105-world.gif (4136 bytes)

posted: 25.01.2005

            MINH MẪN

I. NHẬN DIỆN QUÊ HƯƠNG

thay Nhat Hanh ve Saigon  Theo chương trình, đoàn PG quốc tế do HT. Thiền sư Thích Nhất Hạnh sẽ đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất vào lúc 9 giờ sáng ngày 23/01/2005 (tức 14/12/ Giáp Thân), TP/ HCM, nhưng mãi đến hơn 10 giờ mới hoàn thành thủ tục ra khỏi phòng cách ly, về đến Pháp Vân hơn 11 giờ.

Gần 2 tuần, thành hội PG thành phố H.C.M họp các quận huyện, ban tôn giáo để hoạch định chương trình đón tiếp. Việc đón tiếp đoàn PG quốc tế chủ yếu do nội bộ PG trách nhiệm, có lẽ chưa quen lể tân đối với một tầm vóc quốc tế như vậy, thành hội lúng túng và hạn chế thành phần tham dự, nói khác hơn, không phổ biến rộng rãi, thế nhưng quần chúng, những ai được biết đều tham gia rộng rãi một cách tự phát. Do vậy, trước số lượng trên dưới năm ngàn người có mặt tại phi cảng, thiếu tổ chức, ngoài dự đóan, có vẽ mất trật tự, nhưng quá hồ hởi. Phần lớn, những người tham gia đón tiếp chưa ai biết mặt hoặc biết rõ quá trình công đức to lớn của HT đối với PG nói chung và PGVN nói riêng. Cảm động nhất, nhiều tu sĩ và phật tử ở các tỉnh xa đều về thật sớm, trước một ngày, nằm lây lất để chờ nhận diện một Thiền sư, chả bù lại, ngày 12/01/2005 tại phi trường quốc tế Nội Bài, dưới cái lạnh 12 độ mùa Đông vào tờ mờ sáng, 7 giờ, đoàn đáp xuống, chỉ có thầy Nhiễu và thầy Nhã thành viên của GH ra đón, trong khi đó Hội Đồng Trị Sự Trung Ương có mặt tại Sài gòn để dự phiên họp thường niên ( chả hiểu khi vạch chương trình đón tiếp và làm việc, HĐTS và ban tôn giáo, có xét đến chương trình thường niên nầy hay không ). Rất may, gần bốn trăm tu sĩ từ Huế trên bảy chiếc xe ra nghinh đón kịp thời, nếu không, thế giới nghĩ gì về một lể tân của VN đối với một danh nhân thế giới, đồng thời là một nhà văn hóa, xã hội, đạo đức từng được các nguyên thủ quốc gia kính cẩn bái phục.

Trong cái rét đầy sương mù hừng đông của miền Bắc, sinh hoạt tại phi trường như lắng đọng, chậm chạp, lể nghi không có, đoàn được tiếp trong căn phòng hẹp của nhân viên phi trường trên bộ salon cũ kỹ, gương mặt trầm tư không biểu lộ buồn vui của một thiền sư, ai hiểu Ngài cảm nghĩ thế nào về một VN thời đổi mới, một chế độ nhiều tai tiếng, một thời tên tuổi sự nghiệp của Ngài là điều tối kỵ đối với họ, nhưng những tăng thân làng Mai và các phật tử của 30 nước tháp tùng, có lẽ họ phút chốc bị hụt hẩng mà chỉ vài giờ trước đó, trên máy bay đi vào không phận VN, họ phấn khởi sẽ tận mắt nhìn thấy rừng cờ nghinh đón tại Thủ đô đối với họ. Nhưng không, với đời sống chánh niệm, họ không có tự mãn hay thất vọng, vì thầy họ, một thiền sư danh tiếng lẩy lừng luôn cưu mang một hình ảnh dân tộc. Ngài thích thú nhìn cảnh đồng áng, nông phu và con trâu trên đồng lúa, đôi quang gánh trỉu nặng rau quả từ thôn làng gánh ra chợ, nhà cửa, cây cối trên đất nước yêu thương đang tuần tự diễn ra trên suốt quảng đường từ sân bay Nội Bài về chùa Bồ Đề. Một Thăng Long cổ kính hiện ra trong tâm trí, một mãnh đất oai hùng từng thắng ngoại xâm... những tự hào dân tộc đó, an ủi Người và đoàn trước những thiếu sót đáng tiếc. Và thay vì sau hai ngày về Hà Nội, Ngài sẽ thăm viếng HĐTSTU/PG và Ban tôn giáo chính phủ theo dự kiến, đành dời chương trình đến ngày 17 mới thực hiện. Mười ngày trên Thủ đô, Ngài và đoàn đi thăm chùa Dâu ( trung tâm PG Luy Lâu sáng lập vào đầu kỷ nguyên), chùa Phật tích, chùa Thầy, chùa Trấn Quốc, Chùa Lý Triều Quốc Sư... Bấy nhiêu danh lam Phật tích cũng đủ để ngài mãn nguyên bấy lâu mà qua sử sách biên soạn, ngài đã gởi gấm tình cảm. 

Sau khi điểm tâm, lúc 4giơ30 ngày 23/1/05, xe lăn bánh rời chùa Bồ Đề ra phi trường Nội Bài. Tuy 7giờ cất cánh, nhưng do thời tiết sương mù nên máy bay đến phi trường Tân Sơn Nhất muộn hơn dự tính. Buổi sáng   mùa Đông, Sàigòn hơi se lạnh nhưng cũng còn ấm hơn Hà Nội, 25 độ trên hàn thử biểu, hàng ngàn người hân hoan dưới ánh mặt trời, nôn nóng hướng vào bên trong phòng kính. Đôi tàng lọng ren vàng và bàn hương áng khuất lấp hình ảnh nhỏ thó, khuôn mặt đăm chiêu của Ngài, nhưng càng làm tăng hào quang uy danh phủ khắp AⵠÁ của Người. Nếu mà, thành Hội PG/TpHCM và Ban tôn giáo phổ biến rộng rãi cho sự đón tiếp, chắc chắn ngàn năm một thuở, uy tín nhà nước VN đối với tôn giáo ngày nay phải làm cho thế giới đổi giòng suy tư. Tuy Sài gòn khác hơn Hà Nội về sự đón tiếp, tinh thần PG đồ đối với một cao tăng không suy giảm, nhưng tầm vóc của một thiền sư quốc tế, một danh nhân thế giới, không chỉ cần muôn lòng như một của tín đồ mà còn cần một lể tân xứng đáng cho một  nguyên thủ phi chính phủ từ phía chính phủ phi tôn giáo. Cổ nhân xét đóan việc chiêu hiền đãi sĩ để đánh giá trình độ của giới lãnh đạo quốc gia, có muộn chăng để bổ sung sự ái mộ khi thiền sư và đoàn còn lưu trú tại VN trong ba tháng! Sáng nay, người Phật tử Sài gòn ghi nhận sự chiếu cố của ngành giao thông và an ninh trên suốt lộ trình từ Phi trường về chùa Pháp Vân, HT và đoàn có dịp chứng kiến cảnh sinh hoạt thường nhật của một VN thời mở cửa khi sự tưởng tượng của HT về VN qua 40 năm xa cách trên sách báo! Chắc chắn Ngài không nhìn ra một Sài Gòn ngày nay mà năm 1967 ra đi, thành phố còn loang lổ thương tích chiến tranh. Ngài không nhận ra những đồng đạo hàng con cháu, những tín đồ hàng hậu học mà những ngày Ngài còn ở VN, họ chưa xuất hiện. Bây giờ, tất cả đều giành cho Ngài một phần trái tim đầy ngưỡng mộ, tôn kính, để rồi đây, những đồng song của Ngài sẽ tạo sự dể dàng  trong giao tiếp hay do mặc cảm để Người sẽ cảm nhận một khó khăn cho bước chân chuyển hóa. Tu sĩ và tín đồ tại VN cũng như ở Hải ngoại biết chắc một điều, uy tín của Ngài luôn vượt trội và trên những ai còn tranh chấp để PGVN ngày nay bị lụn tàn, những ai còn manh tâm chống đối sự có mặt của Ngài tại VN lúc nầy, hãy nghĩ lại một quyền lợi dân tộc, một tương lai phục hưng PG mà quên đi hận thù, tự ái, và Ngài cũng không bận tâm trước những xuyên tạc bởi những ác ý trong chuyến đi nầy, vì Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật, hành hoạt trong cuộc đời của Người đã nói lên điều đó, tuy rằng cũng lắm hiểu lầm cho một Thiền sư !

Một luận điệu cho rằng Thiền sư về VN chỉ mục đích truyền bá tinh thần tu học của ngài như làng Mai làng Hồng ở hải ngoại, vậy có gì không tốt? Ai đã được như Ngài đem lại thông cảm, tình thương cho cuộc sống nhiều ngờ vực lẫn nhau trong kỷ nguyên hiện tại, ai đã xoa dịu khổ đau, bù đắp thiếu thốn cho xã hội, biết lắng nghe từ mọi phía mà lúc còn thanh niên tăng, Người cùng sinh viên vào vùng xôi đậu để viết lời chúc xuân cho nhân dân nằm giữa hai lằn đạn tại ven Đô, và vô số việc làm đầy trí tuệ đã mang lại hạnh phúc không ít cho nhân loại ngày nay.

Cũng có luận điệu bảo rằng Ngài về VN để rửa mặt cho một thể chế, tại sao không nghĩ quyền lợi lớn lao của một dân tộc và của PGVN hiện nay trước họa xâm lăng văn hóa ngoại lai và sự tha hóa đạo đức hiện nay trong đất nước?

Tấm thân nhỏ bé, gương mặt khắc khổ, ánh mắt trầm tư chứa đầy nghị lực đó, với mãnh nâu sòng và đôi bàn tay trắng đã làm rung chuyển các quốc gia trên tinh cầu, chắc chắn VN sẽ diễm phúc được Ngài tái tạo một đời sống tâm linh mà gần 5 thế kỷ bị băng hoại văn hóa và đức tin. Người đang nhận diện lại quê hương, nhận diện lại cái Cần và Đủ để thiết lập tình người, làm cơ sở cho một nền văn hóa dân tộc cho con đường Toàn Cầu Hóa mà không một quốc gia nào tránh khòi. Mỗi quốc gia trong khu vực đang tự mình tìm về bản sắc dân tộc, VN kịp thời đón nhận sự có mặt của Ngài, chắc chắn là điều khôn ngoan, nhưng khôn ngoan hơn nữa là phong cách chiêu hiền đãi sĩ, đãi ngộ tương xứng với tầm vóc của ngài, uy tín VN sẽ tăng theo tỷ lệ thuận, bằng ngược lại, muốn giảm tầm vóc của Người tại VN, nó sẽ được nâng cao gấp bội nơi hải ngoại, và VN sẽ bỏ lở cơ hội trọng dụng Hiền tài.

Đối với một số người, xem Thiền sư là một Đức Đạt Lai Đạt Ma của VN.

Đối với một số khác, Ngài là Giáo Hoàng của PGVN.

Nhưng với số đông, ngài là nguyên thủ của tình người, của đạo đức tâm linh là nghệ sĩ trên mặt trận văn hóa, nhà thiết lập một xã hội đồng hành giữa khoa học và tâm thức. Ngài luôn nhận diện chính mình trong từng hơi thở để hòa nhập cuộc sống làm một, nhận diện quê hương để thấy mạch máu Việt tộc đang cần đến trí tuệ,uy tín và đạo đức của Ngài, vì Người không muốn chính mình và PG đứng ngoài lòng dân tộc.      ( 23/01-2005 )

II. H.T. Thiền Sư T. Nhất Hạnh và Dấu Chân Chuyển Hóa

thay Nhat Hanh ve Tansonnhat   Ngày 12/1/2005, HT Thiền sư Thích Nhất Hạnh về VN sau hơn 40 năm biệt xứ đã trở thành sự thật. Một sự thật mà hàng triệu tín đồ PG VN hằng mong mỏi, riêng tự thân thiền sư cũng nhiều năm trăn trở yêu dân tộc, nhớ quê nhà!

A/   Mọi người đều biết, cái oan nợ lớn nhất đối với ngài là tình tự quê hương, cái oan nghiệt đến với ngài cũng là tình nhân loại, nghĩa đồng bào. Xuất thân từ một dân tộc nghèo, trên quê hương hiền hòa trầm uất, được giáo dục từ đạo đức PG, là nhân chứng của những cuộc chiến tàn bạo, bao đau thương liên diễn trên tấm thân rách nát của đồng bào mình... tình cảm dân tộc, lòng nhân người con PHẬT và ý thức của một bậc trí tuệ, ngài luôn cưu mang và hành xử một cách lợi ích cho xã hội; với tấm lòng nhiệt huyết đó, không ít sự hiểu lầm đến với ngài, dĩ nhiên nhiều bất trắc cũng đẩy ngài vào con đường không như ý. Khi mà cuộc chiến miền Nam VN vào thời kỳ quyết liệt, ngài thành lập trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, quy tụ sinh viên để làm công tác từ thiện, giúp đồng bào tái thiết nhà cửa, dọn dẹp những đổ nát sau cuộc chiến...nhưng không một phe lâm chiến nào hiểu rằng những động thái đó phát sanh từ lòng chân thành, ai cũng có quyền nghĩ rằng ngài, tổ chức của ngài là âm mưu của kẻ địch, từ đó máu của sinh viên đã đổ, trường Thanh niên Phụng Sự Xã Hội biến thành nghĩa địa của tám thành viên, rãi rác khắp đất nước là những người con thiện nguyện phi chính phủ gởi thân làm phân bón cho tình người phát triển; Hoa Sen Trong Biển Lửa, một quyển sách đánh thức lương tri của những phe lâm chiến, ra đời,  nói lên cái thảm trạng của người dân phải chịu trong cuộc chiến, mất mát, đau thương và tình người đánh đổi bởi lòng hận thù triền miên, đó là bộ mặt xấu muôn đời của bất cứ cuộc chiến nào. Nhưng cuộc hiến không thay đổi, đời sống của ngài phải đổi thay, ngài ra đi, lưu lạc xứ người trên 40 năm, cũng từ đó, ngài đem hạt giống trí tuệ của đạo Phật chuyển hóa con người trong xã hội công nghiệp, cơ giới, giúp những thế hệ đương thời tìm một điểm tựa bình an, thanh thảng nơi chính mình mà thế hệ cha anh họ đã bị hụt hẩng  khi Thần Học không đủ năng lực đáp ứng một cân bằng giữa cuộc sống khoa học thực dụng và đời sống tâm linh!

Không những trên lãnh vực đạo học, ngay cả xã hội, văn hóa, ngài cũng đóng góp không nhỏ. Sau 1975, nhiều Thuyền nhân bỏ mạng trên biển cả, vì lòng từ mà ngài chịu ác cảm, tai tiếng để cứu vớt họ, vốn dĩ ngài đã bị nhà nước VN có thành kiến, nghi ngờ, lại thêm ngờ vực cho công cuộc cứu trợ đó; với lòng thành của tình thương luôn bị hiểu sai lệch, để rồi, ngài tiếp tục giúp đở nhân dân tại quê nhà bằng những đồng tiền do chính ngài tạo ra, giáo viên vùng sâu, vùng xa, trẻ em nghèo thất học, người tù tội, học bổng cho những học sinh xuất sắc, tu bổ chùa chiền đình miếu, tái thiết làng quê, giúp tu sĩ PG có điều kiện ăn học, tóm lại, những ai cần giúp đỡ, ngài sẳn sàng, thế mà ngài vẫn có thời gian bắt tay vào công tác văn hóa, một bộ sử nổi tiếng: PHẬT GIÁO VIỆT NAM SỬ LUẬN ra đời, hàng trăm đầu sách mà nhà nước VN cấm lưu hành, bây giờ cũng được chính nhà nước VN xuất bản. Những tác phẩm danh tiếng như Hoa Sen Trong Biển Lửa, Hiện Đại Hóa PG, Nẽo Về Của Ý, Đường Xưa Mây Trắng...là những tâm hồn trong sáng, luôn có cái nhìn trước thời đại, hành xử trước thời đại, nên bị thời đại phủ phàng, xua đuổi.

B/    Gần 30 năm nước nhà thống nhất, VN mời ngài về, hiểu được tâm nguyện của ngài đối với quê hương, thông cảm thái độ đầy tình người một cách vô tư không thiên lệch của người, một ngôi sao sáng của dân tộc VN trên bầu trời Âu Tây đem lại nhiều lợi ích cho phần lớn nhân loại, các nước Cộng Sản như Trung quốc, Nga ... cũng biết trọng dụng cái ưu việt của ngài từ lâu, bây giờ VN mới thấy là chuyện khá muộn, nhưng cuối cùng cũng biết tận dụng những của báu mình có sẳn, để giúp gở rối những khó khăn mà do tính cố chấp, VN đang đối mặt!

Về công tác quản lý đất nước, một góc độ nào đó, VN thành công trong ổn định an ninh, trật tự, và sau ngày Liên sô sụp đổ, VN thay đổi chính sách điều hành đất nước, thay vì nghị quyết trung ương đảng trong đại hội sau ngày thống nhất đất nước là : với trình độ tiến bộ của nhân dân ta, không cần thông qua tư bản chủ nghĩa mà tiến thẳng lên xã hội chủ nghĩa, nghĩa là đốt giai đoạn để tiến mạnh tiến nhanh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng tình hình thế giới CS đã biến động, đảng CS của mỗi nước phải tự mình mò mẩm lối đi, không còn có sự chỉ đạo nhất quán của quốc tế, thay vì CS quốc tế, trở thành CS dân tộc, đề cao và phát huy bản sắc dân tộc, vừa có công với đất nước, vừa tìm sự tồn tại trong lòng nhân dân, VN khôn ngoan, biết tìm bạn bè năm châu, giao hảo với mọi quốc gia, không phân biệt thân thù, cho dù là cựu thù. Cái gọi là Việt Nam  - Trung Quốc như răng với môi, môi hở răng lạnh, vừa là đồng chí, vừa là anh em, có lúc đã sát hại nhau, và luôn rình rập xâm lăng từng tấc đất, cái họa sát nách đó, làm sao VN yên tâm, do vậy mở rộng bang giao quốc tế,vừa phát triển kinh tế, mậu dịch,vừa giữ thế cân bằng  và chủ quyền quốc gia, nhưng không hẳn vậy mà VN thuận buồm xuôi gió, bởi vì VN chưa quen những tập quán cần phải   có trong các xã hội tư bản, quy luật kinh doanh, phương thức cạnh tranh, thủ đoạn chính trị, và nhất là yếu tố nhân quyền và dân chuvì vậy thường bị tai tiếng và bị o ép nhiều mặt, nhưng với kinh nghiệm quản lý của CS, nếu không khắc khe sẽ khó có an ninh xã hội trong thời gian thật ngắn.

Trong tiến trình toàn câu hóa, VN càng gặp nhiều khó khăn hơn nữa, Vatican mượn tay phương Tây, gây sức ép về Tự do Tôn Giáo, buộc phải bang giao chính thức với Vatican như một quốc gia với một quốc gia chứ không phải một quốc gia với một tôn giáo nội thuộc. Đó là chiến lược vừa bảo vệ quyền lợi tu sĩ, tín đồ và giáo sản tại VN, vừa hợp thức hoá việc giáo vận, mở mang nước Chúa mà VN là mãnh đất mầu mỡ.   Hơn ai hết, CS VN hiểu rất rõ mầm mống đe dọa của Kitô giáo và các tôn giáo thần học nói chung đối với nhân loại, và VN trong suốt năm thế kỷ qua, khó mà hòa họp giáo lý Kitô với đạo lý Đông Phương như  Nho- Thích- Lão đã hòa nhập như nước với sữa, trên thế giới, các quốc gia bị Kitô hóa đều xóa sạch bản sắc dân tộc, nhưng thế chẳng đặng đừng, trào lưu tiến hóa. hội nhập buộc VN phải chọn vòng tay mở, không thể khép kín như 25 năm xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa tại miền Bắc VN trong thời chiến tranh lạnh, do vậy, để đối trọng với áp lực quân sự từ phương Bắc, VN bắt tay với phương Tây, giảm áp lực kinh tế và thương trường với các quốc gia trong khu vực, VN nối vòng tay lớn với các quốc gia Châu Phi, để thay đổi bộ mặt xã hội, VN phục hoạt các tôn giáo từng sinh hoạt trên đất Việt.

Đồng thời, để tránh tôn giáo bị lạm dụng do mưu đồ đen tối của các thành phần bất mãn, Mặt Trận có bổn phận kiểm soát mọi động thái của Tôn giáo, và nhất là trước khi xét đến bang giao với Vatican, VN cần củng cố nền đạo học cổ truyền, mà PG là đại biểu và dẫn đầu trong Tam giáo. Nhưng tiếc thay, do vụng về thống nhất PG trong buổi giao thời vừa giải phóng đất nước, đã làm rạn nứt nội bộ PG và tình cảm tín ngưỡng dân tộc, một vết nứt âm ỉ suốt 30 năm chưa được khắc phục. Nhiều lần, nhà nước muốn tạo điều kiện giải tỏa, nhưng bất thành, vì thành kiến, mặc cảm lẫn nhau qua 1ớn, chính quyền đã ngầm thỏa thuận để Đại lão HT Thích Huyền Quang tự do thay đổi nơi cư trú cách vùng quản chế trên trăm cây số, mà đáng ra, bất kỳ một ai bị quản chế không có quyền tự ý thay đổi, và sau đó là cuộc gặp gở với Thủ Tướng Phan văn Khải, những hứa hẹn tốt đẹp tiếp tục diễn tiến, nhưng, những gì xẩy ra sau đó, ta đã biết!

 Mỗi bên đều mang một tính cố chấp, chắc chắn nhà nước VN không muốn để tình trạng PGVN hiện nay kéo dài, vì tổ chức giáo hội đương nhiệm không đủ khả năng tạo uy tín cho chính mình thì làm sao đóng góp được gì cho dân tộc. Nhà nước muốn phục hồi tiềm lực PG để củng cố bản sắc dân tộc, làm rào cản trào lưu văn hóa  ngoại lai, làm nồng cốt cho tính tự tồn dân tộc trước nhiều sức ép của Toàn Cầu Hoá hay mục đích xử dụng PG như một lực lượng hậu thuẩn, điều đó tùy cảm nghĩ mỗi người, Nhưng dù với mục đích gì, phải để PG có một khoảng không gian thích hợp tự mình phát triển   tính hiệu quả vốn có, mặc dù ngày nay, nhà nước ít can dự vào nội bộ tổ chức PG, nhưng Giáo hội đương thời, vốn bản tính ù lì, ỷ lại, phe nhóm, cậy quyền, chờ đợi chỉ thị, không phát huy sáng tạo nên 30 năm vẫn chưa có một động thái xứng đáng mà chỉ 11 năm trong thời chiến PG đã làm được, vang dội thế giới!     Chưa nói đến uy tín tự thân của hàng giáo phẩm ngày nay, nó là chiếc bóng “bất đắc dĩ” của cán bộ nhà nước hiện tại. Vì vậy, muốn dựng dậy hình nộm đó, thổi luồng sinh khí mới làm sống lại thây ma chết dở sống dở, phải cần một nhân vật đủ uy tín và tầm cở, kết nối các nhân tố PGVN như một PG Trung quốc hiện tại, không nằm trong bất cứ phe phái nào, do vậy, nhà nước phải nghĩ đến HT Thiền sư T. Nhất Hạnh, vừa mang tầm vóc PG quốc tế, vừa là thần tượng của giới trẻ tại VN.

Nhà nước can đảm gạt bỏ những nghi ngờ, thành kiến về ngài, hẳn nhiên cũng phải có những thông tin tốt về người, suốt một năm, ngoài chuẩn bị, thăm dò do tòa Đại sứ VN tại Pháp thực hiện, những chuyến ngoại giao con thoi, và nhất là những đoàn tiền trạm của Làng Hồng, làng Mai đi về VN sắp xếp chương trình làm việc, nơi cư trú, lắm khi như bế tắc vì chưa thống nhất thỏa thuận, nhưng do lòng thành khẩn đôi bên, mọi sự được suông sẻ, một thái độ đầy thiện chí của chính quyền VN chưa từng thấy: xuất bản hàng trăm đầu sách của thầy mà 30 qua bị cấm đoán và tịch thu,  cho phép ngài diễn giảng nơi công cộng, chưa  từng có với bất cứ tôn giáo nào đang có mặt tại VN. Chính việc làm nầy nói lên thái độ cởi mở của nhà nước đối với tôn giáo, làm nhạt nhòa biến cố Tây nguyên của Tin Lành đòi tự trị, và rồi những báo cáo hàng năm của Liên Hiệp Aⵠchâu, của Liên hiệp Quốc , quốc hội Mỹ sẽ nói những gì về Tự Do Tôn Giáo tại VN?                                      

C/    Nhưng sự việc không đơn giản như vậy, vì hàng giáo phẩm VN không nhất quán với sự có mặt của HT tại VN bởi quan điểm chính trị hơn là tình cảm đồng đạo xa cách bấy lâu. Mỹ vẫn lớn tiếng bênh vực cho PGVN, nhưng tình trạng phân hóa của PG hiện nay không thể hàn gắn do nhà nước chủ động, vì quan điểm của HT Thich Quảng Độ nhất mực đòi ly khai PG khỏi Mặt trận Tổ Quốc VN, một yêu sách hợp lý nhưng nhà nước cảm thấy chưa hợp thời! Đó là một trong những bế tắc mà dể gì HT Thiền Sư Thích Nhất Hạnh có thể gặp gỡ để hòa giải, do thế, trước cả tháng khi HT Thích Nhất Hạnh về quê, đại sứ Mỹ tại VN đã thăm viếng HT Thich Huyền Quang và HT Thích Quảng Độ mở đường cho việc ổn định PG hầu củng cố xã hội VN theo chiến lược mới của nhà nước VN trong chiều hướng Toàn Cầu hóa diễn tiến.

D/    Tiềm lực PGVN vẫn chưa cạn nguồn, nhưng không biết tận dụng và khơi mở như những thế kỷ Lý Trần từ nhà nước. Chiến lược phục hồi PG có mang lại kết quả đến đâu còn tùy thuộc thiện chí đôi bên có ý thức được đúng đắn vận mệnh của PG và dân tộc. HT Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã thành công trên xứ người, thổi luồng sinh khí tươi nhuận trên xã hội công nghiệp, hiện đại hóa PG theo khoa học thực nghiệm, hòa nhập PG trong đời sống hiện thực, đem lại lợi ích tâm linh không ít cho những chao đảo mất mát, lo âu của người phương Tây. Tâm bình tức thế giới bình, đó là phương châm của đạo Bụt. Thiền sư áp dụng trong từng nhịp đập con tim, được thế giới hoan hỷ đón nhận. Tuổi trẻ VN, tuy hậu sinh, nhưng vẫn cảm nhận được nguồn lợi tâm linh và văn hóa tươi nhuận từ tâm hồn chân tu đó, thế hệ già nua nhiều mặc cảm có lẽ cũng bình tâm nhìn lại những gì được mất cho PG và dân tộc, cùng với Thiền sư làm cuộc hóa giải mà vốn người con Phật cần phải có, vì PG không quá khích và cố chấp, chắc chắn những bước chân nở sen của Thiền sư trên thế giới, cũng sẽ giúp ao sen VN nở thêm những cánh hoa đổi màu, để cùng dân tộc song hành trong những kỷ nguyên   Tâm Linh và Khoa Học .

KẾT:     Cho dù thể chế nào cầm quyền, không quan trọng. Cái quan trọng đem lại quyền lợi cho dân tộc, đưa đất nước từ đói nghèo đến thịnh vượng, tạo uy tín cho VN ngang tầm quốc tế, hẳn nhiên xã hội nào cũng có những bất toàn, nhưng chiều hướng đúng sẽ cường lực hóa dân tộc, người lảnh đạo đất nước biết trọng dụng cao tăng như  những thế kỷ thứ X về trước, thiền sư cũng là quốc sư, đạo đức trên ngôi cửu phẩm đó là gương sáng cho nhân dân, tạo đoàn kết cho toàn dân, không phải chỉ lời nói mà phải hành động như từng là Hội Nghị Diên Hồng, tại sao VN và PG không làm được việc đó như đã từng làm ? Phải chăng sự hiện diện của Thiền sư Thích Nhất Hạnh sẽ thay đổi bộ mặt xã hội VN, một bước chân chuyển hóa cho PG và dân tộc!

                                    MINH MẪN
                                    01/2005

 

 

     


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com