
![]() Tâm Hằng NĐX
Vừa qua, trên đường đi tìm tư liệu phục vụ cho đề
tài nghiên cứu “Văn học phản chiến ở miền Nam Việt Nam”, Giáo sư
Ito Tetsuji thuộc Đại học Ibaraki (Nhật Bản) do Ban Đối ngoại TP. Huế giới
thiệu, đã đến gặp và hỏi tôi:
“Được biết ông là một người cầm bút có sáng tác và nghiên cứu
lại xuất thân trong Phong trào đấu tranh ở các đô thị miền Nam Việt
Bị hỏi một cách đột ngột nên tôi hơi bất ngờ. Sau một phút tần
ngần, nhớ lại chuyện cũ gần 40 năm trước (1965) tôi đáp:
“Văn học phản chiến ở miền Nam Việt
Giáo sư Ito tỏ ra mừng rỡ và nói:
“Cám ơn ông, thế là tôi đã gặp được nhân chứng cho điều mà
tôi đang cần tìm. Xin ông kể lại sự kiện quan trọng ấy”.
Không thể từ chối trước một yêu cầu chính đáng như thế, tôi
đã phải kể lại sơ lược sự kiện ấy. Và, đó cũng là lần đầu tiên
(sau 1975) tôi nói về “Văn học phản chiến ở miền Nam Việt Nam” và Thầy
Nhất Hạnh hồi giữa những năm sáu mươi của thế kỷ trước. * * *
Sau cuộc đấu tranh lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, chúng tôi nghĩ
tình hình miền
Trong lúc mọi người đang ngơ ngác, Lê Minh Trường giở tập thơ và
đọc ngay bài đầu tiên:
“Hoà Bình
“sáng nay vừa thức dây nghe tin em gục ngã nơi chiến trường
nhưng trong vườn tôi, vô tình khóm
tường vi vẫn nở thêm một đoá
tôi vẫn sống, vẫn ăn và vẫn thở
nhưng đến bao giờ mới được nói thẳng
điều tôi ước mơ ?”
Bài thơ mang tựa đề “Hoà bình”, nội dung nói lên cái thực trạng
chiến tranh đang sát hại con người một cách oan uổng. Hai từ “hoà bình”
làm cho các quan chức chính quyền có mặt trong Phòng triển lãm phải nhíu
mày. Nhưng vì tác giả bài thơ là một vị Thiền sư tốt nghiệp ở Đại
học Princeton ở New Jersey, và đang dạy môn Phật học tại Đại học
Columbia (Hoa Kỳ) mới về Việt Nam ít lâu nên không ai dám có ý kiến gì cả.
Riêng anh chị em SVPT thì quá “đã”. Nhờ bài thơ của Thầy Nhất Hạnh
mà chúng tôi có thể nói lên được
hai từ “hoà bình” ước mơ của mình.
“Nổ súng khai hoả” rồi mà vẫn thấy được bình yên, Lê Minh Trường
“thừa thắng” đọc tiếp các bài “Đừng
biến mảnh vườn xanh xưa thành mồi ngọn lửa dữ”, “Ruột đau chín khúc”, “Sàigòn ơi đập tan đi ảo ảnh”… trong
tập CTNCCBCTH. Không khí trong nhà giảng bắt đầu căng thẳng. Lê Minh Trường
say sưa đọc, không cần biết quan khách và người xem tranh đang nghe thơ
trước mặt mình là ai, đang phản ứng trên nét mặt như thế nào. Với cử
chỉ khẩn trương, Trường lật vội các trang thơ, mắt liếc nhìn vào các
sĩ quan cao cấp ở Vùng I chiến thuật và đọc tiếp bài “Chiến tranh”.
Không khí trong Giảng đường trở nên ngạt thở và xáo động khi Trường
đọc đến câu:
“ Kẻ thù chúng ta không phải con người
- dù con người Việt Cộng
giết con người đi rồi, chúng ta ở với ai ?”
Một quan chức (tôi không còn nhớ tên) bước vội đến nhìn sát
vào trang thơ trên tay Lê Minh Trường xem thử đó là lời thơ của Thầy Nhất
Hạnh hay lời người đọc thơ “cương” thêm. Ông định nói gì đó nhưng
rồi lại thôi. Thầy Thích Đức Tâm (Phụ trách các đoàn thể Thanh niên của
Giáo hội Phật giáo) biết ý, khoát tay bảo:
“Hôm nay khai mạc Phòng tranh, đọc thơ như vậy là đủ rồi”.
Chúng tôi thấy được như vậy cũng đã đủ rồi. “Con người Việt
Cộng” bị đặt ngoài vòng pháp luật đi qua thơ Thầy Nhất Hạnh đã hiện
diện hợp pháp giữa khuôn viên chùa Từ Đàm. Chúng tôi đã nói lên được
“ước vọng hoà bình”, phản đối chiến tranh của Mỹ đang gieo rắc trên
quê hương Việt Lễ khai mạc Phòng tranh Quê Nghèo của Lê Minh Trường
kết thúc. Sau đó chính quyền Thừa Thiên và An ninh quân đội cho người lên
nghiên cứu tác giả và tác phẩm Phòng tranh Quê Nghèo. Để đối phó với
những bất trắc có thể xảy ra, sau mấy ngày triển lãm, Lê Minh Trường
thu tranh về và phân ra gởi vào nhà các bạn thân. Sau đó anh bị bắt và
bị đưa ra toà (vì một hoạt động khác) và bị giam ở Ba Lòng (miền
tây tỉnh Quảng Trị). Lê Minh Trường bị bắt và bị tù nên hầu hết
tranh và tài liệu liên quan đến anh đều bị hủy. Sau nầy tìm hiểu tôi
được biết Lê Minh Trường gởi cho anh Hoàng Văn Giàu (Cựu Đoàn trưởng
sáng lập đoàn SVPT Huế) giữ bức Hoang Vu,
và gởi ở nhà chị Thái Kim Lan ở đường Bạch Đằng Huế bức Thuyền Trăng. May mắn sao bức Thuyền
Trăng đến nay em chị Lan là Thái Nguyên Hạnh vẫn còn giữ.
Tập thơ CTNCCBCTH của Thầy Nhất Hạnh có một tác dụng rất lớn.
Không những trong giới SVHS và trí thức, mà ngay cả giới sĩ quan quân đội
VNCH cũng bị tác động. Trung úy Thái Luân ở Sư đoàn I sáng tác và cho lưu
hành tập thơ Vùng Tủi Nhục tố cáo
chiến tranh do Mỹ đạo diễn rất dữ dội. Bản thân tôi với tư cách là
một Sinh viên Phật tử, tranh đấu trong tinh thần bất bạo động cũng làm
một loạt thơ chống bạo động, chống chiến tranh. Con người luôn nhân
danh một lý tưởng gì đó để chém giết và cuối cùng cũng nhân danh một
cái gì đó để giết luôn mình (Bài Nhân Danh), anh em họ hàng giết nhau (Bài Hai Người Lính); tất cả quá khứ để lại
là tội lỗi, nghèo đói, nhọc nhằn, chiến tranh, tuổi trẻ phải biết thương
nhau để cùng nhau tranh đấu cho hoà bình, làm sao “cho súng phải thở
dài, cho tàu bay khóc với, cho lựu đạn im tiếng, cho đường vũ khí qua
tim” (Bài Để Lại Cho Em cùng soạn với
P.D.). Nhạc sĩ P.D. rất nhạy cảm trước xu thế tranh đấu của tuổi trẻ
đô thị lúc ấy cho nên ông đã cho ra các loạt bài Tâm Ca, Tâm Phẫn Ca, trong đó có nhiều
bài ông phổ thơ của chúng tôi. Mở đầu các loạt bài hát nầy là bài
phổ thơ Hòa Bình của Thầy Nhất Hạnh (đổi tựa đề thành Tôi Ước Mơ), sau đó là bài Để Lại Cho Em (tôi soạn chung lời ca với
P.D.), bài Nhân Danh, Hai Người Lính (phổ
thơ của Tâm Hằng - Pháp danh và cũng là bút danh của tôi), Bi Hài Kịch (của Thái Luân). Nhưng nổi tiếng
nhất là bài Kẻ Thù Ta với lời ca do
nhạc sĩ P.D. phát triển từ một câu thơ trong bài Chiến Tranh của Thầy Nhất Hạnh. Loạt
bài Tâm Ca, Tâm Phẫn Ca được tuổi
trẻ đô thị lúc đó rất hoan nghinh và hát vang trong các cuộc tụ tập
mít-tin, biểu tình chống Mỹ, chống chiến tranh. Tuy nhiên cũng có những dư
luận không thuận lợi. Kẻ nầy bảo đó là loại thơ nhạc binh vận của
Mặt trận Giải phóng, người nói chống chiến tranh chung chung không phân
biệt địch ta, lại có kẻ viết Tâm Ca,
Tâm Phẫn Ca lôi kéo tuổi trẻ vào chuyện hát hỏng thỏa mãn được
khát vọng của mình quên đi chuyện đấu tranh (không rõ đấu tranh cho ai
?). Vì tin vào tình cảm yêu nước và tin Phật, tôi không quan tâm đến dư
luận phê phán Tâm Ca, Tâm Phẫn Ca, đầu tôi nghĩ sao tôi nói vậy và làm
vậy. Không biết ngày mai sẽ ra sao. Riêng Thầy Nhất Hạnh thì khi được
nghe bài Để Lại Cho Em ông rất xúc
động. Ông đáp lại thế hệ của “Em” bằng cuốn sách nhỏ Nói Với Tuổi Hai Mươi. Nhờ môi giới của văn thơ nhạc hoà bình mà sau đó
tôi và nhiều SVPT khác được tiếp xúc và thân quen với Thầy Nhất Hạnh.
Mỗi lần về Huế thế nào Thầy cũng gặp chúng tôi. Gặp ở chùa Từ Đàm
hay gặp ở chùa Từ Hiếu. Chúng tôi đi ấn tống các sách Đạo Phật Ngày
Nay, Đạo Phật Đi Vào Cuộc Đời, Đạo Phật Hiện Đại Hóa, Bông Hồng
Cài Áo… của Thầy. Sách của Thầy do Lá Bối in đẹp, nội dung dễ hiểu,
thích hợp với tuổi trẻ lúc ấy nên ai cũng mua một tập cầm trên tay. Một
buổi trưa hồi giữa năm 1965, Thầy Nhất Hạnh ở lại chùa Từ Đàm với
SVPT. Nhân đó Thầy bàn chuyện quyên góp để xây dựng Trường Thanh Niên
Phụng Sự Xã Hội. Anh Vĩnh Kha (Đoàn trưởng SVPT) biết rõ Thầy có quan hệ
với nhiều tổ chức xã hội của Mỹ nên thưa với Thầy rằng: “Sao Thầy không xin các tổ chức xã hội của Mỹ
ít đô-la để làm trường mà lại đi quyên góp đồng doi đồng mót của
Phật tử làm gì cho mệt rứa ?”. Thầy liền nghiêm sắc mặt nhìn chúng tôi và bảo: “Mình làm công tác xã hội mà lấy tiền của Mỹ để
làm trường thì Mặt trận Giải Phóng họ sẽ cho người về đốt ngay. Và,
các em cũng nên thận trọng làm gì mà để người Mỹ họ nghi là Việt Cộng
thì họ cũng sẽ bắt ngay. Cho nên muốn giúp dân, muốn đấu tranh lâu dài
thì phải giữ sao cho được sự thuần
túy của Phật giáo !”. Chúng tôi tuổi trẻ rất bồng bột, đem cái thân
mình ra đặt cược cho các cuộc đấu tranh. Khi đấu tranh không tính đến
hậu quả cho nên không có đường rút những khi đấu tranh không thành
công. Lời dạy của Thầy Nhất Hạnh
rất thấm thía. Tôi đã lấy ý kiến của Thầy làm châm ngôn hành động
của mình. Về sau, nhiều cán bộ đô thị của Mặt trận Giải phóng cũng
bảo tôi: “Tụi tôi biết anh là người yêu nước tốt, nhưng không đưa
anh vào tổ chức. Để cho anh được tự do, hành động tự phát, nếu có
bị địch bắt cũng không bị vỡ dây chuyền. Nhưng đồng thời chúng tôi
vẫn tổ chức ở vòng ngoài bảo vệ anh nếu anh gặp nạn.” Và, các đồng chí ấy đã thực hiện việc
“bảo vệ” tôi trong thời gian tôi trốn tránh ở chùa Tường Vân và
vùng Dương Xuân thượng hồi mùa hè năm 1966. Vận dụng “cái phương châm”
tôi học được ở Thầy Nhất Hạnh, trong các sáng tác cũng như trong những
thuyết trình về tranh đấu tôi chứng tỏ tôi là người Phật tử, tôi
không theo Mỹ (dĩ nhiên) và cũng không theo Mặt trận Giải phóng. Lập trường
trung lập nầy để lại rất rõ trong sáng tác của tôi, nhưng nó không
kéo dài được lâu. Từ đầu tháng 4.1966, sau khi quân đội Thiệu Kỳ không
vận ra Đà Nẵng đòi “làm cỏ” Phong trào tranh đấu ở miền Trung, chúng
tôi thành lập Đoàn Sinh viên Quyết tử Huế (do tôi đứng đầu), chỉ hô
hào vũ trang chống Mỹ, không “trung lập”, “bất bạo động” nữa. Tôi
đã bị các vị lãnh đạo Phật giáo phê phán rất nặng. Các thầy bảo
tôi: “Anh là Phật tử, lại giữ chức Đoàn phó đoàn
SVPT, tại sao anh không giữ đường lối bất bạo động của Phật giáo
mà lại đi thành lập Đoàn Sinh viên Quyết tử hô hào vũ trang bạo động
?”
Tôi đã phải trình bày chống chế mãi mà vẫn không được các thầy
chấp nhận. May sao, sau đó một Phong trào hô hào vũ trang của nhiều đoàn
thể khác như Học sinh Ứng chiến, Nữ sinh Cứu thương, Công chức xung
kích, Giáo chức chống đàn áp, Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức... ra đời,
Đoàn Sinh viên Quyết tử Huế không còn đơn độc nữa nên không bị giải
tán. Đặc biệt là sau khi đoàn thể Gia đình Phật tử, Thanh Niên Phật Tử
nhập cuộc, tổ chức thành Bách Nhân Đội (đội trăm người) cũng “vũ
trang” để tự vệ. Có thể nói mùa hè 1966, đa số Phật tử đã đi “trật
đường rầy bất bạo động” của Phật giáo. Nếu lúc đó chúng tôi chỉ
“Chắp tay nguyện cầu” trước chủ trương leo thang chiến tranh của Mỹ
thì có lẽ đã bị tiêu diệt hết khi quân đội Thiệu Kỳ kéo ra đàn áp
Phong trào ở Huế hồi trung tuần tháng 6/1966.
Sau ngày rước bàn thờ Phật ra đường, Chính quyền Sài Gòn hạ lệnh
truy nã tôi và hai anh Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan. Hai
anh Tường và Phan là cơ sở của Mặt trận Giải phóng nên thoát ly ngay.
Còn tôi và một vài người chủ chốt trong Phong trào được các thầy
trong Giáo hội Phật giáo gởi ẩn mình trong chùa Tường Vân của Hoà thượng
Thích Tịnh Khiết. Ở đây tôi nghe tin quân đội Sài Gòn đã cho xe ủi dẹp
hết bàn thờ Phật, dìm Phong trào đấu tranh trong biển máu. Nguyễn Ngọc
Loan – người thân cận của Chính quyền Sài Gòn cầm súng lục ra Huế
đe dọa “Nếu bắt được Ni cô Trí Hải (người phiên dịch cho Thượng
toạ Thích Trí Quang - người đứng đầu của Phong trào đấu tranh của Phật
giáo lúc ấy) sẽ hiếp trước mặt thiên hạ cho biết tay”. Trong lúc tuyệt
vọng ấy, tôi lại nghe tin Thầy Nhất Hạnh đã thoát ra nước ngoài để
tìm cơ hội tố cáo với thế giới về hành vi người Mỹ đã hậu thuẫn
cho chế độ Sài Gòn bách hại Phật giáo đồ Việt Nam, tôi rất mừng. Đến
đầu tháng 7/1966, theo thư anh Hoàng Phủ Ngọc Tường từ chiến khu gởi vào,
tôi cũng ra chiến khu ở vùng sau núi Kim Phụng. Ở chiến khu tôi lần lược
được gặp lại những người bạn cũ ở Huế như Nguyễn Thiết, Nguyễn
Đính (tức nhà thơ Trần Vàng Sao), Nguyễn Khắc Mai, Nguyễn Văn Quang, hai
anh em anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, (và nhiều người nữa mà đến nay tôi
không còn nhớ tên). Sau có thêm chị Lê Thị Mai, anh Nguyễn Minh Trường...
vừa vượt ngục ở Ba Lòng trở lại chiến đấu ở chiến trường Huế.
Chúng tôi lại có dịp nói chuyện về Thầy Nhất Hạnh và cũng từ đó
tôi không còn cơ hội để theo dõi các hoạt động của Thầy Nhất Hạnh
nữa. Mãi đến mùa thu năm 1967, Thành ủy Huế cho tôi xem cuốn sách mới Hoa Sen Trong Biển Lửa (Việt * * *
Sau ngày thống nhất đất nước tôi lên Đa Lạt thăm gia đình mẹ
tôi và đi xe đò về Cầu Đất (Entreraille) thăm gia đình o Cửu Ba (bà Đoàn
Bá Quế, chị của ba tôi) - nơi ba tôi gởi má con tôi lên tá túc lúc tôi
mới 4 tuổi (1941). Dượng Cửu từng là sếp-săng-chê (chef chantier) sở
trà Cầu Đất của ông Lord. Lúc mới lên Đà Lạt, má tôi được Dượng
Cửu xin cho làm công nhân trong sở trà nầy. O dượng Cửu Ba cũng là một
trong những người sáng lập ra Đạo Tràng Phật Giáo ở Cầu Đất nên rất
có uy tín với dân địa phương. Ở lại trong nhà O Dượng, tôi tò mò xem
tủ sách của gia đình, bất ngờ tôi thấy có một loạt sách của Thầy
Nhất Hạnh, trong đó có nhiều cuốn tôi đã từng cầm đi ấn tống, cũng
có những cuốn ra đời sau khi tôi đã thoát ly (như cuốn Nẽo Về Của Ý), tôi chú ý đặc biệt
đến cuốn Nói Với Tuổi Hai Mươi đã
ra đời cách đó đúng 10 năm. “Bộ” sưu tập sách Thầy Nhất Hạnh gợi
lại những hình ảnh về Thầy Nhất Hạnh đã chôn sâu trong tâm trí tôi.
Tôi hỏi chị Đoàn Thị Thành - con của o tôi:
“Em không ngờ nhà o dượng ở cái đất Cầu Đất nầy lại có một
“bộ” sưu tập sách của Thầy Nhất Hạnh nhiều đến vậy ?”
Chị Thành giải thích:
“Phần lớn các sách đó Thầy Nhất Hạnh gởi cho đó. Em không biết
chớ hồi trước khi có Hiệp định Genève ba chị hay tổ chức cho Thầy về
chùa Cầu Đất thuyết pháp lắm. Có khi Thầy bị bệnh mạ chị phải mời
Thầy về nhà đây chăm sóc sức khoẻ cho Thầy, đến khi Thầy bình phục
rồi mới rước Thầy trở lại chùa. Nhiều lần Thầy soạn kịch bắt chị
và chị Lập đóng vai chính. Vui lắm. Do đó ngoài tình đồng đạo, đồng
hương, Thầy còn coi gia đình ba mạ chị như một gia đình bà con của Thầy.
Hồi Thầy còn ở Việt
Chuyện chị Thành kể là một chuyện lạ đối với tôi. Tôi không
thể tưởng tượng được trong ngôi nhà thời thơ ấu tôi đã sống qua
ở Cầu Đất cũng là nơi Thầy Nhất Hạnh đã từng nằm dưỡng bệnh và
viết kịch để rao giảng Đạo Phật cho giới trẻ. Do mối quan hệ đó
mà về sau nầy mỗi lần muốn biết tin tức Thầy Nhất Hạnh tôi chỉ cần
hỏi các anh chị trong gia đình o tôi là tôi có thể biết được. Đây là
một chuyện ngẫu nhiên bất ngờ làm cho cuộc đời thêm ý vị.
Như một vài hồi ức trước đây tôi đã viết: Lúc nhỏ tôi bị thất
học, đến năm 1952 anh Cả tôi làm Chứng từ khai sinh trụt cho tôi 6 tuổi
(tôi sinh năm 1937 khai lại thành 1943) để đi học. Tôi lại học băng nên
năm 1954 tôi không có Học bạ lớp Nhất để đi thi Tiểu học. Tôi định
nghỉ học thì may sao thầy Nguyễn Tri Bật (chắt nội của danh thần Nguyễn
Tri Phương) xin cho tôi vào học lớp Nhất trường Bồ Đề Tuệ Quang. Trường
Tuệ Quang thấy tôi học được và cấp cho tôi Học bạ lớp Nhất. Tôi
đi thi và đỗ Tiểu học, rồi lại được lảnh phần thưởng Danh dự ở
rạp Ngọc Hiệp . Lúc đó mà đậu Tiểu học với phần thưởng Danh Dự tôi
tự hào và sung sướng vô cùng ! Đây là một cái mốc rất mong manh chuyển
đổi một cậu bé nhà quê bước vào cái ngưỡng của một người sống bằng
nghề cầm bút.
Sau nầy, trước khi về hưu mấy năm, tôi đi thăm lại những nơi tôi
đã từng sống qua, tìm gặp và cám ơn những người đã nuôi dạy tôi. Một
hôm ngồi thưa chuyện với thầy Nguyễn Tri Bật tại nhà con trai của thầy
tại Nha Trang, thầy bảo tôi:
“Con cám ơn thầy là đúng rồi. Nhưng còn thiếu”.
Tôi nghĩ là đã đủ nên nghe thầy Bật nói vậy tôi hơi ngạc nhiên:
“Dạ, thưa thầy, thiếu ai ?”
Thầy Bật nói ngay:
“Thầy Nhất Hạnh - Hiệu trưởng
trường Tuệ Quang lúc ấy. Thầy Nhất Hạnh chính là người đã ký Học bạ
cho con đi thi Tiểu học lúc đó Nếu không có Thầy Nhất Hạnh thì con
không có cơ hội học lên cao để trở thành một người trí thức được
!”.
Trời ơi ! Sao lại có cơ duyên lạ lùng đến thế ! May mà thầy Bật
còn nhớ và nhắc lại chứ làm sao tôi có thể biết được. Cái Học bạ
lớp Nhất của tôi, tôi chỉ thấy nó có một lần rồi đem nộp làm hồ
sơ đi thi Tiểu học, làm sao tôi có thể nhớ ai đã ký cho tôi ! Thầy Nhất
Hạnh lúc đó cũng đã ký Học bạ cho hàng trăm học sinh khác đi thi Tiểu
học, những người học với Thầy nhiều năm được Thầy cưng nhất chưa
chắc Thầy còn nhớ tên, thì làm sao Thầy có thể nhớ một học sinh nhà
quê chỉ học ở trường Tuệ Quang có vài tháng như tôi ? Dù Thầy Nhất Hạnh
không nhớ nhưng đối với tôi, từ sau khi thầy Bật nhắc nhở, trong mỗi
con chữ tôi viết lên giấy hằng ngày tôi đều nhớ đến công ơn của Thầy.
* *
*
Thầy Nhất Hạnh hiện hữu trong đời tôi có tính điểm xuyết, không
đậm đà sâu sắc như với các Thầy Đôn Hậu, Thầy Trí Quang, Thầy Thiện
Siêu, nhưng lại có nhiều ý nghĩa. Sau khi nghe chuyện thầy Nguyễn Tri Bật
nhắc đến công ơn của Thầy Nhất Hạnh dành cho tôi, tôi suy nghĩ mãi mà
vẫn không hiểu được vì sao tôi lại có cái cơ duyên gắn bó với Thầy
Nhất Hạnh nhiều chuyện đến như thế ? Sau
nhiều năm trăn trở tôi chỉ tạm giải thích được với mình rằng: Có
được cái cơ duyên ấy bởi vì Thầy Nhất Hạnh, thầy Nguyễn Tri Bật
và người học trò nhà quê ngày xưa ở Đà Lạt là tôi là những người
cùng quê xứ Huế và cùng theo Đạo Phật. Có lẽ vì thế mà cả cuộc đời
cầm bút, tôi không rời được Huế và Đạo Phật chăng ?
Mới đây đọc trang Web Làng Mai, tôi được biết đầu tháng Chạp năm
Giáp thân nầy (đầu năm 2005), Thầy Nhất Hạnh sẽ đem một Tăng đoàn về
thăm quê nhà Việt
Gác
Thọ Lộc, cuối năm Giáp thân - đầu năm 2005
Tâm Hằng NĐX |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com