105-world.gif (4136 bytes)

posted: 22.1.2005

            Vài lời giới thiệu: Có một số độc giả trân quí web Giao Điểm đã điện thư trao đỗi với chúng tôi rằng: sự vạch trần tội ác Vatican của GĐ bao nhiêu năm qua như vậy là đủ rồi, chúng ta nên mở rộng vòng tay để “ôm” lấy "họ" trong tình huynh đệ một nhà. Chúng tôi rất trân trọng tâm tư của quí vị. Tâm tư đó bộc lộ toàn diện tinh thần hòa ái từ gốc rễ của con người Việt Nam. Nhưng, dân tộc chúng ta là dân tộc mang gánh nặng hận thù do người ngoài trói buộc trên vai, trong Tâm chúng ta. Hận thù Trung Hoa một ngàn năm đô hộ là mâu thuẫn chủng tộc, vì quyền lợi nước lớn ích kỉ tham tàn, nên với tinh thần bất khuất cuối cùng chúng ta vẫn giữ được một dân tộc tự cường độc lập; trong khi hận thù thực-dân-đế-quốc liên kết với Đế giáo Vatican lại là một hận thù mang tính văn hóa. Vì văn hóa làm chuyển biến nếp sống, tư duy, bản chất con người, nên hận thù mang tính văn hóa là một hận thù muôn thuở. Hậu quả của nó có thể nhìn thấy qua các hành động, chữ nghĩa từ những “con chiên của Vatican” đại biểu ở hải ngoại như Tú Gàn-Lữ Giang-Nguyễn Cần, Nguyễn Hữu Luyện, Nguyễn Hữu Thống v.v…, hay vô số những con chiên vô danh tiểu tốt khác, đến những loại phật tử vong tâm như Võ Văn Ái. Chính vì vậy, chỉ có thể tạo dựng được một tình huynh đệ chân thực với những nạn nhân bị đầu độc với loại hận thù này, chúng ta phải liên tục vạch rõ tội ác của Vatican. Tội ác đó là bản án lịch sử ngàn năm của dân tộc Việt Nam, bản án này không những cần phải được minh bạch trước dư luận thế giới mà còn mang chức năng tẩy xóa não trạng hận thù trong đầu óc của những con chiên và có trách vụ trang bị kiến thức cho đại đa số người Việt dân tộc vốn hiền hòa và hay quên lúc đất nước yên bình. Bản án ấy chỉ nên được xếp xó vào văn khố lịch sử của dân tộc Việt Nam, ngày nào mà Hội đồng Giám mục VN là một nhóm chủ chiên thừa sai chính thức thoát ly ra khỏi sự nô lệ của Đế giáo Vatican... Với những công trình nghiên cứu sử học dài hơi của gs Nguyễn Mạnh Quang đã thực chứng ông là một chuyên gia về Vatican; do vậy những đóng góp của ông đã làm cho “Bản án Tội ác Vatican” đối với dân tộc VN và nhân loại được hoàn chỉnh thêm về bề dày, chính xác hơn về bề sâu. Chúng tôi mời gọi độc giả tham khảo “Phần dẫn nhập” nầy được thu gọn với nội dung tổng quát trong cuốn sách sắp chào đời của gs Nguyễn Mạnh Quang. –Phụ trách web GĐ.  

Giaodiem 1-2005
VATICAN : KẺ THÙ LÂU DÀI NHẤT,
NGUY HIỂM NHẤT VÀ THÂM ĐỘC NHẤT
CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Nguyễn Mạnh Quang

“Đừng tưởng rằng ta xuống đây để mang lại hòa bình trên trái đất. Ta không tới để mang lại hòa bình mà là gươm giáo. Vì ta tới để làm cho con trai chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng, và kẻ thù của con người ở ngay trong nhà hắn (Matthew 10: 34-36).”

Lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại bị nhiều đế quốc trực tiếp can thiệp vào nội tình và tung tác.- Tìm hiểu lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại, từ đầu thập niên 1780 cho đến nay, có nhiều thế lực quốc tế trực tiếp can thiệp vào nội tình Việt Nam một cách vô cùng thô bạo và hết sưc trắng trợn. Những thế lực đó là:

1.- Đế Quốc Trung Hoa

2.- Đế Quốc Vatican hay Giáo Hội La Mã

3.- Đế Quốc Pháp

4.- Đế Quốc Nhật Bản

5.- Đế Quốc Mỹ hay siêu cường Hoa Kỳ

Trong các đế quốc trên đây, Đế Quốc Vatican (tức Giáo Hội La Mã) là một kẻ thù lâu dài nhất, bám chặt nhất, nguy hiểm nhấtthâm độc nhất đối với dân tộc Việt Nam.

Bám Chặt lâu dài nhất:

Theo tinh thần sắc lệnh Romanus Pontifex được ban hành vào ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hòang Nicholas V (1447-1455), Giáo Hội La Mã đã có dã tâm đánh chiếm toàn cầu (trong đó có Việt Nam) làm thuộc địa để cướp đọat tài nguyên và cưỡng bách các dân tộc nạn nhân phải theo đao Kitô làm nô lệ cho Giáo Hội. Cũng vì thế mà từ thập niên 1530, Giáo Hội đã sai phái rất nhiều điệp viên chuyên nghiệp giả danh là các nhà truyền giáo đến Việt Nam với những điệp vụ thâu thập tin tức tình báo chiến lược để chuẩn bị kế họach vận động đế quốc Pháp xuất quân đánh chiếm Việt Nam rồi cùng thống trị và chia nhau lợi nhuận.

 Suốt từ thập niên 1530 cho đến ngày nay :

 1.- (1533-1650) thời kỳ rình mò, dò dẫm, do thám thâu thập tin tức tình báo chiến lược để chuẩn bị cho kế họach vận động Pháp xuất đánh chiếm Việt Nam

2.- (1650-1858) thời kỳ vận động chính quyền Pháp và Tây Ban Nha cấu kết với Tòa Thánh Vatican xuất quân tiến chiêm Việt Nam

3.- (1858-1945) thời kỳ tiến quân đánh chiếm và thống trị Việt Nam

4.- (thời kỳ Kháng Chiến 1945-1954) Liên Minh Pháp - Vatican đem quân sang tái chiếm Đông Dương 

5.- (1954-1975)  thời kỳ Việt Nam bị chia ra làm hai miền Nam Bắc sau khi người Pháp bắt buộc phải công nhận quyền độc lập của dân tộc Viêt Nam và cuốn gói ra đi , và

6.- từ khi Hoa Kỳ cuốn gói đi khỏi Việt Nam vào tháng 4 năm 1975 cho đến nay

Bất kỳ trường hợp nào và hoàn cảnh nào, Tòa Thánh Vatican cũng luôn luôn bám chặt lấy thân xác Việt Nam như loài đỉa đói. Họ luôn luôn dùng đủ mọi thủ đoạn sử dụng khối tín đồ cuồng tín làm đạo quân thứ 5 làm lực lượng xung kích. Khi chưa chiếm được chính quyền, thì họ dùng lực lượng này để quấy phá đất nước ta bằng trăm phương ngàn kế theo sách lược "quậy cho nước đục để thả câu" và "không ăn được thì đạp đổ”. Khi đã chiếm được chính quyền, thì lực lượng này sẽ củng cố, bảo vệ quyền lực.

Đã bốn lần ra công vận động đế quốc Pháp và siêu cường Hoa Kỳ dùng sức mạnh quân sự để đánh chiếm hay trực tiếp can thiệp vào nội tình Việt Nam:

Lần thứ nhất, vào đầu thập niên 1650, Giáo Hội cho Linh-mục Alexandre de Rhodes tới tận kinh thành Paris để vận động với triều đình Vua Louis XIV (1638-1715) xuất quân đánh chiếm Việt Nam. Nhưng cuộc vận động không thành công vì nước Pháp lúc bấy giờ vừa phải bận tâm với các cuộc chiến ở Âu Châu, vừa ở trong tình trạng tài chính không được dồi dào do việc xây điện Versailles gây ra.

Lần thứ nhì, vào cuối thập niên 1780, Giáo Hội cho Giám-mục Pigneau de Béhaine móc nối và thuyết phục Nguyễn Ánh trao Hoàng Tử Cảnh (mới có hơn 4 tuổi) cho ông dẫn sang triều đình Vua Louis XVI (1754-1789) để thuyết phục chính quyền Pháp viện trợ quân sự cho Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn. Chủ đích của Giáo Hội La Mã là NẾU việc làm này giúp cho Nguyễn Ánh thành công thì ông ta sẽ ưu đãi đạo Kitô. Có được địa vị ưu đãi trong chính quyền, các nhà truyền giáo sẽ “trèo cao lặn sâu” để lấn chiếm tiếm quyền ở ngay trong triều đình nhà Nguyễn. Âm mưu này đã được triều đình Vua Louis XVI đồng ý ký Thỏa Hiệp Versailles 1787 viện trợ quân sự cho Nguyễn Ánh. Nhưng ngay sau đó, nước Pháp lâm vào tình trạng khủng hoảng tài chánh, tiếp theo là Cách Mạng 1789 bùng nổ, nước Pháp rơi vào tình trạng bất ổn do Giáo Hội gây ra. Giáo Hội vừa xúi giục tín đồ Gia-tô nổi lọan chống lại chính quyền Cách Mạng, vừa vận động thành lập Liên Minh Thánh (Holy Alliance) đánh vào nước Pháp. Vì vậy mà Thỏa Hiệp Versailles không được thi hành. Tuy vậy, Giáo Hội cũng vẫn còn theo đuổi âm mưu này, vừa bỏ tiền ra giúp, vừa thúc đẩy Giám-mục Pigneau de Béhaine dùng ảnh hưởng của Giáo Hội để vận động gom tiền mua sắm quân trang, quân cụ và tuyển mộ một đạo quân thập tự đem sang viện trợ cho Nguyễn Ánh.

Lần thứ ba, Giáo Hội ra lệnh cho Hồng Y Bonnechose, Giám-mục Pellerin, Linh-mục Legrand de Liraye, và Linh-mục Huc chính thức viết những bản văn trình bày những lợi điểm đánh chiếm Việt Nam, và gửi đến triều đình Pháp Hoàng Napoléon Đệ Tam. Đồng thời, các giáo sĩ này vừa công khai và chính thức đến tận triều đình trực tiếp gặp nhà vua để thuyết phục nước Pháp nên liên kết với Giáo Hội đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa. Họ đã thậm thụt với Hoàng Hậu Éugenie Marie de Montijo để nhờ bà thuyết phục nhà vua ủng hộ việc liên kết với Giáo Hội trong việc xuất quân đánh chiếm Việt Nam. Kết quả là Pháp đã làm đúng như ý muốn của Giáo Hội.

Lần thứ bốn, năm 1950, Giáo Hội ra lệnh cho Giám-mục Ngô Đình Thục đem ông Ngô Đình Diệm sang Mỹ giao cho Hồng Y Francis Spellman vận động với các nhân vật có thế lực trên sân khấu chính trị Hoa Kỳ để đưa ông Diệm về Việt Nam cầm quyền. Vì thế, ông Ngô Đình Diệm mới được Quốc Trưởng Bảo Đại bổ nhậm làm thủ tướng vào ngày 19/6/1954 để thay thế ông Bửu Lộc, và chính thức nắm quyền vào ngày 7/7/1954.

Ngoài bốn lần vận động ngoại cường trực tiếp can thiệp vào Việt Nam như kể trên, từ sau năm 1975, Giáo Hội còn có những hành động xúi giục tín đồ Gia-tô người Việt chống lại tổ quốc và chính quyền Việt Nam cho đến hiện nay. Dưới đây là những trường hợp điển hình:

1.- Việc đưa ông Giám-mục Nguyễn Văn Thuận (cháu cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm) về nắm giữ một chức vụ quan trọng trong giáo triều Vatican rồi thăng chức Hồng Y cho ông giám mục này để khích lệ tín đồ Gia-tô người Việt ở hải ngọai và ở trong nước tiếp tục đánh phá tổ quốc và chính quyền Việt Nam. Bằng chứng là lời tuyên bố của ông Giám-mục Nguyễn Văn Thuận với tín đồ Gia-tô người Việt tại Giáo Phận Orange County và ngày vào ngày 15/3/2001 rằng, “Vatican không nói, mà làm. Làm ra sao thì cứ nhớ lại biến cố Đông Âu thì rõ.[i]

2.- Việc xúi giục Linh-mục Nguyễn Văn Lý gây rối ở nhà thờ và xóm đạo Nguyệt Biều tại làng Thủy Biều nằm trong giáo phận Huế từ tháng 11/1994 kéo dài trong nhiều năm. Trong những hành động gây rối này, có cả yêu sách đòi lại khối tài sản bất động sản của Giáo Hội La Mã đã bị chính quyền tịch thu. Khối bất động sản bị tịch thu này là một phần trong những khối tài sản kếch sù mà Giáo Hội đã dựa vào chính quyền Liên Minh Pháp-Vatican, rồi đến Liên Minh Mỹ-Vatican từ năm 1862 đến tháng 4/1975 để cướp đọat tài nguyên, kinh tài bất chính và ăn chặn tiền ngọai viện cho miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Do hành động gây rối chống lại tổ quốc Việt Nam cho nên Linh-mục Lý bị chính quyền Việt Nam bắt giữ vào ngày 1/5/2001. Nhân việc Linh-mục Lý bị bắt giữ này, Giáo Hội ra lệnh cho các cơ quan truyền thông của những tín đồ Gia-tô người Việt ở hải ngoại tuyên truyền rằng chính quyền Viện Nam đang đàn áp tôn giáo. Như thế Giáo Hoàng John Paul II đã có lý do lên tiếng đòi chính quyền Việt Nam phải tôn trọng quyền tự do tôn giáo.

3.- Tháng 7 năm 2003, tín đồ Gia-tô người Việt hải ngọai lại nhận được lệnh của “các đấng bề trên” của họ cho ra đời cái gọi là “Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation” viết thư gửi cho Liên Hiệp Quốc yêu cầu tổ chức quốc tế này dùng quyền lực cưỡng ép chính quyền Việt Nam hiện nay phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp Định Paris 1973 và tái lập tình trạng chia đôi Việt Nam như thời kỳ 1954-1975. Dã tâm này của Giáo Hội là để cho bọn cuồng nô “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa lại được Hoa Kỳ đưa về nhẩy lên bàn độc, tác oai tác quái hà hiếp nhân dân, giống như Giáo Hội đã giúp cho tên Gia-tô phản thần tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm về cầm quyền ở Việt Nam vào mùa hè năm 1954.

BA SÁCH LƯỢC CỐ HỮU CỦA GIÁO HỘI LA MÃ

Tìm hiểu sâu rộng về sách lược bành trướng thế lực của đạo Ki-tô La Mã trong gần hai ngàn năm qua, chúng tôi nghĩ rằng Giáo Hội La Mã sử dụng những sách lược dưới đây để hủy diệt công trình Cách Mạng Pháp 1789:

1.- Dùng bọn tín đồ bản địa đã được tổ chức thành những đạo quân thứ 5, những ổ nội trùng dưới những danh xưng ngụy trang là những Đạo Binh Đức Mẹ, Đạo Binh Xanh, Đoàn Tự Vệ, Đạo Binh Thánh Giá, v.v… Những đạo binh này nằm tiềm phục ở trong các giáo khu hay trong các làng, chờ khi được lệnh truyền của các đấng bề trên thì nổi lên làm loạn chống lại chính quyền Cách Mạng. Một khi gây được tình trạng hỗn loạn ở trong nước, thì quân xâm lăng Liên Minh Thánh sẽ tiến công dễ dàng và tiêu diệt quân Cách Mạng.

2.- Thuyết phục và cấu kết với các thành phần giầu có trong xã hội và thế lực phản động đang nắm giữ chính quyền tại các cường quốc Âu Châu để thành lập Liên Minh Thánh (Holy Alliance). Mục đích là đem quân tấn công thẳng vào nước Pháp để tiêu diệt chính quyền Cách Mạng trước, rồi sau đó tiến hành những chiến dịch tiêu diệt những công trình Cách Mạng mà nhân dân Pháp đã đạt được trước kia.

3.- Tìm cách gài (cấy) những thành phần bảo thủ thân Giáo Hội vào trong chính quyền trung ương, sát cánh kề vai với nhà lãnh đạo của chính quyền. Dần dần thành phần này lèo lái chính quyền trung ương nghiêng hẳn về phe bảo thủ, rồi cấu kết với Giáo Hội và biến chính quyền đương thời thành một chế độ đạo phiệt Gia-tô làm tay sai cho Giáo Hội.

Trong suốt chiều dài lịch sử, từ thế kỷ 4 cho đến nay, tùy theo tình hình chính sự và dân tình hay hoàn cảnh của từng quốc gia bị chiếu cố, Giáo Hội sử dụng sách lược thứ 1 làm hậu thuẫn cho sách lược thứ 2 hoặc sách lược thứ 3 để tiếm đọat chính quyền tại quốc gia nạn nhân đó. Sự kiện này đã được trình bày khá đầy đủ ở trong Chương 6, Phần I của bộ sách Lịch Sử Và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã).

Tại Việt Nam, từ cuối thế kỷ 18 đến tháng 7 năm 1954, Giáo Hội sử dụng sách lược thứ 1 (dùng bọn tín đồ bản địa đã được tổ chức thành những đạo quân thứ 5, những ổ nội trùng…) làm hậu thuẫn cho sách lược thứ 2 (vận động chính quyền Pháp xuất quân đánh chiếm Đông Dương) để cướp đọat chính quyền và duy trì quyền lực.

Tại miền nam Việt Nam, từ năm 1950 cho đến cuối năm 1963, Giáo Hội sử dụng sách lược thứ 1 làm hậu thuẫn cho cả hai sách lược thứ 2 (vận động chính quyền Hoa Kỳ) để chiếm đoạt quyền hành và duy trì quyền lực chính trị. Nhờ vậy mà Giáo Hội đã thiết lập được chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam và chế độ chính trị này đã tồn tại được đến ngày 1/11/1963. Từ tháng 1/1964 cho đến tháng 4/1975 Giáo Hội vẫn sử dụng sách lược thứ 1 (dùng Lực Lượng Đại Đoàn Kết của nhóm Hoàng Quỳnh, Nguyễn Gia Kiểng và tất cả giáo dân trong các trại định cư ở rải rác trong các vùng chung quanh Sàigòn và dọc theo đường Sàigòn Đà Lạt) làm hậu thuẫn cho cả hai sách lược thứ 2 ( bám chặt lấy Hoa Kỳ) và sách lược thứ 3 (đưa người vào trong chính quyền Sàigòn) để thiết lập chế độ “Diệm không Diệm”.

Từ sau tháng 4 năm 1975, Giáo Hội cũng vẫn còn sử dụng sách lược thứ 1 làm hậu thuẫn cho cả sách lược thứ 2 (vận động Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc) và sách lược thứ 3 (tìm cách mua chuộc những nhân vật có thế lực để gài người vào trong chính quyền) để thực hiện mưu đồ tái lập quyền lực ở Việt Nam rồi tiến tới thiết lập chế độ đạo phiệt Gia-tô ở nước ta. Âm mưu này đang được Giáo Hội theo đuổi và âm thầm tiến hành.

CÁC ĐỘC KẾ CỦA GIÁO HỘI LA MÃ ĐƯỢC THI HÀNH Ở VIỆT NAM

Trong cuốn Việt Nam 1945-1975, Giáo-sư Lê Xuân Khoa viết:

Tính từ tháng 9 Năm 1862 là ngày bản thỏa ước đầu tiên được ký kết cho đến 9 tháng Ba 1945 là ngày Pháp bị Nhật đuổi khỏi Đông Dương, tổng cộng thời gian Việt Nam bị Pháp đô hộ là 83 năm. Trong thời gian này, thực dân Pháp đã triệt để khai thác tài nguyên và sức lao động của dân chúng, thi hành chính sách ngu dân, bác bỏ những yêu cầu được đối xử công bằng và thẳng tay đàn áp những hành động chống đối hay nổi loạn.” Lê Văn Khoa, Việt Nam 1945-1975 (Bethesda, MD: Tiên Rồng, 2004), tr 78.

Có lẽ vì một lý do nào đó không tiện nói ra, cho nên Giáo Sư Lê Xuân Khoa mới không đề cập đến vai trò của Giáo Hội La Mã là một thành viên trong Liên Minh Đế Quốc Pháp–Vatican thống trị Việt Nam trong thời gian này. Chuyện đó xin miễn bàn ở đây. Nhưng dù sao đi nữa, Giáo-sư Lê Xuân Khoa cũng đã xác nhận rằng chính quyền liên minh này đã thi hành các chính sách:

1.- Cướp đoạt tài nguyên của đất nước và bóc lột nhân dân ta cả về tiến bạc lẫn sức lao động

2.- Đàn áp các phong trào chống đối của nhân dân ta và từ chối những yêu cầu của dân ta được đối xử công bằng, tức là kỳ thị .

 3.- Ngu dân (và giáo dục nhồi sọ.)

Thực ra, từ ngàn xưa, đế quốc thực dân xâm lược nào cũng áp dụng các chính sách:

1.- Dùng bạo lực đàn áp dân chúng bị trị để duy trì quyền lực.

2.- Bóc lột nhân dân bằng chính sách thuế khóa và sưu dịch để vơ vét cho đầy túi tham, để xây các dinh thự, đền đài hay nhà thờ và tất cả những gì chúng muốn có.

3.- Thi hành chính sách ngu dân nhằm mục đích làm cho người dân không còn khả năng thông minh và kiến thức để nhìn ra những thủ đọan thâm độc trong chính sách cai trị của chúng, và cũng là để cho nhân dân không còn khả năng tìm mưu tính kế tổ chức chống lại.

Riêng Đế Quốc Vatican tức Giáo Hội La Mã còn đi xa hơn nữa, không những vừa khai triển tối đa cả ba chính sách này, vừa triệt để thi hành không một chút sai sót,  mà còn tiến hành thêm hai độc kế cực kỳ thâm độc. Hai độc kế này là:

1.- Hủy diệt lòng yêu nước trong lòng tín đồ,

2.- Thay thế tình yêu lứa đôi trai gái và lòng yêu thương gia đình bằng “Tình yêu Thiên Chúa”, để mập mờ tạo tình yêu đối với Giáo Hội La Mã, và cũng là lòng tuyệt đối tin tưởng và trung thành với Tòa Thánh Vatican.

 Như vậy, so với các đế quốc Trung Hoa, Nhật Bản, Pháp và Hoa Kỳ thì Đế Quốc Vatican tức Giáo Hội La Mã dã man nhất.

Vì giới hạn của sách này, chúng tôi chỉ nói về độc kế ngu dân (đặc biệt nói về một khía cạnh di lụy của độc kế này) và tòan bộ độc kế chia để trị của Giáo Hội được thi hành ở Việt Nam. Các chính sách bóc lột nhân dân và  độc kế hủy diệt tình yêu nước trong lòng tín đồ, và độc kế thay thế tình yêu trai gái cùng với tình gia đình bằng tình yêu đối với Thiên Chúa sẽ được trình bày đầy đủ trong bộ sách Lịch Sử Và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã. Phần chót của tập sách này sẽ nói về Phong Trào Nhân Dân Thế Giới Quyết Tâm Tranh Đấu Chống Lại Giáo Hội La Mã để đòi lại quyền làm người.

MỘT VÀI DI LỤY CỦA CÁC ĐỘC KẾ TRÊN ĐỂ LẠI CHO DÂN TỘC VỊÊT NAM

Đọc kế ngu dân được thi hành theo bước chân quyền lực của Tòa Thánh Vatican ở Việt Nam. Trưỡc năm 1862, Giáo Hội thi hành các độc kế này ở trong các xóm đạo. Từ năm 1862 đến năm 1885, việc áp dụng độc kế này được mở rộng tới các trường đạo và trường công lập, và từ năm 1885 đến năm 1945 được áp dụng trong toàn lãnh thổ Việt Nam. Trong những năm Kháng Chiến 1945-1954, độc kế này chỉ được thi hành trong các vùng (đặc biệt là trong các thành phố lớn) do Liên Quân - Vatican chiếm đóng. Tại miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, độc kế này được triệt để thi hành và môn sử thế giới bị kiểm sóat gắt gao đến độ hầu như không có sách giáo khoa về môn học này. Bộ sách Lịch Sử Thế Giới do học giả Nguyễn Hiến Lê và ông Thiên Giang biên sọan được phát hành vào năm 1956 bị cấm, không cho lưu hành, rồi biến mất ngay trong niên học 1956-1957. Tác giả Nguyễn Hiến Lê “bị mạt sát là đầu óc đầy rác rưởi” và “bị mật vụ theo dõi.” [ii] Đồng thời, môn sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại, có những sự kiện bị cắt xén tức là bưng bít, và nhiều   sự kiện hoặc khác bị sửa lại hoặc là bị xuyên tạc bằng cách diến dịch lươn lẹo.

NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA ĐỘC KẾ NGU DÂN

Nói chung, độc kế ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã có những đặc tính như sau:

1.- Không dạy môn lịch sử thế giới ở bậc trung học như ở Việt Nam hiện nay và ở các nước theo chế độ dân chủ tự do như Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Đức Nhật, v v…

2.- Giới hạn, bóp méo sự thật và xuyên tạc những sự kiện lịch sử trong môn lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại.

3.- Dùng phương pháp dạy học độc thọai, bắt các học sinh học thuộc lòng những bài học đã được biên sọan sẵn giống như các ông giáo sĩ Gia-tô giảng dạy tín lý Kitô cho tín đồ ở trong nhà thờ hay khi đi truyền đạo.

4.- Không dùng phương pháp dạy học đối thọai và thảo luận như ở các nước dân chủ tự do.

5.- Không dạy cho học sinh ở bậc trung học biết cách viết điểm sách (book report).

6.- Không dạy cho học sinh trung học và sinh viên bậc cử nhân phương cách viết một bài khảo luận.

7.- Không dạy hoc sinh trung học và sinh viên đại học hiểu rằng một ấn phẩm lịch sử phải là một ấn phẩm được biên soạn theo phương cách viết sử “nói có sách, mách có chưng”.

8.- Bưng bít lịch sử bằng cách không cung ứng tài liệu về môn khoa học xã hội liên quan đến lịch sử thế giới và lịch sử Giáo Hội La Mã.   Mục đích của việc làm này là không cho học sinh, sinh viên ý thức được những bước tiến của loài người từ thuở con người còn ở trong tình trạng bán khai trong thời Cổ Thạch (Old Stone Age) cách đây khoảng hai triệu năm qua các:

-             Thời Tân Thạch (New Stone Age) cách đây khoảng 6 ngàn năm,

-             Thời Đồ Đồng (cách đây khỏang 4 ngàn năm),

-             Thời Trung Cổ (476-1500)

-             Thời Kỳ Phong Trào Nhân Dân Âu Châu Đòi Cải Cách Tôn Giáo (1309-1648),

-             Thời Đại Lý Trí (1500-1789)

-             Thời cận và hiện đại từ 1789 cho tới thời đại nguyên tử và tin học như ngày nay.

9.- Không dạy cho học sinh biết cách sử dụng lý trí để phân tách và lý luận để tìm hiểu sự việc. Lý do vì Giáo Hội sợ rằng nếu học sinh hay tín đồ biết lý luận thì sẽ tìm hiểu những điều bịp bợm và phỉnh gạt người đời trong những tín lý Kitô, và sẽ thấy rõ tính cách chuyên chế, áp bức và bóc lột tín đồ trong các giáo luật của Giáo Hội. Nhờ vậy mà Giáo Hội đã thành công trong việc cấy vào đầu óc tín đồ những tín điều ki-tô vô lý và bịp bợm như:

Niềm tin tôn giáo không cần đến lý trí”.

"Phúc cho ai không thấy mà tin",

Chỉ cần có một niềm tin bằng hạt cải thì có thể bê cả trái núi quăng xuống biển

“Phải tuyệt đối tin tưởng và trung thành với Tòa Thánh Vatican””

Phải triệt để vâng lời tuân hành lệnh truyền của các đấng bề trên” ,v.v….

Tất cả những lời khuyên răn này đã thấm nhập vào từng tế bào  trong cơ thể của các tín đồ Gia-tô, cho nên họ tuân phục và tôn vinh Giáo Hội La Mã một cách vô điều kiện. Cái bản chất này đã khiến cho ngay cả một ông linh mục Gia-tô cũng phải lợm giọng và gọi là “Tòa Thánh đánh rắm cũng khen thơm[iii]

10.- Tệ hại hơn nữa, Giáo Hội La Mã và các chế độ Gia-tô đạo phiệt tay sai của Giáo hội còn cấy vào đầu óc non dại của học sinh cái tư tưởng quái đản là khi viết sử thì phải viết theo cái nguyên tắc “Tốt khoe ra, xấu xa đậy lại”. Sự kiện này được một văn nô Gia-tô tuyên bố công khai ) như sau:

“Một sử gia có lương tri, hãy tôn trọng lời khuyên của các bậc tiền bối răn dạy con cháu: “Tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy lạ.”. Tôn trọng sự thật là một lẽ, mà cái sự thật đó viết ra bởi người ngoại bang đáng tin, hay bởi người cùng chủng tộc đáng tin?[iv]. (trích bài viết đăng ở mục “Bạn Đọc Góp Ý” trong tờ Văn Nghệ Tiền Phong số 548 (Từ ngày 16 đến 30 tháng 11 năm 1998.)

 Trên đây là đại lược 10 đặc tính của độc kế ngu dân và giáo dục nhồi sọ mà Giáo Hội La Mã đã thi hành ở các xóm đạo và các giáo khu trên tòan lãnh thổ Việt Nam từ 1885 cho đến 1954, và riêng ở miền Nam Việt Nam từ năm 1862 cho đến khi chính quyền miền Nam tan rã vào năm 1975.

Độc kế Ngu dân và giáo dục nhồi sọ này còn để lại khá nhiều dị lụy cho dân tộc Việt Nam ta. Người viết không biết rõ những dị lụy này còn tồn tại ở Việt Nam ngày nay hay không. Theo dõi những nếp sống sinh họat của người Việt hải ngọai, chúng ta thấy những di lụy này còn thể hiện ra bằng suy tư, thái độ và hành động qua nhiều trường hợp.

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘC KẾ CHIA ĐỂ TRỊ

Giáo Hội La Mã còn để lại cho dân tộc ta cái di lụy của độc kế chia để trị và độc kể hủy diệt tình yêu nước trong lòng tín đồ Gia-tô. Di lụy này cũng hết sức trầm trọng không kém gì độc kế ngu dân và giáo dục nhồi sọ.

Độc kế chia để trị của Giáo Hội La Mã đã làm băng hoại cả tinh thần dân tộc và tình đoàn kết người Việt Nam ta. Độc kế này quả thật là vô cùng tinh vi và hết sức dã man. Giáo Hội đã xé nước Việt Nam ra làm thành nhiều mảnh vụn theo biên giới địa lý, sắc tộc, và tôn giáo, rồi biến những mảnh vụn thành những tiểu quốc, sau đó dùng người Việt đánh người Việt và dùng tín đồ Gia-tô cai trị người Việt thuộc các tôn giáo khác.

Do tác dụng của độc kế hủy diệt lòng yêu nước của Giáo Hội La Mã, nhiều người Việt tiếp nhận nền học vấn qua độc kế ngu dân trên đây đã không còn một chút gì là tình yêu nước và tình yêu dân tộc. Những người Việt vong bản này đã trở thành những đạo quân thứ 5 nằm vùng trong các xóm đạo, những tên lính patisan, commando đánh thuê và những tên tay sai đắc lực cho liên minh giặc Pháp – Vatican trong những đợt tấn công đánh chiếm đất nước. Với tinh thần “Thà mất nước, chứ không là mất Chúa”, những người này đã tỏ ra vô cùng đắc lực cho giặc trong những chiến dịch truy lùng tiêu diệt các lực lượng kháng chiến của nhân dân ta trong thời kỳ 1858-1945, cũng như trong thời Kháng Chiến 1945-1954, và trong thời liên minh Mỹ-Vatican thống trị miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975.

Sau tháng 4/1975, tác dụng của độc kế hủy diệt lòng yêu nước trong lòng tín đồ Gia-tô vẫn còn ở trong các cộng đồng người Việt Gia tô tại hải ngọai. Cũng vì thế mà những khi các thế lực ngọai xâm lấn chiếm hay gây rối cho chính quyền Việt Nam, thì những người này chẳng những đã không động lòng đau xót mà lại còn vui mừng như ngày tết. Dưới đây là một vài bằng chứng:

1.- Trong năm 1979, khi được tin Quân Xâm Lược Trung Hoa tràn qua biên giới Việt Hoa, tấn công và tàn phá các tỉnh ven biên của tổ quốc Việt Nam, thì bọn người này ở hải ngọai lại hồ hởi ăn mừng.

2.- Tương tự như vậy, trong năm 2003, khi hay tin nhóm thiểu số Tin Lành người Việt cấu kết với một nhóm người thuộc một vài sắc tộc thiểu số ở Tây Nguyên nổi loạn đòi thành lập xứ Tây Nguyên thi cũng chính bon người cuồng nô vô tổ quốc này cũng tỏ ra vô cùng hồ hởi. Tệ hơn nữa, các cơ quan truyền thông của những người vong bản này ở hải ngọai còn hô hào ủng hộ và lên án chính quyền Việt Nam đã thẳng tay trừng trị bọn phản lọan đội lốt tôn giáo để đánh phá tổ quốc Việt Nam.

3.- Còn nữa, ngay sau khi Hoa Kỳ xua quân tấn công vào lãnh thổ nước Irak vào tháng 3 năm 2003, thì tháng 7 năm đó, bọn người Việt hải ngọai vong bản này lại hí hửng đón gió, thành lập cái gọi là “Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation”. Phần lớn những người trong tổ chức này là những tín đồ Gia-tô và cũng là những người có bằng cấp đại học và đã từng nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền miền Nam truớc ngày 30/4/1975. Họ rủ nhau đến họp hành ở Tòa Nhà Civic Center trong thành phố Westminster (California) sọan thảo một bản thỉnh nguyện thư gửi cho ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, khẩn khoản yêu cầu tổ chức quốc tế  này cưỡng bách chính quyền Việt Nam hiện nay phải trao trả miền Nam Việt Nam để trở lại tình trạng như trước ngày 30/4/1975. Vấn đề này đã được người viết trình bày đầy đủ nơi Chương I trong cuốn “Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation” (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004).

ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC VĂN PHẨM LỊCH SỬ CỦA TÍN ĐỒ GIA TÔ NGƯỜI VIỆT NGOAN ĐẠO

Trong sách này, từ kép “ngoan đạo” được sử dụng  để nói về  hay ám chỉ  những người tuyệt đối tin tưởng vào Tòa Thánh Vatican (như ông Gia-tô Ngô Đình Diệm),  những người triệt để tuân hành những lệnh truyền của các “đấng bề trên” trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã theo đúng tinh thần “Tòa Thánh đánh rắm cũng khen thơm  trong những việc viết sách báo, hay tham gia các vai trò dẩn đạo quần chúng.

Tác giả không có ý nói tất cả những tín hữu chân chỉ hạt bột đi đạo theo thói quen, hoặc theo ông bà cha mẹ. Những tín hữu chân chỉ hạt bột này thường không có khả năng tư duy sâu xa, và cũng không hề bon chen len lỏi vào những chức vụ hay trong lãnh vực viết sách viết báo. 

Trong chương trình giáo dục được áp dụng trong toàn cõi Việt Nam từ năm 1862 cho đến năm 1954 và đặc biệt nhất là ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, môn lịch sử thế giới hầu như không hiện hữu. Riêng về môn sử Việt Nam trong thời trong cận và hiện đại bị biến chế theo nguyên tắc “tốt khoe ra, xấu xa đậy lại” của những con chiên ngoan đạo của Giáo Hội. Kết quả là các thế hệ sinh ra và lớn lên trong thời kỳ này không biết gì về tất cả những hành động can thiệp thô bạo của Giáo Hội (qua các nhà truyền giáo và tín đồ Gia-tô người Việt) vào chính sự Việt Nam trong suốt thời kỳ từ 1553 cho đến tháng 4 năm 1975.

Khi giáo dân ngoan đạo viết sử, họ cố gắng tìm những cái gì mà họ cho là tốt đẹp của Giáo Hội cũng như cuả các chế độ đạo phiệt Gia-tô tại các địa phương để trưng ra, và che giấu hay bưng bít, bằng mọi giá, những việc làm xấu xa, dã man và tàn ác của Giáo Hội và bọn tay sai bản địa.

Trong trường hợp không tìm được cái gì tốt đẹp thì họ bịa đặt ra những điều tốt tưởng tượng để đánh bóng hay tô son điểm phấn cho Giáo Hội và bọn cán bộ tay sai của Giáo Hội. Sách lược này được các nhà truyền giáo tiên phong thực thi trước rất nhiều lần để làm guơng cho tín đồ. Cũng vì vậy cho nên các nhà viết sử mới cho rằng những gì mà các nhà truyền giáo nói hay kể lại đều là chuyện hoang đường. Chính các linh mục biết rõ điều này hơn ai hết. Thỉnh thỏang, họ vô tình thốt ra cái sự thật ê chề đó như trường hợp Linh-mục Phan Phát Huồn ghi lại trong cuốn Việt Nam Giáo Sử với nguyên văn như sau:

Phần đông các sử gia cho những truyện của giáo sĩ thuật lại là những chuyện hoang đường.” [v]

Về kỹ thuật đánh bóng Giáo Hội La Mã và bọn tay sai Ngòai việc bịa đặt ra những chuyện tốt đẹp tưởng tượng, bọn văn nô Gia-tô còn sử dụng thủ đọan nhập nhằng đánh lận con đen” và lộn sòng, nghĩa là để những nhân vật của Giáo Hội mà chúng muốn đánh bóng vào chung với những vĩ nhân của nhân loại hay những vị đại anh hùng của dân tộc. Xin kể ra đây một số trường hợp:

Trường hợp 1 Năm 1986, nhóm biên tập cuốn Anh Hùng Nước Tôi (San Jose, CA:Đông Tiến, 1986) nhập nhằng để tên Gia-tô phản thần tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm vào chung với các nhà ái quốc và anh hùng dân tộc. Mục đích của việc này là lừa (lạc dẫn) những người ít học hay không thấu hiểu lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại để họ lầm tưởng rằng tên tam đại Việt gian họ Ngô này thực sự là một nhà ái quốc.

Trường hợp 2.- Năm 1998, tên thi nô Bút Chì làm bài thơ thất ngôn bát cú có tựa đề là Chướng Tai Gai Mắt đăng trong tờ Góp Gió số 55 phát hành tại Seattle vào tháng 6 năm 1998 với nguyên văn như sau:

Mác-lê dăm đứa Việt lai căng
Sách báo gần đây chúng viết rằng:
Đại Đế Quang Trung là bọn cướp,
Gia môn Đình Dệm mấy người gian
Chướng tai cẩu trệ tru văn hóa
Gai mắt đười ưoi bẹo diễn đàn
Cái lũ bôi đen dòng lịch sử
Nghe qua ai chẳng giận bầm gan.
                 Ngày 18/5/1998 – Bút Chì.

Thủ đọan của tên thi nô Bút Chì trong bài thơ này là để Đại Đế Quang Trung vào chung với tên Gia-tô phản thần tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm cũng không ngoài mục đích như ở trường hợp 1 ở trên. Chuyện này đã được trình bày khá đầy đủ ở trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963 trong Chương 21, các trang 468-472.

Trường hợp 3.- Mới đây, năm 2004, trong bài viết Lịch Sử Việt Nam đăng trong http://www.vietnamconghoa.com/ , tác giả Phạm Quân Khanh cũng “lộn sòng” để Vua Duy Tân (được dân tộc Vỉêt Nam kính trọng và tôn thờ là một nhà ái quốc) vào chung một chỗ với tên vua hề Gia-tô Thành Thái vô liêm sỉ. Mục đích của việc làm nhập nhằng này cũng không ngoài mục đích dựa vào uy tín và tiếng tăm của Vua Duy Tân để tô son điểm phấn cho tên vua Gia-tô Thành Thái khốn nạn đã có những hành động làm mất cả thể diện của dân tộc Việt Nam ta. Chuyện này sẽ được trình bày đầy đủ  ở sau.

Về kỹ thuật “bóp méo sự thật” hay “xuyên tạc lịch sử”, những khi bất đắc dĩ phải đương đầu với những sự kiện lịch sử nói lên những bằng chứng về những việc làm bất chính, độc đóan, bạo ngược, đại gian, đại ác của Giáo Hội hay bọn cán bộ tay sai của Giáo Hội, thì họ cố tình lờ đi, không nói tới. Nếu lờ đi không được, và bất đăc dĩ phải nói ra thì họ sẽ nói bằng một luận điệu xuyên tạc. Những trường hợp này được gọi là “bóp méo sự thậthay “xuyên tạc lịch sử”.

Bản chất của Giáo Hội La Mã là tự cao, tự đại, huênh hoang, khóac lác, bạo ngược và dã man. Cái bản chất này bắt nguồn từ sách Leviticus (26: 1-18 Lê Vi Ký) trong Cựu Ước với những lời lẽ láo khóet và mang đầy tính chất khủng bố. Dưới đây là bản văn của những lời lẽ ghê tởm này:

26.1- "You shall not make idols for yourselves; neither a carved image nor sacred pillar shall you rear up for yourselves; nor shall you set up an engraved stone in your land, to bow down to it; for I am the LORD your God".(Các ngươi không được tạo ra những hình tượng nào để sùng bái cho chính các ngươi; các ngươi cũng không được khắc chạm một hình ảnh nào hay dựng nên một trụ cột thiêng liêng nào để nâng cao cho chính các ngươi; ở trong vùng các ngươi cư ngụ, các ngươi cũng không được dựng nên một hòn đá nào có khắc chạm để cúi đầu nghiêng mình trước nó; vì rằng Ta là Thượng Đế của các ngươi).

26.14.- "But if you do not obey Me, and do not observe all these commandments", (Nhưng nếu các người không nghe lời Ta, không tuân hành những lời răn dạy này).

26.15.- "and if you despise My statutes, or if your soul abhors My judgements, so that you do not perform all My commandments, but break My covenant". (và nếu các ngươi khinh thường những quy luật của Ta, hay nếu linh hồn của các ngươi khinh ghét những lời phán xét của Ta, cho nên các người không thực thi tất cả những lời răn dạy của Ta, và không tuân hành quy ước của Ta".

26.16.- "I also will do this to you: I Will even appoint terror over you, wasting disease and fever which shall consume the eyes and cause sorrow of heart. And you shall sow your seed in vain, for your enemies shall eat it". (Ta sẽ gây ra những tai họa dưới đây cho các ngươi: Ta sẽ đem lại cho các ngươi những gì khủng khiếp nhất, những bệnh tật tàn phá các ngươi, dịch sốt rét sẽ hủy hoại những tròng mắt của các ngươi và nhiều cảnh đau buồn khác nữa. Những hạt giống mà các người gieo xuống đất sẽ không nẩy mầm được nữa vì rằng kẻ thù của các người sẽ ăn mất đi hết những hạt giống đó).

26.17.- "I will set My face against you, and you shall be defeated by your enemies. Those who hate you shall reign over you, and you shall flee when no one pursue you". (Ta sẽ nhìn thẳng vào mặt các ngươi, và các ngươi sẽ bị thảm bại trước kẻ thù. Những người nào thù ghét các ngươi sẽ đè đầu cỡi cổ các ngươi, và các ngươi sẽ phải chạy trốn cả những khi không có người nào đuổi bắt các ngươi).

26.18.- "And after all this, if you do not obey Me, then I will punish you seven times more for your sins". (Và sau hết, nếu các ngươi không nghe lời Ta, Ta sẽ trừng phạt các ngươi bẩy lần hơn về tội lỗi của các ngươi). [vi].

Với những đọan văn mô tả trên đây, không ai có thể chối cái được là ông Thượng Đế Jehovah này quả thật là bạo ngược quá, hẹp hòi quá, hung dữ quá và lại ưa thích trả thù một cách cực kỳ tàn bạo. Ấy thế mà Giáo Hội La Mã lại rêu rao một cách vô cùng trắng trợn rằng, “Chúa Jehovah sinh ra lòai người và tất cả đều là con Chúa.” Và “Chúa Cha Jehovha toàn trí ,toàn thiện, toàn năng và có mặt ở khắp mọi nơi.

Nói rằng Chúa Cha Jehovah sinh ra tất cả lòai người, thì TẠI SAO Giáo Hội lại chỉ công nhận những tín đồ của Giáo Hội là con Chúa”, còn những người ở ngoài Giáo Hội thì Giáo Hội lại gọi là “những quân mọi rợ”, “những phường tà giáo” hay “những dân mọi rợ”.

Nói rằng ông Chúa Jehovah “toàn trí”, thì TẠI SAO ông Chúa này lại không dùng cái khả năng toàn trí của ông để đối phó với các ông thần khác, mà lại phải ra lệnh cấm bằng những lời lẽ bạo ngược dã man đầy tính cách khủng bố tinh thần như đã nói trong sách Leviticus để hù dọa những người nằm dưới ách thống trị của ông ta không được thờ bất kỳ ông thần nào ?

Nói rằng Chúa Cha Jehovah “tòan thiện”, thì hoàn toàn trái ngược với lời lẽ trong sách Leviticus trên đây.

Nói rằng Chúa Cha Jehovah “tòan năng”, thì TẠI SAO Chúa lại không dùng quyền năng của Chúa để hủy diệt các thần linh khác để cho trong vũ trụ này chỉ còn lại có một mình ông ta là thần hay thượng đế mà thôi? Nếu làm được như vậy đương nhiên là trong cõi nhân gian này không còn có một ông thần nào khác để cho những người bất hạnh phải nằm trong vòng kìm kẹp của ông ta đến để thờ cúng hay cầu khấn.

Nói rằng Chúa Cha ở khắp mọi nơi, thì TẠI SAO Giáo Hội lại đòi hỏi tín đồ phải đến nhà thờ tham dự buổi lễ dâng cúng tiền bạc cầu khấn do chính Giáo Hội làm chủ tế? Có phải là làm như vậy là để cho Giáo Hội thu vơ tiền bạc dâng cúng không?

Rõ ràng là Giáo Hội ăn ngang nói ngược, ăn không nói có, gian manh bịp bợm. Nói về những đặc tính ghê tởm này Giáo Hội La Mã, Giáo-sư Lý Chánh Trung ghi lại trong cuốn Tôn Gíao và Dân Tộc như sau:

"Trong Giáo Hội Công Giáo thì trái lại, khuynh hướng đóng kín và tự mãn hiện diện ngay trên bình diện tập thể, vì Giáo Hội đã tự ý thức mình như một dân tộc được Thiên Chúa chọn lựa và giao cho sứ mạng cứu rỗi nhân loại. Giáo Hội là con đường độc nhất đưa tới Thiên Chúa: "Ngòai Giáo Hội không thể có sự cứu rỗi" (hors de l' Église, point de salut).

Hậu quả của quan niệm ấy là tính cách bất khoan dung (intolérance) của Giáo Hội Công Giáo: Giáo Hội đã được Thiên Chúa ban truyền toàn bộ sự thật cần thiết cho sự cứu rỗi và chỉ Giáo Hội mới có quyền giải thích hoặc khai triển sự thật đó. Tất cả những gì ở ngòai sự thật nói trên hoặc trái với lời giải thích chánh thức của Giáo Hội chỉ có thể sai lầm. Mà Giáo Hội có quyền và có bổn phận tiêu diệt sự sai lầm để bảo vệ sự thật hầu hòan thành sứ mạng cứu rỗi của mình. Kể từ dạo ấy, mỗi khi hoàn cảnh cho phép, Giáo Hội đã không ngần ngại dùng bạo lực để tiêu diệt những tôn giáo khác, đập phá các đền thờ "tà thần", đốt sách vở ngọai đạo và đốt luôn bọn người bị xem là "lạc đạo", nếu không chịu sửa sai.

Những hành động nói trên không phải bắt nguồn từ một khuynh hướng đế quốc mà từ cái ý thức rất chân thành và nghiêm chỉnh của Giáo Hội về sứ mạng cao cả của mình. Thật là cảm động khi nhìn lại cái ý chí sắt đá mà Giáo Hội đã giữ được nguyên vẹn qua bao cuộc thăng trầm trong gần hai ngàn năm lịch sử, để thi hành mạng lịnh cuối cùng của Đức Kitô: "Các con hãy ra đi dạy dỗ các dân tộc". Điều đáng buồn là một số phương pháp mà Giáo Hội đã dùng đến để dạy dỗ các dân tộc có tính cách phản giáo khoa.

Sự bất khoan dung khiến cho, trong quá khứ, Giáo Hội không bao giờ chấp nhận tự do trong nội bộ của mình cũng như trong xã hội loài người nói chung. Trong nội bộ Giáo Hội, người Công Giáo không có quyền có ý kiến riêng mà luôn luôn phải theo lời dạy của giáo quyền. Có một ý kiến riêng là đã "lạc đạo" rồi như Giám-mục Bossuet viết: "Người lạc đạo" (hétérique) là người có một ý kiến theo nguyên nghĩa. Mà có một ý kiến là gì? Là một tư tưởng riêng, một tình cảm riêng. Nhưng người Kitô hữu là người Công Giáo nghĩa là con người phổ biến (universel), con người không có tình ý riêng tư luôn luôn phải tuân theo tình ý của Giáo Hội không một chút do dự. ” Trong xã hội loài người, Giáo Hội không bao giờ công nhận cho các tôn giáo khác hoặc cho những người không công giáo cái quyền ăn nói ngang hàng với mình, bởi các lý do giản dị là chỉ có Giáo Hội mới có sự thật mà chỉ có sự thật mới có quyền ăn nói. Người sai lầm thì chỉ có mỗi một quyền sửa sai.

Trong thông điệp ngày 29-4-1814 gửi Đức Giám-mục địa phận Troyes, Đức Giáo Hoàng Pie VII viết “Người ta lẫn lộn sự thật với sự sai lầm, người ta đặt Hiền thê thánh thiện và tinh tuyền của Đức Kitô (tức Giáo Hội Công Giáo) ngang hàng với những giáo phái lạc đạo và ngay cả với bọn Do Thái bất tín”. Đức Giáo Hoàng Grégoire XVI đã gọi tự do báo chí là ”thứ tự do tai hại nhất, đáng ghét nhất, kinh tởm nhất mà một số người dám đòi hỏi một cách ồn ào cuồng nhiệt và quảng bá khắp nơi...”.

Tóm lại, ít nữa là trước Công Đồng Vatican II, lý tưởng của Giáo Hội vẫn là thời vàng son Trung Cổ trong đó Giáo hội có đủ thế lực để giành độc quyền dạy dỗ các dân tộc.

Tôi nghĩ rằng chính sự bất khoan dung nói trên (ngòai những lý do khác) đã khiến cho Giáo Hội va chạm nặng nề với các dân tộc Á Đông và đã không thành công mỹ mãn trong việc rao giảng tin mừng tại vùng này. Sau bốn thế kỷ giảng đạo với những phương tiện hùng hậu, những hy sinh lớn lao, phải nhận rằng số người Á Đông theo đạo thật là ít oi, ngoại trừ xứ Phi Luật Tân. Lý do căn bản của kết quả khiêm tốn ấy phải chăng là người Á Đông, khi theo đạo phải ly cách với cộng đồng dân tộc chính vì Giáo Hội đã xem các nền văn hóa Á Đông là vô giá trị, sai lầm, tội lỗi, do đó gần như bắt buộc người Á Đông phải lựa chọn giữa dân tộc và Giáo Hội.

Ngày nay hầu hết mọi người đều đồng ý rằng việc cấm đạo, giết đạo dưới các nhà vua triều Nguyễn là một hành động bất nhân và sai lầm. Nhưng nếu chúng ta tự đặt mình vào địa vị các nhà vua ấy, vào cái khung cảnh tâm lý thời đó, thì có lẽ chúng ta khó có thể làm khác hơn.” [PN1] [vii]

Bản văn trên đây cũng như lịch sử đã cho thấy Giáo Hội không những chỉ ăn ngang nói ngược, gian manh, bịp bợm, ăn không nói có, mà còn có những thành tích về tội ác chống lại nhân lọai hết sức dã man và cực kỳ tàn ngược, khiến cho toàn thể nhân dân thế giới đều phải ghê tởm. Biết rõ điều này, cho nên, mỗi lần thánh du đến một quốc gia nạn nhân nào của Giáo Hội, Giáo Hòang John Paul II cũng phải xin lỗi lia lịa. Tính ra từ năm 1992 cho đến năm 2000, ông giáo hòang này đã xin lỗi nhân dân các quốc gia nạn nhận đển cả trên dưới 100 lần. Có lẽ Giáo Hòang John Paul II cảm thấy, xin lỗi như vậy cũng chưa đủ để làm cho nguôi lòng căm giận hận thù của nhân dân thế giới. Cho nên, ngày 12/3/2000, ông còn cho tổ chức một buổi lễ vô cùng trọng thể tại Quảng Trường Peter trong kinh thành Rome để chính ông và các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican đứng ra chính thức cáo thú tội ác với Chúa về những rặng núi tội ác chống lại nhân loại trong gần hai ngàn năm qua của Giáo Hội.

Người Trung Hoa thường nói “giang sơn dị cải, bản chất nan di”. Cái bản chất xấc xược, ngược ngạo, ăn ngang nói ngược, quay quắt, lắt léo, lật lọng và lươn lẹo của Giáo Hội La Mã quả thật là “nan di”, hết thuốc chữa. Cái bản chất này đã ăn sâu vào trong huyết quản và tâm não của Giáo Hội từ giáo hoàng cho đến các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican, và các cán bộ mang chức thánh trong Giáo Hội, cũng như bọn văn nô Gia-tô tại khắp các địa phương. Cũng vì thế mà ngay trong buổi lễ cáo thú tội ác vào hôm 12/3/200, có hàng trăm triệu con mắt từ khắp mọi nơi trên thế giới theo dõi qua các đài truyền hình mà Giáo Hoàng John Paul II và các ông chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican cũng vẫn lươn lẹo bằng cách chỉ xin lỗi với Chúa mà không có một lời nào nói với các dân tộc nạn nhân để xin lỗi, nhận lỗi và nhận lãnh trách nhiệm bồi thường những thiệt hại cho họ về cả tinh thần lẫn thể chất và vật chất. Giáo Hội La Mã lưu manh và lượn lẹo là thế đó!

Nói về đặc tính lươn lẹo của Giáo Hội La Mã, học giả Gia-tô Phan Đình Diệm, viết trong "Những Lời Bàn" về "Mea Culpa Bài 3" ("Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh Cáo Thú Tội Lỗi Ngàn Năm vào ngày Chủ Nhật 12/3/200") như sau:

LỜI TÁM: Trong 7 Chương tội mà Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh cáo thú, có nhiều tội danh phải kể là "vượt tội" mang cấp số cộng hay cấp số nhân. Ví dụ: Giáo Hội phạm tội A, muốn giấu kín và bưng bít tội A, Giáo Hội nhắm mắt phạm thêm tội B để bảo vệ tính bí nhiệm của tội A. Giáo Hội bị cuốn hút vào quy luật đổ giây chuyền của những con bài dominos, Giáo Hội phạm thêm tội C để bảo vệ các tội A và tội B... Thử tưởng tượng từ ngày Giám-mục Pierre Cauchon (đồng âm với con heo) thiêu sống Bà thánh Jeanne d' Arc, cho đến ngày Bà được phong thánh là hơn 400 năm, các tòa giảng của Giáo Hội trên khắp cõi Âu Châu phải ăn gian nói dối và vu oan giá họa cho Bà bao nhiêu lần? Giết Bà cũng một tay Giáo Hội, phong thánh cho Bà cũng một tay Giáo Hội, nhưng có mấy ai được may mắn như Bà. Hầu hết các trọng tội mà Giáo Hội phạm tại các "Tòa Điều Tra Dị Giáo" là tội đẻ ra tội theo cấp số cộng và cấp số nhân." [viii]

Đọan văn trên đây cho chúng ta thấy bộ máy tuyên truyền của Giáo Hội La Mã hết sức tinh vi. Nói cho rő hơn, bộ máy tuyên truyền này có biệt tài "đổi trắng thay đen, nói có thành không, nói không thành có, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng và bịp bợm"  hết sức là siêu việt. Siêu vịệt ở chỗ Giáo Hội đã gần như công khai sử dụng bạo lực đi kèm theo những họat động tuyên truyền với lời răn đe "Theo ta thì sống, chống ta thì chết". Bố máy tuyên truyền này được học giả Gia-tô Phan Đình Diệm ghi nhận như sau:

“LỜI BẢY: Hàng ngàn năm, để bưng bít và che dấu 7 chương tội đối ngọai và 1 chương tội đối nội là tám, nghệ thuật tuyên truyền của Giáo Hội Roma phải đạt đến chő cực kỳ ảo diệu, thiên biến vạn hóa, một nghệ thuật tuyên truyền thần thánh, một nghệ thuật tuyên truyền nhồi sọ tuyệt vời: Giáo Hội là Thánh, Giáo Hội là Mầu Nhiệm, Giáo Hội là Bí Tích, Giáo Hội là Hiền Thê của Đức Giê-su, Giáo Hội là Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền, Giáo Hội là Vương Quốc của Thiên Chúa... Giáo Hội tự nhận cho mình hết tất cả những khái niệm cao cả thánh thiện, vừa linh thiêng siêu hình, vừa hữu hình thế tục, chẳng bỏ sót một phạm trù nào! Ngòai nghệ thuật tuyên truyền, Giáo Hội vẫn phải xây "vạn lý trường thành đức tin" và buông bức "màn sắt thần học" lên đầu đòan chiên. Mỗi tòa giảng là một cái loa tuyên truyền, dựa vào khoa thần học phù phép, ảo thuật "núi tội thành con chuột", "kẻ cướp mặc áo thày tu" và "quỷ Satan có diện mạo ông thánh".[ix]

Những đặc tính, kỹ thuật hay tài nghệ ăn không nói có và lươn lẹo trên đây của Giáo Hội La Mã đều được truyền dạy cho tất cả tín đồ Gia-tô ngoan đạo của Giáo Hội. Cũng vì thế mà trong các cuốn sử do những tín đồ Gia tô ngoan đạo người Việt, chúng ta sẽ thấy KHÔNG CÓ một lời nào nói đến bàn tay tội ác của Giáo Hội La Mã ở Việt Nam trong suốt thời kỳ từ năm 1553 cho đến ngày 30/4/1975.

Đến đây, người viết xin đặt vấn đề là:

NẾU các ông sử nô Gia-tô được học sử thế giới như học sinh trung học ở Hoa Kỳ và ở Việt Nam hiện nay, và cũng được học sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại như học sinh trung học ở Việt Nam hiện nay, và NẾU họ chịu tìm đọc sách sử nói về lịch sử Giáo Hội La Mã (như được ghi trong phần Tài Liệu Tham Khảo ở phần chót trong tập sách này), thì:

1.- Họ có nhận thức được rằng Giáo Hội La Mã đã có chủ trương đánh chiếm Việt Nam ngay từ đầu, rồi mới gửi người đến kinh thành Paris tới ba lần vận động và liên kết với Pháp xuất quân đánh chiếm Việt Nam, hay không?

2.- Họ có nhìn thấy rõ việc Giáo Hội cho người dẫn ông Gia-tô Ngô Đình Diệm sang Mỹ giao cho Hồng Y Francis Spellman vận động với các nhân vật có thế lực trong chính giới Hoa Kỳ để đưa ông Gia-tô họ Ngô này về Việt Nam cầm quyền, hay không?

3.- Họ có nhìn thấy Giáo Hội vẫn tiếp tục biến tín đồ Gia-tô người Việt ở trong nước cũng như ở hải ngọai thành những đạo quân thứ 5 và lực lượng xung kích để đánh phá tổ quốc Việt Nam ta hay Không? Họ có biết đây là sách lược “quậy cho nước đục để tha câu” và sách lược “không được ăn thì đạp đổ” mà Giáo Hội đã sử dụng từ cuối thế kỷ 18 đến năm 1885 cho đến ngay nay hay không?

Nếu câu trả lời là “ mà họ vẫn còn lươn lẹo, bóp méo sự thật và xuyên tạc lịch sử như trong bài viết Lịch Sử Việt Nam của tác giả Phạm Quân Khanh, như trong cuốn Việt Nam Cuộc Chiến Tranh Quốc Gia-- Cộng Sản của nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử Việt Nam Cận và Hiện Đại và trong các ấn phảm của các tác giả mà người viết đã nêu đích danh nơi Chương 21 trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-193 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000) thì đúng là bản chất quay quắt, lắt léo, lật lọng, lươn lẹo và ăn không nói có mà họ đã hấp thụ được của Giáo Hội quả thật là bất trị, đúng như thành ngữ “giang sơn dễ đổi, bản chất khó chừa” của người Trung Hoa như đã nói ở trên.

Nếu câu trả lời là “không” thì quả thật là độc kế ngu dân của Giáo Hội La Mã đã làm cho các tế bào thần kinh ở trong não bộ của họ đã bị thui chột và tê liệt khiến cho họ không còn khả năng tìm hiểu các nguồn tài liệu đầy dẫy ở trong các thư viện tại các xã hội dân chủ tự do như ở Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Đức, v.v...

Thực ra, câu trả lời đã nằm sẵn ở trong cái nguyên tắc Tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy lại.mà một văn nô Gia-tô trong cái tổ chức gọi là Phong Trào Phục Hưng Tinh Thần Ngô Đình Diệm ở thành phố Seattle (Washington) đã viết ra bằng giấy trắng mực đen như đã nói ở trên.

MỘT TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH KHÁC:

Đây là trường hợp ông Gia-tô Nguyễn Gia Kiểng, tác giả cuốn Tổ Quốc Ăn Năn (Paris: Tự Xuất Bản, 2001). Cũng nên biết ông Gia-tô Nguyễn Gia Kiểng quê Phát Diệm, là em ruột ông Gia-tô Nguyễn Gia Hiến, chủ tịch lực lượng Đại Đoàn Kết của giáo dân Gia-tô Hố Nai trong những năm 1964-1975. Ông Gia-tô Nguyễn Gia Kiểng được chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm ưu đăi dành cho một học bổng đặc biệt đi du học ở Pháp vào khỏang năm 1961.

Theo học ngành kỹ sư tại một đại học ở Pháp, tất nhiên là cũng được dạy phương cách viết khảo luận như các sinh viên khác ở một nước tự do dân chủ như ở Hoa Kỳ. Thế nhưng, vì bản chất Gia-tô phải triệt để nghe theo những lời khuyên răn của các bậc tiền bối trong Giáo Hội, cho nên khi viết cuốn Tổ Quốc Ăn Năn, ông Nguyễn Gia Kiểng đưa ra những lời tuyên bố khơi khơi (không cần phải chứng minh gì cả) với những lời lẽ có mục đích làm hạ giá nền đạo lý tam giao cổ truyền. Ông Kiểng gièm pha các anh hùng dân tộc của đất nước với mục đích là vừa để chạy tội và đánh bóng cho Giáo Hội, vừa để lấp liếm tội ác cho những tín đồ Gia-tô Việt gian làm tay sai cho Giáo Hội đã phải đền tội trước pháp luật trong thời các vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Ông Gia-tô Nguyễn Gia Kiểng tuyên bố một cách võ đóan như sau:

"Niềm tự hào dân tộc của tôi bị thương tổn lần đầu tiên vào khoảng năm 1958. Tôi đọc báo về cuộc thuyết trình của Giáo-sư Tưởng Quân Chương, một chuyên gia người Đài Loan về Việt Nam, tại Đại Học Văn Khoa Saigon. Sự hiểu biểt rất non nớt của tôi lúc đó cũng đủ để tôi ý thức rằng ông hơn hẳn nhiều trí thức Việt Nam ngay về chính trị, lịch sử và văn hóa Việt Nam. Ông lập luận chắc chắn, dẫn chứng tài liệu đầy đủ về văn học Việt Nam, từng tác phẩm, từng tác giả. Đề cập đến trận Đống Đa, Tưởng Quân Chương dẫn tài liệu của Thanh triều, nói rằng Tôn Sĩ Nghị, Tổng Đốc Lưỡng Quảng, đã đem sáu ngàn kỵ binh sang Việt Nam để phô trương thanh thế và làm lễ thụ phong cho Lê Chiêu Thống, nhưng đã bị Nguyễn Huệ đánh bất ngờ thua chạy về và bị cách chức. Con số này theo tôi là hợp lý. Tôn Sĩ Nghị từ Trung Quốc sang Việt Nam trong một hai tuần lễ thì chắc chắn là sang bằng kỵ binh rồi, mà kỵ binh thì sáu ngàn đã là nhiều lắm đối với hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây, muốn hơn cũng không có. Nên nhớ là nhà Thanh lúc đó yên bình đã mấy trăm năm nên không còn giữ quân đội hùng hậu nữa.. Tôi chưa thấy sử gia Việt Nam nào bác bỏ sự kiện (này) của Tưởng Quân Chương." [x]

Cũng nên biết là khi được Hoa Kỳ và Tòa Thánh Vatican đưa về cầm quyền ở miền Nam Việt Nam, ông Ngô Đình Diệm mời Linh-mục  Raymond de Jaegher người Bỉ  làm cố vấn đặc trách việc sửa lại môn sử và công dân trong chương trình học ở bậc tiểu và trung học cho thích hợp với chính sách ngu dân của Giáo Hội La Mã. Ông linh mục này lại mời ông Tưởng Quân Chương đến Sàigòn để  đảm trách việc này. Vấn đề này được nói rõ ở phần sau.

Ngoài việc viện dẫn lời nói của Tưởng Quân Chương, ông Nguyễn Gia Kiểng còn viết mấy đọan văn hết sức ngược ngạo như sau:

"Việc bách hại người Công Giáo đã là một vết nhơ khó tẩy xóa được trong lịch sử Việt Nam. Đó là sự kiện chính nhà nước Việt Nam, chứ không phải một đòan quân xâm lược nào, đã tàn sát một số lớn người Việt Nam hoàn toàn vô tội (sic). Thảm kịch còn lớn hơn nữa vì nhà nước đó biết họ vô tội nhưng vẫn giết họ.

"Điều ngạc nhiên là cho tới nay chưa có một chính quyền Việt Nam nào, nhân danh sự liên tục quốc gia, tổ chức một ngày để xin lỗi những người Công Giáo về sự sai lm kinh khủng đó." [xi]

Hai đọan văn trên đây đã làm cho người viết suy nghĩ rất nhiều và cố gắng tìm kiếm tài liệu để tìm ra manh mối hay vì nguyên nhân nào mà ông Gia-tô Nguyễn Văn Kiểng lại có thể viết ra hai đọan văn quái đản và ngược ngạo như vậy. Chuyện này sẽ được trình bày trong phần nói về độc kế và giáo dục nhồi sọ ở miền Nam trong những năm 1954-1975.

Là một trí thức có văn bằng kỹ sư tốt nghiệp tại một đại học ở Pháp, có thể là ông Gia-tô Nguyễn Văn Kiểng cũng biết rõ viết ra những đọan văn sặc mùi Gia-tô với những lời tuyên bố vő đóan như vậy sẽ bị người đọc khinh rẻ là người dốt nát về lịch sử. Vì thế cho nên ông đã rào đón như sau:

“Vì là một cuốn sách ý kiến, hơn nửa ý kiến cá nhân, nên việc liệt kê tài liệu lại càng khó. Tác giả viết với kiến thức và suy tư cá nhân của mình cho nên nếu muốn liệt kê hết các tài liệu đã ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên cuốn sách thì có lẽ phải liệt kê hết tủ sách của mình. Điều này không phải chỉ khó mà không thể làm được vì, một mặt, có những tài liệu như báo chí, tác giả đã tự ý hủy bỏ vì không có chỗ lưu giữ và, mặt khác, có những biến cố đã khiến tác giả nhiều lần mất tất cả hay gần hết tủ sách.” [xii]

VẬY SỬ LIỆU NHƯ THẾ NÀO MỚI CÓ TÍNH CÁCH KHẢ TÍN ?

Độc kế ngu dân và giáo dục nhồi sọ đã được Giáo Hội La Mã triệt để thi hành ở Việt Nam ít nhất là từ năm 1862, cho nên khi đọc một cuốn sách có những đề tài liên hệ đến giai đoạn lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại, chúng ta phải đặt vấn đề về kiến thức về lịch sử của tác giả. Tác giả phải thóat ra khỏi cái di lụy của độc kế ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã trước đây. Hơn nữa, viết một cuốn sách có những đề tài liên hệ đến lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại, tác giả phải tham khảo thật nhiều tài liệu, phải thấu hiểu tình hình quốc tế và chính sách ngọai giao của các cường quốc thế giới đã can thiệp trực tiếp vào nội tình Việt Nam trong thời kỳ này. Tác giả phải biết rõ, trong các thế lực này, Giáo Hội La Mã là một thế lực quan trọng hơn cả, quan trọng vì Giáo Hội đã chủ động đánh chiếm và thống trị Việt Nam bằng mọi giá theo đúng tinh thần sắc chỉ Romanus Pontifex được ban hành vào ngày 8 tháng 1 năm 1454 trong thời Giáo Hòang Nicholas V (1447-1455).

Dưới đây là một số dữ kiện lịch sử mà người viết lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại không thể bỏ qua:

Thứ nhất- Giáo Hội La Mã có gần 600 ngàn tín đồ người Việt vào giữa thập niên 1850 và gần 2 triệu tín đồ vào năm 1954. Những người này đã được nhồi sọ thành những hạng người "tuyệt đối tin tưởng và triệt để tuân hành lệnh truyền của Tòa Thánh Vatican". Ngòai ra, Giáo Hội còn có hàng ngàn linh mục và giám mục với tinh thần "thà mất nước, chứ không thà mất Chúa" nắm giữ những vai trò trưởng lưới gián điệp và chỉ huy các đạo quân thập tự nội trùng chống lại tổ quốc Việt Nam.

Thứ hai.- Giáo Hội  luôn luôn len lỏi tìm cách can thiệp trực tiếp vào nội tình của bất cứ quốc gia nào trên thế giới mỗi khi có biến động. Trong những trường hợp sau, Việt Nam là một nạn nhân trường kỳ nhất:

1.- Sách sử còn ghi rõ, vào giữa thập niên 1780, Giáo Hội La Mã đã cấu kết với Pháp qua sự trung gian của Gíám mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) để can thiệp vào Việt Nam. Qua ông Giám-mục này, Giáo Hội La Mã và nước Pháp đã sản xuất ra Thỏa Hiệp Versailles 1787. Đây là một thỏa hiệp hết sức quái đản vì nó là kết quả của sự mà cả và ký kết giữa hai thế lực ngoại quốc để can thiệp vào nội tình của nước Việt Nam. Nói cho rõ hơn, đây là sự thỏa thuân giữ một bên là chính quyền đạo phiệt Gia-tô Pháp (Vua Louis XVI) và một bên cũng là một người Pháp và cũng là một viên chức cao cấp trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã (Giám mục Bá Đa Lộc) được Nguyễn Phúc Ánh (từ năm 1802 gọi là vua Gia Long) ủy thác cho làm đại diện Việt