỜI KHỎI ĐẠO ĐỨC,và ĐẠO ĐỨC PHẢI ĐỨNG TRÊN TÔN GIÁO, bắt buộc những người hành nghề tôn giáo phải biết rõ vai trò và giới hạn của họ không ra khỏi cái bàn thờ mà họ  hành nghề, và  phải biết rõ giá trị tôn giáo của họ chỉ có giá trị đối với chính họ và những người đồng đạo của họ mà thôi. Sự kiện này được sách The Ageless Chinese trình bày rõ ràng như sau:

"Sự tách rời đạo đức ra khỏi tôn giáo không phải là không có  phúc lợi. Đây   là một nét đặc thù của nền văn hóa Trung Hoa.  Người Trung Hoa cho rằng  các tiêu chuẩn đạo đức quan trọng hơn các tiêu chuẩn tôn giáo. Trong  trường hợp có sự xung đột giữa đạo đức và tôn giáo thì tiêu chuẩn đạo đức  phải luôn luôn chiếm phần ưu thế. Người Trung Hoa quan niệm rằng các  tiêu chuẩn đạo đức và tôn giáo không cần thiết phải giống nhau, trái lại  đôi khi còn trái ngược nhau... Trong khi các tiêu chuẩn của một  tôn giáo có vẻ  kỳ dị đối với một hay hay với nhiều tôn giáo khác thì các tiêu  chuẩn đạo đức lại có tính bao quát phổ thông và phải được áp dụng cho tất  cả mọi người. Không nên cưỡng bách những người khác phải theo tôn giáo của  mính. Làm như vậy (bắt người khác phải theo tôn giáo của mình) là "ngoan đạo",có tinh thần tôn giáo, nhưng chắc chắn là  phi luân lý, phi đạo đức. Những người cuồng  tín về đạo giáo cương quyết chỉ trích, lên án và hủy  diệt  tất cả những tôn giáo khác bằng tất cả những phương tiện và biện pháp mà  chúng có thể sử dụng được. Đó là một sự suy đồi của xã hội và chúng không  đáng được đồng bào của chúng thương xót. Xã hội muốn tồn tại thì các tiêu  chuẩn đạo đức phải đứng lên trên tất cả các tôn giáo và các tôn giáo phải  tuân hành các tiêu chuẩn đạo đức. Một tiêu chuẩn đạo đức như vậy phải được áp dụng  để điều hành sự  liên hệ giữa   các tập thể (như là các giáo phái) cũng như giữa những cá nhân trong một tập thể. Khi đã tách rời đạo đức ra khỏi tôn giáo và coi đạo đức có giá trị  cao hơn tôn giáo, người Trung Hoa thoát khỏi cảnh cuồng tín về đạo giáo,  thoát khỏi cảnh ngược đãi và khủng bố nhau vì lý do tôn giáo. Trong khi đó  các tôn giáo khác nhau vẫn sống bên nhau một cách hiền hòa nếu so sánh  với nhiều quốc gia khác (ở  Âu châu).”("The separation of ethics from religion, a unique feature of the   Chinese culture system, was not without its blessing. In the Chinese  mind, ethical standards were more important than religious standards,  and in case of conflict between them, the former should always prevail.  As the Chinese looked at it, these two standards were not necessarily  the same and were sometimes contradictory... While religious standards  were pecular to a certain religion or religions, ethical stansards were  universal and should be applied to all men. One should not impose his own  religious standards upon others who did not belong to his religion. To  do so might be regarded as religious from his point of view; certainly it  was not ethical. A religious fanatic bent on the condemnation and  destruction of all other religions by whatever means he possessed was a  social degenerate, deserving no mercy from his fellow men. Above  religious beliefs was an ethical standards which all religions must   abide by if society were to survive. Such a standard governed the  relations between groups of individuals (such as religious sects) as  well as individuals themselves. As ethics was separated from religion  and was regarded as superior to religion, the Chinese were remarkably  free from religious bigotry, and persecution on religious grounds, while  not absent altogether, was noticeably mild compared with that of many   other countries.”)  [4].

      Nền  đạo lý vị tha   Đông Phương đòi hỏi chính quyền phải  thay mặt đạo lý quản ly tôn giáo, xử lý và thẳng tay trừng trị những  kẻ  mượn danh thần thánh bịa đặt ra những điều huyễn hoặc nhằm lừa dối nhân dân. Câu chuyện ông Tây Môn Báo  xử lý vụ Hà Bá ở khúc Sông Chương Hà đất Nghiệp Đô trong thời Tiền Tần ở Trung Hoa cho chúng ta thấy ró sự kiện này. Chuyên như sau:

“Ngụy Hầu sai Tây Môn Báo ra trấn đất Nghiệp Đô. Tây Môn Báo tuân lệnh đến nơi, trông thấy phong cảnh Nghiệp Đô tiêu điều, nhân dân thưa thớt, liền hỏi thăm các bậc phụ lão. Họ cho biết rằng: “Dân chúng đói khổ vì một nỗi Hà Bá lấy vợ”. Tây Môn Báo ngạc nhiên, hỏi lại: ” Quái! Hà Bá lấy vợ thế nào, xin nói cho tôi rõ.” Các bậc phụ lão nói: “Sông Chương Thủy phát nguyên từ Cô Lĩnh, qua Sa Thành chảy đến Nghiệp Đô này, gọi là sông Chương Hà. Hà Bá là vị thần con sông ấy. Thần lại thích vợ đẹp, mỗi năm bắt nạp một người con gái, nếu không, thần sẽ dâng nước và cửa nhà sẽ bị tràn ngập hết”.

Tây Môn Báo hỏi: “Tại sao biết được Hà Bá cưới vợ?” Các bậc phụ lão nói: “Bọn đồng cốt  ứng lên nói như vậy. Dân chúng sợ cái nạn ngập lụt nên phải vâng theo. Mỗi năm các bậc hào lão trong làng cùng với bọn đồng cốt bắt dân phải chịu mấy trăm vạn quan tiền, dùng làm phí tổn trong việc lấy vợ cho Hà Bá. Nếu còn thừa thì chia nhau

Tây Môn Báo hỏi: “Chúng nó lấy tiền chia nhau dân chúng không nói gì sao?” Các bậc phụ lão nói: “Bọn đồng cốt có công cúng tế, còn các hào lão có công thu tiền. Họ ăn vào đấy, chúng tôi đâu dám nói. Chỉ có một điều rất khổ là hễ đến đầu năm, bọn đồng cốt xem thấy con gái nhà ai có sắc đẹp thì bảo người con gái ấy đáng làm vợ Hà Bá. Người nào chịu đút lót tiền bạc thì họ mới tha, đi tìm người con gái khác. Kẻ nào nghèo khổ không có tiền lễ thì phải nộp con gái.”

Tây Môn Báo hỏi: “Bọn đồng cốt làm cách nào để nộp người con gái cho Ha Bá?” Các bô lão nói: “Chúng lập một nhà trai-cung trên mé sông, mua các lễ vật cúng tế rồi chọn ngày tốt cho người con gái ấy tắm gội sạch sẽ, cho ngồi trên một chiếc bè cỏ, thả trôi giữa dòng. Bè cỏ ấy trôi độ vài dặm thì chìm xuống nước. Chính cái nạn ấy làm cho dân chúng tôi cực khổ. Người nào thương con không muốn nộp cho Hà Bá thì bỏ nhà cửa, dắt nhau đến xứ khác sinh sống. Vì vậy mà làng xóm tiêu điều buồn bã.”

Tây Môn Báo hỏi: “Các người ở đây có thường bị lụt chăng?” Các vị bô lão nói: “Năm nào dân chúng cũng nộp con gái, vì vậy Hà Bá không trách phạt.”Tây Môn Báo nói: “Thần đã linh thiêng như vậy, thế thì hôm nào nộp con gái, ta đến dự thử xem.”

Chẳng bao lâu,  đã đến kỳ cưới vợ cho Hà Bá, các phụ lão đến bẩm. Tây Môn Báo liền mặc áo, đội mão chỉnh tề, thân hành ra tận bờ sông. Giữa lúc đó các vị hào lão và dân chúng trong vùng đã đến xem đông nghịt. Bọn hào lão đưa ra một mụ đồng cốt già, vẻ mặt hiu-hiu tự đắc. Theo sau có chừng vài mươi tên đệ tử, khăn áo sặc sỡ, tay mỗi người cầm một bình hương.

Tây Môn Báo gọi bà đồng ấy lại và nói: “Ta muốn xem mặt vợ Hà Bá kỳ này như thế nào.” Bà đồng sai đệ tử dẫn đến một nàng con gái, không đẹp lắm, đôi dòng nước mắt giàn-giụa chảy xuống má trông có vẻ sợ sệt lắm.

Tây Môn Báo nói: “Vợ Hà Bá phải là một mỹ nữ tuyệt đẹp mới phải. Người này trông sắc đẹp tầm thường, ta e Hà Bá không chịu đâu.” Đoạn ông quay lại nói với bà đồng cốt: “Tôi phiền bà xuống nói với Hà Bá rằng quan Thái-thú mới đến muốn kén cho Hà Bá một người vợ tuyệt đẹp. Vì vậy xin hẹn lại vài hôm nữa.” Dứt lời,  Tây Môn Báo sai kẻ tả hữu bắt bà đồng cốt ném xuống sông. Ai nấy trông thấy đều sợ hãi. Tây Môn Báo ngồi yên chờ đợi một lúc rồi nói: “Bà đồng này đã già, làm không được việc, ta sai đi từ nãy giờ mà chưa chịu trở về để báo tin. Vậy thì phải có một người đệ tử xuống đó thúc hối.” Tiếp đó  là một người đệ tử bị ném xuống sông. Cứ thế liên tiếp ba người. Cuối cùng, Tây Môn Báo  nói với bọn hào lão: “Bọn ấy đều là đàn bà, đi đứng chậm chạp, nói năng không nên lời. Ta phiền các ngươi xuống đó thuật ý kiến của ta với Hà Bá xem thế nào.” Nói xong, ông truyền bắt một hào lão trong bọn. Cả bọn đều sợ hãi, quỳ lạy nói: “Ấy là bà đồng tìm cách lừa phỉnh dân chúng để lấy tiền. Chúng tôi thực không biết đến, xin ngài rộng lòng tha thứ, đừng bắt chúng tôi xuống đó mà oan mạng.”

Tây Môn Báo trợn mắt hét: “Thế thì lâu nay các người đã phỉnh phờ dân chúng, sống trên xương máu của mọi người, tội ấy đáng chết.”  Cả bọn sụp lạy xin tha. Tây Môn Báo nói: “Bà đồng cốt đã chết rồi, từ nay về sau nếu ai còn nói đến chuyện Hà Bá cưới vợ nữa, ta sẽ bắt người ấy ném xuống sông.”

Kể từ đấy, dân chúng được sống yên, khỏi bị ai phỉnh phờ bóc lột nữa. Những dân đi trốn khi trước hay tin, bồng bế nhau trở về. Tây Môn Báo lại khiến dân đào sông ngòi khai thông với sông Chương Thủy, nước trong vùng không còn đọng lại nữa, nên chẳng bao giờ ngập lụt. Ruộng nương cũng nhờ con sông ấy có đủ nước cày bừa, lúa đồng tốt tươi, cỏ hoa thơm nức.”  [5] .

      LỜI BÀN của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc và Từ An Trần Lê Nhân:

Sự mê tín thường làm hư con người, tốn của, nát nhà, có khi mất cả mạng, Thật là tai hại. Khi mê tín  đã thành tục thì nó khó lòng mà phá nổi. Muốn phá,  tất phải dụng tâm khéo làm sao mới phá được. Ông Tây Môn Báo  sở dĩ phá được cái tục cưới vợ cho Hà Bá là vì ông biết khử diệt từ gốc rễ, tức là đám đồng cốt quàng xiên, bọn cường hào ngoan cố, xưa nay quen thói cổ-hoặc nhũng nhiễu người ta để kiếm ăn, để cầu lợi. Trừ diệt hai hạng người này để cứu vớt lương dân, chỉnh đốn phong tục thật là công minh và cương quyết vậy.”  [6].

      Chuyện Hà Bá Cưới Vơ. trên đây là một bài học về những việc làm đại gian đại ác của bọn lưu manh buôn thần bán thánh câu kết với cường quyền địa phương để bóc lột nhân dân trong vùng. Người dân Phương Đông  có chuyện ngụ ngôn “bà già cầu cho bạo chúa sống lâu”. Dụng ý của chuyện này muốn nói lên một bài học dạy cho đời biết rằng những tên bạo chúa lên cầm quyền về sau thường thường con gian tham, quỷ quyệt, bạo ngược và dã man  hơn những tên bạo chúa trước đó. Tương tự như vậy, bọn lưu manh buôn thần bán thánh vào những thời kỳ sau này (sau thời chuyện Cưới Vợ Cho Hà Bá) tất nhiên là gian tham, quỷ quyệt, bạo ngược và dã man gấp cả hàng triệu triệu lần. Chuyện Cưới Vợ Cho Hà Bá  mới chỉ là một chuyện của những việc làm đại gian đại ác xẩy ra ở đất Nghiệp Đô, một địa phương nhỏ hẹp mà nạn nhân cũng chỉ giới hạn trong địa phương đó thôi.

      Qua bản văn trích dẫn tư sách Nho Giáo và câu chuyện Hà Bá Cưới Vợ trên đây, chúng ta thấy rằng muốn chặn đứng tệ trạng buôn thần bán thánh thì phải có  một chính quyền vì dân, do dân và bởi dân  hành xử theo nguyên tắc đạo lý vị tha thì mới có thể chặn đứng những tệ trạng buôn thần bán thánh do bon người lưu manh mượn danh tôn giáo khoác áo tu hành chủ động. Nói cho rõ hơn, muốn loại trừ được thảm họa do bọn người lưu manh buôn thần bán thánh đội lốt thày tu thì phải có một hệ thống đạo lý (vi tha) ĐỨNG TRÊN chính quyền (do dân, vi dân và bởi dân), chính quyền ĐỨNG TRÊN tôn giáo (kiểm sóat tôn giáo và dùng những biện pháp mạnh trừng trị những thành phần bất lương khoác áo tu hành, muợn danh đạo tạo danh đời như bọn người mà nhân dân Pháp gọi là  "lũ quạ đen" (les corbeaux  noirs).

NẮM ĐỘC QUYỀN CHẾ TẠO TÍN LÝ VÀ DỊCH VỤ  BUÔN THẦN BÁN THÁNH

( MỘT THỨ ĐẠO LÝ VỊ KỶ - ĐẠO ĂN CƯƠP)

      Cùng đứng trước tệ trạng buôn thần bán thánh như trên, dân tộc Do Thái nói riêng, các dân tộc trong vùng Trung Đông và Tây Phương nói chung, không được cái may mắn như các dân tộc Đông Phương. Đứng trước cùng một vấn đề như ở Trung Hoa, họ không có những bậc đại hiền đưa ra   biên pháp mạnh để vừa trừng phạt những hạng người mượn danh thần thánh  chuyên nghề bịa đặt ra những chuyện hoang đường quỷ quái để lừa gạt người đời, vừa chứng tỏ cho người đời  nhìn thây rõ bộ mặt thật thâm độc, xảo trá, đại gian đại ác của bon  người lưu manh này như chuyện ông Tây Môn Báo  trừng tri và bọn đồng bóng và thầy cúng ở khúc sông Chương Hà.

      Trái lại, cũng vào thời kỳ này, tại vùng đát Palestine,  quyền chính quản lý nhân dân lại lọt vào tay bọn người lưu manh mượn danh đạo tạo danh đời này. Một khi chính quyền đã lọt vào tay bọn lưu manh này,  tất nhiên cái tệ trạng buôn thần bán thánh không những đã không bị dẹp đi mà còn bị chúng biến thành một chủ thuyết "thần quyền chỉ đạo thế quyền" rìii đưa ra quốc sách "bất khoan dung" để khủng bố và diệt trừ những thành phần không chịu tin theo những tín lý  quái đản lưu manh của chúng. Để có thể có quyền lực tiến hành chủ trương  bất chính và chính sách bạo ngược này, chúng  sử dụng đủ mọi thủ đọan gian manh  và xảo trá đê chiếm đọat quyền lực chính trị. Một khi đã có quyền lực chính trị rồi, chúng tiến tới thiết lập chế độ đạo phiệt với bộ máy cai trị bằng cảnh sát, công an và mật vụ, biệt đãi giai cấp tu sĩ và thiểu số tín đồ tay sai làm công cụ  để lùa nhân dân vào cái "tròng mê tín" [sau này các nhà viết sử gọi là "cái tròng Gia-tô" (the Catholic loop)]. Một khi đã lùa nhân dân vào "cái tròng  mê tín" hay đã thiết lập được chế độ đạo phiệt rồi, chúng liền cho thi  hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ với chủ đích làm cho tín đồ và người dân dưới quyền ngu đi để dễ bề  cai trị,  và dễ bóc lột và xiết cổ tín đồ và nhân dân bằng những hình thức dâng cúng lễ vật và thuế khóa.:Song song với, chính sách ngu dân và bóc lột tín đồ và nhân dân, chúng còn đặt ra hàng ngàn giáo luật chuyên chế để khống chế tín đồ và nhân dân trong đó có những luật gọi là "phỉ báng" với mục đích trừng phạt những người nào dám nói hay viểt ra những lời lễ bị coi là châm biếm nghiệp vụ buôn thần bán thánh của chúng. (Người Hoa Kỳ gọi những luật nà là "gag laws" (Luật bịt miệng nhân dân). [Sự kiện này đã được trình bày rõ ràng ở Chương 4,  nói về những thủ đọan và biện pháp  của chế đô đạo phiệt Gia--tô Louis XVIII (1815-1624) và Charles X (1824-1830) để trả thù những người có liên hệ với chính quyền Cách Mạng 1789 và chính quyền   Hòang Đế Napoléon I.]

      Trên đây là những điều không may vĩ đại của các dân tộc trong vùng Trung Đông và Tây Phương. Sự không may này đã đưa đến những thảm họa chiến tranh tôn giáo hay đàn áp các tôn giáo khác ở bất kỳ nơi nào quyền lực của Tòa Thánh Vatican hay Giáo Hội La Mã  vươn tới. Tình trạng này đã xẩy ra trong suốt chiều dài lịch sử từ thập niên 320 cho đến ngày nay.

MỘT CHÚT LỊCH SỬ VỀ NGHỊEP VỤ BUÔN THẦN BÁN THÁNH CỦA ĐẠO GIA TÔ

      Tìm hiểu các sách sử và tài liệu nói về nước Do Thái và đặc biệt nhất là về đạo Do Thái, chúng ta thấy rằng đạo Do Thái và quốc gia Do Thái do  ông Abraham khởi lập vào khoảng năm 2000 trước công nguyên (TCN) trong hòan cảnh  của một đoàn người từ bỏ quê hương cũ, đi tìm một mảnh đất dung thân nơi quê người xứ lạ. Vì nhu cầu sinh tồn, ông Abraham và những người cố vân của ông cần phải tổ chức bộ máy cai trị để quản lý đoàn dưới quyền với những quy luật vừa là luật pháp quốc gia (thực ra, lúc này, Do Thái chưa phải là một quốc gia, mà chỉ là một thị tộc), vừa là tín điều hoang đường mượn danh nghĩa thần linh với chủ ý  vừa mê hoặc vừa  hù dọa  vừa  lừa gạt đoàn người dưới quyền (lúc đó còn ở trong tình trạng ngu dốt) khiến cho họ khiếp sợ phải tuân phục. Làm như vậy, có lẽ ông Abraham và những người cố vân thân cận của ông không có mục đích nào khác hơn là  biến đoàn người  dưới quyền thành một thế lực có tinh thần gắn bó sống chết với nhau  để vừa có thể bảo vệ an ninh và duy trì trật tư trong nội bộ, vừa có thể  khắc phục được những khó khăn của thiên nhiên, vừa có thể chống chọi với các thế lực ngọai thù. Vạn sự khởi đầu nan. Có lẽ vì chỉ có một mục đích như vậy, cho nên vị thượng đế mà ông Abraham chọn làm đối tượng thờ phượng là một vật thần "Elohim" (con bò) hiền lành. (Ông Thượng Đế "con bò" này không có  những tính nết xấu xa như  ganh ghét, đố kỵ, không tham lam, vơ vào hay bốc hốt, và cũng không hung tàn, bạo ngược như ông Thượng Đế hay Chúa Cha Jehovah sau này). Thời kỳ này  không có những quy luật hay tín điều nói đến giai cấp giáo sĩ, không có điều khoản nào nói đến những đặc quyền đặc lợi dành riêng cho họ, và cũng không có một tín điều hay quy luật nào có tính cách tàn ngược và bóc lột tín đồ hay nhân dân dưới quyền.

      Với những tín điều về tín ngưỡng (để mê hoặc và hù dọa nhân dân dưới quyền) trộn lộn với những luật lệ quản trị cộng đồng   được tập trung vào trong một bộ máy cai trị như tình trạng trên đây, ta có thể nói đây là một chế độ đạo phiệt  đầu tiên trong lịch sử loài người. Chế độ đạo phiệt này có những đặc tính:

1.- Còn ở trong tình trạng phôi thai,

2.- Được thực hiện trong một cộng đồng  nhỏ bé. 

3.- Gồm tòan những người đồng chủng nói cùng một ngôn ngữ

4.- Cùng ở trong một hòan cảnh điêu đứng đang bơ vơ giữa nơi xứ lạ quê người,

5.- Cùng có một đối tượng thờ phượng là một ông thần hiền lành như con bò (Elohim),

6.- Không có giai cấp giáo sĩ ăn trên ngồi trốc, hét ra lửa mửa ra khói,  nắm độc quyền bịa đặt ra những tín lý phi nhân bản, phản khoa học rồi dùng thế lực của chính quyền chuyên chính để cưỡng bách nhân dân phải tuân phục.

      Nhờ những  đặc tính này (có thể gọi là ưu điểm) mà đòan người Do Thái này gắn bó với nhau. Nhưng vì lúc đó, Do Thái chỉ là một nhóm người ít oi, không đủ sức chống chọi với các nhóm dân tộc khác trong vùng, cho nên họ mới rơi vào tình trạng suy yếu, rồi phiêu bạt tới Ai Cập làm nô lệ cho chính quyền quốc gia này .

      Đến thập niên 1250, trên đường bôn tẩu  từ Ai Cập quy hồi cố hương, ông Moses biến  đổi đạo Do Thái trên đây của ông Abraham bằng cách thay đồi đối tượng thờ phượng vật thần "con bò" hiền lành bằng một ông thượng đế tưởng tượng có danh xưng là Jehovah với tất cả những tính nết vô cùng xấu xa, vô cùng tham lam,  vô cùng độc ác, vô cùng tàn ngược. Có thể nói là, trong lịch sử lòai người,  không có một tên bạo chúa nào có thể sánh ngang được với ông Chúa Cha Jehovah này. Theo Cựu Ước Kinh, và  theo Giáo Hội La Mã thường cao rao, ông  Thượng Đế Jehovah này vô cùng độc ác và  hết sức dã man này, nhưng không biết tại sao lại được Giáo Hội và các ông tu sĩ Gia-tô lại thường dạy dỗ giáo dân  rằng  "Thiên Chúa Jehovah  lòng lành vô cùng, toàn năng, toàn thiện, có mặt ở khắp mọi nơi", có quyền năng tạo thiên lập địa, hô phong, hóan vũ và sáng tạo ra muôn vạn sinh linh và.vạn vật."

      Phải chăng các nhà thần học thuộc trường phái "Mặc Khải" đã   bịa đặt ra và nói láo như vậy với mục đích duy nhất là để lừa bịp và mê hoặc người đời hầu củng cố quyền lực và thủ lợi?. 

      Ngòai  việc thay đổi ông thượng đế "con bò" (Elohim) hiền lành bằng ông thường Jehovah quái đản như đã nói trên, Đạo Do Thái do ông Moses khởi lập  lại còn:

1.- Tạo ra một tầng lớp giáo sĩ nắm độc quyền thao túng cả thần quyền và thế quyền, không những tự tung tự tác tại các nơi thờ phượng ông thượng đế quái đản này, mà còn làm mưa làm gió trên vũ đài chính trị.

2.- Đặt ra những giáo luật quy định việc cung phụng Thiên Chúa, quy định việc cung phụng các giáo sĩ, luật trị người, luật sợ Chúa, v.v..., cực kỳ hà khắc và vô cùng man rợ với chủ đích bóc lột tín đồ và nhân dân dưới quyền đến tận xương tận tủy một cách vô cùng trắng trợn.

      Điều khôi hài nhất là hầu như tất cả những tín lý, tín điều thờ phượng ông Thượng Đế Jehovah quái đản này đều trộn lộn với luật lệ quy định cung phụng giới giáo sĩ và  luật lệ quản trị công đồng nhân dân. Tất cả các thứ tín lý, tín điều, luật lệ hổ lốn này quấn quyện với nhau và đều được coi như là luật lệ căn bản của bộ máy cai trị nhân dân của quốc gia Do Thái, giống như một bản hiến pháp của một thể chế chính trị của một quốc gia trong cộng đồng nhân lọai ngày nay. Với một chính quyền như vậy, ta gọi nó là một chế độ đạo phiệt bạo ngược nhất, hà khắc nhất, tham tàn nhất và dã man nhất nếu so với tất cả các thể chế  chính trị vào thời điểm bấy giờ. (Dĩ nhiên là nó vẫn còn phải ngả mũ chào thua các chế độ đạo phiệt Gia-tô sau này do Giáo Hội Kitô La Mã chủ xướng).

      Chế độ đạo phiệt Do Thái  này hình thành vào khỏang thập niên 1250. Lúc đó, dân Do Thái chỉ có một nhóm người với tất cả những đặc tính giống y hệt như những nhóm người Do Thái ở Canaan trong thời của ông Abraham, nhưng họ ở trong hòan cảnh đang phải khắc phục mọi gian khổ  trong cuộc "vạn lý trường chinh" trên đường tìm về đất cũ. Trong hòan cảnh như vậy, lòng nôn nóng  háo hức trở lại cố hương đã giúp cho những thành phần trong lớp người bị trị trong đòan người này dù bị ức hiếp và bóc lột đến đâu đi nữa, cũng phái cố gắng ẩn nhẫn nhịn nhục để chờ ngày vui trở về quê cũ. Vì thế cho nên cái cộng đồng Do Thái  này   không bị tan vỡ và cũng không bị phân hóa.

      Mãi cho đến đời ông Josué (vào khoảng cuối thế kỷ 11 TCN), đòan người Do Thái này mới trở về tới vùng đất Canaan. Sau đó, đoàn người này  tổ chức thành quốc gia và đưa ông Saul  lên làm quốc vương (1021-1000 TCN). Trong tình trạng như vậy, tất nhiên là chính quyền được tổ chức là một chế độ đạo phiệt Do Thái theo  mô thức đã được vạch ra từ thời ông Moses, và quốc vương chỉ là người được bọn giáo sĩ đưa lên nắm quyền để thi hành những tín  điều và luật lệ hoặc là do chính họ đã làm ra một cách chuyên đóan, hoặc là được làm ra với sự toa rập của vị quốc vương để phục vụ cho quyền lợi riêng của bọn chúng.

       Đây là một chế độ đạo phiệt Do Thái đúng nghĩa của một chế độ đạo phiệt với những dã tâm thâm độc vô cùng man rợ:

A.- Hủy diệt hết tất cả nền văn hóa (trong đó có tôn giáo) và văn minh khác để kiến tạo một nền văn hóa và văn minh thuần nhất Do Thái Giáo với một ông Thượng Đế Jehovah duy nhất, đúng như ông thượng đế quái đản này đã phán trong Mười Điều Răn (Chớ thờ thần khác, chớ lạy hình tượng), trong Phục Luật cũng như trong Xuất Hành. Học giả Trần Quý ghi lại như sau:

"Giê-hô-va, vị thần tự nhận tên là Ganh Ghét, không tiếc lời dặn tín đồ các chi tiết về việc phá đạo khác: Phàm những dân tộc nào các người đuổi đi được, các người phải phá sạch những nơi thờ thần của họ (Thánh Kinh Tin Lành dùng cụm từ “chúng nóthay cho “họ") trên núi cao, trên đồi, dưới bóng cây xanh; các ngươi phải đập tan bàn thờ, đâp vụn cột đền, lấy lửa đốt rụi hết các tượng của họ; các ngươi phải đục khoét cho mất hết mọi hình chạm trổ các tượng thần của họ, * và xóa tên những thần ấy ở những nơi đó." (Phục Luật 12:2-3).

"Phải giết những kẻ tiên tri nào dám nhân danh các vị thần khác mà nói (Phục Luật 18:20). Chớ theo những vị thần của các dân tộc ở chung quanh các ngươi (Phục Luật 6:14). Phải dứt khoát giết những người đi lễ (bất kỳ) vị thần nào khác ngoài Giê-hô-va (Xuất Hành 22:20).  [7]

      Và trong sách Leviticus (26:1):

"Các ngươi không được tạo ra những hình tượng nào để sùng bái cho chính các ngươi; các ngươi cũng không được  khắc chạm một hình ảnh nào hay dựng nên một trụ cột thiêng liêng nào để nâng cao cho chính các ngươi; ở trong vùng các ngươi cư ngụ, các ngươi cũng không được dựng nên một hòn đá nào có khắc chạm để cúi đầu nghiêng mình trước nó; vì rằng Ta là Thượng Đế của các ngươi.” (You shall not make idols for yourselves; neither carved image nor sacred shall you rear up for yourselves; nor shall you set up an engraved stone in your land, to bow down to it; for I am the Lord you God).  [8]  

B.- Nhu đã trình bày đầy đủ ở các Chương 6, 7 và 8, đại Gia-tô chủ trương hủy diệt hết tất cả mọi tình yêu thiêng liêng giữa con người với con người. Tất cả những thứ tình yêu như tình yêu lứa đôi trai gái, tình yêu gia đình giữa vợ với chồng, giữa cha mẹ với con cái, giữa con cái với cha mẹ và giữa anh em với nhau cũng như tình yêu giữa những người  trong cùng một làng xóm và giữa những người sống trong cùng một quốc gia đều phải bị hủy diệt để tạo nên một thứ tình yêu duy nhất đối với ông Thượng Đế  Jehovah và giai cấp giáo sĩ (lớp người trung gian giữa Thựong Đế Jehovah vơi đại khối nhân dân bị tri). Sự kiện này đã nói rõ  Cựu Ước  và được sách Lòng Tin Âu Mỹ Đấy ghi lại như sau::

Chỉ được thờ vị thần do họ đưa ra, phải diệt (hết) các đạo khác, phải giết nhưng người thay đổi đạo mà họ đã đặt ra, phải giết vợ con, bạn hữu nếu những người này tuyên truyền cho các đạo khác, phải không có lòng thương xót khi giết người.

"Môi-se ra lệnh cho đám dân Do Thái giặc cướp phải giết hết người nam, giết hết đàn bà, con gái đã ăn nằm với đàn ông, chỉ giữ lại con gái trinh thôi (Dân số 31:17-18). Giê-ho-va đòi dân đi ăn cướp về phải chia của cướp được cho mình. Của này phải giao cho các giáo sĩ giữ từ cừu, bò cho tới những người con gái (Dân số 31:28 và 31:40).

Dân Do Thái phải dâng con đầu lòng cho Giê-hô-va (Xuất Hành 13:12).

"Khi anh em một mẹ với ngươi, hay con trai ngươi, hay con gái ngươi, hay người vợ yêu mến của ngươi, kín đáo xúi giục ngươi bảo ngươi rằng “Ta hãy đi thờ các thần khác.” Đó là những thần khác mà các ngươi và tổ tiên các ngươi chưa hề biết. Đó là những thần của những dân tộc sống chung quanh các ngươi hoặc gần hoặc xa... Các ngươi hãy chớ theo nó. Các ngươi đừng thương nó. Các ngươi chớ có xót-xa mà che chở cho nó, các ngươi phải giết nó. Các ngươi phải giết nó trước rồi mới tới tay dân chúng (Phục Luật 13:6-9)....”. [9]

      Qua những phần trình bày trên đây, chúng ta thấy rằng, trước khi Giáo Hội La Mã ra đời, dân Do Thái và  đạo Do Thái đã có chủ trương tạo nên chế độ đạo phiệt với một giái cấp tu nắm quyền lãnh đạo cả tôn giáo lẫn chính quyền, và nắm luôn cả quyền làm ra những luật lệ và tín lý trong tôn giáo. Nói cho rõ hơn, trong xã hội Do Thái cổ thời, giai cấp tu sĩ là giới người ở  vị thế thượng tầng trong xã hội, nắm trọn quyền hành tôn giáo và chính trị trong tay, độc quyền bịa đặt ra những tín lý quái đản, rồi dùng bạo lực nhà nước cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải khuất phục và  tiêu thụ những thứ quái thai này.

      Khi Giáo Hội La Mã ra đời vào thế kỷ IV, các nhà lãnh đạo Giáo Hội điều nghiên hệ thống tín lý trộn lộn với lụat pháp của chế độ đạo phiệt Do Thái,  thêm thắt những tín lý và giáo luật mới, rồi dựa vào đó để tổ chức hệ thống quyền lực theo mô hình bộ máy cai trị của Đế Quốc La Mã. Theo thời gian, càng về sau, Giáo Hội càng bịa đặt thêm nhìều tín lý và giáo luật quái đản khác mà chủ đích chính vẫn  là để lừa bịp và bóc lột tín đồ và người đời.

      Giáo Hội La Mã ra đời trong thập niên 320  dựa vào quyền lực của chính quyền Đế Quốc La Mã để tồn tại rồi dân dần tóm thâu quyền lực chính trị  vào trong tay Giáo Hội. Quyền hành sinh ra  tội ác. Một trong những tội ác do quyền lực sinh ra là tội tham nhũng. Quyền hành hay quyền lực càng cao và càng nhiều thì tham nhũng càng   phổ quát, càng rộng rãi, càng siêu việt, càng lan tỏa ra trong tất cả mọi sinh họat đời sống của người dân và càng có nhiều  phương tiện để thực hiện.

      Giáo Hội La Mã là một thế lực nắm trọn cả thần quyền và thế quyền với chủ trương tôn giáo chỉ đạo chính quyền, thiết lập chế độ đạo phiệt  rồi dùng bạo lực của nhà nước vừa  thi hành chính sách bất khoan dung, diệt tận gốc, trốn tận rễ" tất cả các tôn giáo   và nền văn hóa khác, vừa  thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ để biến tín đồ và người dân dưới quyền thành những đàn cừu ngu dốt hầu dễ bề lừa bịp và bóc lột. Nhờ những đặc tính này mà vấn đề tham nhũng trong Giáo Hội La Mã cũng như trong tất cả các chế độ chính trí có bóng dáng Giáo Hội ở hậu trường đã trở thành chính sách rất phổ quát rộng rãi trong tất cả mọt tầng lớp nhân dân và trong tất cả mọi phạm vi sinh họat của người dân. Ở đâu có quyền lực của Giáo Hộio La Mã là có tham nhũng và hối lố, và tham nhũng và hối lộ từ ông ừ ông Thượng Đế  tức Chúa Cha Jehovah, Chúa Con Jesus, Đức Bà Maria (bằng hình thức lễ vật dâng cúng) cho đến tầng lớp lãnh đạo trong Giáo triều Vatican và giai cấp  tu sĩ là các ông hồng y, tổng giám mục, mục, đức ông, linh mục rồi đến giáo dân, nếu họ có quyền lực (bằng hình thức quà cáp với quy luật "cao lễ  dễ thưa".

      Thực ra ông Chúa Cha là một vị thần tưởng tượng do bọn lưu manh buôn thần bán thánh người Do Thái bịa đặt ra. Còn ông Jesus và Đức Bà Maria là những nhân vật có thật bằng xương bằng thịt người Do Thái. Hai nhân vật này thực sự là bằng xương bằng thịt  cũng bắt đầu bằng sự thụ tinh của một cái trứng của một người đàn bà trong một cuộc làm tình với một người đàn ông. Sau khi thụ tinh rồi, cái trứng này biến thề thành một cái bào thai nằm trong dạ con của người đàn bà trong một thời gian khỏang chừng trên dưới 9 tháng thì tự động chui qua cửa mình của người mẹ và chào đời bằng tiếng khóc oe oe. Chẳng làm gì có chuyện bà Maria làm tình với một đấng thần linh nào rồi thụ thai, rồi sinh ra ông Jesus. Nói rằng ông Bà Maria được một đấng thần linh thương yêu cùng nhau trăng gió  rồi mang thai và sinh ra ông Jesus là cố tình bịa đặt ra một chuyện hoang đường  với thâm ý làm mê hoặc người đời tưởng lầm rằng  bà Maria và ông Jesus có  quyền năng biến hóa hô phong hoán vũ. Một khi đã tin bà Maria và ông Jesus có quyền năng như vậy (giống như những quyền năng mà đạo Do Thái đã bịa đặt ra cho thần Jehovah tưởng tượng) thì người ta  sẽ sẵn sàng đem những lễ vật đến nhà thờ dâng cúng với hy vọng sẽ được ông Jesus và Đức Maria ban phuớc lành, ban hồng ân, và ban  cho tất cả những gì mà họ hằng mơ ước hay mong muốn. Đây là việc làm lưu manh khởi đầu của Giáo Hội La Mã.

      Việc làm lưu manh trên đây của Giáo Hội La Mã khởi đầu từ khi Hội Nghị Nicaea nhóm họp từ ngày 20/5/325 trở về sau. Kể từ đó, Giáo Hội La Mã bịa đặt ra cả hàng rừng tín lý và lế nghi với những quy luật dâng của lễ để cầu khấn  với hy vọng được ban cho "hồng ân Thiên Chúa", được ban phép lành, phép lạ,  được Chúa che chở, đuợc Đữc Bà cứu giúp, v.v. với hàng trăm thứ "đuợc", nhưng với điều kiện là "phải dâng của lễ" thì mới được Chúa cứu xét đến lời cầu nguyện. Đồng thời, ngay từ thuở mới chào đời, tín đồ đã được các ngài "mang chức thánh" và những "bậc trưởng thượng" trong xã hội "dân Chúa" cấy vào đầu óc niềm tin "cao lễ dễ thưa"; nói nôm na là "của lễ càng nhiều  và càng đắt giá thì lời cầu khấn càng linh nghiệm". Cái kiến thức  phổ quát (tục lệ) này trong xã hội "dân Chúa" không mấy ai là không biết.

      Những tín lý do Giáo Hội bịa đặt ra được bộ máy tuyên truyền của Giáo Hội  phổ biến rộng rãi  qua chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ với những lời dạy "Phúc cho ai không thấy mà tin", và "phải có niềm tin thì mới thấy sự linh nghiệm của những tín lý của đạo" [Đây là hai trong số những lời dạy nặng tính cách lưu manh và  bịp bợm nhất trong những lời dạy dạy tín đồ của Giáo Hội La Mã]. Câu chuyện được các tác giả Tân Ước bịa đẳt ra làm bài học cho các cán bộ tuyền truyền (giới tu sĩ) của Giáo Hội theo đó mà cao rao hay phố biến. Câu chuyên này như sau::

"Sáng mai, lại thành thì Ngài (ông Jesus) đói. Thấy một cây vả ở bên đường, Ngài bèn lại gần, song chỉ thấy những lá mà thôi, thì Ngài phán cùng cây vả rằng. Mày chẳng bao giờ sinh ra trái nữa! Cây vả tức thì khô đi. Môn đồ thấy điều đó lấy làm kỳ, nói rằng: "Cớ sao trong giây phút mà cây vả khô đi như vây?" Đức Chúa Jesus đap rằng, "Quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi có đức tin, và không nghi ngờ chi hết, thì chẳng những các ngươi, thì chẳng những các ngươi  có thể làm cho cây vả khô héo, mà còn có thể bảo hòn núi này rằng, "hãh cất mình lên và quằn xuống biển. Trong khi cầu nguyện, các ngươi lấy đức tin xin  bất kỳ việc gì  đêu cũng được." (Now in the morning, as He returned to the city, He was hungry.And seeing a fig tree by the road, He came to it and found nothing on it but leaves and said to it, "Let no fruit grow on you ever again." And immediately the fig tree   withered away. Now when the disciples saw it, they marveled saying, "How did the fig tree wither away so soon?" So Jesus answered and said to them, "Assuredly, I say to you, if you have faith and do not daoubt, you will not only to what was done to the fig tree, but also if you say to this mountain, "Be removed and be cast into the sea" it will be done. And all things, whatever you ask in prayer, believing, you will receive. (Matthiew: 21;18-21)"   [10]

      Cán bộ tuyên truyền  của Giáo Hội đúc kết  câu chuyên   trên đây thành một lời nói  ngắn gọn để nhồi sọ tín đồ rằng, "chi cần có niềm tin bằng hạt cải thì người ta có thể bứng cả một ngọn núi quăng xuống biển". Vốn  đã bị chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ biến thành những hạng người ngu dốt, không biết sử dụng lý trí để phân tách và suy luận, lại vì có máu háo danh, hám lợi, tín đồ Gia-tô ngoan đạo răm rắp tin theo những tín lý bịp bợm do Giáo Hội bịa đặt ra, rồi đem lễ vật  hâu hĩ đến nhà thờ dâng cúng cho Giáo Hội. Thế là Giáo Hội cứ việc thò tay ra tiếp nhân lễ vật. Đây là một phương cách móc túi tín đồ một cách vô cùng tinh vi của Giáo Hội. Càng về sau, phương cách móc túi như vậy càng tinh vi hơn. Để có thể tiếp nhận được nhiều lễ vật hơn nữa, Giáo Hội lại bịa  đặt thêm ra quy luật "lễ vật càng cao và càng tuyệt đối tin tường vào những tín lý của Giáo Hội thì càng được Chúa trả ơn."

      Với những thủ đọan làm tiền hay kinh tài bất chính như trên, chúng ta có thể nói rằng Giáo Hội La Mã  qủa thật là một thế lực đệ nhất lưu manh trong lịch sử  loài người.

      Ngoài những vai trò trên đây, các ông linh mục hay tu sĩ  Gia-tô còn có  trách nhiệm phải tự động nghĩ ra những phương cách làm tiền hay tổ chức các cơ sở kinh tài (làm tiền) cho Giáo Hội và bảo quản những khối tài sản đã thu vơ được qua các dịch vụ kinh tài và bóc lột tín đồ. Có lẽ đây mới là vai trò quan trọng nhất của các ông tu sĩ Gia-tô đối với cả Giáo Hội và đối với cá nhân của họ. Không biết trong chương trình đào tạo tu sĩ của Giáo Hội có dạy môn kinh tài hoặc kinh tế học hay không. Trong thực tế, qua các tài liệu mà người viết đã đọc, qua sự quan sát và điều tra tại chỗ, người viết nhận thấy kỹ thuật kinh tài hay làm tiền của các nhà tu hành Gia-tô thật là siêu việt. Siêu việt ở đây không phải là tài nghệ xuất chúng trong việc kinh doanh hợp pháp đem lại ích lợi cho quốc gia và nhân dân, mà là siêu việt trong kỹ thuật dựa thế chính quyền và quyền lực  của Giáo Hội cũng như lợi dụng chức vụ của họ để cướp đọat tài nguyên quốc gia, hối mại quyền thế, bóc lột nhân dân và bóc lột tín đồ bằng muôn ngàn thủ đọan, bằng  đủ mọi mánh mung lưu manh và bất chính. Những mánh mung kinh tài bất chính của các ngài là đầu  mối  hay nguyên nhân chính cho  tất cả mọi tệ trạng tham nhũng của tất cả chính quyền có bóng dáng Giáo Hội La Mã ở hậu trường sân khấu chính trị. Bằng chứng rõ ràng nhất cho sự kiện này là tình trạng tham nhũng do các nhà tu hành Gia-tô chủ động rồi  gây ra  hậu quả dây chuyền trong hai chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu  và phương cách làm tiền bất chính và rất lưu manh của các ngài ở hải ngọai ngày nay.

      Cho đến giữa thế kỷ 20, Giáo Hội La Mã  đã trở thành  một thế lực tóm thâu cả thần quyền và thế quyền vào trong tay và thống trị cả cả một vùng rộng lớn bao trùm cả Nam Âu và các thuộc địa của các đế quốc thực dân xâm lược Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp ở khắp các lục địa Phi, Mỹ và Á Châu cũng là thuộc địa của Giáo Hội. Giáo Hội cũng đã từng làm mưa làm gió, hét ra lửa mửa ra khói ở lục địa Âu Châu với những thành tích phát động gần 10  cuộc thập ác chiến (crusades), thiết lập các Tòa Án Dị Giáo, đã từng cấu kết với các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, chế độ   Phát Xít Ý Đại Lợi, Đức Quốc Xã rồi lai Pháp và Hoa Kỳ trong việc đánh chiếm và thống trị hay thiết lập các chế độ đạo phiệt Gia-tô tay sai tại các vùng đất nằm ngoài ảnh hưởng của Giáo Hội. Dựa vào các đế quốc và siêu cường trên đây, thi hành sách lược "cáo độ lốt hùm", Giáo Hội tiến hành những chiến dịch “làm sáng danh Chúa” bằng bạo lực và tiến  hành  chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ” nhằm nô lệ hóa nhân loại cả tâm hôn lẫn thể xác.

      Trong câu chuyện  Cưới Vợ cho Hà Bá  ở đất Nghiệp Đô, bọn đồng cốt hay thày cúng (thần quyền hay tôn giáo) và hào lão (thế quyền hay chính quyền) là hai thế lực nhỏ nhoi và riêng rẽ cấu kết với nhau ở trong phạm vị một địa phương nhỏ bé thì tất nhiên nó chỉ gây ra thảm họa cho nhân dân trong một vùng Nghiệp Đô nhỏ bé này mà thôi. Trong khi đó thì Giáo Hội La Mã nắm trọn cả hai vai trò của các bà đồng cốt (thần quyền) và vai trò các hào lão. (Thế quyền trong làng) chỉ đao cho các chính quyền tay sai phải thi hành mệnh lệnh của Giáo Hội (các chính quyền đạo phiệt Tây Ban Nha tại chính quốc Tây Ban Nha và tại các thuộc địa từ thời Trung Cổ đến năm 1820,   chính quyền đạo phiệt Anh trong thời Mary I  (Bloody Mary) trong những năm 1555 –1558, chính quyền đạo phiệt Gia-tô Ane Pavelich tại Croatia trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, chính quyền đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm tạo miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1963.) Cũng nhờ vào  sự cấu kết với các đế quốc và siêu cường trên đây, ảnh hưởng của Giáo Hội gần như bao trùm khắp nơi trên thến giới. Vì thế mà thảm họa do Giáo Hội đã gieo rắc cho nhân loại từ ngàn xưa cho đến nay to lớn không biết đâu mà lường được. Nếu  đem so sánh tội ác của bọn đồng cốt và hào lão trong việc bịa đặt ra chuyện Cưới Vợ Cho Hà Bá ở khúc sông Chương Hà tại đất Nghiệp Đô với những tội ác của Giáo Hội đã làm từ xưa cho đến nay thì chẳng khác gì   đem so ngọn Núi Bà Đen so với rặng Hy Mã Lạp Sơn. Chính  những rặng núi tội ác này của Giáo Hội  đã khiến cho Giáo Hoàng John Paul II phải trăn trở cả gần mười năm qua, rồi Ngài   phải ra lệnh cho tổ chức một buổi lễ vô cùng long trọng vào ngày 12/ 3/ 2000 để cáo thú  những rặng tội ác  này của Giáo Hội..

      Ai cũng biết rằng những giáo luật  tín lý của đạo Do Thái và đạo Kitô La Mã làm ra đều có tính cách cách võ đoán, chuyên chế và được dùng làm công cụ để áp bức và bóc lột tín đồ và nhân dân dưới quyền. Ai cũng biết răng những giáo luật bất công, dã man và những tín lý quái đản này là do một nhóm ngươi lưu manh buôn thần bán thánh nhân danh Thượng Đế làm ra. Nếu có người đặt ra vấn đề là  lấy tư cách gì hay dựa vào đâu mà họ nói rằng họ nhân danh Thượng Đế để làm ra những tín lý, giáo luật và thánh luật này thì họ trả lời một cách ngon lành không một chút ngượng miệng rằng, "Chúng tôi được Thượng Đế (hay thánh thần) "mặc khải" (nói cho biết, tiết lộ )" nên mới biết mà làm ra".

      Họ nói ngon lành như vậy mà không biết ngượng miệng. Chuyện láo khoét và bịp bợm như vậy không phải chỉ xẩy ra vào cái thời điểm xa xưa cách đây hai ngàn năm  hay chỉ xẩy ra trong Giáo Hội La Mã. Ngay ở nước Mỹ theo chế độ dân chủ tự do trong thời đại văn minh   tin học ở vào thời điểm đầu năm 2003 này cũng có hạng người lưu manh nói rằng "được Thượng Đế mặc khải" (sản phẩm của nền đạo lý mặc khải bịp bợm) để làm chuyện bất lương bắt cóc con gái vị thành niên con nhà lành về hãm hiếp và làm vợ nhỏ. Đây là chuyện có thật trăm phần trăm được các cơ quan truyền thônq Hoa Kỳ và quốc tế loan tin đầy đủ.

      Người chủ động làm việc  bất lương này là tên lưu manh Mitchell (chồng 49 tuổi) Barzee (vợ, 47 tuổi) theo đạo Mormon, phạm tội bắt  cóc em bé gái Elizabeth Smart mới 14 tuổi ở thành phố Sandy thuộc tiểu bang Utah vào ngày 5 tháng 6 năm 2002, đem đi ở một nơi kín đáo. Đến ngày 12/3/2003 thì nhà chức trách tìm ra nơi trú ẩn của vợ chồng tên lưu manh này và  bé gái  Elizabeth. Nạn nhân Elizabeth được đưa trả về cho gia đình, còn vợ chồng tên lưu manh này bị giam chờ ngày ra tòa đền tội. Lụật sư của cặp vợ chồng tên lưu manh này là ông Larry Long nói với báo chí rằng, "Mitchell nói với ông ta rằng hắn ta coi Elizabeth như là vợ của hắn ta và sự biến mất của cô ấy là "tiếng gọi của Thượng Đế"  (chứ không phải là bắt cóc". ("Attorney Larry Long, who told him that he considers Elizabeth his wife and that her disappearance was a "call from God" - not a kidnapping.")   [11].

      Gom chung các chuyện "Hà Bá  Đòi Cưới Vợ" ở bên Trung Hoa trong thời TiềnTần, chuyện các tác giả viết Cựu Ước và Tân Ước, chuyện Giáo Hội La Mã bịa đặt ra ngững tín lý quái đản, đăt ra những giáo luật, ban hành những thánh luật ăn cướp trong thế kỷ XV (đã trình bày trong Chương 10), chuyện  tên lưu manh Mitchell bắt cóc bé gái Elzabeth Smart mới 14 tuổi ở Utah về làm vợ mới xẩy ra vào ngày  5 tháng 6 năm 2002 mà nói rằng là "do tiếng gọi của Thượng Đế", tất cả  cho chúng ta thấy    bất kỳ nơi nào (Trung Hoa,  Do Thái, trong Tòa Thánh Vatican,  Hoa Kỳ) và bất kỳ vào thời đại nào (thời ông Moses cách đây hơn ba ngàn năm, thời đạo Kitô mới ra đời cũng như suốt trong chiều dài lịch sử của Giáo Hội La Mã và  vào thời điểm 2003 này), bọn lưu manh buôn thần bán thánh  đều sử dụng quái chiêu bằng cách rêu rao rằng  "đựợc thần thánh ứng lên" hoặc "Thượng Đế hay thánh linh mặc khải" mà  làm ra những luật lệ , rồi bảo rằng đó là "thánh luật" và "giáo luật" để lừa bịp người đời hầu thủ lợi hay thỏa mãn những tham vọng bất chính của chúng.

      Thâm độc và lưu manh hơn nữa, Giáo Hội còn cấy vào đầu óc tín đồ cái quan niệm ngu xuẩn và ngược ngạo rằng những  nhân vật nào đã do Thương Đế (Giáo Hội) sắp đặt hay chọn lưa  đưa lên cầm quyền thì những người đó dù cho đã trở thành hung thần bạo chúa tàn hại nhân dân đến mức nào đi nữa  thì nhân dân  dưới quyền cũng chỉ có  thể cầu xin Thượng Đế (tức là cầu xin Giáo Hội) để xin Ngài ra tay trừng phạt tên hung thần bạo chúa đó. Nếu Thượng Đế (Giáo Hội) không nhậm lời, ngoảnh mặt làm ngơ thì nhân dân ráng cắn răng mà chịu, chứ không có quyền vùng lên làm cách mạng, không có quyền lôi cổ tên quốc tặc này ra khỏi chính quyền. Sự kiện này được học giả Dương Thành Lợi ghi nhận như sau:

      "Một triết gia Âu Châu khác là Aquinas chủ trương rằng nhà vua (đấng bề trên) được Thượng Đế chọn lựa cho nên nhân dân phải dùng các phương tiện hợp pháp để trục xuất một vị vua gian ác; nhân dân KHÔNG THỂ LÀM CÁCH MẠNG  để giết vua và thay đổi cơ chế chính quyền. Theo Aquinas, nhân dân thà có một ông vua gian ác còn hơn là phải đối đầu với hiểm họa đất nước bị phân chia. Sự cai trị độc ác của lãnh tụ có thể phản ảnh ý định của Thượng Đế muốn trừng phạt người dân; và nếu các phương tiện hợp pháp không thể trục xuất đưọc vị lãnh tụ gian ác, người dân chỉ còn cách duy nhất là cầu nguyện Thượng Đế. Nếu Thượng Đế không đáp lại lời cầu nguyện để bắt buộc vị lãnh tụ quốc gia đó phải thoái vị thì nhân dân phải chấp nhận vị lãnh tụ gian ác này bởi vì đó là ý của Thượng Đế."  [12].

      Quan niệm quái đản này hoàn toàn trái ngược với nền đạo lý vị tha trong các xã hội Đông Phuơng. Những bản văn lịch sử dưới đây cho chúng ta thấy ró sự trái ngược này. Sách Triết Học Đông Phương ghi rõ như sau:

"Dục vi quân, tận quân đạo, dục vi thần, tận thần đạo, nhị giả giải pháp,  Nghiêu Thuấn nhi dĩ dĩ hỷ” (Lý Lâu Thượng). [”Làm vua thì phải hết đạo  làm vua, làm tôi thần thì phải hết đạo làm tôi thần”].    ”Quân chi thị thần như thủ túc, tắc thần thị quân như phúc tâm. Quân chi  thị thần như khuyển mã, tắc thần thị quân như quốc nhân. Quân chi thị  thần như thổ giới, tắc thần thị quân như khấu thù” (Lý Lâu Hạ). [””Vua  phải biết coi nhân dân như chân tay thì nhân kính trọng vua như bụng như  lòng, nhưng nếu vua coi nhân dân như chó ngựa thi nhân dân coi vua như  một người dân thường trong nước, và nếu vua coi nhân dân như đất như cỏ,  thì nhân dân sẽ coi vua như giặc như thù”  [13] .

Sách The Two Vietnams cũng viết:

Nếu ông vua mà áp bức nhân dân thì ông ta không còn xứng đáng được đối xử  như là vua nữa. Cá nhân ông ta không còn thiêng liêng nữa,