105-world.gif (4136 bytes)

posted: 21.1.2005

          Tham Nhũng ở Mỹ

việt thường đỗ hữu chí  

                     Có lẽ người đã đưa ra nguyên-tắc chính-xác nhất về tham-nhũng là John Acton, nhà sử-học kiêm chính-trị-gia người Anh: “All power tends to corrupt and absolute power corrupts absolutely”. (1) Tạm dịch là: “Quyền-lực thường tạo tham-nhũng và quyền-lực càng to tham-nhũng càng tệ.” Bên cạnh nguyên-tắc này, chúng ta có hai câu châm-ngôn Việt và Tàu có thể giúp nhận-diện dễ-dàng “bản-chất và hiện-tượng” của tham-nhũng: “Một người làm quan, cả họ được nhờ” và “Dĩ công vi tư”.   

Lịch-sử loài người cho thấy tham-nhũng đã có từ thời xưa đến thời nay, từ bên ta qua bên tây, từ chỗ buôn bán đến nơi thờ phượng. Sự-kiện thực-tế này đưa đến một kết-luận đáng buồn theo giọng cụ Khổng là: “Nhân chi sơ, tính bản tham-nhũng”. Điều nầy cũng không đáng ngạc-nhiên vì ông Phật cũng đặt nó lên hàng đầu của ba tính xấu “tham, sân, si” làm khổ con người.

Tham-nhũng xấu như vậy thì phải diệt. Thông-điệp đầu năm 2005 cuả Thủ-tướng Phan Văn Khải cũng nhấn mạnh điều này. Nhưng với căn bệnh này, chưa có quốc-gia nào chữa trị được cho dứt điểm. (Trong bảng báo-cáo năm 2004 của Transparency International, nước tham-nhũng nhiều nhất là Haiti [CPI = 1.5/10] và nước tham-nhũng ít nhất là Phần Lan [CPI = 9.7/10] (2). Để tìm ra càch chữa một căn bệnh, phương-thức hữu-hiệu nhất thường là nghiên-cứu con bệnh nào bị nặng nhất, để thấy được nguyên-nhân và tiến-trình căn bệnh một cách đầy-đủ và rõ-ràng. Với bệnh tham-nhũng, con bệnh nặng nhất trên thế- giới hiện nay, theo nguyên-tắc kể trên cuả John Acton, dĩ- nhiên là cường-quốc Hoa-Kỳ.

Điều hiễn-nhiên là hiện nay nước Mỹ có nhiều quyền-lực nhất về hai mặt quân-sự và kinh-tế. Tuy có một mối tương-quan rất chặt chẻ giữa hai mặt này và mặt chính trị, mặt thứ ba này mới là mặt có nhiều quyền-lực nhất trong cả hai phạm-vi quốc-nội và đối-ngoại. Do đó, bài này chỉ sẽ giới-hạn trong tham-nhũng chính-trị. Chính-trị nước Mỹ đặt cơ-sở trên nguyên-tắc  phân-quyền phối-hợp với nguyên-tắc “phối-kiểm và cân-bằng” (checks and balances). Nghĩa là quyền cai-trị quốc-gia được chia làm ba phần và mỗi phần-quyền này có quyền “phối-kiểm và cân-bằng” với hai phần-quyền kia. Người Mỹ đã “ba cây chụm lại” như vậy từ năm 1776 cho đến ngày nay “thành hòn núi cao” ai ai cũng nể phục.

Nhưng có thật là ba quyền Hành-pháp, Tư-pháp và Lập-pháp này được phối- kiểm và cân-bằng đến mừc trở nên trong sạch không một vết tham-nhũng? Bảng báo-cáo năm 2004 của Transparency International cho CPI của nước Mỹ được 7.5/10 (hạng 17 trong 223 quốc gia). Nếu đo-lường mức-độ tham-nhũng bằng dollar thì số điểm 7.5/10 trở nên qúa rộng lượng cho nước Mỹ. Ta hãy nhìn vào nạn tham-nhũng trong từng phần-quyền qua một số sự-cố mới nhất đã được báo chí khui ra.

Lập-Pháp: Theo câu “Một người làm quan, cả họ được nhờ”, báo Los Angeles Times ngày 19/12/04 đã tiết-lộ bà Dân-biểu Maxine Waters (California) có chồng Sidney Williams, con trai Edward, và con gái Karen đã được các công-ty tư-nhân trả hơn 1 triệu Đô trong năm 2003. Bài báo kể rõ tên các công-ty, cách thức trả tiền (trực-tiếp, gián tiếp, công-khai, bí-mật) và số tiền được trả theo lịch-trình nào, tại địa-phương hay thủ-đô.

Ngoài ra, trong 18 tháng vừa qua, tờ báo này cũng đã đăng những loạt bài về tham-nhũng của 11 vị đại-diện dân đã cho “cả họ được nhờ” như sau:

Thượng-nghị sĩ Barbara Boxer (California) và con trai.
Thượng-nghị sĩ John Breaux (Louisiana) và con trai.
Thượng-nghị sĩ Tom Daschle (South Dakota) và vơ..
Thượng-nghị sĩ Orrin Hatch (Utah) và con trai.
Thượng-nghị sĩ Trent Lott (Mississipi) và con trai.
Thượng-nghị sĩ Harry Reid (Nevada) và hai con trai và em rể.
Thượng-nghị-sĩ Ted Stevens (Alaska) và con trai và anh rể.
Dân Biểu  Dennis Hastert (Illinois) và con trai.
Dân Biểu Nich Rahall (West Virginia) và chị.
Dân Biểu William Tauzin (Louisiana) và con trai.
Dân Biểu Curt Weldon (Pensylvania) và con gái.

Hành-Pháp: Từ năm 2000, khi ông George Bush đắc-cử Tổng-Thống cho đến bây giờ, đã có khoảng 40 cuốn sách nói về sự tham-nhũng của gia-đình này. Chưa kể vô số bài viết trong các báo hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng đứng đắn và nhiều độc-giả. Tác-giả của những sách và bài báo này gồm các ký-giả, giáo-sư đại-học và cả nhân-viên trong chính-quyền. Trong số sách này, có 17 cuốn được lên bảng danh-sách bán chạy nhất nước Mỹ của hai nhật báo lớn nhất miền Đông và Tây: New York Times và Los Angeles Times (3). Những lời tố-cáo này đi từ phương-diện cá-nhân (dựa thế-lực của gia-đình để trốn quân-dịch, tránh bị gửi đi Việt-Nam) cho đến phương-diện quốc-gia (liên-hệ khai-thác dầu hoả với hoàng-gia Saudi Á-rập và gia-đình Bin Laden). Gia-tài của Tổng-thống Bush được ước-tính khoảng 15 triệu Đô (4).  Một hình-thức “dĩ công vi tư” khác của ông Bush là dùng công-quỹ để mua phiếu cùa người Mỹ gốc Phi-châu (thường là những người bầu phiếu cho đảng Dân-chủ.) Cách “mua” của ông Bush là cấp tiền cho những cơ-sở từ-thiện thuộc các nhà thờ Ki-tô của dân Mỹ gốc Phi-châu. Trường hợp điễn-hình là Giám-mục Sedgwick Daniels. Ông Giám-mục này đã từng bỏ phiếu cho Clinton và Gore, nhưng năm 2004, lại bỏ phiếu cho Bush sau khi ông này cấp 1 triệu rưỡi Đô cho nhà thờ của Giám-mục Daniels. Trong năm 2003, chính-quyền Bush đã cấp hơn 1 tỉ Đô cho các cơ-quan từ-thiện tôn-giáo (5). Ông Phó Tổng-thống Dick Chenney cũng bị báo chí tố cáo tham-nhũng qua đại công-ty Halliburton (chỉ trong một năm 2003 đã thu được 3 tỉ 400 triệu Đô từ cuộc chiến Iraq (6)  mà ông Chenney đã làm Tổng-giám-đốc ngay trứơc khi nhảy qua làm phó cho ông Bush). Khi bị Thượng-nghị-sĩ Patrick Leahy chất-vấn về chuyện lem-nhem của công-ty Halliburton, câu trả lời của ông Phó Tổng-thống Chenney là: “Go fuck yourself”. Bị dư-luận chê trách ông đã dùng ngôn ngữ hạ-cấp, ông trả lời không hối-hận gì về lời chửi tục-tỉu này với một Thượng-nghị-sĩ tại Quốc-Hội. Toàn bộ nội-các của chính-quyền Bush đã không có một phản-ứng nào với tư-cách thấp kém này của ông Phó Tổng-thống. Khi đầu óc chỉ nghĩ đến tiền thì đầu óc không còn chỗ cho văn-hoá nữa.

Tư-Pháp: Cơ-quan pháp-lý quyền-lực nhất nước Mỹ là Tối Cao Pháp Viện (TCPV) gồm chín vị Thẩm-phán tại-vị suốt đời sau khi được Tổng-thống tấn-phong và Quốc-Hội phỏng-vấn và chấp-thuận. Vì nhiệm-vụ chính cuả TCPV là diễn-dịch Hiến-Pháp nên những vụ án ra trước Toà này thường liên-hệ đến các định-chế hơn là các cá-nhân. Điều này giải-thích tính-chất tương-đối trong sạch của TCPV vì có ít cá-nhân để chạy chọt hối lộ.

Đầu năm 2005, Thẩm-phán Clarence Thomas xác-nhận là ông đã nhận quà cáp trị giá khoảng 50 ngàn Đô kể từ khi nhậm chức. Trong số này, khoảng 1200 Đô là tiền để mua bánh xe!

Đầu năm 2004, Thẩm-phán Antonin Scalia dùng máy bay riêng  để đi săn vịt trời trong 3 ngày ở Louisiana với Phó Tổng-thống Dick Chenney trước khi xử một vụ án có liên-quan đến ông Chenney. Khi bị sinh-viên đại-học Amherst chất-vấn về sự vô-tư cần-thiết của ông thẩm-phán, đại-khái, ông đã cãi chầy cãi cối rằng đây là một vụ kiện có liên-hệ đến một cơ-quan chính-quyền do ông Phó Tổng-thống cầm đầu. Còn cá-nhân ông Chenney là một người bạn mà ông thích đi săn chung, không liên-hệ gì đến vụ kiện. (7)

Ông Thẩm-phán Scalia này cũng có một người con là Luật-sư Eugene Scalia đã làm việc trong nhóm luật-sư ở Florida được ông Bush thuê để biện-hộ cho liên-danh Bush-Chenney hầu thuyết-phục TCPV (có ông Scalia cha) ra lệnh ngừng kiểm-soát phiếu ở Florida để  hai ông Bush và Chenney được đắc cử năm 2000.     

Từ những trình-bày trên đây, hai câu hỏi quan-trọng được đặt ra:

1. Trong khi những nước khác đã sụp đổ, dù có mức-độ tham-nhũng thấp hơn Mỹ về cả phẩm lẫn lượng (như nước Tàu của Tưởng Giới Thạch, như  Việt-Nam Cọng-Hòa của Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, như nước Iran của Shah Pahlavi ), vì sao nước Mỹ tham-nhũng tệ như vậy mà càng ngày càng mạnh? Dựa trên lý-thuyết dân-chủ căn-bản của Hiến-pháp Mỹ cọng với thực-tế đối ngoại của đế quốc Mỹ, câu trả lời nằm trong khối nạn-nhân của tham-nhũng Mỹ. Lực-lượng quần-chúng này không phải là người dân trong nước Mỹ mà là dân của những nước Nam Mỹ, Á châu (do tham-nhũng kinh-tế của Mỹ) và là dân của Phi-châu, Trung-Đông (do tham-nhũng quân-sự của Mỹ). Những nạn-nhân này ở quá xa, quá rời rạc và quá yếu để có thể ảnh-hưởng đến chính-trị của siêu-cường này. 

2. Vì sao trị tham-nhũng khó khăn như vậy? Lý-do cơ-bản làm cho tham-nhũng khó trị như vậy là vì một mâu-thuẩn nội-tại: Nếu ta đồng-ý rằng “quyền-lực tạo tham-nhũng” thì một nguyên-tắc căn-bản khác sẽ làm ta rất phân-vân: “Chỉ có quyền-lực mới kiểm-soát được quyền-lực”. Một thí-dụ rất điễn-hình là vai trò của báo chí. Một trong những yếu-tố đầu tiên và quan-trọng nhất để chống tham-nhũng là báo chí được quyền tự-do ngôn-luận. (8)  Quyền này giúp mọi người có được đầy-đủ tin-tức để biết được rõ ràng quyền-lực đã và đang được xử-dụng như thế nào. Nhưng khi báo chí có quyền này thì có những ký-giả, chủ báo bị ra toà vì lạm-dụng quyền tự-do ngôn-luận để tống tiền.

Vậy thì có cách gì để giải-quyết những tệ hại của vấn-đề tham-nhũng?

Trong khi đi tìm câu trả lời thích đáng cho vấn nạn này, ta có thể nhìn vào một tệ-nạn xã-hội khác cũng rất lâu đời, rất bành-trướng và cũng rất khó giải-quyết nhưng đã được nhiều chính-quyền ngăn chận khá hữu-hiệu (kể cả ở Mỹ). Đó là nạn đĩ điếm.  Nguyên-tắc chỉ-đạo trong việc ngăn chặn nạn đĩ điếm là “kiểm-soát” thay vì “tiêu-diệt”. Tương-tự như người tu-hành chỉ dám nói “tiết dục” thay vì nói “diệt dục”, ở đây thay vì “diệt tham-nhũng” ta có nên nói “hãy tham-nhũng một cách thông-minh” hoặc “ hãy tham-nhũng điều gì tồn tại được lâu nhất” (như uy-tín, như danh-dự, như tiếng thơm trong lịch-sử)?

Trong cuốn sách về Phật-giáo áp-dụng “An End To Suffering” (Farrar, Straus & Giroux, 2004), tác giả Pankaj Mishra  đã nhắc đến tác-phẩm chính-trị-học cổ-điển “Dân-chủ ở Mỹ” của Alexis de Tocqueville đã dự-đoán,  từ năm 1840, một cách chính-xác và sâu sắc rằng nước Mỹ sẽ cần có một  giá-trị tinh-thần để giải-quyết những tai-họa gây nên bởi sự quá độ của chủ-nghĩa cá-nhân và vật chất  (9) thì mới mong thoát khỏi ngày tàn của đế-quốc.

Tài-liệu tham-khảo:

(1)  John Acton. Thư gửi Giám-mục Mandell Creighton ngày 3 (hoặc 5) tháng 2, năm 1887.
(2)  CPI là viết tắt của “Corruption Perception Index”  (Chỉ-số Nhận-thức Tham-nhũng)
(3)   “Unfit Commander: Texans for Truth Take on George W. Bush” của Glenn W. Smith
The Family: The Real Story of the Bush Dynasty” của Kitty Kelley.
American Dynasty: Politics of Deceit in the House of Bush” của Kevin Phillips
House of Bush, House of Saud” của Craig Unger
The Bush: Portrait of a Dynasty” của Peter Schweizer, Rochelle Schweizer
Bushworld: Enter at Your Own Risk” của Maureen Dowd
Losing America: Confronting a Reckless and Arrogant Presidency
của Robert Byrd (Thượng Nghị Sĩ)
Imperial Hubris: Why the West is Losing the War on Terror” của Michael Scheuer
The Secret Presidency of George W. Bush” của John W. Dean
The Politics of Truth” của Joseph Wilson (Đại sứ)
A Pretext for War” của James Bamford
Rise of the Vulcans: The History of Bush’s War Cabinet” của James Mann
Thieves in High Places” của Jim Hightower
Against All Enemies” của Richard A. Clark (Cố-vấn An-Ninh cho 3 Tổng-thống)
Bushwacked: Life in George W. Bush’s America” của Molly Ivins
Lies: and the Lying Liars Who Tell Them” của Al Franken
Dudes, Where’s My Country” của Michael Moore

(4) http://www.forbes.com. Trước khi lên làm Tổng-thống, ông Bush khai với sở thuế lợi-tức năm 1998 là 18,405,524 Đô (và đã phải đóng 3,772,252 Đô là 20.5% tổng-số lợi-tức). 

(5)   Los Angeles Times ngày 18 tháng 1 năm 2005, Trang 1..

(6)  “Iraq War is boon for Halliburton “ by Carl Hiaasen – Miami Herald Tribune, ngày 22/2/2004 (“The war has been a spectacular boon for Halliburton, which last year raked in $3.4 billion for its work in Iraq -- about 20 percent of the company's total revenue, according to Bloomberg News.”)

(7)  CBSNews.com Feb. 11/2004 (“It did not involve a lawsuit against Dick Cheney as a private individual," Scalia said in response to a question from the audience of about 600 people. "This was a government issue. It's acceptable practice to socialize with executive branch officials when there are not personal claims against them. That's all I'm going to say for now. Quack, quack."

(8)  Transparency International: “The power of information: Training Young Journalists in Uganda”.

          http://www.transparency.org/toolkits/index.html

(9)    “The Buddha Antidote” by Jeffrey Paine – L.A. Times 01-09-05

           In “Democracy in America,” Tocqueville argued that to escape destruction, America required a spiritual counterweight to offset its rampant individualism and materialism.  Mishra observes that “Buddhism in modern America often seemed to have . . . the same role Tocqueville thought religion had once played in early American civil society.”

 

     


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com