
posted: 25.01.2005
MINH MẪN I. NHẬN
DIỆN QUÊ HƯƠNG
Gần 2 tuần, thành hội
PG thành phố H.C.M họp các quận huyện, ban tôn giáo để hoạch định
chương trình đón tiếp. Việc đón tiếp đoàn PG quốc tế chủ yếu do nội
bộ PG trách nhiệm, có lẽ chưa quen lể tân đối với một tầm vóc quốc
tế như vậy, thành hội lúng túng và hạn chế thành phần tham dự, nói
khác hơn, không phổ biến rộng rãi, thế nhưng quần chúng, những ai được
biết đều tham gia rộng rãi một cách tự phát. Do vậy, trước số lượng
trên dưới năm ngàn người có mặt tại phi cảng, thiếu tổ chức, ngoài
dự đóan, có vẽ mất trật tự, nhưng quá hồ hởi. Phần lớn, những người
tham gia đón tiếp chưa ai biết mặt hoặc biết rõ quá trình công đức to
lớn của HT đối với PG nói chung và PGVN nói riêng. Cảm động nhất, nhiều
tu sĩ và phật tử ở các tỉnh xa đều về thật sớm, trước một ngày,
nằm lây lất để chờ nhận diện một Thiền sư, chả bù lại, ngày
12/01/2005 tại phi trường quốc tế Nội Bài, dưới cái lạnh 12 độ mùa
Đông vào tờ mờ sáng, 7 giờ, đoàn đáp xuống, chỉ có thầy Nhiễu và
thầy Nhã thành viên của GH ra đón, trong khi đó Hội Đồng Trị Sự Trung
Ương có mặt tại Sài gòn để dự phiên họp thường niên ( chả hiểu
khi vạch chương trình đón tiếp và làm việc, HĐTS và ban tôn giáo, có
xét đến chương trình thường niên nầy hay không ). Rất may, gần bốn trăm
tu sĩ từ Huế trên bảy chiếc xe ra nghinh đón kịp thời, nếu không, thế
giới nghĩ gì về một lể tân của VN đối với một danh nhân thế giới,
đồng thời là một nhà văn hóa, xã hội, đạo đức từng được các
nguyên thủ quốc gia kính cẩn bái phục. Trong cái rét đầy
sương mù hừng đông của miền Bắc, sinh hoạt tại phi trường như lắng
đọng, chậm chạp, lể nghi không có, đoàn được tiếp trong căn phòng hẹp
của nhân viên phi trường trên bộ salon cũ kỹ, gương mặt trầm tư không
biểu lộ buồn vui của một thiền sư, ai hiểu Ngài cảm nghĩ thế nào về
một VN thời đổi mới, một chế độ nhiều tai tiếng, một thời tên tuổi
sự nghiệp của Ngài là điều tối kỵ đối với họ, nhưng những tăng
thân làng Mai và các phật tử của 30 nước tháp tùng, có lẽ họ phút chốc
bị hụt hẩng mà chỉ vài giờ trước đó, trên máy bay đi vào không phận
VN, họ phấn khởi sẽ tận mắt nhìn thấy rừng cờ nghinh đón tại Thủ
đô đối với họ. Nhưng không, với đời sống chánh niệm, họ không có
tự mãn hay thất vọng, vì thầy họ, một thiền sư danh tiếng lẩy lừng
luôn cưu mang một hình ảnh dân tộc. Ngài thích thú nhìn cảnh đồng áng,
nông phu và con trâu trên đồng lúa, đôi quang gánh trỉu nặng rau quả từ
thôn làng gánh ra chợ, nhà cửa, cây cối trên đất nước yêu thương
đang tuần tự diễn ra trên suốt quảng đường từ sân bay Nội Bài về
chùa Bồ Đề. Một Thăng Long cổ kính hiện ra trong tâm trí, một mãnh đất
oai hùng từng thắng ngoại xâm... những tự hào dân tộc đó, an ủi Người
và đoàn trước những thiếu sót đáng tiếc. Và thay vì sau hai ngày về
Hà Nội, Ngài sẽ thăm viếng HĐTSTU/PG và Ban tôn giáo chính phủ theo dự
kiến, đành dời chương trình đến ngày 17 mới thực hiện. Mười ngày
trên Thủ đô, Ngài và đoàn đi thăm chùa Dâu ( trung tâm PG Luy Lâu sáng lập
vào đầu kỷ nguyên), chùa Phật tích, chùa Thầy, chùa Trấn Quốc, Chùa
Lý Triều Quốc Sư... Bấy nhiêu danh lam Phật tích cũng đủ để ngài mãn
nguyên bấy lâu mà qua sử sách biên soạn, ngài đã gởi gấm tình cảm. Sau khi điểm tâm,
lúc 4giơ30 ngày 23/1/05, xe lăn bánh rời chùa Bồ Đề ra phi trường Nội Bài.
Tuy 7giờ cất cánh, nhưng do thời tiết sương mù nên máy bay đến phi trường
Tân Sơn Nhất muộn hơn dự tính. Buổi sáng
mùa Đông, Sàigòn hơi se lạnh nhưng cũng còn ấm hơn Hà Nội,
25 độ trên hàn thử biểu, hàng ngàn người hân hoan dưới ánh mặt trời,
nôn nóng hướng vào bên trong phòng kính. Đôi tàng lọng ren vàng và bàn hương
áng khuất lấp hình ảnh nhỏ thó, khuôn mặt đăm chiêu của Ngài, nhưng càng
làm tăng hào quang uy danh phủ khắp AⵠÁ của Người. Nếu mà, thành Hội
PG/TpHCM và Ban tôn giáo phổ biến rộng rãi cho sự đón tiếp, chắc chắn
ngàn năm một thuở, uy tín nhà nước VN đối với tôn giáo ngày nay phải
làm cho thế giới đổi giòng suy tư. Tuy Sài gòn khác hơn Hà Nội về sự
đón tiếp, tinh thần PG đồ đối với một cao tăng không suy giảm, nhưng
tầm vóc của một thiền sư quốc tế, một danh nhân thế giới, không chỉ
cần muôn lòng như một của tín đồ mà còn cần một lể tân xứng đáng
cho một nguyên thủ phi chính phủ từ
phía chính phủ phi tôn giáo. Cổ nhân xét đóan việc chiêu hiền đãi
sĩ để đánh giá trình độ của giới lãnh đạo quốc gia, có muộn chăng
để bổ sung sự ái mộ khi thiền sư và đoàn còn lưu trú tại VN trong ba
tháng! Sáng nay, người Phật tử Sài gòn ghi nhận sự chiếu cố của
ngành giao thông và an ninh trên suốt lộ trình từ Phi trường về chùa
Pháp Vân, HT và đoàn có dịp chứng kiến cảnh sinh hoạt thường nhật của
một VN thời mở cửa khi sự tưởng tượng của HT về VN qua 40 năm xa cách
trên sách báo! Chắc chắn Ngài không nhìn ra một Sài Gòn ngày nay mà năm
1967 ra đi, thành phố còn loang lổ thương tích chiến tranh. Ngài không nhận
ra những đồng đạo hàng con cháu, những tín đồ hàng hậu học mà những
ngày Ngài còn ở VN, họ chưa xuất hiện. Bây giờ, tất cả đều giành
cho Ngài một phần trái tim đầy ngưỡng mộ, tôn kính, để rồi đây, những
đồng song của Ngài sẽ tạo sự dể dàng trong
giao tiếp hay do mặc cảm để Người sẽ cảm nhận một khó khăn cho bước
chân chuyển hóa. Tu sĩ và tín đồ tại VN cũng như ở Hải ngoại biết chắc
một điều, uy tín của Ngài luôn vượt trội và trên những ai còn tranh chấp
để PGVN ngày nay bị lụn tàn, những ai còn manh tâm chống đối sự có mặt
của Ngài tại VN lúc nầy, hãy nghĩ lại một quyền lợi dân tộc, một tương
lai phục hưng PG mà quên đi hận thù, tự ái, và Ngài cũng không bận tâm
trước những xuyên tạc bởi những ác ý trong chuyến đi nầy, vì Phụng
sự chúng sanh là cúng dường chư Phật, hành hoạt trong cuộc đời của
Người đã nói lên điều đó, tuy rằng cũng lắm hiểu lầm cho một Thiền
sư ! Một luận điệu cho
rằng Thiền sư về VN chỉ mục đích truyền bá tinh thần tu học của
ngài như làng Mai làng Hồng ở hải ngoại, vậy có gì không tốt? Ai đã
được như Ngài đem lại thông cảm, tình thương cho cuộc sống nhiều ngờ
vực lẫn nhau trong kỷ nguyên hiện tại, ai đã xoa dịu khổ đau, bù đắp
thiếu thốn cho xã hội, biết lắng nghe từ mọi phía mà lúc còn thanh
niên tăng, Người cùng sinh viên vào vùng xôi đậu để viết lời chúc
xuân cho nhân dân nằm giữa hai lằn đạn tại ven Đô, và vô số việc
làm đầy trí tuệ đã mang lại hạnh phúc không ít cho nhân loại ngày nay. Cũng có luận điệu
bảo rằng Ngài về VN để rửa mặt cho một thể chế, tại sao không nghĩ
quyền lợi lớn lao của một dân tộc và của PGVN hiện nay trước họa xâm
lăng văn hóa ngoại lai và sự tha hóa đạo đức hiện nay trong đất nước? Tấm thân nhỏ bé, gương
mặt khắc khổ, ánh mắt trầm tư chứa đầy nghị lực đó, với mãnh
nâu sòng và đôi bàn tay trắng đã làm rung chuyển các quốc gia trên tinh cầu,
chắc chắn VN sẽ diễm phúc được Ngài tái tạo một đời sống tâm linh
mà gần 5 thế kỷ bị băng hoại văn hóa và đức tin. Người đang nhận
diện lại quê hương, nhận diện lại cái Cần và Đủ để thiết lập tình
người, làm cơ sở cho một nền văn hóa dân tộc cho con đường Toàn Cầu
Hóa mà không một quốc gia nào tránh khòi. Mỗi quốc gia trong khu vực đang
tự mình tìm về bản sắc dân tộc, VN kịp thời đón nhận sự có mặt của
Ngài, chắc chắn là điều khôn ngoan, nhưng khôn ngoan hơn nữa là phong
cách chiêu hiền đãi sĩ, đãi ngộ tương xứng với tầm vóc của
ngài, uy tín VN sẽ tăng theo tỷ lệ thuận, bằng ngược lại, muốn giảm
tầm vóc của Người tại VN, nó sẽ được nâng cao gấp bội nơi hải ngoại,
và VN sẽ bỏ lở cơ hội trọng dụng Hiền tài. Đối với một số
người, xem Thiền sư là một Đức Đạt Lai Đạt Ma của VN Đối với một số
khác, Ngài là Giáo Hoàng của PGVN. Nhưng với số đông,
ngài là nguyên thủ của tình người, của đạo đức tâm linh là nghệ
sĩ trên mặt trận văn hóa, nhà thiết lập một xã hội đồng hành giữa
khoa học và tâm thức. Ngài luôn nhận diện chính mình trong từng hơi
thở để hòa nhập cuộc sống làm một, nhận diện quê hương để thấy
mạch máu Việt tộc đang cần đến trí tuệ,uy tín và đạo đức của Ngài,
vì Người không muốn chính mình và PG đứng ngoài lòng dân tộc. II. H.T. Thiền Sư T. Nhất Hạnh
và Dấu Chân Chuyển Hóa
A/ Mọi người đều biết, cái oan nợ
lớn nhất đối với ngài là tình tự quê hương, cái oan nghiệt đến
với ngài cũng là tình nhân loại, nghĩa đồng bào. Xuất thân từ một
dân tộc nghèo, trên quê hương hiền hòa trầm uất, được giáo dục từ
đạo đức PG, là nhân chứng của những cuộc chiến tàn bạo, bao đau
thương liên diễn trên tấm thân rách nát của đồng bào mình... tình cảm
dân tộc, lòng nhân người con PHẬT và ý thức của một bậc trí tuệ,
ngài luôn cưu mang và hành xử một cách lợi ích cho xã hội; với tấm
lòng nhiệt huyết đó, không ít sự hiểu lầm đến với ngài, dĩ nhiên
nhiều bất trắc cũng đẩy ngài vào con đường không như ý. Khi mà cuộc
chiến miền Nam VN vào thời kỳ quyết liệt, ngài thành lập trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, quy tụ sinh
viên để làm công tác từ thiện, giúp đồng bào tái thiết nhà cửa, dọn
dẹp những đổ nát sau cuộc chiến...nhưng không một phe lâm chiến nào hiểu
rằng những động thái đó phát sanh từ lòng chân thành, ai cũng có quyền
nghĩ rằng ngài, tổ chức của ngài là âm mưu của kẻ địch, từ đó
máu của sinh viên đã đổ, trường Thanh niên Phụng Sự Xã Hội biến
thành nghĩa địa của tám thành viên, rãi rác khắp đất nước là những
người con thiện nguyện phi chính phủ gởi thân làm phân bón cho tình người
phát triển; Hoa Sen Trong Biển Lửa, một
quyển sách đánh thức lương tri của những phe lâm chiến, ra đời, nói lên cái thảm trạng của người dân
phải chịu trong cuộc chiến, mất mát, đau thương và tình người đánh đổi
bởi lòng hận thù triền miên, đó là bộ mặt xấu muôn đời của bất cứ
cuộc chiến nào. Nhưng cuộc hiến không thay đổi, đời sống của ngài phải
đổi thay, ngài ra đi, lưu lạc xứ người trên 40 năm, cũng từ đó, ngài
đem hạt giống trí tuệ của đạo Phật chuyển hóa con người trong xã hội
công nghiệp, cơ giới, giúp những thế hệ đương thời tìm một điểm tựa
bình an, thanh thảng nơi chính mình mà thế hệ cha anh họ đã bị hụt hẩng
khi Thần Học không đủ năng lực đáp
ứng một cân bằng giữa cuộc sống khoa học thực dụng và đời sống tâm
linh! Không những trên
lãnh vực đạo học, ngay cả xã hội, văn hóa, ngài cũng đóng góp không
nhỏ. Sau 1975, nhiều Thuyền nhân bỏ mạng trên biển cả, vì lòng từ mà
ngài chịu ác cảm, tai tiếng để cứu vớt họ, vốn dĩ ngài đã bị nhà
nước VN có thành kiến, nghi ngờ, lại thêm ngờ vực cho công cuộc cứu
trợ đó; với lòng thành của tình thương luôn bị hiểu sai lệch, để rồi,
ngài tiếp tục giúp đở nhân dân tại quê nhà bằng những đồng tiền do
chính ngài tạo ra, giáo viên vùng sâu, vùng xa, trẻ em nghèo thất học, người
tù tội, học bổng cho những học sinh xuất sắc, tu bổ chùa chiền đình
miếu, tái thiết làng quê, giúp tu sĩ PG có điều kiện ăn học, tóm lại,
những ai cần giúp đỡ, ngài sẳn sàng, thế mà ngài vẫn có thời gian bắt
tay vào công tác văn hóa, một bộ sử nổi tiếng: PHẬT GIÁO VIỆT NAM SỬ LUẬN ra đời, hàng
trăm đầu sách mà nhà nước VN cấm lưu hành, bây giờ cũng được chính
nhà nước VN xuất bản. Những tác phẩm danh tiếng như Hoa Sen Trong Biển Lửa, Hiện Đại Hóa PG, Nẽo
Về Của Ý, Đường Xưa Mây Trắng...là những tâm hồn trong sáng, luôn
có cái nhìn trước thời đại, hành xử trước thời đại, nên bị thời
đại phủ phàng, xua đuổi. B/ Gần 30 năm nước nhà thống nhất,
VN mời ngài về, hiểu được tâm nguyện của ngài đối với quê hương,
thông cảm thái độ đầy tình người một cách vô tư không thiên lệch của
người, một ngôi sao sáng của dân tộc VN trên bầu trời Âu Tây đem lại
nhiều lợi ích cho phần lớn nhân loại, các nước Cộng Sản như Trung quốc,
Nga ... cũng biết trọng dụng cái ưu việt của ngài từ lâu, bây giờ VN mới
thấy là chuyện khá muộn, nhưng cuối cùng cũng biết tận dụng những của
báu mình có sẳn, để giúp gở rối những khó khăn mà do tính cố chấp,
VN đang đối mặt! Về công tác quản
lý đất nước, một góc độ nào đó, VN thành công trong ổn định an
ninh, trật tự, và sau ngày Liên sô sụp đổ, VN thay đổi chính sách điều
hành đất nước, thay vì nghị quyết trung ương đảng trong đại hội sau
ngày thống nhất đất nước là : với trình độ tiến bộ của nhân
dân ta, không cần thông qua tư bản chủ nghĩa mà tiến thẳng lên xã hội
chủ nghĩa, nghĩa là đốt giai đoạn để tiến mạnh tiến nhanh tiến vững
chắc lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng tình hình thế giới CS đã biến động,
đảng CS của mỗi nước phải tự mình mò mẩm lối đi, không còn có sự
chỉ đạo nhất quán của quốc tế, thay vì CS quốc tế, trở thành CS dân
tộc, đề cao và phát huy bản sắc dân tộc, vừa có công với đất nước,
vừa tìm sự tồn tại trong lòng nhân dân, VN khôn ngoan, biết tìm bạn bè
năm châu, giao hảo với mọi quốc gia, không phân biệt thân thù, cho dù là
cựu thù. Cái gọi là Việt Nam -
Trung Quốc như răng với môi, môi hở răng lạnh, vừa là đồng chí, vừa
là anh em, có lúc đã sát hại nhau, và luôn rình rập xâm lăng từng tấc
đất, cái họa sát nách đó, làm sao VN yên tâm, do vậy mở rộng bang giao
quốc tế,vừa phát triển kinh tế, mậu dịch,vừa giữ thế cân bằng và chủ quyền quốc gia, nhưng không hẳn vậy
mà VN thuận buồm xuôi gió, bởi vì VN chưa quen những tập quán cần phải có trong các xã hội tư bản, quy luật
kinh doanh, phương thức cạnh tranh, thủ đoạn chính trị, và nhất là yếu
tố nhân quyền và dân chu묠vì vậy
thường bị tai tiếng và bị o ép nhiều mặt, nhưng với kinh nghiệm quản
lý của CS, nếu không khắc khe sẽ khó có an ninh xã hội trong thời gian thật
ngắn. Trong tiến trình
toàn câu hóa, VN càng gặp nhiều khó khăn hơn nữa, Vatican mượn tay
phương Tây, gây sức ép về Tự do Tôn Giáo, buộc phải bang giao chính thức
với Đồng thời, để tránh
tôn giáo bị lạm dụng do mưu đồ đen tối của các thành phần bất mãn,
Mặt Trận có bổn phận kiểm soát mọi động thái của Tôn giáo, và nhất
là trước khi xét đến bang giao với Vatican, VN cần củng cố nền đạo học
cổ truyền, mà PG là đại biểu và dẫn đầu trong Tam giáo. Nhưng tiếc
thay, do vụng về thống nhất PG trong buổi giao thời vừa giải phóng đất
nước, đã làm rạn nứt nội bộ PG và tình cảm tín ngưỡng dân tộc, một
vết nứt âm ỉ suốt 30 năm chưa được khắc phục. Nhiều lần, nhà nước
muốn tạo điều kiện giải tỏa, nhưng bất thành, vì thành kiến, mặc cảm
lẫn nhau qua 1ớn, chính quyền đã ngầm thỏa thuận để Đại lão HT
Thích Huyền Quang tự do thay đổi nơi cư trú cách vùng quản chế trên trăm
cây số, mà đáng ra, bất kỳ một ai bị quản chế không có quyền tự ý
thay đổi, và sau đó là cuộc gặp gở với Thủ Tướng Phan văn Khải, những
hứa hẹn tốt đẹp tiếp tục diễn tiến, nhưng, những gì xẩy ra sau đó,
ta đã biết! Mỗi bên đều mang một tính cố chấp, chắc
chắn nhà nước VN không muốn để tình trạng PGVN hiện nay kéo dài, vì tổ
chức giáo hội đương nhiệm không đủ khả năng tạo uy tín cho chính
mình thì làm sao đóng góp được gì cho dân tộc. Nhà nước muốn phục hồi
tiềm lực PG để củng cố bản sắc dân tộc, làm rào cản trào lưu văn
hóa ngoại lai, làm nồng cốt cho tính
tự tồn dân tộc trước nhiều sức ép của Toàn Cầu Hoá hay mục đích xử
dụng PG như một lực lượng hậu thuẩn, điều đó tùy cảm nghĩ mỗi
người, Nhưng dù với mục đích gì, phải để PG có một khoảng không
gian thích hợp tự mình phát triển tính
hiệu quả vốn có, mặc dù ngày nay, nhà nước ít can dự vào nội bộ tổ
chức PG, nhưng Giáo hội đương thời, vốn bản tính ù lì, ỷ lại, phe
nhóm, cậy quyền, chờ đợi chỉ thị, không phát huy sáng tạo nên 30 năm
vẫn chưa có một động thái xứng đáng mà chỉ 11 năm trong thời chiến
PG đã làm được, vang dội thế giới!
Chưa nói đến uy tín tự thân của hàng giáo phẩm
ngày nay, nó là chiếc bóng “bất đắc dĩ” của cán bộ nhà nước hiện
tại. Vì vậy, muốn dựng dậy hình nộm đó, thổi luồng sinh khí mới
làm sống lại thây ma chết dở sống dở, phải cần một nhân vật đủ
uy tín và tầm cở, kết nối các nhân tố PGVN như một PG Trung quốc hiện
tại, không nằm trong bất cứ phe phái nào, do vậy, nhà nước phải nghĩ
đến HT Thiền sư T. Nhất Hạnh, vừa mang tầm vóc PG quốc tế, vừa là thần
tượng của giới trẻ tại VN. Nhà nước can đảm
gạt bỏ những nghi ngờ, thành kiến về ngài, hẳn nhiên cũng phải có những
thông tin tốt về người, suốt một năm, ngoài chuẩn bị, thăm dò do tòa
Đại sứ VN tại Pháp thực hiện, những chuyến ngoại giao con thoi,
và nhất là những đoàn tiền trạm của Làng Hồng, làng Mai đi về VN sắp
xếp chương trình làm việc, nơi cư trú, lắm khi như bế tắc vì chưa thống
nhất thỏa thuận, nhưng do lòng thành khẩn đôi bên, mọi sự được suông
sẻ, một thái độ đầy thiện chí của chính quyền VN chưa từng thấy:
xuất bản hàng trăm đầu sách của thầy mà 30 qua bị cấm đoán và tịch
thu, cho phép ngài diễn giảng nơi công
cộng, chưa từng có với bất cứ
tôn giáo nào đang có mặt tại VN. Chính việc làm nầy nói lên thái độ cởi
mở của nhà nước đối với tôn giáo, làm nhạt nhòa biến cố Tây
nguyên của Tin Lành đòi tự trị, và rồi những báo cáo hàng năm của Liên
Hiệp Aⵠchâu, của Liên hiệp Quốc , quốc hội Mỹ sẽ nói những gì về
Tự Do Tôn Giáo tại VN?
C/ Nhưng sự việc không đơn giản
như vậy, vì hàng giáo phẩm VN không nhất quán với sự có mặt của HT tại
VN bởi quan điểm chính trị hơn là tình cảm đồng đạo xa cách bấy
lâu. Mỹ vẫn lớn tiếng bênh vực cho PGVN, nhưng tình trạng phân hóa của
PG hiện nay không thể hàn gắn do nhà nước chủ động, vì quan điểm của
HT Thich Quảng Độ nhất mực đòi ly khai PG khỏi Mặt trận Tổ Quốc VN, một
yêu sách hợp lý nhưng nhà nước cảm thấy chưa hợp thời! Đó là
một trong những bế tắc mà dể gì HT Thiền Sư Thích Nhất Hạnh có thể
gặp gỡ để hòa giải, do thế, trước cả tháng khi HT Thích Nhất Hạnh về
quê, đại sứ Mỹ tại VN đã thăm viếng HT Thich Huyền Quang và HT Thích Quảng
Độ mở đường cho việc ổn định PG hầu củng cố xã hội VN theo chiến
lược mới của nhà nước VN trong chiều hướng Toàn Cầu hóa diễn tiến. D/ Tiềm lực PGVN vẫn chưa cạn
nguồn, nhưng không biết tận dụng và khơi mở như những thế kỷ Lý Trần
từ nhà nước. Chiến lược phục hồi PG có mang lại kết quả đến đâu
còn tùy thuộc thiện chí đôi bên có ý thức được đúng đắn vận mệnh
của PG và dân tộc. HT Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã thành công trên xứ
người, thổi luồng sinh khí tươi nhuận trên xã hội công nghiệp, hiện
đại hóa PG theo khoa học thực nghiệm, hòa nhập PG trong đời sống hiện
thực, đem lại lợi ích tâm linh không ít cho những chao đảo mất mát, lo
âu của người phương Tây. Tâm bình tức thế giới bình, đó là phương
châm của đạo Bụt. Thiền sư áp dụng trong từng nhịp đập con tim, được
thế giới hoan hỷ đón nhận. Tuổi trẻ VN, tuy hậu sinh, nhưng vẫn cảm
nhận được nguồn lợi tâm linh và văn hóa tươi nhuận từ tâm hồn chân
tu đó, thế hệ già nua nhiều mặc cảm có lẽ cũng bình tâm nhìn lại những
gì được mất cho PG và dân tộc, cùng với Thiền sư làm cuộc hóa giải
mà vốn người con Phật cần phải có, vì PG không quá khích và cố chấp,
chắc chắn những bước chân nở sen của Thiền sư trên thế giới, cũng sẽ
giúp ao sen VN nở thêm những cánh hoa đổi màu, để cùng dân tộc song
hành trong những kỷ nguyên Tâm
Linh và Khoa Học . KẾT: Cho dù thể chế nào cầm
quyền, không quan trọng. Cái quan trọng đem lại quyền lợi cho dân tộc,
đưa đất nước từ đói nghèo đến thịnh vượng, tạo uy tín cho VN ngang
tầm quốc tế, hẳn nhiên xã hội nào cũng có những bất toàn, nhưng chiều
hướng đúng sẽ cường lực hóa dân tộc, người lảnh đạo đất nước
biết trọng dụng cao tăng như những
thế kỷ thứ X về trước, thiền sư cũng là quốc sư, đạo đức trên
ngôi cửu phẩm đó là gương sáng cho nhân dân, tạo đoàn kết cho toàn
dân, không phải chỉ lời nói mà phải hành động như từng là Hội Nghị
Diên Hồng, tại sao VN và PG không làm được việc đó như đã từng làm ?
Phải chăng sự hiện diện của Thiền sư Thích Nhất Hạnh sẽ thay đổi bộ
mặt xã hội VN, một bước chân chuyển hóa cho PG và dân tộc!
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com