
Vào cái thuở loài người
còn ở trong tình trạng ngu dốt, đứng trước những cảnh núi non hùng vĩ,
cây rừng bát ngát, biển cả trùng trùng cùng
thiên tai giông bão, sấm sét với mưa tuôn lũ và nắng hạn triền
miên, con người trở nên run sợ tưởng rằng tất cả những hiện tượng
thiên nhiên trên đây đều do các đấng thần linh gây nên cả. Vì thế mà thuở đó, người ta tin rằng "đât có thổ công", "sông có hà bá", "núi có sơn thần" và đâu đâu cũng có
thần linh ngự trị . Đồng thời, họ cũng tin rằng những đấng thần
linh này cũng có thất tình lục dục như con người, nhưng có khả năng che
chở hay cứu giúp cho những người mang lễ vật đến cầu xin được thoát
khỏi những tai họa hay những bất hạnh
rủi ro bất ngờ, và cũng chính những đáng thần linh này cũng có thể
gieo tai giáng họa cho những kẻ nào làm phật ý các ngài. Tinh trạng này
đã sinh ra bọn người làm trung gian
giữa thế giới thần linh và những người muốn dâng lễ vật lến các
ngài để câu xin được che chở và cứu giúp. Thói đời nghề đẻ ra nghề.
Khi hành nghề, bọn người trung gian này
lại bịa đặt thêm ra nhiều điều hão huyền khác để mê hoặc và làm
cho người đời lầm tưởng rằng sẽ có sự linh nghiệm mang lại những lợí
ích lớn lao cho những ai sùng bái và dâng cúng lễ vật để tỏ lòng
thành kính và tin tưởng vào các đáng thần linh. Nhờ vậy, mà bọn người
làm ăn bất lương theo kiểu này đã moi được khá nhiều tiền của thiên
hạ, rồi trở nên giầu có và được nhiều người nể trọng. Khi đã trở
nên giàu có và được nhiều người nể trọng, bọn người nay tính đén
chuỵện tạo vây cánh, gây ra nhiều
điều tệ hại khác cho xã hội.
Sự kiện trên đây
cho chúng ta thấy việc bịa đặt ra những tín lý hoang đường quái đản
là một trong tệ trạng buôn thần bán thánh đã có từ thời Thượng Cổ
và chỉ nẩy sinh ở trong hòan cảnh xa hội mà trình độ dân trí còn quá
thấp kém chưa được khai hóa..
ĐẠO LÝ ĐÔNG
PHƯƠNG CỐ GẮNG CHẶN ĐỨNG
(MỘT ĐẶC
ĐIỂM CỦA NỀN ĐẠO LÝ VỊ THA)
Trên đây là tình trạng
chung của nhân lọai ở vào thời Thượng
Cổ.. Riêng ở Đông Phương nói chung, Trung Hoa nói riêng, may mắn có được
những bậc đại hiền đã nhìn thấy rõ dã tâm thâm độc của bọn người
lưu manh mượn danh thần thánh mưu sinh một cách bất lương như vậy. Họ đã cố gắng tìm ra những biện pháp chặn
đứng tệ trạng trên đây.Sự kiện này được sách Nho Giáo ghi lại như
sau:
"Phàm người đời đã bị cực khổ mà lại học
hành không có, việc hay dở không biết thế nào, tất là phải chìm đắm
vào những điều mê hoặc và tin những việc quái lạ. Vu là người con gái
và hích là người con trai làm nghề đồng bóng, tức là bọn đồng cốt
thày cúng, thày pháp, v.v... lấy điều cát hung, họa phúc, dùng những phương
thuôc huyễn hoặc mà đánh lừa những người ngu dại, đem sự thần thánh
ma quỉ mà dọa nạt người thường
để làm nghê kiếm ăn. Ở nước Tầu,
về đời Thượng Cổ, bọn vu hích có thế lực rất mạnh, thậm chí nhà
nào cũng thờ quỉ, thờ thần. Cổ thư nói rằng, "dân thần tạp nhụ,
gia vi vu sử : Dân với thần lẫn lộn, nhà nào nhà ấy cũng có vu sử."
Nhà vua thấy thế mới sai quan định rõ việc thần và việc người để
ngăn cấm bọn vu hích làm mê hoặc lòng người. Thiên Lữ hình trong Kinh
Thi nói rằng: "Mệnh, Trọng, Lê tuyệt địa thiên thông, võng hữu
giáng cách : Vua sai họ Trọng, họ Lê định điển lễ rõ ràng, để phân
biệt việc người việc thần, không cho người ta nói bậy là thế nào thần
cũng giáng, hay dùng cách không chính đáng mà cũng cảm cách được đến
thần." Đế vương đời trước cho dân mê tín những sự yêu quái, là
vì không hiểu rõ cái chính lý của trời đất, không phân biệt điều thiện
điều ác, cứ hay tìm mối họa phúc ở chỗ mơ màng mờ mịt. Vậy nên định
rõ việc thờ cúng để chính lòng người và làm cho rõ đạo thường..
Tuy
vậy, lòng người vẫn bị những vật dục làm mờ tối đi, thành ra thế
lực của bọn vu ích càng ngày càng mạnh. Về sau vua phải đặt: "Tư
vu chưởng quần vu chi chính lệnh : Quan tư vu cai quản và sai khiến bọn vu
nhân" (Chu Lễ : Tư vu). Xem thế biết rằng đạo thánh hiền tuy là
công chính, nhưng vẫn không có thế lực bằng cái thuật của bọn vu
hích. Vì đạo của thánh hiền chỉ riêng cho những người đi học mà thuật
của bọn vu hích thì lan ra khắp cả ban dân thiên hạ." [1] .
Qua bản văn trên đây,
chúng ta thấy rằng ngay từ thời Thượng Cổ, Trung Hoa đã có những người
lãnh đạo chính quyền biết lo lắng đến quyền lợi của đại khối nhân dân. Vì thế cho nên họ mới có những
hành động ngăn chặn bọn, không để cho "vu hích" tung tác mượn danh thần thánh
bịa đặt ra "những điều hung ác, họa
phúc dùng
những phương thuốc huyễn hoặc mà đánh lừa những người ngu dại, đem
sự thần thánh ma quỉ mà dọa nạt người
thường để làm nghê kiếm ăn." Một khi đã
hành động như vậy là gây nên thù oán
với bọn nguời "vu hích" và rất có thể bị chúng trả thù này bằng cách dùng
ảnh hưởng của chúng xúi giục đám dân ngu dốt nặng lòng mê tín nổi lọan
chống lại chính quyền hay bằng những thủ đoạn gian manh khác gây nguy hại
đến sinh mạng của nhà cầm quyền và những người dám nói lên sự thật
về việc làm gian ác của chúng..
Việc làm trên đây của
nhà vua nước Trung Hoa trong thời Thượng Cổ chắc chắn không phải vì quyền
lợi cá nhân của nhà vua, mà vì quyền
lợi của đại khối nhân dân hay vì quyền lợi chung của xã hội. Làm một
việc không phải vì quyền lợi của chính mình mà chỉ vì quyền
lợi của đại khối nhân dân hay quyền lợi chung của xã hội, lại có thể
nguy hiểm đến quyền lợi hay sinh mạng của chính mình, tất nhiên phải là những bậc đại
hiền mới có thể làm được. Các bậc đại hiền này chỉ biết hành xử
theo lương tâm trách nhiệm, theo đạo
lý công bằng và lẽ phải, dùng luật pháp trừng trị những kẻ gian manh
làm ăn bất chính và bảo vệ quyền lợi của những người bị lường gạt hay bị bóc lột. Cung cách
hành xử cao đẹp như vậy của các bậc
đại hiền vào thời kỳ này được
coi là nền tảng hay những viên gạch đầu tiên trong công trình kiến tạo "căn nhà
đạo lý vị tha" trong xã hội
Trung Hoa nói riêng và Đông Phương nói
chung. Nền đạo lý vị tha trên đây sau này lại được Đức Không Tử
gom lại và hệ thống hóa, rồi lại được Đức Mạnh Tử và các bậc
chính nho đời sau khai triển, bổ túc và được người đời gọi là nền
đạo Lý Khổng Mạnh hay "đạo Khổng " (Confucianism).
Gọi là "đạo lý
vị tha" vì trong nền đạo lý này chỉ đưa ra những nguyên tắc hay những
lời khuyên bảo nhằm phục vụ cho quyền lợi cho tất cả mọi người
trong đồng nhân loại mà KHÔNG NHẰM để phục vụ cho cho một giai cáp nào trong xã hội và CŨNG KHÔNG
VINH DANH một đấng thần linh nào cả. Những nguyên tác hay những lời
khuyên bảo này đề có những đặc tính cao
cả, vô tư, nếu có lợi thì là lợi chung của mọi người trong xã hội.
Nền đạo lý này có chủ trương dạy người đời hướng vào nội tâm suy nghĩ,
sửa mình sao cho tâm hồn đựoc ngay thẳng, trong cậy vào chính
mình làm bổn phận của chính mình đới
với cha mẹ, đối với anh em, đối với
vợ con, đối với bà con láng giềng đội với dân làng, đối với quốc gia và dân tộc Tất cả nguyên tắc của nền
đạo lý này là “những cái lý đương nhiên
ai cũng phải công nhận”. Nói cho rõ hơn,
nền đạo lý vi tha của các dân tộc Đông Phương là một hệ thống gồm những tiêu chuẩn mẫu mực vô cùng khách quan, hết sức công bằng và thích hợp
đối với tất cả mọi thành phần trong xã
hội không phân biệt giầu nghèo, tôn giáo, chủng tôc, địa phương và kẻ
sang người hèn. Bất luận ở vào địa
vị nào, dù là ông vua hay người lãnh đạo quốc gia cũng phải theo đó
mà hành sử đúng theo quy luật đạo lý "pháp bất vị thân". Sự kiện này đều
được các sách sử trình bày khá rõ rệt. Sách The Ageless Chinese viết:về sự kiện này như sau
“Xã
hội là một tập thể nhiều người thuộc nhiều thành phần và địa vị
khác nhau và mỗi người có một
trách nhiệm riêng biệt. Tuy nhiên, chính quyền
không có nghĩa là một chế độ độc tài chuyên chế. Theo Khổng
Tử thì mỗi chức vụ của một người
có kèm theo một nghĩa vụ. Không làm tròn cái nghĩa vụ được giao phó cho mình thì ý nghĩa của
cái chức vụ của mình sẽ không còn
nữa. Như vậy, một ông vua sẽ không thể gọi là vua được nếu không
làm tròn cái nghĩa vụ đã giao phó
cho ông ta. Nếu ông ta dùng quyền hành để
theo đuổi những mục đích ích kỷ thay vì chăm lo phúc lợi
cho muôn dân thì ông ta chỉ còn mang
cái tên ông vua thôi, chứ thực sự ông ta không còn là vua nữa. Nhà lãnh đạo nắm quyền cai trị
cũng như người dân bị trị đều có nghĩa
vụ thiên định. Người cầm quyền cai trị muôn dân phải nêu gương tốt
cho muôn dân noi theo. Chỉ khi nào người
cầm quyền là người hiền đức thì mới hy
vọng được muôn dân trung thành và tuân phục. Cái nguyên tắc này cũng được áp dụng trong mối liên hệ tương
quan giữa những người trong cùng một
gia đình. Dầu rằng người chồng có quyền thế hơn người vợ, cha mẹ có quyền hơn con cái, anh có quyền hơn em,
nhưng cũng phải có những nghĩa vụ hỗ
tương đối với nhau: người trên phải thương yêu và che chở cho kẻ dưới, và bổn
phận của kẻ dưới thì phải trung thành và tuân phục người
trên. Bằng cách nào đi nữa thì sự
kính trọng và tùng phục của kẻ dưới đối với người trên cũng không phải là tự động.
Khổng Tử đã nói rằng chỉ khi nào nhà
vua biết dùng lễ đối với quần thần và muôn dân thì mới hy vọng họ
đem lòng trung đáp lại. Tương tự
như vậy, một người cha tàn ác và bất nhân đối với con cái là tự làm mất đi cái quyền đòi hỏi con
cái phải có lòng hiếu thảo đối với mình.
Mối tương quan đúng nghĩa và chính đáng là phải áp đặt nghĩa
vụ cho cả kẻ trên và người dưới; kẻ nào
không sẵn lòng hay không có thiện ý hy sinh làm tròn nghĩa vụ của mình
thì không có quyền đòi hỏi người khác phải làm đầy đủ nghĩa vụ của
họ đối với mình."
(”Society
was composed of a variety of individuals and each individual had a special function to perform. However,
authority did not and should not imply
despotism. With each name, according to Confucius, there
was a reality; without reality a name would be deprived of its meanings. Thus a prince (name) could not be
rightly called a prince if he did not perform
the functions (reality) assigned to him. If, for instance,
he used his authority for selfish purposes instead of the
welfare of his subjects, he was a prince in name only, but not a real prince. There was a heavenly imposed duty on the
ruler as well as on the ruled. A ruler should
set an example to his subjects. Only when the ruler was
wise and virtuous could the people be expected to be loyal and obedient. The same principle was also applied to
the household. Though the husband was
superior to his wife, parents superior to children, and
alder brothers superior to the young ones, there were mutual obligations governing each other: love and protection on the
part of the superiors and loyalty and
obedience on the part of the inferiors. The respect and
obedience a superior received was not automatic by any means. Only when a king treated his ministers with li (propriety),
said Confucius, could the ministers
reciprocate it with chung (loyalty). By the same token, a
cruel, unloving father forfeited all rights of demanding filial piety from his son. A correct relationship imposed
obligations on both sides; those who were not willing to give should receive either.") [2]
Nền đạo lý vị tha không đề cập đến thần thánh trong những luật lệ quản lý các phạm vi sinh họat đời sống con người. Sự kiện này được ghji lại rõ ràng trong sách sử với nguyên văn như sau:
"Họ
(Nho giáo) cũng không quan tâm đến thế giới
thần linh hay siêu nhiên vì họ cho rằng những khó khăn của con người chỉ có thể do chính con người giải quyết
được. Sống ở cõi trần gian này họ
chỉ mong sao làm cho nơi đây trở thành một nơi tốt đẹp hơn để sinh sống. Họ tích cực quan tâm đến công việc
chính trị, kinh tế và quan trọng hơn
cả là vấn đề đạo đức. Về siêu hình và tôn giáo, nếu cần, thì chỉ
nên áp dụng giới hạn trong các công
việc trần tục. Ý thức hệ của họ là lấy
con người làm tụ điểm và mọi khả năng kiến thức là để phục vụ
cho con người.” (”They
were not interested in the supernatural forces either because they believe that man's problems could only be
solved by man himself. They were in this
world, and they wished to make it a better place to live.
They dealt extensively in politics, economics, and most
importantly, ethics. Their interest in metaphysics and religion was confined to applying them if possible to the more
mundane, worldfly affairs. Theirs was a “man-centered”
ideology to which all branches of knowledge
must submit themselves.”) [3]
Nền đạo lý vị tha
trong xã hội Đông Phương đòi hỏi TÔN GIÁO PHẢI TÁCH RỜI KHỎI ĐẠO ĐỨC,và
ĐẠO ĐỨC PHẢI ĐỨNG TRÊN TÔN GIÁO, bắt buộc những người hành nghề
tôn giáo phải biết rõ vai trò và giới hạn của họ không ra khỏi cái
bàn thờ mà họ hành nghề, và phải biết rõ giá trị tôn giáo của họ
chỉ có giá trị đối với chính họ và những người đồng đạo của họ
mà thôi. Sự kiện này được sách The Ageless Chinese trình bày rõ ràng như
sau:
"Sự
tách rời đạo đức ra khỏi tôn giáo không phải là không có phúc lợi. Đây
là một nét đặc thù của nền văn hóa Trung Hoa. Người Trung Hoa cho rằng các tiêu chuẩn đạo đức quan trọng hơn
các tiêu chuẩn tôn giáo. Trong trường
hợp có sự xung đột giữa đạo đức và tôn giáo thì tiêu chuẩn đạo
đức phải luôn luôn chiếm phần ưu
thế. Người Trung Hoa quan niệm rằng các tiêu
chuẩn đạo đức và tôn giáo không cần thiết phải giống nhau, trái lại đôi khi còn trái ngược nhau... Trong khi các
tiêu chuẩn của một tôn giáo có vẻ kỳ dị đối với một hay hay với nhiều
tôn giáo khác thì các tiêu chuẩn đạo
đức lại có tính bao quát phổ thông và phải được áp dụng cho tất cả mọi người. Không nên cưỡng bách
những người khác phải theo tôn giáo của mính.
Làm như vậy (bắt người khác phải theo tôn giáo của mình) là "ngoan
đạo",có tinh thần tôn giáo, nhưng chắc chắn là phi luân lý, phi đạo đức. Những người
cuồng tín về đạo giáo cương quyết
chỉ trích, lên án và hủy diệt tất cả những tôn giáo khác bằng tất cả
những phương tiện và biện pháp mà chúng
có thể sử dụng được. Đó là một sự suy đồi của xã hội và chúng
không đáng được đồng bào của
chúng thương xót. Xã hội muốn tồn tại thì các tiêu chuẩn đạo đức phải đứng lên trên tất
cả các tôn giáo và các tôn giáo phải tuân
hành các tiêu chuẩn đạo đức. Một tiêu chuẩn đạo đức như vậy phải
được áp dụng để điều hành sự liên hệ giữa
các tập thể (như là các giáo phái) cũng như giữa những cá
nhân trong một tập thể. Khi đã tách rời đạo đức ra khỏi tôn giáo và
coi đạo đức có giá trị cao hơn tôn
giáo, người Trung Hoa thoát khỏi cảnh cuồng tín về đạo giáo, thoát khỏi cảnh ngược đãi và khủng bố
nhau vì lý do tôn giáo. Trong khi đó các
tôn giáo khác nhau vẫn sống bên nhau một cách hiền hòa nếu so sánh với nhiều quốc gia khác (ở Âu châu).”("The
separation of ethics from religion, a unique feature of the
Chinese culture system, was not without its blessing. In the Chinese mind, ethical standards were more important than
religious standards, and in case of conflict
between them, the former should always prevail. As
the Chinese looked at it, these two standards were not necessarily the same and were sometimes contradictory... While
religious standards were pecular to a certain
religion or religions, ethical stansards were universal
and should be applied to all men. One should not impose his own religious standards upon others who did not belong
to his religion. To do so might be regarded
as religious from his point of view; certainly it was
not ethical. A religious fanatic bent on the condemnation and destruction of all other religions by whatever
means he possessed was a social degenerate,
deserving no mercy from his fellow men. Above religious
beliefs was an ethical standards which all religions must
abide by if society were to survive. Such a standard governed the relations between groups of individuals (such as
religious sects) as well as individuals
themselves. As ethics was separated from religion and
was regarded as superior to religion, the Chinese were remarkably free from religious bigotry, and persecution on
religious grounds, while not absent
altogether, was noticeably mild compared with that of many
other countries.”) [4].
Nền đạo lý vị tha Đông Phương đòi hỏi chính quyền phải thay mặt đạo lý quản ly tôn giáo, xử lý và thẳng tay trừng trị những kẻ mượn danh thần thánh bịa đặt ra những điều huyễn hoặc nhằm lừa dối nhân dân. Câu chuyện ông Tây Môn Báo xử lý vụ Hà Bá ở khúc Sông Chương Hà đất Nghiệp Đô trong thời Tiền Tần ở Trung Hoa cho chúng ta thấy ró sự kiện này. Chuyên như sau:
“Ngụy
Hầu sai Tây Môn Báo ra trấn đất Nghiệp Đô. Tây Môn Báo tuân lệnh đến
nơi, trông thấy phong cảnh Nghiệp Đô tiêu điều, nhân dân thưa thớt, liền
hỏi thăm các bậc phụ lão. Họ cho biết rằng: “Dân chúng đói khổ vì
một nỗi Hà Bá lấy vợ”. Tây Môn Báo ngạc nhiên, hỏi lại: ” Quái!
Hà Bá lấy vợ thế nào, xin nói cho tôi rõ.” Các bậc phụ lão nói: “Sông
Chương Thủy phát nguyên từ Cô Lĩnh, qua Sa Thành chảy đến Nghiệp Đô
này, gọi là sông Chương Hà. Hà Bá là vị thần con sông ấy. Thần lại
thích vợ đẹp, mỗi năm bắt nạp một người con gái, nếu không, thần sẽ
dâng nước và cửa nhà sẽ bị tràn ngập hết”.
Tây Môn Báo hỏi: “Tại sao biết được Hà
Bá cưới vợ?” Các bậc phụ lão nói: “Bọn đồng cốt ứng
lên nói như vậy.
Dân chúng sợ cái nạn ngập lụt nên phải vâng theo. Mỗi năm các bậc
hào lão trong làng cùng với bọn đồng cốt bắt dân phải chịu mấy trăm
vạn quan tiền, dùng làm phí tổn trong việc lấy vợ cho Hà Bá. Nếu còn
thừa thì chia nhau
Tây
Môn Báo hỏi: “Chúng nó lấy tiền chia nhau dân chúng không nói gì sao?”
Các bậc phụ lão nói: “Bọn đồng cốt có công cúng tế, còn các hào
lão có công thu tiền. Họ ăn vào đấy, chúng tôi đâu dám nói. Chỉ có một
điều rất khổ là hễ đến đầu năm, bọn đồng cốt xem thấy con gái
nhà ai có sắc đẹp thì bảo người con gái ấy đáng làm vợ Hà Bá. Người
nào chịu đút lót tiền bạc thì họ mới tha, đi tìm người con gái khác.
Kẻ nào nghèo khổ không có tiền lễ thì phải nộp con gái.”
Tây
Môn Báo hỏi: “Bọn đồng cốt làm cách nào để nộp người con gái cho
Ha Bá?” Các bô lão nói: “Chúng lập một nhà trai-cung trên mé sông, mua
các lễ vật cúng tế rồi chọn ngày tốt cho người con gái ấy tắm gội
sạch sẽ, cho ngồi trên một chiếc bè cỏ, thả trôi giữa dòng. Bè cỏ
ấy trôi độ vài dặm thì chìm xuống nước. Chính cái nạn ấy làm cho
dân chúng tôi cực khổ. Người nào thương con không muốn nộp cho Hà Bá
thì bỏ nhà cửa, dắt nhau đến xứ khác sinh sống. Vì vậy mà làng xóm
tiêu điều buồn bã.”
Tây
Môn Báo hỏi: “Các người ở đây có thường bị lụt chăng?” Các vị
bô lão nói: “Năm nào dân chúng cũng nộp con gái, vì vậy Hà Bá không
trách phạt.”Tây Môn Báo nói: “Thần đã linh thiêng như vậy, thế thì
hôm nào nộp con gái, ta đến dự thử xem.”
Chẳng
bao lâu, đã đến kỳ cưới vợ cho Hà
Bá, các phụ lão đến bẩm. Tây Môn Báo liền mặc áo, đội mão chỉnh tề,
thân hành ra tận bờ sông. Giữa lúc đó các vị hào lão và dân chúng
trong vùng đã đến xem đông nghịt. Bọn hào lão đưa ra một mụ đồng cốt
già, vẻ mặt hiu-hiu tự đắc. Theo sau có chừng vài mươi tên đệ tử,
khăn áo sặc sỡ, tay mỗi người cầm một bình hương.
Tây
Môn Báo gọi bà đồng ấy lại và nói: “Ta muốn xem mặt vợ Hà Bá kỳ
này như thế nào.” Bà đồng sai đệ tử dẫn đến một nàng con gái,
không đẹp lắm, đôi dòng nước mắt giàn-giụa chảy xuống má trông có
vẻ sợ sệt lắm.
Tây
Môn Báo nói: “Vợ Hà Bá phải là một mỹ nữ tuyệt đẹp mới phải.
Người này trông sắc đẹp tầm thường, ta e Hà Bá không chịu đâu.”
Đoạn ông quay lại nói với bà đồng cốt: “Tôi phiền bà xuống nói với
Hà Bá rằng quan Thái-thú mới đến muốn kén cho Hà Bá một người vợ
tuyệt đẹp. Vì vậy xin hẹn lại vài hôm nữa.” Dứt lời, Tây Môn Báo sai kẻ tả hữu bắt bà đồng
cốt ném xuống sông. Ai nấy trông thấy đều sợ hãi. Tây Môn Báo ngồi
yên chờ đợi một lúc rồi nói: “Bà đồng này đã già, làm không được
việc, ta sai đi từ nãy giờ mà chưa chịu trở về để báo tin. Vậy thì
phải có một người đệ tử xuống đó thúc hối.” Tiếp đó là một người đệ tử bị ném xuống
sông. Cứ thế liên tiếp ba người. Cuối cùng, Tây Môn Báo nói với bọn hào lão: “Bọn ấy đều là
đàn bà, đi đứng chậm chạp, nói năng không nên lời. Ta phiền các ngươi
xuống đó thuật ý kiến của ta với Hà Bá xem thế nào.” Nói xong, ông
truyền bắt một hào lão trong bọn. Cả bọn đều sợ hãi, quỳ lạy nói:
“Ấy là bà đồng tìm cách lừa phỉnh dân chúng để lấy tiền. Chúng
tôi thực không biết đến, xin ngài rộng lòng tha thứ, đừng bắt chúng
tôi xuống đó mà oan mạng.”
Tây
Môn Báo trợn mắt hét: “Thế thì lâu nay các người đã phỉnh phờ dân
chúng, sống trên xương máu của mọi người, tội ấy đáng chết.” Cả bọn sụp lạy xin tha. Tây Môn Báo
nói: “Bà đồng cốt đã chết rồi, từ nay về sau nếu ai còn nói đến
chuyện Hà Bá cưới vợ nữa, ta sẽ bắt người ấy ném xuống sông.”
Kể
từ đấy, dân chúng được sống yên, khỏi bị ai phỉnh phờ bóc lột nữa.
Những dân đi trốn khi trước hay tin, bồng bế nhau trở về. Tây Môn Báo
lại khiến dân đào sông ngòi khai thông với sông Chương Thủy, nước
trong vùng không còn đọng lại nữa, nên chẳng bao giờ ngập lụt. Ruộng
nương cũng nhờ con sông ấy có đủ nước cày bừa, lúa đồng tốt
tươi, cỏ hoa thơm nức.” [5]
.
LỜI BÀN của Ôn Như
Nguyễn Văn Ngọc và Từ An Trần Lê Nhân:
“Sự
mê tín thường làm hư con người, tốn của, nát nhà, có khi mất cả mạng,
Thật là tai hại. Khi mê tín đã
thành tục thì nó khó lòng mà phá nổi. Muốn phá, tất phải dụng tâm khéo làm sao mới phá
được. Ông Tây Môn Báo sở dĩ phá
được cái tục cưới vợ cho Hà Bá là vì ông biết khử diệt từ gốc rễ,
tức là đám đồng cốt quàng xiên, bọn cường hào ngoan cố, xưa nay quen
thói cổ-hoặc nhũng nhiễu người ta để kiếm ăn, để cầu lợi. Trừ diệt
hai hạng người này để cứu vớt lương dân, chỉnh đốn phong tục thật
là công minh và cương quyết vậy.” [6].
Chuyện Hà Bá Cưới Vơ. trên đây là một bài học
về những việc làm đại gian đại ác của bọn lưu manh buôn thần bán
thánh câu kết với cường quyền địa phương để bóc lột nhân dân trong
vùng. Người dân Phương Đông có chuyện
ngụ ngôn “bà già cầu cho bạo chúa sống lâu”.
Dụng ý của chuyện này muốn nói lên một bài học dạy cho đời biết rằng
những tên bạo chúa lên cầm quyền về sau thường thường con gian tham, quỷ
quyệt, bạo ngược và dã man hơn những
tên bạo chúa trước đó. Tương tự như vậy, bọn lưu manh buôn thần bán
thánh vào những thời kỳ sau này (sau thời chuyện Cưới Vợ Cho Hà Bá) tất
nhiên là gian tham, quỷ quyệt, bạo ngược và dã man gấp cả hàng triệu
triệu lần. Chuyện Cưới Vợ Cho Hà Bá mới
chỉ là một chuyện của những việc làm đại gian đại ác xẩy ra ở đất
Nghiệp Đô, một địa phương nhỏ hẹp mà nạn nhân cũng chỉ giới hạn
trong địa phương đó thôi.
Qua bản văn trích dẫn
tư sách Nho Giáo và câu chuyện Hà Bá Cưới Vợ trên đây, chúng ta thấy rằng
muốn chặn đứng tệ trạng buôn thần bán thánh thì phải có một chính quyền vì dân, do dân và bởi
dân hành xử theo nguyên tắc đạo lý
vị tha thì mới có thể chặn đứng những tệ trạng buôn thần bán thánh
do bon người lưu manh mượn danh tôn giáo khoác áo tu hành chủ động. Nói
cho rõ hơn, muốn loại trừ được thảm họa
do bọn người lưu manh buôn thần bán thánh đội lốt thày tu thì phải có
một hệ thống đạo lý (vi tha) ĐỨNG TRÊN chính quyền (do
dân, vi dân và bởi dân), chính quyền
ĐỨNG TRÊN tôn giáo (kiểm
sóat tôn giáo và dùng những biện pháp mạnh trừng trị những thành phần
bất lương khoác áo tu hành, muợn danh đạo tạo danh đời như bọn
người mà nhân dân Pháp gọi là "lũ quạ đen" (les corbeaux noirs).
NẮM ĐỘC
QUYỀN CHẾ TẠO TÍN LÝ
( MỘT THỨ
ĐẠO LÝ VỊ KỶ - ĐẠO ĂN CƯƠP)
Cùng đứng trước tệ
trạng buôn thần bán thánh như trên, dân tộc Do Thái nói riêng, các dân tộc
trong vùng Trung Đông và Tây Phương nói chung, không được cái may mắn như
các dân tộc Đông Phương. Đứng trước cùng một vấn đề như ở Trung
Hoa, họ không có những bậc đại hiền đưa ra
biên pháp mạnh để vừa trừng phạt những hạng người mượn
danh thần thánh chuyên nghề bịa đặt
ra những chuyện hoang đường quỷ quái để lừa gạt người đời, vừa
chứng tỏ cho người đời nhìn thây
rõ bộ mặt thật thâm độc, xảo trá, đại gian đại ác của bon người lưu manh này như chuyện ông Tây
Môn Báo trừng tri và bọn đồng bóng
và thầy cúng ở khúc sông Chương Hà.
Trái lại, cũng vào thời
kỳ này, tại vùng đát Palestine, quyền
chính quản lý nhân dân lại lọt vào tay bọn người lưu manh mượn danh đạo
tạo danh đời này. Một khi chính quyền đã lọt vào tay bọn lưu manh này, tất nhiên cái tệ trạng buôn thần bán
thánh không những đã không bị dẹp đi mà còn bị chúng biến thành một
chủ thuyết "thần quyền chỉ đạo thế
quyền" rìii đưa ra quốc sách "bất
khoan dung" để khủng bố và diệt trừ những thành phần không chịu
tin theo những tín lý quái đản lưu
manh của chúng. Để có thể có quyền lực tiến hành chủ trương bất chính và chính sách bạo ngược này,
chúng sử dụng đủ mọi thủ đọan
gian manh và xảo trá đê chiếm đọat
quyền lực chính trị. Một khi đã có quyền lực chính trị rồi, chúng tiến
tới thiết lập chế độ đạo phiệt với bộ máy cai trị bằng cảnh
sát, công an và mật vụ, biệt đãi giai cấp tu sĩ và thiểu số tín đồ
tay sai làm công cụ để lùa nhân
dân vào cái "tròng mê tín" [sau
này các nhà viết sử gọi là "cái tròng Gia-tô" (the Catholic loop)]. Một khi
đã lùa nhân dân vào "cái tròng mê
tín" hay đã thiết lập được chế độ đạo phiệt rồi, chúng liền
cho thi hành chính sách ngu dân và giáo
dục nhồi sọ với chủ đích làm cho tín đồ và người dân dưới quyền
ngu đi để dễ bề cai trị, và dễ bóc lột và xiết cổ tín đồ và
nhân dân bằng những hình thức dâng cúng lễ vật và thuế khóa.:Song song
với, chính sách ngu dân và bóc lột tín đồ và nhân dân, chúng còn đặt
ra hàng ngàn giáo luật chuyên chế để khống chế tín đồ và nhân dân
trong đó có những luật gọi là "phỉ báng" với mục đích trừng
phạt những người nào dám nói hay viểt ra những lời lễ bị coi là châm
biếm nghiệp vụ buôn thần bán thánh của chúng. (Người
Hoa Kỳ gọi những luật nà là "gag laws" (Luật bịt miệng nhân
dân). [Sự
kiện này đã được trình bày rõ ràng ở Chương 4, nói về những thủ đọan và biện pháp của chế đô đạo phiệt Gia--tô Louis
XVIII (1815-1624) và Charles X (1824-1830) để trả thù những người có liên hệ
với chính quyền Cách Mạng 1789 và chính quyền
Hòang Đế Napoléon I.]
Trên đây là những
điều không may vĩ đại của các dân tộc trong vùng Trung Đông và Tây Phương.
Sự không may này đã đưa đến những thảm họa chiến tranh tôn giáo hay
đàn áp các tôn giáo khác ở bất kỳ nơi nào quyền lực của Tòa Thánh
Vatican hay Giáo Hội La Mã vươn tới.
Tình trạng này đã xẩy ra trong suốt chiều dài lịch sử từ thập niên
320 cho đến ngày nay.
MỘT CHÚT LỊCH
SỬ VỀ NGHỊEP VỤ
Tìm hiểu các sách sử
và tài liệu nói về nước Do Thái và đặc biệt nhất là về đạo Do Thái,
chúng ta thấy rằng đạo Do Thái và quốc gia Do Thái do ông Abraham khởi lập vào khoảng năm 2000
trước công nguyên (TCN) trong hòan cảnh của
một đoàn người từ bỏ quê hương cũ, đi tìm một mảnh đất dung thân
nơi quê người xứ lạ. Vì nhu cầu sinh tồn, ông Abraham và những người
cố vân của ông cần phải tổ chức bộ máy cai trị để quản lý đoàn
dưới quyền với những quy luật vừa là luật pháp quốc gia (thực
ra, lúc này, Do Thái chưa phải là một quốc gia, mà chỉ là một thị tộc), vừa là
tín điều hoang đường mượn danh nghĩa thần linh với chủ ý vừa mê hoặc vừa hù dọa vừa lừa gạt đoàn người dưới quyền (lúc
đó còn ở trong tình trạng ngu dốt) khiến cho
họ khiếp sợ phải tuân phục. Làm như vậy, có lẽ ông Abraham và những
người cố vân thân cận của ông không có mục đích nào khác hơn là biến đoàn người dưới quyền thành một thế lực có tinh
thần gắn bó sống chết với nhau để
vừa có thể bảo vệ an ninh và duy trì trật tư trong nội bộ, vừa có thể khắc phục được những khó khăn của
thiên nhiên, vừa có thể chống chọi với các thế lực ngọai thù. Vạn sự
khởi đầu nan. Có lẽ vì chỉ có một mục đích như vậy, cho nên vị thượng
đế mà ông Abraham chọn làm đối tượng thờ phượng là một vật thần
"Elohim" (con bò) hiền lành. (Ông
Thượng Đế "con bò" này không có những
tính nết xấu xa như ganh ghét, đố kỵ,
không tham lam, vơ vào hay bốc hốt, và cũng không hung tàn, bạo ngược như
ông Thượng Đế hay Chúa Cha Jehovah sau này). Thời kỳ
này không có những quy luật hay tín
điều nói đến giai cấp giáo sĩ, không có điều khoản nào nói đến những
đặc quyền đặc lợi dành riêng cho họ, và cũng không có một tín điều
hay quy luật nào có tính cách tàn ngược và bóc lột tín đồ hay nhân dân
dưới quyền.
Với những tín điều
về tín ngưỡng (để
mê hoặc và hù dọa nhân dân dưới quyền) trộn lộn
với những luật lệ quản trị cộng đồng
được tập trung vào trong một bộ máy cai trị như tình trạng
trên đây, ta có thể nói đây là một chế độ đạo phiệt đầu tiên trong lịch sử loài người. Chế
độ đạo phiệt này có những đặc tính:
1.- Còn ở
trong tình trạng phôi thai,
2.- Được
thực hiện trong một cộng đồng nhỏ
bé.
3.- Gồm
tòan những người đồng chủng nói cùng một ngôn ngữ
4.- Cùng ở
trong một hòan cảnh điêu đứng đang bơ vơ giữa nơi xứ lạ quê người,
5.- Cùng có
một đối tượng thờ phượng là một ông thần hiền lành như con bò
(Elohim),
6.- Không
có giai cấp giáo sĩ ăn trên ngồi trốc, hét ra lửa mửa ra khói, nắm độc quyền bịa đặt ra những tín
lý phi nhân bản, phản khoa học rồi dùng thế lực của chính quyền
chuyên chính để cưỡng bách nhân dân phải tuân phục.
Nhờ những đặc tính này (có thể gọi là ưu điểm)
mà đòan người Do Thái này gắn bó với nhau. Nhưng vì lúc đó, Do Thái chỉ
là một nhóm người ít oi, không đủ sức chống chọi với các nhóm dân tộc
khác trong vùng, cho nên họ mới rơi vào tình trạng suy yếu, rồi phiêu bạt
tới Ai Cập làm nô lệ cho chính quyền quốc gia này .
Đến thập niên 1250,
trên đường bôn tẩu từ Ai Cập quy
hồi cố hương, ông Moses biến đổi
đạo Do Thái trên đây của ông Abraham bằng cách thay đồi đối tượng thờ
phượng vật thần "con bò" hiền lành bằng một ông thượng đế
tưởng tượng có danh xưng là Jehovah với tất cả những tính nết vô
cùng xấu xa, vô cùng tham lam, vô cùng
độc ác, vô cùng tàn ngược. Có thể nói là, trong lịch sử lòai người, không có một tên bạo chúa nào có thể
sánh ngang được với ông Chúa Cha Jehovah này. Theo Cựu Ước Kinh, và theo Giáo Hội La Mã thường cao rao, ông Thượng Đế Jehovah này vô cùng độc ác
và hết sức dã man này, nhưng không
biết tại sao lại được Giáo Hội và các ông tu sĩ Gia-tô lại thường dạy
dỗ giáo dân rằng "Thiên
Chúa Jehovah lòng lành vô cùng, toàn năng,
toàn thiện, có mặt ở khắp mọi nơi", có quyền năng tạo thiên lập địa, hô phong,
hóan vũ và sáng tạo ra muôn vạn sinh linh và.vạn vật."
Phải chăng các nhà thần
học thuộc trường phái "Mặc Khải" đã
bịa đặt ra và nói láo như vậy với mục đích duy nhất là
để lừa bịp và mê hoặc người đời hầu củng cố quyền lực và thủ
lợi?.
Ngòai việc thay đổi ông thượng đế "con
bò" (Elohim) hiền lành bằng ông thường Jehovah quái đản như đã nói
trên, Đạo Do Thái do ông Moses khởi lập lại
còn:
1.- Tạo ra
một tầng lớp giáo sĩ nắm độc quyền thao túng cả thần quyền và thế
quyền, không những tự tung tự tác tại các nơi thờ phượng ông thượng
đế quái đản này, mà còn làm mưa làm gió trên vũ đài chính trị.
2.- Đặt ra
những giáo luật quy định việc cung phụng Thiên Chúa, quy định việc cung
phụng các giáo sĩ, luật trị người, luật sợ Chúa, v.v..., cực kỳ hà
khắc và vô cùng man rợ với chủ đích bóc lột tín đồ và nhân dân dưới
quyền đến tận xương tận tủy một cách vô cùng trắng trợn.
Điều khôi hài nhất
là hầu như tất cả những tín lý, tín điều thờ phượng ông Thượng Đế
Jehovah quái đản này đều trộn lộn với luật lệ quy định cung phụng
giới giáo sĩ và luật lệ quản trị
công đồng nhân dân. Tất cả các thứ tín lý, tín điều, luật lệ hổ lốn
này quấn quyện với nhau và đều được coi như là luật lệ căn bản của
bộ máy cai trị nhân dân của quốc gia Do Thái, giống như một bản hiến
pháp của một thể chế chính trị của một quốc gia trong cộng đồng nhân
lọai ngày nay. Với một chính quyền như vậy, ta gọi nó là một chế độ
đạo phiệt bạo ngược nhất, hà khắc nhất, tham tàn nhất và dã man nhất
nếu so với tất cả các thể chế chính
trị vào thời điểm bấy giờ. (Dĩ nhiên là nó vẫn còn phải ngả mũ chào
thua các chế độ đạo phiệt Gia-tô sau này do Giáo Hội Kitô La Mã chủ xướng).
Chế độ đạo phiệt
Do Thái này hình thành vào khỏang thập
niên 1250. Lúc đó, dân Do Thái chỉ có một nhóm người với tất cả những
đặc tính giống y hệt như những nhóm người Do Thái ở Canaan trong thời
của ông Abraham, nhưng họ ở trong hòan cảnh đang phải khắc phục mọi
gian khổ trong cuộc "vạn lý trường chinh" trên đường tìm
về đất cũ. Trong hòan cảnh như vậy, lòng nôn nóng háo hức trở lại cố hương đã giúp
cho những thành phần trong lớp người bị trị trong đòan người này dù bị
ức hiếp và bóc lột đến đâu đi nữa, cũng phái cố gắng ẩn nhẫn nhịn
nhục để chờ ngày vui trở về quê cũ. Vì thế cho nên cái cộng đồng
Do Thái này
không bị tan vỡ và cũng không bị phân hóa.
Mãi cho đến đời
ông Josué (vào khoảng cuối thế kỷ 11 TCN), đòan người Do Thái này mới
trở về tới vùng đất Canaan. Sau đó, đoàn người này tổ chức thành quốc gia và đưa ông Saul lên làm quốc vương (1021-1000 TCN). Trong tình
trạng như vậy, tất nhiên là chính quyền được tổ chức là một chế
độ đạo phiệt Do Thái theo mô thức
đã được vạch ra từ thời ông Moses, và quốc vương chỉ là người được
bọn giáo sĩ đưa lên nắm quyền để thi hành những tín điều và luật lệ hoặc là do chính họ
đã làm ra một cách chuyên đóan, hoặc là được làm ra với sự toa rập
của vị quốc vương để phục vụ cho quyền lợi riêng của bọn chúng.
Đây là một chế
độ đạo phiệt Do Thái đúng nghĩa của một chế độ đạo phiệt với
những dã tâm thâm độc vô cùng man rợ:
A.- Hủy diệt
hết tất cả nền văn hóa (trong đó có tôn giáo) và văn minh khác để kiến
tạo một nền văn hóa và văn minh thuần nhất Do Thái Giáo với một ông
Thượng Đế Jehovah duy nhất, đúng như ông thượng đế quái đản này đã
phán trong Mười Điều Răn (Chớ thờ thần khác, chớ lạy hình tượng),
trong Phục Luật cũng như trong Xuất Hành. Học giả Trần Quý ghi lại như
sau:
"Giê-hô-va, vị thần tự nhận tên là
Ganh Ghét, không tiếc lời dặn tín đồ các chi tiết về việc phá đạo
khác: Phàm những dân tộc nào các người đuổi đi được, các người phải
phá sạch những nơi thờ thần của họ (Thánh
Kinh Tin Lành dùng cụm từ “chúng nó” thay
cho “họ") trên núi cao, trên đồi, dưới
bóng cây xanh; các ngươi phải đập tan bàn thờ, đâp vụn cột đền, lấy
lửa đốt rụi hết các tượng của họ; các ngươi phải đục khoét cho mất
hết mọi hình chạm trổ các tượng thần của họ, * và xóa tên những thần
ấy ở những nơi đó." (Phục Luật 12:2-3).
"Phải
giết những kẻ tiên tri nào dám nhân danh các vị thần khác mà nói (Phục
Luật 18:20). Chớ theo những vị thần của các dân tộc ở chung quanh các
ngươi (Phục Luật 6:14). Phải dứt khoát giết những người đi lễ (bất
kỳ) vị thần nào khác ngoài Giê-hô-va (Xuất Hành 22:20). [7]
Và trong sách Leviticus
(26:1):
"Các ngươi không được tạo ra những hình tượng
nào để sùng bái cho chính các ngươi; các ngươi cũng không được khắc chạm một hình ảnh nào hay dựng
nên một trụ cột thiêng liêng nào để nâng cao cho chính các ngươi; ở
trong vùng các ngươi cư ngụ, các ngươi cũng không được dựng nên một
hòn đá nào có khắc chạm để cúi đầu nghiêng mình trước nó; vì rằng
Ta là Thượng Đế của các ngươi.” (You shall not make idols for yourselves;
neither carved image nor sacred shall you rear up for yourselves; nor shall you set up an
engraved stone in your land, to bow down to it; for I am the Lord you God). [8]
B.- Nhu đã
trình bày đầy đủ ở các Chương 6, 7 và 8, đại Gia-tô chủ trương hủy
diệt hết tất cả mọi tình yêu thiêng liêng giữa con người với con người.
Tất cả những thứ tình yêu như tình yêu lứa đôi trai gái, tình yêu gia
đình giữa vợ với chồng, giữa cha mẹ với con cái, giữa con cái với
cha mẹ và giữa anh em với nhau cũng như tình yêu giữa những người trong cùng một làng xóm và giữa những người
sống trong cùng một quốc gia đều phải bị hủy diệt để tạo nên một
thứ tình yêu duy nhất đối với ông Thượng Đế Jehovah và giai cấp giáo sĩ (lớp
người trung gian giữa Thựong Đế Jehovah vơi đại khối nhân dân bị tri). Sự kiện
này đã nói rõ Cựu Ước và được sách Lòng Tin Âu Mỹ Đấy ghi lại
như sau::
“Chỉ được thờ vị thần do họ đưa ra, phải
diệt (hết) các đạo khác, phải giết nhưng người thay đổi đạo mà họ
đã đặt ra, phải giết vợ con, bạn hữu nếu những người này tuyên
truyền cho các đạo khác, phải không có lòng thương xót khi giết người.
"Môi-se
ra lệnh cho đám dân Do Thái giặc cướp phải giết hết người nam, giết
hết đàn bà, con gái đã ăn nằm với đàn ông, chỉ giữ lại con gái
trinh thôi (Dân số 31:17-18). Giê-ho-va đòi dân đi ăn cướp về phải chia của
cướp được cho mình. Của này phải giao cho các giáo sĩ giữ từ cừu, bò
cho tới những người con gái (Dân số 31:28 và 31:40).
Dân Do Thái
phải dâng con đầu lòng cho Giê-hô-va (Xuất Hành 13:12).
"Khi anh em một mẹ với ngươi, hay con
trai ngươi, hay con gái ngươi, hay người vợ yêu mến của ngươi, kín đáo
xúi giục ngươi bảo ngươi rằng “Ta hãy đi thờ các thần khác.” Đó
là những thần khác mà các ngươi và tổ tiên các ngươi chưa hề biết.
Đó là những thần của những dân tộc sống chung quanh các ngươi hoặc gần
hoặc xa... Các ngươi hãy chớ theo nó. Các ngươi đừng thương nó. Các ngươi
chớ có xót-xa mà che chở cho nó, các ngươi phải giết nó. Các ngươi phải
giết nó trước rồi mới tới tay dân chúng (Phục Luật 13:6-9)....”. [9]
Qua những phần trình
bày trên đây, chúng ta thấy rằng, trước khi Giáo Hội La Mã ra đời, dân
Do Thái và đạo Do Thái đã có chủ
trương tạo nên chế độ đạo phiệt với một giái cấp tu nắm quyền
lãnh đạo cả tôn giáo lẫn chính quyền, và nắm luôn cả quyền làm ra những
luật lệ và tín lý trong tôn giáo. Nói cho rõ hơn, trong xã hội Do Thái cổ
thời, giai cấp tu sĩ là giới người ở vị
thế thượng tầng trong xã hội, nắm trọn quyền hành tôn giáo và chính
trị trong tay, độc quyền bịa đặt ra những tín lý quái đản, rồi dùng
bạo lực nhà nước cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải khuất phục và tiêu thụ những thứ quái thai này.
Khi Giáo Hội La Mã ra
đời vào thế kỷ IV, các nhà lãnh đạo Giáo Hội điều nghiên hệ thống
tín lý trộn lộn với lụat pháp của chế độ đạo phiệt Do Thái, thêm thắt những tín lý và giáo luật mới,
rồi dựa vào đó để tổ chức hệ thống quyền lực theo mô hình bộ
máy cai trị của Đế Quốc La Mã. Theo thời gian, càng về sau, Giáo Hội
càng bịa đặt thêm nhìều tín lý và giáo luật quái đản khác mà chủ
đích chính vẫn là để lừa bịp và
bóc lột tín đồ và người đời.
Giáo Hội La Mã ra đời
trong thập niên 320 dựa vào quyền lực
của chính quyền Đế Quốc La Mã để tồn tại rồi dân dần tóm thâu quyền
lực chính trị vào trong tay Giáo Hội.
Quyền hành sinh ra tội ác. Một trong
những tội ác do quyền lực sinh ra là tội tham nhũng. Quyền hành hay quyền
lực càng cao và càng nhiều thì tham nhũng càng
phổ quát, càng rộng rãi, càng siêu việt, càng lan tỏa ra trong
tất cả mọi sinh họat đời sống của người dân và càng có nhiều phương tiện để thực hiện.
Giáo Hội La Mã là một
thế lực nắm trọn cả thần quyền và thế quyền với chủ trương tôn
giáo chỉ đạo chính quyền, thiết lập chế độ đạo phiệt rồi dùng bạo lực của nhà nước vừa thi hành chính sách bất khoan dung, diệt tận
gốc, trốn tận rễ" tất cả các tôn giáo
và nền văn hóa khác, vừa thi
hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ để biến tín đồ và người
dân dưới quyền thành những đàn cừu ngu dốt hầu dễ bề lừa bịp và
bóc lột. Nhờ những đặc tính này mà vấn đề tham nhũng trong Giáo Hội
La Mã cũng như trong tất cả các chế độ chính trí có bóng dáng Giáo Hội
ở hậu trường đã trở thành chính sách rất phổ quát rộng rãi trong tất
cả mọt tầng lớp nhân dân và trong tất cả mọi phạm vi sinh họat của
người dân. Ở đâu có quyền lực của Giáo Hộio La Mã là có tham nhũng và
hối lố, và tham nhũng và hối lộ từ ông ừ ông Thượng Đế tức Chúa Cha Jehovah, Chúa Con Jesus, Đức Bà
Maria (bằng hình thức lễ vật dâng cúng) cho đến tầng lớp lãnh đạo
trong Giáo triều Vatican và giai cấp tu
sĩ là các ông hồng y, tổng giám mục, mục, đức ông, linh mục rồi đến
giáo dân, nếu họ có quyền lực (bằng hình thức quà cáp với quy luật
"cao lễ dễ thưa".
Thực ra ông Chúa Cha
là một vị thần tưởng tượng do bọn lưu manh buôn thần bán thánh người
Do Thái bịa đặt ra. Còn ông Jesus và Đức Bà Maria là những nhân vật có
thật bằng xương bằng thịt người Do Thái. Hai nhân vật này thực sự
là bằng xương bằng thịt cũng bắt
đầu bằng sự thụ tinh của một cái trứng của một người đàn bà
trong một cuộc làm tình với một người đàn ông. Sau khi thụ tinh rồi,
cái trứng này biến thề thành một cái bào thai nằm trong dạ con của người
đàn bà trong một thời gian khỏang chừng trên dưới 9 tháng thì tự động
chui qua cửa mình của người mẹ và chào đời bằng tiếng khóc oe oe. Chẳng
làm gì có chuyện bà Maria làm tình với một đấng thần linh nào rồi thụ
thai, rồi sinh ra ông Jesus. Nói rằng ông Bà Maria được một đấng thần
linh thương yêu cùng nhau trăng gió rồi
mang thai và sinh ra ông Jesus là cố tình bịa đặt ra một chuyện hoang đường với thâm ý làm mê hoặc người đời tưởng
lầm rằng bà Maria và ông Jesus có quyền năng biến hóa hô phong hoán vũ. Một
khi đã tin bà Maria và ông Jesus có quyền năng như vậy (giống
như những quyền năng mà đạo Do Thái đã bịa đặt ra cho thần Jehovah tưởng
tượng) thì người
ta sẽ sẵn sàng đem những lễ vật
đến nhà thờ dâng cúng với hy vọng sẽ được ông Jesus và Đức Maria
ban phuớc lành, ban hồng ân, và ban cho
tất cả những gì mà họ hằng mơ ước hay mong muốn. Đây là việc làm lưu
manh khởi đầu của Giáo Hội La Mã.
Việc làm lưu manh trên
đây của Giáo Hội La Mã khởi đầu từ khi Hội Nghị Nicaea nhóm họp từ
ngày 20/5/325 trở về sau. Kể từ đó, Giáo Hội La Mã bịa đặt ra cả hàng
rừng tín lý và lế nghi với những quy luật dâng của lễ để cầu khấn với hy vọng được ban cho "hồng ân Thiên
Chúa", được ban phép lành, phép
lạ, được
Chúa che chở, đuợc Đữc Bà cứu
giúp, v.v. với hàng trăm thứ "đuợc",
nhưng với điều kiện là "phải dâng của lễ" thì mới được Chúa
cứu xét đến lời cầu nguyện. Đồng thời, ngay từ thuở mới chào đời,
tín đồ đã được các ngài "mang chức thánh" và những "bậc
trưởng thượng" trong xã hội "dân Chúa" cấy vào đầu óc niềm
tin "cao lễ dễ thưa"; nói nôm
na là "của lễ càng nhiều và càng đắt giá thì lời cầu khấn
càng linh nghiệm". Cái kiến thức phổ
quát (tục lệ) này trong xã hội "dân
Chúa" không mấy ai là không biết.
Những tín lý do Giáo
Hội bịa đặt ra được bộ máy tuyên truyền của Giáo Hội phổ biến rộng rãi qua chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ
với những lời dạy "Phúc cho ai không thấy mà tin", và
"phải
có niềm tin thì mới thấy sự linh nghiệm của những tín lý của đạo"
[Đây là hai trong số những lời dạy nặng tính cách lưu manh và bịp bợm nhất trong những lời dạy dạy
tín đồ của Giáo Hội La Mã]. Câu chuyện được các tác giả Tân Ước bịa
đẳt ra làm bài học cho các cán bộ tuyền truyền (giới tu sĩ) của Giáo
Hội theo đó mà cao rao hay phố biến. Câu chuyên này như sau::
"Sáng
mai, lại thành thì Ngài (ông Jesus) đói. Thấy một cây vả ở bên đường,
Ngài bèn lại gần, song chỉ thấy những lá mà thôi, thì Ngài phán cùng
cây vả rằng. Mày chẳng bao giờ sinh ra trái nữa! Cây vả tức thì khô
đi. Môn đồ thấy điều đó lấy làm kỳ, nói rằng: "Cớ sao trong
giây phút mà cây vả khô đi như vây?" Đức Chúa Jesus đap rằng,
"Quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi có đức tin, và
không nghi ngờ chi hết, thì chẳng những các ngươi, thì chẳng những các
ngươi có thể làm cho cây vả khô
héo, mà còn có thể bảo hòn núi này rằng, "hãh cất mình lên và quằn
xuống biển. Trong khi cầu nguyện, các ngươi lấy đức tin xin bất kỳ việc gì đêu cũng được." (Now
in the morning, as He returned to the city, He was hungry.And seeing a fig tree by the
road, He came to it and found nothing on it but leaves and said to it, "Let no fruit
grow on you ever again." And immediately the fig tree
withered away. Now when the disciples saw it, they marveled saying,
"How did the fig tree wither away so soon?" So Jesus answered and said to them,
"Assuredly, I say to you, if you have faith and do not daoubt, you will not only to
what was done to the fig tree, but also if you say to this mountain, "Be removed and
be cast into the sea" it will be done. And all things, whatever you ask in prayer,
believing, you will receive. (Matthiew:
21;18-21)"
[10]
Cán bộ tuyên truyền của Giáo Hội đúc kết câu chuyên
trên đây thành một lời nói ngắn
gọn để nhồi sọ tín đồ rằng, "chi
cần có niềm tin bằng hạt cải thì người ta có thể bứng cả một ngọn
núi quăng xuống biển". Vốn đã
bị chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ biến thành những hạng người
ngu dốt, không biết sử dụng lý trí để phân tách và suy luận, lại vì
có máu háo danh, hám lợi, tín đồ Gia-tô ngoan đạo răm rắp tin theo những
tín lý bịp bợm do Giáo Hội bịa đặt ra, rồi đem lễ vật hâu hĩ đến nhà thờ dâng cúng cho Giáo Hội.
Thế là Giáo Hội cứ việc thò tay ra tiếp nhân lễ vật. Đây là một phương
cách móc túi tín đồ một cách vô cùng tinh vi của Giáo Hội. Càng về
sau, phương cách móc túi như vậy càng tinh vi hơn. Để có thể tiếp nhận
được nhiều lễ vật hơn nữa, Giáo Hội lại bịa đặt thêm ra quy luật "lễ vật càng cao và càng tuyệt đối tin
tường vào những tín lý của Giáo Hội thì càng được Chúa trả ơn."
Với những thủ đọan
làm tiền hay kinh tài bất chính như trên, chúng ta có thể nói rằng Giáo Hội
La Mã qủa thật là một thế lực đệ
nhất lưu manh trong lịch sử loài người.
Ngoài những vai trò
trên đây, các ông linh mục hay tu sĩ Gia-tô
còn có trách nhiệm phải tự động
nghĩ ra những phương cách làm tiền hay tổ chức các cơ sở kinh tài (làm
tiền) cho Giáo Hội và bảo quản những khối tài sản đã thu vơ được
qua các dịch vụ kinh tài và bóc lột tín đồ. Có lẽ đây mới là vai
trò quan trọng nhất của các ông tu sĩ Gia-tô đối với cả Giáo Hội và
đối với cá nhân của họ. Không biết trong chương trình đào tạo tu sĩ
của Giáo Hội có dạy môn kinh tài hoặc kinh tế học hay không. Trong thực
tế, qua các tài liệu mà người viết đã đọc, qua sự quan sát và điều
tra tại chỗ, người viết nhận thấy kỹ thuật kinh tài hay làm tiền của
các nhà tu hành Gia-tô thật là siêu việt. Siêu việt ở đây không phải
là tài nghệ xuất chúng trong việc kinh doanh hợp pháp đem lại ích lợi
cho quốc gia và nhân dân, mà là siêu việt trong kỹ thuật dựa thế chính
quyền và quyền lực của Giáo Hội cũng
như lợi dụng chức vụ của họ để cướp đọat tài nguyên quốc gia, hối
mại quyền thế, bóc lột nhân dân và bóc lột tín đồ bằng muôn ngàn thủ
đọan, bằng đủ mọi mánh mung lưu
manh và bất chính. Những mánh mung kinh tài bất chính của các ngài là đầu mối hay
nguyên nhân chính cho tất cả mọi tệ
trạng tham nhũng của tất cả chính quyền có bóng dáng Giáo Hội La Mã ở
hậu trường sân khấu chính trị. Bằng chứng rõ ràng nhất cho sự kiện
này là tình trạng tham nhũng do các nhà tu hành Gia-tô chủ động rồi gây ra hậu
quả dây chuyền trong hai chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và
quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu và
phương cách làm tiền bất chính và rất lưu manh của các ngài ở hải ngọai
ngày nay.
Cho đến giữa thế kỷ
20, Giáo Hội La Mã đã trở thành một thế lực tóm thâu cả thần quyền
và thế quyền vào trong tay và thống trị cả cả một vùng rộng lớn bao
trùm cả Nam Âu và các thuộc địa của các đế quốc thực dân xâm lược
Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp ở khắp các lục địa Phi, Mỹ và Á Châu
cũng là thuộc địa của Giáo Hội. Giáo Hội cũng đã từng làm mưa làm
gió, hét ra lửa mửa ra khói ở lục địa Âu Châu với những thành tích
phát động gần 10 cuộc thập ác chiến
(crusades), thiết lập các Tòa Án Dị Giáo, đã từng cấu kết với các đế
quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, chế độ
Phát Xít Ý Đại Lợi, Đức Quốc Xã rồi lai Pháp và Hoa Kỳ
trong việc đánh chiếm và thống trị hay thiết lập các chế độ đạo
phiệt Gia-tô tay sai tại các vùng đất nằm ngoài ảnh hưởng của Giáo Hội.
Dựa vào các đế quốc và siêu cường trên đây, thi hành sách lược
"cáo độ lốt hùm", Giáo Hội
tiến hành những chiến dịch “làm sáng
danh Chúa” bằng bạo lực và tiến hành “chính
sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ” nhằm nô lệ hóa nhân loại cả
tâm hôn lẫn thể xác.
Trong câu chuyện “Cưới Vợ cho Hà Bá” ở đất Nghiệp Đô, bọn đồng cốt hay
thày cúng (thần quyền hay tôn giáo) và hào lão (thế quyền hay chính quyền)
là hai thế lực nhỏ nhoi và riêng rẽ cấu kết với nhau ở trong phạm vị
một địa phương nhỏ bé thì tất nhiên nó chỉ gây ra thảm họa cho nhân
dân trong một vùng Nghiệp Đô nhỏ bé này mà thôi. Trong khi đó thì Giáo Hội
La Mã nắm trọn cả hai vai trò của các bà đồng cốt (thần
quyền) và vai trò
các hào lão. (Thế
quyền trong làng) chỉ đao cho các chính quyền tay sai phải thi hành mệnh lệnh
của Giáo Hội (các
chính quyền đạo phiệt Tây Ban Nha tại chính quốc Tây Ban Nha và tại các
thuộc địa từ thời Trung Cổ đến năm 1820,
chính quyền đạo phiệt Anh trong thời Mary I (Bloody Mary) trong những năm 1555 –1558, chính
quyền đạo phiệt Gia-tô Ane Pavelich tại Croatia trong thời Đệ Nhị Thế
Chiến, chính quyền đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm tạo miền Nam Việt
Nam trong những năm 1954-1963.) Cũng nhờ
vào sự cấu kết với các đế quốc
và siêu cường trên đây, ảnh hưởng của Giáo Hội gần như bao trùm khắp
nơi trên thến giới. Vì thế mà thảm họa do Giáo Hội đã gieo rắc cho
nhân loại từ ngàn xưa cho đến nay to lớn không biết đâu mà lường được.
Nếu đem so sánh tội ác của bọn đồng
cốt và hào lão trong việc bịa đặt ra chuyện Cưới Vợ Cho Hà Bá ở
khúc sông Chương Hà tại đất Nghiệp Đô với những tội ác của Giáo Hội
đã làm từ xưa cho đến nay thì chẳng khác gì
đem so ngọn Núi Bà Đen so với rặng Hy Mã Lạp Sơn. Chính những rặng núi tội ác này của Giáo Hội đã khiến cho Giáo Hoàng John Paul II phải
trăn trở cả gần mười năm qua, rồi Ngài
phải ra lệnh cho tổ chức một buổi lễ vô cùng long trọng
vào ngày 12/ 3/ 2000 để cáo thú những
rặng tội ác này của Giáo Hội..
Ai cũng biết rằng những
giáo luật tín lý của đạo Do Thái
và đạo Kitô La Mã làm ra đều có tính cách cách võ đoán, chuyên chế và
được dùng làm công cụ để áp bức và bóc lột tín đồ và nhân dân dưới
quyền. Ai cũng biết răng những giáo luật bất công, dã man và những tín
lý quái đản này là do một nhóm ngươi lưu manh buôn thần bán thánh nhân
danh Thượng Đế làm ra. Nếu có người đặt ra vấn đề là lấy tư cách gì hay dựa vào đâu mà họ
nói rằng họ nhân danh Thượng Đế để làm ra những tín lý, giáo luật
và thánh luật này thì họ trả lời một cách ngon lành không một chút ngượng
miệng rằng, "Chúng tôi được Thượng
Đế (hay thánh thần) "mặc khải" (nói
cho biết, tiết lộ )" nên mới
biết mà làm ra".
Họ nói ngon lành như
vậy mà không biết ngượng miệng. Chuyện láo khoét và bịp bợm như vậy
không phải chỉ xẩy ra vào cái thời điểm xa xưa cách đây hai ngàn năm hay chỉ xẩy ra trong Giáo Hội La Mã. Ngay
ở nước Mỹ theo chế độ dân chủ tự do trong thời đại văn minh tin học ở vào thời điểm đầu
năm 2003 này cũng có hạng người lưu manh nói rằng "được Thượng Đế mặc khải" (sản
phẩm của nền đạo lý mặc khải bịp bợm) để làm
chuyện bất lương bắt cóc con gái vị thành niên con nhà lành về hãm hiếp
và làm vợ nhỏ. Đây là chuyện có thật trăm phần trăm được các cơ
quan truyền thônq Hoa Kỳ và quốc tế loan tin đầy đủ.
Người chủ động làm
việc bất lương này là tên lưu manh
Mitchell (chồng 49 tuổi) Barzee (vợ, 47 tuổi) theo đạo Mormon, phạm tội bắt cóc em bé gái Elizabeth Smart mới 14 tuổi
ở thành phố Sandy thuộc tiểu bang Utah vào ngày 5 tháng 6 năm 2002, đem đi
ở một nơi kín đáo. Đến ngày 12/3/2003 thì nhà chức trách tìm ra nơi trú
ẩn của vợ chồng tên lưu manh này và bé
gái Elizabeth. Nạn nhân Elizabeth được
đưa trả về cho gia đình, còn vợ chồng tên lưu manh này bị giam chờ
ngày ra tòa đền tội. Lụật sư của cặp vợ chồng tên lưu manh này là
ông Larry Long nói với báo chí rằng, "Mitchell
nói với ông ta rằng hắn ta coi Elizabeth như là vợ của hắn ta và sự biến
mất của cô ấy là "tiếng gọi của
Thượng Đế" (chứ không
phải là bắt cóc". ("Attorney Larry Long, who told him that he considers
Elizabeth his wife and that her disappearance
was a "call from God" - not a kidnapping.")
[11].
Gom chung các chuyện "Hà Bá Đòi
Cưới Vợ" ở bên Trung Hoa trong thời TiềnTần, chuyện các tác giả
viết Cựu Ước và Tân Ước, chuyện Giáo Hội La Mã bịa đặt ra ngững tín
lý quái đản, đăt ra những giáo luật, ban hành những thánh luật ăn cướp
trong thế kỷ XV (đã trình bày trong Chương 10), chuyện tên lưu manh Mitchell bắt cóc bé gái
Elzabeth Smart mới 14 tuổi ở Utah về làm vợ mới xẩy ra vào ngày 5 tháng 6 năm 2002 mà nói rằng là "do tiếng gọi
của Thượng Đế", tất cả cho
chúng ta thấy ở bất kỳ nơi nào (Trung
Hoa, Do Thái, trong Tòa Thánh Vatican, Hoa Kỳ) và bất kỳ
vào thời đại nào (thời
ông Moses cách đây hơn ba ngàn năm, thời đạo Kitô mới ra đời cũng như
suốt trong chiều dài lịch sử của Giáo Hội La Mã và vào thời điểm 2003 này), bọn lưu
manh buôn thần bán thánh đều sử dụng
quái chiêu bằng cách rêu rao rằng "đựợc
thần thánh ứng lên" hoặc "Thượng Đế hay thánh linh mặc
khải" mà làm ra những luật lệ
, rồi bảo rằng đó là "thánh luật" và "giáo luật" để
lừa bịp người đời hầu thủ lợi hay thỏa mãn những tham vọng bất
chính của chúng.
Thâm độc và lưu manh
hơn nữa, Giáo Hội còn cấy vào đầu óc tín đồ cái quan niệm ngu xuẩn
và ngược ngạo rằng những nhân vật
nào đã do Thương Đế (Giáo Hội) sắp đặt hay chọn lưa đưa lên cầm quyền thì những người đó
dù cho đã trở thành hung thần bạo chúa tàn hại nhân dân đến mức nào
đi nữa thì nhân dân dưới quyền cũng chỉ có thể cầu xin Thượng Đế (tức
là cầu xin Giáo Hội) để xin Ngài
ra tay trừng phạt tên hung thần bạo chúa đó. Nếu Thượng Đế (Giáo Hội)
không nhậm lời, ngoảnh mặt làm ngơ thì nhân dân ráng cắn răng mà chịu,
chứ không có quyền vùng lên làm cách mạng, không có quyền lôi cổ tên
quốc tặc này ra khỏi chính quyền. Sự kiện này được học giả Dương
Thành Lợi ghi nhận như sau:
"Một
triết gia Âu Châu khác là Aquinas chủ trương rằng nhà vua (đấng bề trên)
được Thượng Đế chọn lựa cho nên nhân dân phải dùng các phương tiện
hợp pháp để trục xuất một vị vua gian ác; nhân dân KHÔNG THỂ LÀM
CÁCH MẠNG để giết vua và thay đổi
cơ chế chính quyền. Theo Aquinas, nhân dân thà có một ông vua gian ác còn hơn
là phải đối đầu với hiểm họa đất nước bị phân chia. Sự cai trị
độc ác của lãnh tụ có thể phản ảnh ý định của Thượng Đế muốn
trừng phạt người dân; và nếu các phương tiện hợp pháp không thể trục
xuất đưọc vị lãnh tụ gian ác, người dân chỉ còn cách duy nhất là cầu
nguyện Thượng Đế. Nếu Thượng Đế không đáp lại lời cầu nguyện để
bắt buộc vị lãnh tụ quốc gia đó phải thoái vị thì nhân dân phải chấp
nhận vị lãnh tụ gian ác này bởi vì đó là ý của Thượng Đế." [12].
Quan niệm quái đản này
hoàn toàn trái ngược với nền đạo lý vị tha trong các xã hội Đông Phuơng.
Những bản văn lịch sử dưới đây cho chúng ta thấy ró sự trái ngược
này. Sách Triết Học Đông Phương ghi rõ như sau:
"Dục
vi quân, tận quân đạo, dục vi thần, tận thần đạo, nhị giả giải pháp, Nghiêu Thuấn nhi dĩ dĩ hỷ” (Lý Lâu Thượng).
[”Làm vua thì phải hết đạo làm
vua, làm tôi thần thì phải hết đạo làm tôi thần”]. ”Quân chi thị thần như thủ túc,
tắc thần thị quân như phúc tâm. Quân chi thị
thần như khuyển mã, tắc thần thị quân như quốc nhân. Quân chi thị thần như thổ giới, tắc thần thị quân
như khấu thù” (Lý Lâu Hạ). [””Vua phải
biết coi nhân dân như chân tay thì nhân kính trọng vua như bụng như lòng, nhưng nếu vua coi nhân dân như chó
ngựa thi nhân dân coi vua như một người
dân thường trong nước, và nếu vua coi nhân dân như đất như cỏ, thì nhân dân sẽ coi vua như giặc như thù” [13]
.
Sách The Two
Vietnams cũng viết:
”Nếu ông vua mà áp bức nhân dân thì ông ta không còn xứng đáng được đối xử như là vua nữa. Cá nhân ông ta không còn thiêng liêng nữa,