04-gdtop.gif (3814 bytes)
 
whiteball.gif (923 bytes) Nghiên cứu & đối thoại tháng 2 năm 2004 whiteball.gif (923 bytes)
BỘ MẶT THẬT
Của
PHÒNG THÔNG TIN PHẬT GIÁO QUỐC TẾ
(Giám Đốc: Võ Văn Ái, Phó Giám Đốc: Penelope Faulkner)

Trần Chung Ngọc

      Chuyện về Võ Văn Ái với Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế (sic) [PTTPGQT] ở Paris thì nói mãi cũng nhàm, nhưng có lẽ kiếp trước tôi mắc nợ ông ta nên nay cứ phải dính vào cái tên không đáng nhắc đến này.  Tuy nhiên, vì sự xảo quyệt của Võ Văn Ái, với chức vị Giám đốc PTTPGQT,  đã lên đến mức độ nguy hại cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất [GHPGVNTN] nói riêng, Phật Giáo Việt Nam nói chung, nên tôi không thể không vạch ra bộ mặt thực của Võ Văn Ái.  Tôi vốn chẳng có thì giờ để vào các website mang chiêu bài nhân quyền, tự do tôn giáo, dân chủ nhưng thực sự không hiểu thế nào là nhân quyền, là dân chủ v..v..,  nhưng có vài người quen cũng như không quen, không hiểu nỗi khổ tâm của tôi, cứ gửi cho tôi những bài mà thực tình tôi chẳng muốn phí thì giờ đọc.  Nhưng người ta đã có nhã ý gửi đến chẳng lẽ lại không đọc, mà đọc rồi thì quả thật thấy phí thì giờ, rồi lại phí thêm thì giờ để phê bình cho ra lẽ.  Một trong những bài này là “Thông cáo báo chí [TCBC] ngày 8.1.2004” của PTTPGQT ở Paris.

     Bản TCBC này gồm có ba phần. Đặc biệt nhất là phần thứ ba, đưa ra bộ mặt thật của PTTPGQT.  Trong phần này, PTTPGQuốcTế đăng lời phân ưu về cái chết của ông John Trevor Faulkner, thân phụ bà Penelope Faulkner, người có bút hiệu Việt Nam là Ỷ Lan và đang giữ chức vụ Phó Giám Đốc PTTPGQuốcTế, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người Việt Nam, Giám Đốc và Chủ Tịch tất nhiên là Võ Văn Ái. Thật là tội nghiệp cho Văn Phòng II Viện Hóa Đạo nói riêng, GHPGVNTN-HảiNgoại và cộng đồng người Việt hải ngoại chống Cộng nói chung, chẳng có ai có khả năng nên ông Võ Văn Ái đành phải tuyển một bà người Anh làm Phó Giám Đốc và Phó Chủ Tịch để giúp ông ta điều hành, đúng hơn là thao túng, PTTPG QuốcTế, “Cơ Quan Thông Tin và Phát Ngôn của Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN”, chung vai sát cánh với ông ta trong sứ mạng chống Cộng theo chỉ thị với tiền của cơ quan National Endowment for Democracy của Mỹ. Cũng vì vậy mà Võ Văn Ái thường làm cho quý Thầy bên nhà tin tưởng là hai cường quốc Anh, Mỹ đã “nhất trí” đứng sau lưng ông ta, và do đó ở hải ngoại, bất cứ ông ta làm gì, nói đúng hay sai, GHPGVNTN-Hải Ngoại, Văn Phòng II, Viện Hóa Đạo, cũng răm rắp theo.  Trần Thanh Hải, trong bài Vòng Tục Lụy, đã kể rằng, trong đại hội Melbourne để suy cử nhân sự trong GHPGVNTN:  “cặp Võ Văn Ái – Penelope Faulkner thao túng buổi họp, áp đảo các Trưởng Tử Như Lai, bảo ngồi đâu ngồi đó, cho phép nói mới được nói”.  Thật là chẳng còn ra cái thể thống gì nữa.  Cái tế bào ung thư VVA này còn ở trong GHPGVNTN ngày nào, còn giữ chức vụ Giám Đốc, Chủ Tịch này nọ, thì GHPGVNTN-Hải Ngoại làm sao có thể sống mạnh sống lành được, và GHPGVNTN Nội địa chắc chắn sẽ bị lây ảnh hưởng không tốt của PTTPGQT.

     Khi xưa, Vua Lý Thánh Tông đi thăm Chùa Dâu, thấy người con gái dựa gốc cây lan thờ ơ, không như các cô gái khác trong làng nô nức đi xem mặt Vua,  nên vời đến hỏi, thấy đối đáp thông minh trôi chảy, mới đưa về cung, phong làm Ỷ Lan (dựa gốc cây lan) Phu Nhân.  Thứ Phi Ỷ Lan nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam về tài đức, thường thay Vua điều hành việc nước rất sáng suốt, thường đi tìm hiểu dân tình, trị tội bọn tham quan ô lại, và khi Vua Lý Thánh Tông mất, Bà vừa nuôi con vừa trông coi việc triều chính cùng quan văn Lý Đạo Thành và quan võ Lý Thường Kiệt, thực hiện những cải cách như: xuất của trong kho chuộc những người phụ nữ nghèo bị bán cho nhà giàu, tăng cường binh lực, tổ chức học hành thi cử v..v.. và cuối đời Tu Thiền.  Ngày nay, Penelope Faulkner, dựa vào Võ Văn Ái, một kẻ hoạt đầu chính trị thiếu hạnh, thiếu đức, chuyên thông tin bịa đặt để chống phá Việt Nam, mà lại dám hỗn láo, lấy tên Ỷ Lan làm bút hiệu.  Không ai cấm bất cứ ai lấy tên của người mình ngưỡng mộ làm tên mình, nhưng cái tên Ỷ Lan là một tên đặc biệt, có điển có tích, không phải là tên bố mẹ đặt cho, mà là tên riêng của Vua Lý Thánh Tông đặt cho một cô gái dựa trên sự kiện “dựa trên gốc cây lan”.  Penelope Faulkner dựa vào cái gì mà lấy cái tên đó một cách láo lếu, thiếu suy nghĩ như vậy.  Người Việt chúng tôi không coi việc Penelope Faulkner lấy tên Ỷ Lan là sự hãnh diện, mà trái lại, coi đó là một hành động hỗn xược không có người Việt Nam nào làm, một sự xúc phạm đến một danh nhân trong lịch sử Việt Nam mà người Việt chúng tôi yêu quý. 

     Phần thứ nhất trong TCBC là của PTTPGQuốcTế, giám đốc là Võ Văn Ái, nhắc đến một tài liệu của ông Mười Anh Đỗ Trung Hiếu viết về việc thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam [GHPGVN] năm 1981.  Tài liệu này, ông Đỗ Trung Hiếu viết cách đây đã 10 năm, năm 1994, và thuật lại một số sự việc đằng sau hậu trường đi đến việc thành lập GHPGVN năm 1981, trong đó có nhiều điểm đã mất đi thời gian tính.  Nhắc và nhấn mạnh đến một đoạn lạc lõng ngoài toàn bộ vấn đề (out of context) và đã mất thời gian tính trong tài liệu này, PTTPG QuốcTế  hàm ý GHPGVN đúng là một tổ chức chính trị tay sai trá hình thành Phật Giáo, [nguyên văn] phụ họa nói lên quan điểm và lập trường của một Nhà Nước chống tôn giáo theo luận điểm Mác Lê.  Lẽ dĩ nhiên, Võ Văn Ái chỉ nói nhăng nói cuội khơi khơi như vậy chứ không hề đưa ra một dẫn chứng nào để chứng minh lời vu khống của mình.  

     Một câu hỏi được đặt ra là, từ ngày thành lập vào năm 1981, GHPGVN, tuy nằm trong Mặt Trận Tổ Quốc, không hoạt động được theo như ý muốn, và tuy những người chống Cộng gọi đó là Giáo Hội đảng lập hay Giáo hội quốc doanh, đã có những hành động gì hại dân hại nước ?.  Hoạt động Phật sự bị giới hạn, khó khăn, khác với những hoạt động hại dân hại nước nhiều lắm.  Phải chăng những sự phát triển của Phật Giáo nơi quê nhà trong thập niên gần đây mà Trần Thanh Hải ở trong nước đã viết trong bài Vòng Tục Lụy trên trang nhà Giao Điểm: “Nhưng ngày nay, cũng trên các cơ sở đó, sinh hoạt của Phật Giáo đồ quả thật là thoải mái và rất phát triển.  Số lượng Tăng Ni tăng gia gấp ba, các trường cơ bản Phật Học được mở ở nhiều tỉnh và các đô thị, các Chùa mới được xây dựng thêm, Chùa cũ cũng được trùng tu khang trang, số Tăng Ni được đi du học nước ngoài có trên trăm vị, trái lại trước 1975 số này chỉ đếm trên đầu ngón tay..” và Frances Fitzgerald, tác giả cuốn sách nổi tiếng Fire In The Lake khi xưa, sau khi về Việt Nam năm 2000 để quan sát tình trạng xã hội Việt Nam, cũng đã viết về tình hình Phật Giáo trong cuốn Vietnam: Spirits of the Earth: “Trong 10 năm qua, Phật Giáo Việt Nam đã sống lại rất mạnh (Buddhism revived mightly), trùng tu những ngôi Chùa lịch sử, và thiết lập ít nhất là 10 nơi hành hương.” là những hành động hại dân hại nước nói lên lập trường chống tôn giáo theo luận điểm Mác-Lê?  Đọc tờ Giác Ngộ của GHPGVN, có một câu nào nói lên lập trường chống tôn giáo theo luận điểm Mác-Lê.  Võ Văn Ái, Giám đốc PTTPGQT đã nói láo, bất kể liêm sỉ, chỉ với mục đích đào sâu hố chia rẽ giữa GHPGVN và GHPGVNTN.

     Viết như trên, PTTPGQT đã chứng tỏ hai điều:  thứ nhất, xuyên tạc bịa đặt để bôi nhọ, chụp mũ GHPGVN, và thứ nhì, không hiểu luận điểm chống tôn giáo của Mác-Lê là cái gì.  Bởi vì, nếu theo đúng luận điểm chống tôn giáo của Mác Lê, thật ra chỉ là Ki Tô Giáo, vì Mác Lê không biết gì về Phật Giáo và các tôn giáo Đông Phương, thì không làm gì có những chuyện như Trần Thanh Hải và Frances Fitzgerald viết như trên.  Có thể nói, một nhận định chính xác nhất về tình hình Phật Giáo bên nhà là của ông Nguyễn Đắc Xuân ở trong nước: “Thế thì tổ chức Phật Giáo phải sống trong một chính quyền.  Chính quyền đó không mang tinh thần Phật Giáo cho nên có cái thuận và có cái nghịch. Đối với chính quyền Việt Nam từ sau 1975 đến nay, cái thuận phát triển và cái nghịch dần dần teo lại.   Và, những gì còn tồn tại phải khắc phục trong tinh thần “gà cùng một mẹ”.  Còn như nhân danh gì đó của Phật Giáo Việt Nam để kêu gọi người ngoài can thiệp vào thì hậu quả sẽ không lường được.” Điều hiển nhiên là PTTPGQT chỉ nhìn thấy cái nghịch cũ kỹ, khô cứng, không cho phép nó được thay đổi, và không bao giờ nhìn thấy cái thuận. Điều này kể ra cũng dễ hiểu, vì nếu viết ra sự thực về những sự thay đổi, về những cái thuận phát triển, thì Võ Văn Ái làm sao còn có cớ để xin được tiền của NED.  Võ Văn Ái cũng quên rằng trong GHPGVN cũng có những vị nguyên là cao Tăng trong GHPGVNTN khi xưa.  Phải chăng các vị này, về phương diện tu hành, đạo đức, trí tuệ... không có ai bằng các vị đứng ngoài GHPGVN như HT Quảng Độ và TT Tuệ Sỹ? 

     Chúng ta không thể phủ nhận là GHPGVN nằm trong sự kiểm soát của chính quyền, không được tự do phát triển như ý muốn, nhưng quy kết Giáo hội này là một tổ chức chính trị tay sai trá hình thành Phật Giáo thì quả thật là quá vọng ngôn.  Nằm trong Mặt Trận Tổ Quốc nhưng GHPGVN đã có những thành quả rất đáng khích lệ, còn GHPGVNTN ở vị thế không thỏa hiệp, chống đối, đã không ít thì nhiều, gây khó khăn trong việc phát triển Phật Giáo nói chung nơi quê nhà, cũng chỉ vì sự phân biệt thống nhất và không thống nhất, không biết đến những phương tiện quyền xảo, tùy duyên bất biến  trong Phật Giáo.  Mặt khác, trong khi tuyệt đại đa số Phật tử trong nước cũng như hải ngoại đều mong muốn có sự hòa hợp giữa hai giáo hội, dù không thể họp được thành một khối, thì PTTPGQT cố sức gây chia rẽ giữa hai giáo hội.  Tại sao vậy?   Bởi vì nếu hai giáo hội hòa hợp theo tinh thần Lục Hòa, mỗi giáo hội đi theo một hướng phục vụ đạo Pháp khác nhau, tùy duyên tùy cảnh, thì VVA mất đối tượng chống đối, kéo theo việc mất job, không còn được hưởng ơn mưa móc bằng đô la của cơ quan NED.   Ngoài ra, Võ Văn Ái cũng còn cho rằng tất cả những ý kiến, phân tích sự việc không hợp với luận điệu phá Đạo của PTTPGQT đều là của (nguyên văn) “vài tên cò mồi thay tên đổi họ mệnh danh Phật tử nhưng thực chất làm đặc công cho Đảng”.   Viết lên câu này, PTTPGQT đã chứng tỏ thêm trình độ thấp kém của mình khi dùng từ “đặc công” và đã sử dụng đến cái nón cối đã trở thành một trò hề trong cộng đồng người Việt hải ngoại.  Võ Văn Ái cũng quên luôn thực chất thân phận làm tay sai của mình.

     Phần thứ hai trong bản TCBC là đăng bức thư nhan đề Tâm Sự Giữa Đất Và Trời mà PTTPGQT nói là của ông Lê Công Cầu, một Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử Việt Nam gửi Đại Tá Lê Việt Hà, Trưởng Công An Thành Phố Huế.  Tôi có cảm tưởng là mỗi TCBC của PTTPGQT là một tờ truyền đơn chống Việt Nam, và mọi tài liệu quốc nội chống nhà nước một chiều, bất cứ xuất xứ từ đâu, đều phải gửi đến PTTPG QuốcTế của ông VVA và bà Penelope Faulkner để phổ biến, lẽ dĩ nhiên có nhiều phần chắc là VVA sẽ edit lại cho phù hợp với mánh mưu và trình độ của VVA, một trình độ mà khó có ai có thể đưa ra những lời khen tặng về văn phong và lý luận mà không ngượng với lương tâm trí thức.

     Chúng ta nhớ đến bản “Phúc Trình” (sic) về vấn đề Nhân Quyền được “tìm hiểu tận nơi tận chốn” của Đoàn Viết Hoạt trong khi Đoàn tiên sinh đang nằm trong nhà tù Phạm Đăng Lưu, một nhà tù thuộc loại khắc nghiệt nhất.  Chúng ta cũng nhớ đến bản “Nhận Định” của HT Thích Quảng Độ trong đó vị Cao Tăng của GHPGVNTN đã khẳng định là Giáo hội của Ngài đã một thời đưa các bậc tu hành trong Giáo hội lên bờ danh vọng và lợi lộc, câu này nay vẫn còn giữ nguyên trên vài trang nhà chống Cộng. Đây là những bản văn điển hình mà VVA tung ra cho các cơ quan truyền thông ở ngoại quốc nhưng không gửi cho Văn Phòng II Viện Hóa Đạo như tôi đã kiểm chứng với Thầy Đức Niệm ở Phật Học Viện Quốc Tế trước đây.  Và gần đây, VVA đã tung ra bài “Vài Lời Về Nhóm Giao Điểm”, nói là của Thượng Tọa Thích Phước Viên, trong khi nội dung và tư tưởng trong bài đó rất thấp kém và thuần một loại vu khống, chụp mũ, kém đạo đức như tôi đã phân tích trong bài Vài Nhận Định Về Thông Cáo Báo Chí Ngày 13.1.2004 Của PTTPGQT trên trang nhà Giao Điểm.  Nhưng vì khả năng kém cỏi, rất giới hạn, nên bất cứ văn bản nào PTTPGQT tung ra cũng có nhiều sơ hở, thiếu trình độ, và đều thuộc loại lý luận ngớ ngẩn, một chiều, và không có giá trị thuyết phục.  Bài của Huynh Trưởng Lê Công Cầu cũng không ra ngoài lệ.  Tôi không có thì giờ phê bình toàn bài của Lê Công Cầu mà chỉ cần vạch ra vài điều bất cập trong phần lý luận và nhận định của ông ta mà thôi.

     Nếu chỉ là bức thư riêng của Huynh Trưởng Lê Công Cầu gửi Đại Tá Lê Việt Hà thì tôi sẽ không bao giờ đụng đến.  Nhưng thư này đã được phổ biến trên Internet qua TCBC của PTTPGQuốcTế, và trong đó có nhắc đến bài viết của tôi và của một tác giả nào đó ở Bình Định tên là Trần Thanh Hải.  Nếu chỉ nhắc đến thì không sao, nhưng nhắc đến với một giọng điệu xuyên tạc chụp mũ thì quả thật là không nên chút nào, vì đây không phải là tư cách của một Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử.

     Thật vậy, Huynh Trưởng Lê Công Cầu viết:

      “Gần đây có nhiều bài viết từ bưu điện gởi đến cho Tôi như bài của ông Trần Chung Ngọc hết lời ca tụng Chính Sách Tôn Giáo của Nhà Nước, ca tụng thành công của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam nhưng kết luận Ông cũng hô hào "hãy giúp cho Phật Giáo Việt Nam độc lập với Chính Quyền.. hãy giải phóng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam ra khỏi Mặt trận". Bài của ông Trần Thanh Hải cũng thế, vừa ca tụng Nhà Nước, vừa ca tụng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam nhưng kết luận cũng kêu gọi "phải có một tổ chức Phật Giáo lành mạnh hơn.. phải cải tổ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam chứ cái Giáo Hội như ghế một chân, lão hoá như hiện nay thì chẳng làm được gì" xem thế thì đủ rõ vai trò của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam như thế nào rồi.”

      Tôi giật mình. đọc kỹ lại bài Vài Ý Kiến Về Tự Do Tôn Giáo Và Biến Cố Nguyên Thiều của tôi và bài Vòng Tục Lụy của Trần Thanh Hải, kiếm mãi mà không thấy có chỗ nào tôi “hết lời ca tụng Chính Sách Tôn Giáo của Nhà Nước” và cũng không thấy chỗ nào ông Hải “ca tụng Nhà Nước”.  Tôi đề nghị Huynh Trưởng Lê Công Cầu hãy nêu ra những câu nào trong bài mà quý vị cho rằng tôi đã “ca tụng chính sách tôn giáo của nhà nước” chứ không nên viết vu vơ như vậy mà không dẫn chứng.  Lẽ dĩ nhiên, GHPGVN có cái phần tiêu cực nhưng cũng có phần tích cực.  Cho nên chúng ta phải đưa lên cán cân cả hai mặt.   Nếu chỉ nêu ra mặt tiêu cực để dựa vào đó mà phê phán thì tôi cho là sự phê phán này không được công bằng, nếu không muốn nói là nằm trong một mánh mưu chia rẽ và phá hoại.

     Tuy nhiên, tôi không loại bỏ trường hợp bức thư trên đã được edit lại ở Paris trước khi phổ biến.

     Nội dung bức thư có thể tóm tắt trong hai điểm chính:  GHPGVNTN là giáo hội dân lập, có đầy đủ tư cách pháp nhân dù trong chế độ XHCN, còn GHPGVN là giáo hội do Đảng thành lập và chỉ đạo, cho nên thực chất chỉ là “một tổ chức chính trị tay sai trá hình thành Phật Giáo”, đúng như ý của Võ Văn Ái trong Phần 1.  Sau đây chúng ta hãy thử phân tích vài luận cứ của Huynh Trưởng Lê Công Cầu về cái mà ông ta gọi là “Pháp Lý của GHPGVNTN”. Ông Huynh Trưởng viết:

1. Sau năm 1975 cho đến bây giờ Giáo Hội Pht Giáo Viet Nam Thống Nhất có còn tồn tai hay không ? Xin trả lời là Có - Vì sao?

Vì Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập năm 1964 là do nguyện vọng của toàn thể Tăng tín đồ Phật Giáo, không phải do sự chỉ đạo của Chính Quyền. Ðó là một Giáo Hội dân lập, không phụ thuộc vào Chính Quyền cho nên nó không thể sụp đổ theo chế độ Việt Nam Công Hoà của Miền Nam cũ. Nó vẫn tồn tại dưới chế độ XHCN như chúng ta đã thấy.

     Nói đến sự tồn tại của GHPGVNTN chúng ta nên phân biệt hai khía cạnh: Tình và Lý.  Về Tình thì hiển nhiên GHPGVNTN vẫn tồn tại ở miền Nam, dù Giáo hội này cũng có nhiều phần tiêu cực của nó, trước cũng như sau năm 1975.  Bởi vì, đối với người dân miền Nam, không ai có thể phủ nhận được công ơn của Phật Giáo ở miền Nam trong việc lật đổ một chế độ Ca Tô bạo tàn, gia đình trị, tôn giáo trị của Ngô Đình Diệm, và sau đó GHPGVNTN mới được thành lập.  Cho nên, không ai có thể cất bỏ được hình ảnh của GHPGVNTN ra khỏi đầu óc người dân miền Nam, ít ra là trong đầu óc của lớp người lớn tuổi, đã sống trong giai đoạn 63-64.  Ngoài ra người dân miền Nam cũng biết đến cuộc tranh đấu kiên trì trong tinh thần vô úy của vài nhân sự trong GHPGVNTN từ 1975 đến nay, khoan nói đến phương thức tranh đấu có thích hợp hay không, nhưng dù sao cũng góp được một phần, dù nhỏ nhoi, đưa đến sự thay đổi phần nào chính sách của chính quyền đối với Phật Giáo nói chung.

     Tuy nhiên, lý luận rằng:  “Vì Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập năm 1964 là do nguyện vọng của toàn thể Tăng tín đồ Phật Giáo, không phải do sự chỉ đạo của Chính Quyền. Ðó là một Giáo Hội dân lập, không phụ thuộc vào Chính Quyền cho nên nó không thể sụp đổ theo chế độ Việt Nam Công Hoà của Miền Nam cũ. Nó vẫn tồn tại dưới chế độ XHCN như chúng ta đã thấy.” thì nghe không ổn chút nào.

     Thứ nhất, GHPGVNTN được thành lập là do sự vận động của một số Tăng ở miền Nam như các quý Thầy Trí Quang, Thiện Minh, Tâm Giác, Quảng Liên, Huyền Quang, Hộ Giác.  Theo Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu trong cuốn Tôn Giáo & Chính Trị Phật Giáo 1963-1967, trang 96, thì “Một đại hội Phật Giáo toàn miền Nam khai mạc vào ngày Thứ Ba, 31/12/1963, tại Chùa Xá Lợi.  Khoảng 500 Tăng, Ni và Phật tử tham dự đại hội này.  Ngày 3/1/1964, 11 trong số 14 hội đoàn tham dự đồng ý khai sinh ra GHPGVNTN. Đồng thời, công bố một Hiến Chương của GHPGVNTN, do HT Trí Quang soạn thảo.”, còn tín đồ Phật Giáo thì có biết mô tê gì đâu, các Thầy nói sao thì nghe vậy, có ở trong Giáo hội hay không cũng chẳng ai biết, cho nên không thể nói là nguyện vọng của toàn thể Tăng tín đồ Phật Giáo.  Hơn nữa, năm 1965 lại có một tổ chức Phật Giáo khác mang tên Tổng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, qui tụ các Tăng Ni Phật tử không ở trong GHPGVNTN, cũng đưa ra một Hiến Chương và được chấp thuận ngày 8/12/1965.

     Thứ nhì, Giáo hội, tuy không phụ thuộc chính quyền, nhưng sự thành lập GHPGVNTN vẫn phải được chính quyền chấp thuận bằng một nghị định chứ không thể cứ tùy tiện lập ra rồi tùy tiện hoạt động.  Ngày 24/3/1964 , Tổng Trưởng Nội Vụ Hà Thúc Ký ký Nghị Định trong đó điều khoản thứ nhất là: “GHPGVNTN được phép thành lập trong khuôn khổ luật lệ hiện hành.”.  Trần Thanh Hải đã luận về căn bản pháp lý của GHPGVNTN sau 1975 trong bài Vòng Tục Lụy, tôi không nhắc lại nữa mà chỉ đặt một câu hỏi:  “Phải chăng khuôn khổ luật lệ của Việt Nam Cộng Hòa năm 1964 ở miền Nam cũng là khuôn khổ luật lệ của chính quyền của cả nước sau 1975?”

     Vì những sự kiện trên, luận cứ về tính cách pháp lý của GHPGVNTN dưới chế độ XHCN như trên của Huynh Trưởng Lê Công Cầu không đứng vững, không có giá trị thuyết phục. Sau khi đưa ra tính cách pháp lý không hề có của GHPGVNTN, ông Lê Công Cầu luận sang điểm thứ hai:

2. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vẫn tồn tại nhưng có hơp pháp không ? Xin trả lời là Có - Vì sao?

Thứ Nhất : Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là một Giáo Hội truyền thừa của Lịch Ðại Tổ Sư. Nó thừa kế sự nghiệp của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam. Nó gắn bó với dân tộc Việt Nam như một thực thể không tách rời - dân tộc Việt Nam còn thì Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất còn.

     Nếu đã không có tính cách pháp lý thì không thể nào hợp pháp. Đây là một lôgic thông thường.   Mỗi khi tôi đọc đến câu “GHPGVNTN là một Giáo hội truyền thừa của Lịch Đại Tổ Sư” tôi lại nghĩ đến câu Công Giáo tự nhận là “Chính Thống, Duy Nhất, Thánh thiện và Tông truyền”.  Chính cái câu này đã làm cho Công Giáo nguyên thủy bị phân ra làm ba: Chính Thống, Tin Lành và Công Giáo, và cũng là một trong những nguyên nhân làm Công giáo suy thoái trên khắp thế giới ngày nay.  Trong đầu tôi bật ra nhiều câu hỏi.  Thứ  nhất, “Truyền thừa” có nghĩa gì?  Theo tôi, truyền thừa là “thừa kế những gì được trao truyền lại”.  Có người cho rằng chữ “truyền” trong truyền thừa là “truyền thống”, vậy truyền thừa có nghĩa là thừa hưởng truyền thống.  Nhưng ít ai nói thừa kế hay thừa hưởng truyền thống mà thường chỉ nói “theo truyền thống”, “phù hợp với truyền thống”, “tôn trọng truyền thống” v..v.. vì truyền thống Phật Giáo là gia tài chung cho mọi Phật tử, Tăng cũng như tục, ở trong cũng như ở ngoài Giáo hội, chứ không phải là một cái gì mà một tổ chức hay một Giáo hội Phật Giáo có thể thừa kế, nghĩa là được thừa hưởng như cha truyền con nối một gia tài riêng.  Bởi như vậy là gạt mọi Phật tử khác không ở trong Giáo hội ra ngoài.  Thứ nhì, Lịch Đại Tổ Sư là những ai?  Phật Giáo có bao nhiêu Tổ, Tổ Việt hay Tổ Trung Hoa, Ấn Độ? có bao nhiêu Tông Phái, có bao nhiêu Pháp môn giải thoát?  Phải chăng GHPGVNTN nắm trong tay tất cả các pháp môn giải thoát, tất cả các tông phái, và thống nhất tất cả mọi truyền thống tu tập của các Tổ Sư?  Từ khi truyền vào Việt Nam, trong gần 2000 năm, Phật Giáo không hề có một giáo hội “truyền thừa” nào, nhưng Phật Giáo vẫn phát triển, tuy rằng khi thịnh khi suy, nhưng đối với dân tộc Việt Nam đã như sữa hòa với nước.   GHPGVNTN mới được thành lập năm 1964 ở miền Nam, một nửa nước không biết GHPGVNTN là gì, đây là một sự kiện lịch sử. Ông Lê Công Cầu viết như trên có biết rằng ông đang gạt bỏ mọi Giáo hội Phật Giáo khác ra ngoài dân tộc hay không?  Chỉ có ta là chính thống, chỉ có ta là “truyền thừa”,  những lời cống cao ngã mạn đầy tính phe phái như trên không hợp với tinh thần khiêm tốn, tự tu tự chứng của Phật Giáo. 

Thứ hai : Nhà Nước không hề có một văn bản nào giải thể Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cả.

     Trần Thanh Hải đã luận rằng:  Có giải thể hay không, tính cách pháp lý của GHPGVNTN ở miền Nam đương nhiên đã không còn khi tình trạng chính trị của đất nước thay đổi vào năm 1975.  Nhưng tôi cho rằng Nhà Nước không chính thức giải thể GHPGVNTN là vì tình chứ không phải vì lý.  Sau năm 1975, nếu muốn, Nhà Nước có thể giải thể bất cứ tổ chức nào ở miền Nam, kể cả GHPGVNTN, mà không ai có thể làm gì được, vì khi đó Cộng Sản còn rất mạnh trên thế giới, và Bắc Việt là phe thắng trận.  Nếu họ giải thể GHPGVNTN ngay năm 1975, người dân miền Nam cũng không nổi giậy, Mỹ cũng không trở lại.  Nhưng tại sao họ không làm thế?  Tôi cho rằng đó là một hành động rất sáng suốt của Nhà Nước. Đọc bài của Đỗ Trung Hiếu, chúng ta thấy rằng trong cấp lãnh đạo Nhà Nước, cũng có những người hiểu biết và có tinh thần dân tộc chứ không sát ván như Pol Pot ở bên Cambod.  Họ chỉ muốn Phật Giáo không trở thành một lực lượng chống đối như năm 1963 ở miền Nam chứ họ không có mục đích tiêu diệt Phật Giáo hay bất cứ tôn giáo nào khác.  Trong thời đại này, và qua những kinh nghiệm lịch sử trên thế giới, chỉ có những kẻ ngu mới mưu toan tiêu diệt tôn giáo.  Và những người CS không phải là những kẻ ngu.  Một nguyên nhân khác là, người CS Việt Nam dù sao cũng mang Việt Nam tính trong người.  Họ có lý tưởng của họ nhưng không thể phủ nhận là họ rất gắn bó với đất nước, dân tộc.  Người CS Việt Nam chưa từng tuyên bố: “Thà mất nước chứ không thà mất Marx”, không như người Công Giáo, chủ trương “Thà mất nước chứ không thà mất Chúa” như LM Hoàng Quỳnh, và như Ngô Đình Diệm đã coi hai nhân vật trong huyền thoại Ki Tô: Adam và Eve làm tổ tông, phủ nhận Hùng Vương là tổ của mình.

Thứ Ba : (Và cũng là cụ thể nhất) Vào năm 1981, Giáo Hôi Thống Nhất đã có một phái đoàn do Hoà Thượng Thiện Siêu cầm đầu tham dự Ðại Hội Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam tại Hà Nội (phái đoàn này thật hay giả xin không nói ở đây) nhưng nó chứng minh rằng cho đến năm 1981 Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vẫn tồn tại.

     Ở đây, ông Lê Công Cầu đã nhầm lẫn trong việc đồng nhất hóa những cá nhân với Giáo hội.  Lý luận như Huynh Trưởng Lê Công Cầu thì chúng ta phải hiểu rằng Hòa Thượng Thiện Siêu đại diện cho GHPGVNTN và chính là GHPGVNTN.  Mặt khác, nếu cho rằng HT Thiện Siêu cầm đầu một phái đoàn (của GHPGVNTN) tham dự Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam năm 1981 hàm ý GHPGVNTN vẫn tồn tại cho đến năm 1981, vậy thì sau đó thì sao?  HT Thiện Siêu và các HT khác như HT Thích Trí Thủ, Thích Minh Châu v..v.. ở trong Giáo hội nào?  Có thể kết luận được không là HT Quảng Độ, và TT Tuệ Sỹ đã tự mình ly khai ra khỏi GHPGVNTN rồi. Nếu không phải như vậy thì luận cứ của ông Lê Công Cầu về sự tồn tại của GHPGVNTN không đứng vững.  Viết như Lê Công Cầu thì các HT Thiện Siêu v..v.. đã mang GHPGVNTN vào GHPGVN, còn HT Quảng Độ và TT Tuệ Sỹ hoạt động bất hợp pháp ở ngoài, dưới danh xưng cố chấp GHPGVNTN.   

Thứ Tư : Sau năm 1981, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam ra đời - trong Hiến chương của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam có nói rõ là các Truyền Thống, Hệ Phái vẫn được tồn tại và phát triển. Trên quan điểm này ta hãy tạm xem Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất như một hệ phái thì tất nhiên nó được tồn tại một cách hợp pháp không thể chối cãi được.

     Đây lại là một kiểu lý luận nói lấy được, nói mà không chịu suy nghĩ.  Nếu GHPGVNTN được “tạm xem” như là một hệ phái thì hai chữ “thống nhất” của GHPGVNTN có nghĩa gì?  Danh không chính thì ngôn không thuận. Ông Lê Công Cầu có hiểu thế nào là một hệ phái hay không?

     Nói tóm lại, mấy lý luận của ông Huynh Trưởng Lê Công Cầu về tính cách pháp lý và sự tồn tại hợp pháp của GHPGVNTN không có tính cách thuyết phục. Đó là về lý.  Còn về tình thì sao?  Lẽ dĩ nhiên GHPGVNTN vẫn tồn tại dù không có tư cách pháp lý.  Không những tồn tại mà còn được tự do hơn người dân thường ở ngoài là đằng khác.  Tại sao?  Vì GHPGVNTN vẫn còn Viện Tăng Thống, Viện Hóa Đạo, và quý Thầy trong các Viện này vẫn tự do gửi Thông Điệp, Bạch Thư, Tâm Thư v..v.. ra ngoại quốc với ấn ký đều đều.  Quý Thầy vẫn liên lạc điện thoại với ngoại quốc đều đều, kể cả với PTTPGQT chuyên nghề chống Cộng ở Paris.  Quý Thầy vẫn được “nước ngoài” tự do phỏng vấn. Không những thế, nào là Tâm Thư của Tăng Sinh Huế, nào là “Vài Lời Với Nhóm Giao Điểm” của TT Thích Phước Viên, nào là thư riêng “Tâm Sự Giữa Đất Và Trời” của Huynh Trưởng Lê Công Cầu gửi Đại Tá Công An Huế Lê Viết Hà, Thông Cáo Báo Chí nào của PTTPGQT cũng có một bản văn từ trong nước gửi ra để chống Cộng mà các tác giả ở trong nước không hề bị làm khó dễ gì.  Vậy thì giải thích điều này ra sao đây, GHPGVNTN được Nhà Nước quá ưu đãi rồi.

     Trên đây tôi chỉ phê bình vài điểm trong bài Tâm Sự Giữa Đất Và Trời của Huynh Trưởng Lê Công Cầu.   Còn các phần khác tôi không có thì giờ phê bình tiếp.  Nhưng có một câu tôi không thể bỏ qua. Đó là câu mà Huynh Trưởng Lê Công Cầu nâng Võ Văn Ái lên hàng Giáo Phẩm trong GHPGVNTN, nguyên văn như sau:

GHPGVNTN có cấu kết với các thế lưc thù đch nước ngoài không? Xin trả lời là Không - Vì sao?

     “Hãy nhìn vào các nước láng giềng như Thái Lan, Malaysia, Singapore. có nước nào cứ luôn luôn la làng chửi bới các thế lực thù địch nước ngoài như mình không ? Sao nước mình lại lắm thù địch đến thế. Tôi chẳng thấy thế lực thù địch nào cả, nhất là các thế lực ấy cấu kết với Giáo Hội Thống Nhất để chống phá Nhà Nước thì lại càng không có.

    Thế lực ấy là Thầy Mãn Giác, Thầy Hộ Giác, là ông Võ Văn Ái ư ? Nên nhớ rằng quý vị nói trên là Giáo phẩm của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đang lưu vong ở nước ngoài.

     Thứ nhất, có vẻ như Huynh Trưởng Lê Công Cầu không biết mấy về lịch sử thế giới.  Thái Lan, Malaysia, Singapore không có chiến tranh Quốc Cộng, không có hơn 2 triệu người ở phe thua trận đi ra nước ngoài tiếp nối cuộc chiến Quốc Cộng bằng miệng, không đánh bại Pháp, không đánh bại Mỹ, và nhất là không có một thế lực “thà mất nước không thà mất Chúa”, hoàn toàn lệ thuộc Vatican, một định chế có mối thù không đội trời chung với CS về ý thức hệ.    

     Thứ nhì, Võ Văn Ái là Giáo Phẩm của GHPGVNTN ở Hải Ngoại?  Chẳng trách là Trần Thanh Hải đã viết về sự tụt hậu của GHPGVNTN Hải Ngoại trong bài Vòng Tục Lụy:

     “GHPGVNTN hải ngoại chỉ còn là hữu danh vô thực.  Giáo hội nầy, lúc mới thành lập năm 1992, có trên 100 đơn vị chính thức, nhưng hiện nay chỉ còn trên 20 đơn vị cho toàn thế giới.  Ngay tại miền Nam California, là nơi người Việt Nam đông nhất, tổ chức này cũng chỉ còn hai đơn vị...  Giáo hội này bị dẫn dắt bởi các tay chính trị hoạt đầu và bởi Võ Văn Ái, người nhận tài trợ hoạt động của NED, một tổ chức dân vận chuyên khuynh loát các quốc gia mà Mỹ xem là thù địch.  Ngoài ra, các tôn giáo khác, nhất là Công Giáo ở Mỹ, cũng len lỏi vào để khuynh loát và dật dây.  Họ xưng là Phật tử, len lỏi vào tất cả các buổi họp để chỉ đường cho các vị Hộ Giác, Viên Lý đi.  Giáo Hội  lại không có lấy một tờ báo, trăm vạn sự đều trông nhờ vào cái loa của ông Võ Văn Ái, Ngô Văn Bằng và những hệ thống truyền thông của kẻ ngoại đạo cực đoan”

     Nhưng rồi tác giả cũng khen GHPGVNTN-Hải Ngoại một câu trong đoạn kết:

     “Vì làm việc tùy tiện thiếu cân nhắc, lại mang tâm hận thù nên, một trong những việc làm đáng ghi nhớ của Giáo Hội này là rình rập xem có Tăng Ni nào từ Việt Nam sang du lịch, thăm thân nhân hoặc chữa bệnh thì đấu tố biểu tình, nhưng đến khi mấy ông linh mục, giám mục, mục sư cũng từ Việt Nam ra thì không những thấy họ im phăng phắc mà còn xum xoe đi dự lễ mừng.”

     Trần Thanh Hải viết đúng hay sai?  Xin để cho hàng “giáo phẩm” Võ Văn Ái lên tiếng trả lời.

Thêm Vài Hàng Về Nhân Cách Võ Văn Ái Qua Một Tài Liệu Vừa Nhận Được:

    Vừa định gửi bài viết trên đi thì tôi nhận được qua điện thư của một người bạn bài đài phát thanh Bolsa phỏng vấn Võ Văn Ái về bài “Vài Lời Với Nhóm Giao Điểm” của PTTPGQT mà Võ Văn Ái nói là của TT Thích Phước Viên. Đọc bài phỏng vấn này tôi thấy đây là một trò hề diễn xuất bởi đài phát thanh ngoại đạo, Radio Bolsa, và Võ Văn Ái, một đồng một cốt, một tung một hứng, câu hỏi nằm trong câu trả lời với vài khai triển v..v..  Ngoài ra, bài phỏng vấn còn chứng tỏ Võ Văn Ái quả thật là hạng hoạt đầu chính trị, chuyên xuyên tạc sự thật, chụp mũ vu vơ.  Chứng minh?

     Thứ nhất, Võ Văn Ái cho rằng Giao Điểm đưa ra một đường lối chính trị phụ họa với nhà cầm quyền Hà Nội trong việc đánh phá GHPGVNTN.

     Võ Văn Ái không nêu rõ là Giao Điểm đã đánh phá GHPGVNTN như thế nào. Đây là thủ đoạn quen thuộc của Võ Văn Ái et al..., dựng lên một người rơm rồi tự tay mình quật xuống.  Giao Điểm không phải là một tổ chức chính trị.  Trên trang nhà Giao Điểm, chúng ta chỉ thấy những trang Nghiên Cứu và Đối Thoại; Cứu Trợ và Từ Thiện Phật Giáo; Văn Nghệ; Tìm Đọc Bài Cũ Của Tác Giả Giao Điểm; Góp Ý và Giao Thoa Tư Tưởng; Nối Kết Các Mạng Lưới Bạn; Sách Giao Điểm, Sách Thân Hữu.  Trang bìa ngoài của báo Giao Điểm cũng đề rõ Giao Điểm là tờ báo về Văn Hóa, Tôn Giáo và Thời Sự. Đọc tất cả những bài trên trang nhà Giao Điểm, tôi chẳng thấy bài nào bàn về chính trị mà thường chỉ là những bài thuộc loại nghiên cứu, phân tích các vấn đề.   Về biến cố Nguyên Thiều, Giao Điểm có một loạt bài đưa lên những ý kiến khác nhau của một số tác giả, và cả Bạch Thư của TT Tuệ Sỹ.  Tôi nhận thấy về biến cố Nguyên Thiều chỉ có bài Vài Ý Kiến Về Tự Do Tôn Giáo và Biến Cố Nguyên Thiều của tôi, bài Vòng Tục Lụy của Trần Thanh Hải ở Bình Định, bài Bạch Thư Tuệ Sỹ: Lý Luận Trên Những Thông Tin Ảo của Nhật Nam, bài Việt Nam, Quê Hương Của Những Người Biết Chia Sẻ gửi TT Tuệ Sỹ của một Phật Tử (không nêu tên) định cư tại Hoa Kỳ.  Về phương diện trí thức, nếu có khả năng thì hãy phân tích với lý luận và chưng dẫn tài liệu để phủ bác những điểm nào trong những bài viết trên.   Không thể chỉ nói khơi khơi là Giao Điểm đưa ra một đường lối chính trị (sic) phụ họa với nhà cầm quyền Hà Nội.  Không đồng ý thì lý luận để bác bỏ, đó mới là thái độ của người trí thức.   Không đồng ý, không bác bỏ được, mà chỉ chụp mũ vu vơ, đó không phải là thái độ trí thức mà chỉ là thủ đoạn của bọn hoạt đầu chính trị.

     Thứ nhì, Võ Văn Ái cho rằng qua tất cả những bài vở của nhóm Giao Điểm thì chủ điểm của nhóm Giao Điểm là đánh Giáo Hội Công Giáo, đặc biệt Giáo hội Công Giáo Việt Nam, một cách phi Chánh Pháp, với hậu ý là ly gián cộng đồng dân tộc, gây ra sự tranh chấp giữa các tôn giáo, thực hiện cái mà CS mơ ước...

     Võ Văn Ái mà nói đến giáo lý Phật Giáo và Chánh Pháp thì chỉ khiến cho người ta cười bể bụng.  Chánh Pháp qua miệng lưỡi của Võ Văn Ái thì biến thành Ma Pháp.  Viết như trên, Võ Văn Ái đã chứng tỏ cái kiến thức rất hẹp hòi của mình.  Sự kiện là, cho tới nay, Giao Điểm đã xuất bản 25 cuốn sách và trên báo Giao Điểm cũng như trên trang nhà Giao Điểm, có nhiều bài viết về Công Giáo.  Nhưng có ai thấy sự tranh chấp nào giữa các tôn giáo hay sự ly gián nào trong cộng đồng dân tộc hay không?  Về phía Công Giáo, tuyệt đối không có một phản bác, phê bình nào trừ vài phản ứng cuồng tín về cuốn Đối Thoại Với Giáo Hoàng John Paul II để bênh vực người chủ chăn.  Tại sao vậy?  Vì tất cả các cuốn sách cũng như bài viết về Công Giáo của Giao Điểm đều thuộc loại nghiên cứu với đầy đủ tài liệu dẫn chứng.  Mà những tài liệu này của ai?  Không có một tài liệu nào của Cộng Sản mà là những tác phẩm của các Tổng Giám Mục, Giám Mục, Linh Mục trong Công Giáo và các Giám Mục, Mục Sư trong Tin Lành, của những chuyên gia tôn giáo, giáo sư đại học Âu Mỹ, và của vài trí thức Công Giáo Việt Nam đã tỉnh giấc mơ “cứu rỗi” như Charlie Nguyễn, Phạm Hữu tạo, Trương Tiến Đạt v..v... Viết lên những sự thực về Công Giáo xuyên qua những tác phẩm đã được phổ biến tràn đầy trong những xã hội Ki Tô Âu Mỹ của các tác giả ở ngay trong chính Giáo hội Công Giáo mà có hể nói được chăng đó là để đánh Giáo Hội Công Giáo hay ly gián cộng đồng dân tộc.  Theo Võ Văn Ái thì Việt Nam không cần mở mang dân trí, cứ ở trong vòng ngu dốt, không nên biết đến những sự thực lịch sử về Công Giáo để tránh tranh chấp tôn giáo.  Lý luận ấu trĩ như vậy mà cũng phát ngôn lên được trong thời buổi này thì kể cũng lạ.  Cũng vì không biết đến sự thật nên nhiều người mới bị Võ Văn Ái lừa bịp qua những luận điệu trong các Thông Cáo Báo Chí của PTTPGQT, đó là cái hại ngay trước mắt của những người thiếu thông tin chính xác.

      Thứ ba, Võ Văn Ái cho rằng tất cả những bài vở của nhóm Giao Điểm, một mặt để đánh phá GHCG, một mặt để đánh phá GHPGVNTN, nhưng lẽ dĩ nhiên Võ Văn Ái không hề đưa ra một dẫn chứng là Giao Điểm đã đánh phá như thế nào.   Võ Văn Ái chứng minh điều này qua sự kiện Hồng Quang có bài tham luận trong đại hội 5 Phật Giáo toàn quốc.   Võ Văn Ái nói, nguyên văn như sau:

     “Mà đây không phải là một lời tố cáo suông mà là sự thực chúng ta đã thấy, bởi vì chúng ta biết rằng cái người cầm đầu của nhóm Giao Điểm là ông Hồng Quang....khi đại diện cho Phật tử Việt Nam tại hải ngoại, nhưng sự thực chỉ là nhóm thiểu số Giao Điểm, thì ông tham luận như thế nào về vấn đề Phật Giáo Việt Nam tại Hà Nội...”

     Đến đây thì chúng ta thấy rõ thủ đoạn cố ý chụp mũ, vu khống Hồng Quang của Võ Văn Ái.  Bởi vì bài Tham Luận của Hồng Quang đã được đăng trên báo Giao Điểm, số 47, và đưa lên trang nhà Giao Điểm, tháng 12, 2002.  Không có chổ nào trong bài Tham Luận Hồng Quang nhận là đại diện cho Phật tử Việt Nam tại hải ngoại, mà chỉ với tư cách cá nhân như sau:

     “....Từ ngàn dậm xa xôi mà được về thăm quê hương đã là một điều hạnh phúc, lại được phép trình bày một số thao thức của một người con Phật trước những đồng đạo mà cũng là đồng bào cùng chung một ước mơ, thì thật là một cơ duyên hiếm có...”

     Ngoài ra, trong số báo Giao Điểm 47, trong Lời Phi Lộ trước bài Tham Luận, Hồng Quang đã viết rõ:

      “Đầu tháng 12 vừa qua (2002), với tư cách là một thành viên của tổ chức Giao Điểm, tôi đã về Việt Nam để tham dự và đọc bài tham luận thại Đại Hội Phật Giáo Việt Nam kỳ V được tổ chức tại Cung Văn Hóa Hà Nội.  Ban chủ trương Giao Điểm đã thảo luận và góp ý về chuyến đi và bài tham luận quan trọng này trước lúc tôi ra đi.”

     Nhưng Võ Văn Ái đã sử dụng chuyên nghề của mình để chụp lên đầu Hồng Quang cái mũ tự nhận là “đại diện Phật tử hải ngoại” để dựa vào đó mà chỉ trích Hồng Quang.  Mang danh là Giám đốc PTTPGQT, “Cơ Quan Thông Tin và Phát Ngôn của Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN”, và Chủ tịch Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người Việt Nam mà phải dùng đến thủ đoạn xuyên tạc, vu khống như trên thì chúng ta phải hiểu con người của Võ Văn Ái là như thế nào, có xứng đáng làm người hay không, khoan nói đến chuyện làm người Việt Nam.  GHPGVNTN nên có thái độ nào đối với con sư tử trùng này?

     Cái thủ đoạn phi trí thức này không chỉ có thế mà còn tiếp tục trong một phần sau.  Radio Bolsa ngoại đạo tung ra câu hỏi cò mồi:

     “Nhóm Giao Điểm nói rằng sở dĩ có cái nghị quyết của 413 dân biểu hạ viện Mỹ và 624 đại biểu nghị viện Âu Châu là vì vài chính khách quê mùa quốc tế vì thiếu trí tuệ hay vì chính trị thời thượng, hay vì một vài dân biểu kiếm phiếu của người Việt di cư, thì cái điều này rõ rệt là nhóm Giao Điểm đã đứng về phía lập trường của Nhà Nước, có phải không vậy?”

      Và Võ Văn Ái  đã hứng câu hỏi đó như sau:  “....như ông Trần Chung Ngọc lại dám khinh bỉ để nói rằng 413 dân biểu Hạ Viện Hoa Kỳ và 624 dân biểu nghị viện Âu Châu là những chính khách quê mùa quốc tế..”

     Rõ ràng là cả Radio Bolsa lẫn Võ Văn Ái đều đã xuyên tạc câu viết của Trần Chung Ngọc.  Trong bài Vài Ý Kiến Về Tự Do Tôn Giáo Và Biến Cố Nguyên Thiều, Trần Chung Ngọc viết, nguyên văn:

     “Thực tế cho thấy rằng, không chỉ có dư luận người Việt chống Cộng ở hải ngoại, mà một vài chính khách quê mùa quốc tế, vì thiếu trí tuệ hay vì chính trị thời thượng, hay một vài dân biểu Mỹ Mễ kiếm phiếu của người Việt di cư ở Cali cũng lên tiếng phụ họa cho rằng Việt Nam không có Tự Do Tôn Giáo hay đàn áp Phật Giáo tuy rằng sự việc thuộc về chính trị và vài cá nhân chứ chẳng dính dáng gì tới tôn giáo hay Phật Giáo.” 

     Hiển nhiên là câu viết trên của Trần Chung Ngọc không mắc mớ gì tới mấy cái nghị quyết ấm ớ của hạ viện Mỹ và  của nghị viện Âu Châu. Âu Châu không phải là Quốc tế, do đó vài chính sách quê mùa quốc tế không phải là 624 dân biểu nghị viện Âu Châu, và vài dân biểu Mỹ Mễ kiếm phiếu ở Cali không phải là 413 dân biểu hạ viện.  Trình độ Radio Bolsa và Võ Văn Ái lại kém đến độ đọc một bản văn mà không hiểu người viết định viết gì hay sao?  Nhưng nghề của họ là chuyên bóp méo sự việc, xuyên tạc ý để chụp vài cái mũ đã rách nát trong cộng đồng hải ngoại lên đầu người họ muốn chống.  Nhưng có chống thì chống thông minh hơn một chút, chứ chống bừa chống bãi như vậy thì chỉ làm trò cười cho thiên hạ.  Trong bài “Tôi Đọc Thông Cáo Báo Chí ngày 5.1.04 của PTTPGQT” tôi đã phê bình thẳng thắn hạ viện Mỹ qua cái gọi là Nghị Quyết HR 427.  Ai muốn phản bác lời phê bình trên xin lên tiếng.

     Thứ Tư,  Võ Văn Ái  lên tiếng nhận định về Việt Nam và trách cứ Giao Điểm như sau:

     “Trong khi đó tại Việt Nam thì hầu như không có gì cả, mà trong khi đó thì các ông chẳng những không làm gì được cho đất nước, cho 80 phần trăm nông dân nghèo đói tại Việt Nam, mà các ông còn phụ họa để mà nhắm mắt làm tay sai cho cái chế độ độc tài đó, thì đó là một điều chúng ta không thể nào chấp nhận được, nhất là những người thường tự nhận mình là Phật tử.”

     Qua mấy lời phát ngôn bừa bãi như trên, chúng ta thấy rõ Võ Văn Ái đang ngồi trong đáy giếng, không biết gì về hoàn cảnh xã hội Việt Nam ngày nay.  Ngồi ở Paris, nặn óc ra những thông tin mà một trí thức trẻ ở Úc, ông Hoàng Trần, đã xếp vào loại “Cộng đồng đã quá chán ngấy và ghê tởm trước những thông tin mà chúng ta biết rõ là sai lầm trầm trọng, tưởng tượng, hoặc bịa đặt – đúng ra là bịa đặt một cách quá kém cỏi.”, Võ Văn Ái quên mất sự kiện là mỗi năm có mấy trăm ngàn người Việt ở hải ngoại về thăm quê hương, mang về Việt Nam trên dưới 3 tỷ đô la.  Báo Người Việt ở Cali loan tin có 1200 cơ sở làm ăn của “Việt Kiều” ở Việt Nam v..v..  Võ Văn Ái et al... có biết là tại sao PTTPGQT ra hết TCBC này đến TCBC nọ mà chẳng có ai để vào tai không?  Tại vì Cộng đồng đã quá chán ngấy và ghê tởm trước những thông tin mà chúng ta biết rõ là sai lầm trầm trọng, tưởng tượng, hoặc bịa đặt – đúng ra là bịa đặt một cách quá kém cỏi.  Nếu tất cả cộng đồng hải ngoại đều tin vào những TCBC của PTTPGQT thì chẳng có ai muốn về thăm quê hương, chẳng có ai muốn về quê nhà làm ăn, chẳng có ai chán sống ở Mỹ trở về sống nơi quê nhà v..v... Bởi vậy, cho đến bây giờ, Võ Văn Ái vẫn còn phải xin tiền của NED để tranh đấu cho quyền làm người Việt Nam ở Việt Nam (sic). Điều này chứng tỏ rõ hơn gì hết là chỉ có những kẻ có đầu mà không có óc  mới tin được những gì phát ra từ PTTPGQT.

     Giao Điểm có làm được gì cho đất nước, cho nông dân nghèo đói hay không.  Ngoài mặt văn hóa, tôn giáo, Giao Điểm còn có mặt từ thiện để giúp quê nhà một cách thuần túy bất vụ lợi, và đã có những thành quả mà tôi dám chắc không có một tổ chức nào ở hải ngoại có thể đạt được.  Trên mỗi tờ báo Giao Điểm đều có bài tường trình về những hoạt động từ thiện của Giao Điểm.  Tôi không muốn quảng cáo cho Giao Điểm, nhưng để khai sáng cái đầu óc tối tăm mờ mịt của Võ Văn Ái, chuyên phát ngôn bừa bãi, tôi không có cách nào hơn là xin phép Giao Điểm được đưa ra một số sự kiện về những hoạt động từ thiện của Giao Điểm.

     Giao Điểm số Mùa Xuân 2003, số 47, có đoạn sau đây trong Thư Tòa Soạn:

     “Về Giao Điểm, vẫn mạnh mẽ tiếp tục con đường đã khởi đi từ 12 năm trước.   Năm 2002 có lẽ là năm “được mùa” nhất của Giao Điểm so với mấy năm qua: Phẩm vật cứu trợ trị giá gần 2 triệu Mỹ Kim đã và đang trên đường chuyển về cho đồng bào trong nước.  Trang nhà (Website) www.giaodiem.com hay www.giaodiem.net được đánh giá là một trong những nguồn thông tin phong phú và giá trị nhất hiện nay, đã thu hút đông đảo độc giả cả trong lẫn ngoài nước và trên toàn thế giới truy cập.  Một số sách của Giao Điểm, viết để Giải-Ảo những người mà vì do cố ý hay vô tình được vinh danh lầm qua nhiều thế hệ như L.M. Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ), Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký và L.M. Trần Lục, tháng 10 vứa qua được đài BBC phỏng vấn và phát thanh về Việt Nam cho hàng triệu thính giả.  Và sau hết là thành viên của Giao Điểm dự và đọc tham luận tại Đại Hội Phật Giáo Việt Nam Kỳ V ở Hà Nội để đề nghị vài ý kiến nhằm góp phần khai thông một số Phật sự tại Việt Nam.”

     Và Giao Điểm số 50, Mùa Đông 2003, có một bài có thể nói là tổng kết Tường Trình Công Tác Từ Thiện của Giao Điểm, trang 62-63:

     “Giao Điểm là một hội từ thiện (Giao Điểm Humanitarian Foundation, Inc.) được thành lập từ năm 1991, có giấy của Liên Bang Hoa Kỳ cho phép hoạt động để những người hỗ trợ tài chánh có quyền trừ thuế.

     Trong thập niên 1990, mặc dầu tâm tình chưa thông khoáng giữa kẻ ở người đi nhưng Giao Điểm đã tiên phong mở đường cho phong trào hoạt động từ thiện công khai ở hải ngoại hướng về quê nhà để giúp những nạn nhân chiến tranh và thiên tai bất hạnh, với kế hoạch người làng nào giúp làng đó, quận nào giúp quận đó, tỉnh nào giúp tỉnh đó.

     Chương trình sơ khởi của Giao Điểm từ lúc bắt đầu gồm có:

1.                 Giúp thuốc và tài trợ cho chẩn y viện miễn phí, 200MK/năm.

2.                 Giúp học bổng cho Tăng Ni, sinh viên và học sinh nghèo, học giỏi hạnh kiểm tốt, từ lớp 12 trở lên, 50MK/năm.

3.                 Phụ giúp học phí cho giáo viên các lớp học tình thương, 100MK/năm.

4.                 Tùy hỉ: Giúp các em cô nhi, trại khuyết tật, viện dưỡng lão.

     Mặc dầu bị chụp mũ và đánh phá bởi một số người chưa thấy vấn đề, nhưng sau 2 tháng hoạt động, Giao Điểm có 133 ân nhân ủng hộ chương trình từ thiện này.  Tổng số tiền là 8000MK, và số học bổng cấp phát là 70 sinh viên và học sinh (GĐ #8)

     Bão Linda (Bão số 5): ngày 2.11.1997 bắt đầu thổi mạnh vào đồng bằng sông Cửu Long.  Chỉ hơn 10 ngày đã có trên 3500 người bị thiệt mạng, và 200 ngàn nóc nhà bị mưa bão cuốn trôi.  Trong lúc cộng đồng người Việt hải ngoại còn rụt rè vì sợ bị chụp mũ, Giao Điểm, một lần nữa, tiên phong công khai đăng báo hêu gọi cộng đồng cứu trợ đồng bào bị bão lụt ở quê nhà.  Ngày 16.11.1997 chúng tôi thành lập ban cứu trợ Nạn Nhân Bão Lụt, Bác Sĩ Trần Quý Nhu được mời là Trưởng Ban.

     Sự tiên phong của Giao Điểm được nhiều đoàn thể trong cộng đồng hưởng ứng nhiệt liệt.   Khoảng một tuần lễ sau khi Giao Điểm khởi xướng, các hội đoàn, tôn giáo, sinh viên, học sinh đã mạnh dạn đứng ra quyên góp, nên Giao Điểm cũng bớt phần gánh nặng (GĐ #28).   Kế đến là lũ lụt miền Trung, tháng 11, 1999, Giao Điểm lại càng bớt gánh nặng hơn nữa, vì tất cả các đoàn thể trong cộng đồng không còn do dự mà tự động quyên góp để chia xẻ những khó khăn với đồng bào ở các tỉnh bị lũ lụt.  Tuy không kêu gọi tích cực nhưng nhiều ân nhân cũng đã tự động gửi đến Giao Điểm số tiền 13 ngàn 168 MK (tính đến ngày 2.12.99) để gửi trực tiếp về giúp các vùng bị lũ lụt (GĐ #35).

     Ngoài 4 chương trình mà chúng tôi khởi đi từ đầu năm 1991, như đã trình bày ở trên, đến nay vẫn còn tiếp tục ngoại trừ chương trình học bổng cho sinh viên và học sinh trong nước.  Nhưng bên cạnh đó chương trình y tế lại được phát triển rất tốt đẹp.

     Tháng 3.2000, Giao Điểm gửi về 6 Tấn Âu dược để cùng với các ban từ thiện Phật Giáo các tỉnh đi khám bệnh và biếu thuốc miễn phí cho các đồng bào vùng sâu, vùng xa ở các tỉnh miền Trung (GĐ #36).

     Tháng 9.2000, Giao Điểm lại gửi 8 Tấn thuốc về Chùa Quán Sứ Hà Nội để giúp đồng bào bệnh tật tại miền Bắc (GĐ #38).

     Tháng 7.2001, Giao Điểm gửi 26 Tấn Sữa Ensure, khoảng 80 ngàn lon để giúp đồng bào lũ lụt miền Lục Tỉnh.  Số sữa này do TT Thích Phước Trí và BS Trương Văn Việt, Giám đốc Bệnh Viện Chợ Rẫy phụ trách phân phối đến đồng bào (GĐ #41).

     Tháng 1.2002, gửi 6 Tấn Âu dược và 60 ngàn lon sữa Ensure về cứu trợ các tỉnh Kontum, Pkeiku, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên (GĐ #44).

     Các tháng cuối năm 2002, Giao Điểm gửi 6.5 Tấn Âu dược, 40 ngàn lon sữa Similac, 120 ngàn lon sữa Ensure đặc (Ensure Pudding) về các tỉnh từ đồng bằng sông Cửu Long đến tận Hà NỘi.  Các thiện nguyện viên của Giao Điểm về hợp tác với các ban từ thiện Phật Giáo các tỉnh nên công việc biếu tặng đồng bào rất chu đáo và tận tay.  Tuy vậy, cũng có thất thoát hết 48 lon (GĐ #46, và báo Giác Ngộ số 161 & 163).

     Tháng 7.2003, gửi 7 Tấn Âu dược về giúp đồng bào vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kontum, Pleiku. 

     Tháng 8.2003, gửi 45 ngàn lon sữa bột để biếu miền Lục TỈnh và miền Bắc (số sữa biếu miền Bắc sẽ do Thầy Thanh Phong Chùa Vĩnh Nghiêm phụ trách).

     Tháng 9.2003, gửi 1 container 40 cubic feet bàn chải chà răng về miền Nam, 1 container 40 cubic feet khác về miền Trung.  Mỗi container có khoảng 400 ngàn cái.  6 máy mới dùng để khám tai, mắt, mũi, họng cũng đang trên đường đến cảng Đà Nẵng.

     Trước lúc báo lên khuôn, chúng tôi nhận được 6000 MK của một ân nhân sinh quán tại tỉnh Quảng Trị (muốn ẩn danh) giúp mua một máy mổ mắt cườm để chữa miễn phí cho đồng bào vùng Quảng Trị.

     Ngoài những chương trình nêu trên, Giao Điểm cũng cổ động chương trình đào giếng và cúng Tượng Quán Thế Âm đến một số tỉnh ở miền Bắc, phát động phong trào trùng tu Chùa làng để duy trì các di tích văn hóa dân tộc bị bỏ quên.  Phí tổn trùng tu mỗi Chùa khoảng từ một đến hai ngàn Mỹ Kim. Đến nay, chúng tôi mới chỉ vận động trùng tu được 8 Chùa vùng Quảng Trị trong đó có 2 Chùa do đạo hữu Đặng Thị Hòa Bình cúng dường.

     Bác sĩ Hội trưởng Trần Quý Nhu và phu nhân cũng đã gửi đến Giao Điểm số tiền 18 ngàn Mỹ Kim để trùng tu một cảnh Chùa cho người sắc tộc, nhưng hiện giờ chúng tôi chưa có thì giờ xúc tiến.

     Trong tất cả các công tác từ thiện tại quê nhà cũng như điều hành các chương trình, chúng tôi, dĩ nhiên, là không những làm tình nguyện không lương mà còn phải đóng góp thêm để các chương trình được tiến hành tốt đẹp hơn.  Chúng tôi thường bảo nhau là “Chúng ta làm từ thiện không phải là tu hạnh bố thí mà tu hạnh cúng dường”.  Biếu sữa biếu thuốc đến trẻ em, đến quý cụ già và người cần giúp, chúng tôi cũng thịnh trọng và cung kính như cúng dường các vị Phật sẽ thành vậy.  Và đồng tiền trợ giúp của quý ân nhân, chúng tôi rất cẩn trọng và thận trọng chi tiêu đúng đối tượng và tận tay đồng bào để khỏi phụ lòng giúp đỡ và tin tưởng của quý vị cũng như tránh tạo nghiệp xấu.”      

     Đến đây, chúng ta đã thấy rõ nhân cách và những thủ đoạn xảo quyệt của Võ Văn Ái trong mánh mưu chụp mũ vu khống Giao Điểm, đặc biệt là xuyên tạc Hồng Quang và Trần Chung Ngọc.  Tại sao Võ Văn Ái phải làm như vậy?  Thật là dễ hiểu, bởi vì Giao Điểm đã hơn một lần vạch ra bộ mặt thật của Võ Văn Ái: ăn tiền làm tay sai cho ngoại bang, và tung ra những thông tin bịa đặt mà hậu quả là có tác dụng phá Đạo thay vì hộ Đạo. 

     PTTPGQT ra đời năm 1992, tự cho là Cơ Quan Thông Tin Và Phát Ngôn Của Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, nhưng tôi không hiểu Viện Hóa Đạo có ra văn kiện nào để thành lập PTTPGQT và cử Võ Văn Ái là Giám đốc, Penelope Faulkner làm Phó Giám đốc hay không, và nếu có thì ai là người quyết định việc này, cá nhân quyết định hay tập thể quyết định.  Nên nhớ, Viện Hóa Đạo còn có Viện Hóa Đạo II ở ngoại quốc. Quỹ nào của GHPGVNTN dùng để điều hành PTTPGQT?  Tôi có cảm tưởng là Viện Hóa Đạo chẳng có thẩm quyền gì đối với PTTPGQT, tất cả đều do Võ Văn Ái tự tung tự tác, với điều hiển nhiên là Võ Văn Ái càng ngày càng làm mất mặt GHPGVNTN qua những thủ đoạn mánh mưu bất xứng với cương vị Giám Đốc PTTPGQT, càng ngày càng lộ rõ trước công luận.

     Quý Thầy trong GHPGVNTN ở bên nhà có thể không biết đến bộ mặt thật của Võ Văn Ái, nhưng chẳng lẽ các Thầy trong GHPGVNTN-Hải ngoại cũng lại không biết đến tiếng tăm và những thủ đoạn của Võ Văn Ái hay sao?

     Quý Thầy chắc tưởng rằng Võ VănÁi hết lòng vì Đạo Pháp, hết lòng vì GHPGVNTN?  Nhưng qua bao năm rồi, Võ Văn Ái đã lợi dụng danh vị của quý Thầy, đưa ra những thông tin lừa dối, kéo quý Thầy vào con đường chính trị chống đối cực đoan với ảo tưởng là Võ Văn Ái có hậu thuẫn quốc tế rất mạnh ở ngoài.   Võ Văn Ái cần nuôi dưỡng sự chống đối của quý Thầy cho cái danh GHPGVNTN, chẳng phải là vì Giáo hội mà chỉ vì tư lợi, mỗi năm kiếm cả gần trăm ngàn đô la của NED, theo chỉ thị của NED, sử dụng vũ khí dân chủ, tự do tôn giáo và nhân quyền để đánh phá Việt Nam.  Muốn đánh phá Việt Nam thì cần chất liệu, mà chất liệu nằm trong sự chống đối của quý Thầy.  Tôi không nói là quý Thầy không nên tranh đấu, nhưng tranh đấu có nhiều cách, tranh đấu theo đường lối của Võ Văn Ái chỉ đi đến phá sản.

     Những thông tin bịa đặt, xuyên tạc, phóng đại mà PTTPGQT tung ra trên thực tế đã làm tổn hại đến uy tín của cá nhân và GHPGVNTN rất nhiều.  Sau đây là vài vụ điển hình:

1.                 Võ Văn Ái tung tin láo, tố cáo Nhà Nước xâm nhập lãnh thổ Cambod bắt cóc TT Thích Trí Lực và HT Quảng Độ cũng phụ họa tố cáo theo.  Nhưng sự thực lại không phải như vậy, như Trần Thanh Hải đã kể rõ trong bài Vòng Tục Lụy: Thích trí Lực (Phạm Văn Tưởng) đã hoàn tục trên 10 năm, lấy vợ, ly dị vợ, lấy vợ khác, trốn sang Cambod, về đón vợ nên bị bắt..

2.                 Trước đây, trong bài “Nhận Định..” của HT Thích Quảng Độ, Võ Văn Ái đã đặt vào miệng HT một câu nói mà tôi đã trích dẫn trong một phần trên, làm giảm uy tín cá nhân của HT cũng như giảm uy tín của GHPGVNTN rất nhiều.

3.                 Võ Văn Ái cũng còn tố cáo TT Tuệ Sỹ là không được minh bạch trong vấn đề sử dụng tiền cứu trơ lũ lụt ở ngoại quốc gửi vê [Xin đọc bài Vòng Tục Lụy của Trần Thanh Hải]

4.                 Gần đây, Võ Văn Ái lại tung ra bài “Vài Lời Với Nhóm Giao Điểm”, nói là của TT Thích Phước Viên, một bản văn kém cỏi về lý luận, văn phong bất xứng, và thiếu đạo đức trong đó.

5.                 Những hoạt động của Võ Văn Ái với tiền và chỉ thị của cơ quan NED làm cho GHPGVNTN mang tiếng là nằm trong quỹ đạo của bàn tay lông lá dù GHPGVNTN tự thân trong sạch.

      Qua sự phân tích TCBC ngày 13.1.2004 của PTTPGQT ở trên và qua những sự kiện trình bày trong bài viết này, một câu hỏi được đặt ra:  Võ Văn Ái thực ra là người như thế nào, những TCBC của PTTPGQT nhằm mục đích gì,  có phải là để hộ trì hay bảo vệ Chánh Pháp hay thực tế chỉ là ôm giữ PTTPGQT làm chỗ ẩn núp của Ma Vương (ý của TT Tuệ Sỹ trong bức “Tâm Thư”).  Hi vọng GHPGVNTN cũng như mọi người chúng ta đều có thể tìm được câu trả lời không xa với sự thật.

          Viết xong tại Grayslake, Illinois
          Ngày mồng 7 Tết, Giáp Thân

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

Modified by Web Giaodiem

CThe best: set screen res. 1024 x 768 | Browser IE v. 5.0 or higher | mail: set Outlook Exp. [copyright:MedSoft]

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net