
posted: 21.1.2005
NƯỚC CHẢY QUA CẦU (Bút Ký) Trần Thị Bông Giấy VIII
Đi
trên phố Tuy
nhiên, khác với người Trung Hoa, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, hay Cam-Bốt... người
Việt Nam chiếm được nhiều cảm tình hơn của các giống dân Âu Châu.
Thông minh, cần cù và hòa nhã là những đức tính quý báu góp phần rất
nhiều cho sự thành công của người Việt trong xã hội Pháp. Qua những lần
trò chuyện, tôi được nghe nhiều người bạn Pháp bày tỏ rằng nụ cười
của người Việt Nam ấm áp rất nhiều so với sự câm lặng kiêu hãnh của
người Nhật; nét đẹp của phụ nữ Việt Nam sâu sắc thanh tú hơn tất cả
những phụ nữ của các nước Á Châu; mỗi người đàn ông Việt Nam là một
cái núi đá câm nín chịu đựng trước mọi thiên tai tuế nguyệt, nhưng
đồng thời lại là một lò thuốc súng bất cứ lúc nào cũng có thể nổ
tung.... Dù
chủ quan hay khách quan trong cái nhìn ấy thì vẫn là điều làm cho tôi
thích thú. Vị thế nương nhờ đất khách hiện nay do đó mà cũng bớt dần
đi nỗi ngậm ngùi riêng. Sàigòn, tháng 5/1979. Sàigòn là thủ đô của nước Việt Nam Cộng Hòa kể từ ngày 30/4/1975 trở về trước. Quốc Hội khóa 4 ngày 2 tháng 7/1976 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa quyết định biến Sàigòn ra một thành phố với cái tên “Hồ Chí Minh”. Nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa miền đông và miền tây Nam phần, thành phố Hồ Chí Minh bắc giáp tỉnh Tây Ninh và tỉnh Sông Bé; đông giáp tỉnh Đồng Nai; tây và tây nam giáp tỉnh Long An; bao gồm 12 quận nội thành (quận 1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình, Phú Nhuận và 6 huyện ngoại thành (huyện Bình Chánh, Củ Chi, Hốc Môn, Nhà Bè, Thủ Đức và Duyên Hải.) Đoàn lưu lại thành phố ba tháng để tập tuồng mới và hát ra mắt tại các rạp thủ đô. Sàigòn đang giữa mùa mưa. Những cơn mưa thường bắt đầu vào ban đêm, rả rích kéo dài tới sáng cũng chưa dứt hột. Tâm tư người nghệ sĩ ưu sầu hơn khi thấy rạp vắng đi nhiều khán giả. Đêm khuya, đạp xe từ rạp hát trở về trong cơn mưa như trút nước, nhìn con phố buồn tênh với những dòng đèn vàng đứng chơ vơ hai bên lộ vắng, tôi chợt thấy Sàigòn gần gũi với mình hơn bao giờ. Kỷ niệm xô nhau sống dậy theo từng vòng quay của hai chiếc bánh xe... Mùa mưa là mùa của loài dế. Những con dế than, dế lửa, dế ốc tiêu và dế thầy chùa thi nhau bay nhảy khắp nơi để rồi nhanh chóng bị các bàn tay con người chộp lấy cho vào rọ. Những con dế cơm bụ bẫm trở thành miếng mồi ngon khi người ta đem nó ra ngắt đầu, bứt cánh, rút ruột và nhét vào trong bụng một hạt đậu phọng rồi đem tẩm bột chiên lên. Suốt cả thời thơ ấu, tôi chưa lần nào có được cho riêng mình một con dế. Có lẽ vì thương những sinh vật bé nhỏ ấy nên tôi không muốn có, không muốn làm như đứa em trai đem nhốt dế vào trong cái hộp quẹt nhỏ xíu, bỏ thêm vài cọng giá sống làm thức ăn cho nó; thỉnh thoảng lại đem ra, bứt sợi tóc quấn quanh cổ nó rồi quay vòng vòng như một hình thức “vô nước” trước khi thả xuống đấu trường để tranh tài với một con dế khác. Tôi vẫn không ưa cái trò chơi tàn nhẫn như vừa kể; tuy nhiên tiếng gáy của dế lại là điều mê thích thật nhiều với tôi. Giữa khuya, khi trời đã tạnh cơn mưa, nằm nghe một tiếng dế cất lên, rồi cả đàn dế gáy cùng cất cao điệu nhạc, thêm tiếng rơi của từng giọt nước rỉ ra từ cái máng xối xuống một cái thùng thiếc nào đó, thật không còn gì thê thiết cho bằng! Nghe nó khắc khoải, ray rức trái tim làm sao giữa một không gian ngủ yên như chết. Mùa mưa cũng còn là mùa thú vị đối với trẻ con. Những trận mưa dầm kéo dài cả ngày làm trở ngại cho các sinh hoạt của người lớn bao nhiêu thì với con nít lại là một niềm thích thú đặc biệt bấy nhiêu. Trong những mùa mưa xa xưa, tôi vẫn thường đứng nhìn ra ngoài cửa sổ để xem đám trẻ cùng tuổi trong xóm sau rủ nhau ra ngoài mưa đùa giỡn. Từng tốp con nít vừa trai vừa gái, đứa cởi truồng nhồng nhộng, đứa mặc phong phanh cái quần cụt, chạy khắp làng trên xóm dưới, vừa chạy vừa la gào inh ỏi. Cứ đến mỗi cái máng xối của một căn nhà nào đó là lũ trẻ dừng lại tranh nhau đứng bên dưới luồng nước, xong lại hè nhau chạy biến qua con hẻm kế bên. Trò tắm mưa càng bị cấm ngặt thì lại càng trở nên quyến rũ đối với chị em tôi mỗi khi mùa mưa tới. Trong chuỗi ngày thơ ấy, đã từng nhiều lần tôi đứng bên cửa sổ nhìn ra ngoài mưa, lòng bồn chồn thèm muốn. Ít ra hơn một lần tôi ao ước mình là một trong những đứa bé kia để được tự do chạy tìm cảm giác lạnh run khi ngoài trời, mưa đang rơi xuống nhanh hơn. [] Bốn năm rời bỏ quê hương, đây mới là lần đầu
tôi gặp lại anh, một điều mà khi còn ở Việt Nam, tôi tưởng dễ làm
và làm ngay được ngày nào đặt chân lên đất Pháp. Ở một thời điểm xa xưa nào đó phải đi bằng ngựa
hằng mấy tháng để thăm nhau mà con người vẫn dễ dàng làm được! Còn
bây giờ, chỉ một chuyến bay vài tiếng đồng hồ cũng khó lòng thực hiện
cái điều biểu lộ tình thân cho nhau. Buổi
sáng, trời mù hơi sương. Chuyến xe lửa tốc hành trờ tới. Mọi người
kéo cao cổ áo, nối đuôi nhau bước vội lên
bục gỗ. Anh xiết tay tôi: “Một điều anh muốn khuyên em là
nên lập gia đình đi. Mẹ đã già rồi, vả lại cháu San cũng cần có một người cha.” Tôi cười nhẹ: “Chính vì
nghĩ đến mẹ và cháu San mà em càng không muốn lập gia đình đó!” Người xếp ga giơ cao cái cờ hiệu trong tay. Còi tàu
rú lên. Chuyến xe lửa lăn bánh từ từ giữa những nụ hôn, những cái vẫy
tay giã từ tới tấp. Sàigòn, tháng 5/1979. Trời Sàigòn vẫn mưa từng chặp, lê thê, ướt át. Các đêm hát không còn đông khán giả. Những hàng ghế cuối trống trơn, phiền muộn. Trước cửa rạp, các người bán vé chợ đen đi lui đi tới, nét mặt ủ dột buồn thiu, trên tay cầm xấp vé ế. Tuy vậy, chiếc màn nhung vẫn được kéo ra đúng giờ và người nghệ sĩ vẫn phải cất lên tiếng lòng ai oán như lệ thường mỗi tối. Một đêm trong Sàigòn, trời mưa làm lười biếng nên tôi ngồi lại nơi vị trí của mình để xem từ đầu đến cuối một tuồng hát mà bốn năm qua tôi đã nhiều lần xem không trọn. Vẫn bấy nhiêu y trang đẹp mắt, bấy nhiêu phong cảnh quen thuộc, nhưng giờ đây dưới cái nhìn của tôi, tất cả lại đổi khác. Nghe như có nỗi gì mới lạ trước tiếng cười nắc nẻ của khán giả theo mọi cử chỉ, hành vi của một anh hề nổi tiếng mà nhớ đến cái cảnh nghèo khổ nheo nhóc của gia đình riêng anh...: hoặc là khi nhìn lên nhân vật uy nghi trong vai một vị tướng cầm đầu ba quân trên sân khấu, tôi lại nghĩ nhanh đến hình ảnh một anh chồng đau khổ vì sự phụ bạc của người vợ ngoài cuộc đời. Ai đó đã nói: “Nghệ sĩ là những con người thương vay khóc mướn cho nhân thế.” Điều này thật đúng. Nhưng có mấy ai biết, với những nỗi buồn riêng, người nghệ sĩ đã chôn giấu tận sâu dưới ánh đèn màu, dưới lớp phấn son loè loẹt? Mấy ai biết, đàng sau cái cười kia là những dòng nước mắt và những khổ đau chồng chất được biến thành nghệ thuật để làm cho trọn vai trò khóc mướn thương vay? Trên một góc cạnh khác, đối với tôi, từng anh công nhân cũng là từng mỗi nghệ sĩ, dù chỉ trong bóng tối và không được ai biết đến. Sự thành công hay không của một đêm hát là do phần không nhỏ bàn tay của các người nghệ sĩ vô danh này góp vào. Tấm màn nhung phải căng ra thế nào cho đẹp; một góc sân khấu phải dựng phông và chiếu đèn sao cho sáng để vai trò diễn viên được nổi bật... cũng đều thoát thai từ nghệ thuật. Cái đời hát ca ngày tháng mua vui cho người không chỉ gói trọn trên bề mặt đẹp đẽ lòe loẹt của ánh đèn màu, của những tràng pháo tay rộn rã; mà còn gom tụ luôn cả những nỗi ê chề bên trong hậu trường khi tấm màn nhung khép lại trước những hàng ghế buồn phiền, trơ trọi. Người nghệ sĩ khi ấy trở về với đời sống thật, đối diện với từng hoàn cảnh riêng. Những nụ cười rơi mất. Lớp son phấn bay đi. Nét hào hoa sân khấu được lột bỏ... để chỉ còn lại những mối ưu tư theo vợ yếu, con đau, giá sinh hoạt đắt đỏ và đêm lương không biết có được lãnh đủ không khi mà trời mưa làm thất thu cho đoàn hát?
Ngoài kia, mưa rơi và còn rơi như không cần biết đến những mối buồn riêng trong tâm tư người nghệ sĩ. [] IX Một bữa, đánh bạo, tôi dừng lại chuyện trò cùng
ông. Dưới ánh sáng nhạt nhòa của ngọn đèn đường, tôi nhận ra đó
là một người Pháp đã trọng tuổi, mái tóc bạc phơ rũ xòa trước trán,
bộ dáng nghèo nàn bẩn thỉu. Nhìn thấy tôi –người mỗi đêm vẫn nhìn
sang ông một giây trong khi tra chìa vào ổ khóa-, ông khẽ cất tiếng chào.
Trong câu chuyện, ông cứ lập đi lập lại nhiều lần câu nói: “Cuộc đời
sao buồn bã quá!” Tuy nhiên, khi biết tôi đến từ nước Việt Nam, ông lại
kêu: “Ồ mà không! Sự buồn bã phải để cho cô nói mới đúng! Dù sao
tôi cũng vẫn may mắn hơn là đang còn có một quê hương.” Tôi gật đầu
cảm ơn ông về ý nghĩ ấy; tuy nhiên không khỏi kinh ngạc vì bộ dáng bề
ngoài của ông không khiến tôi đợi chờ điều ông vừa nhận thức. (Ở
đây, tôi từng gặp rất nhiều người Pháp chẳng hề biết trên quả địa
cầu, nước Việt Hỏi về gia cảnh, ông cho biết đã bị đứa con trai
độc nhất vì nghe theo lời vợ mà sang đoạt tất cả cửa nhà ông tạo
ra trong biết bao năm ròng rã. Rồi ông kết luận: “Nó còn trẻ, nó sẽ
còn gặp nhiều đắng cay trong cuộc sống. Nó sẽ hiểu rằng việc làm của
nó đối với tôi là không phải đạo làm người chút nào cả. Dẫu vậy,
đã từ lâu, tôi tha thứ hết mọi điều cho nó, bởi tôi tin có ngày rồi
nó cũng phải đối diện với lương tâm riêng.” Và ông nói: “Cũng như
cô, cô còn rất trẻ. Quê hương cô đã bị xóa tên trên bảng đồ thế
giới. Đó là một bất hạnh lớn. nhưng quê hương được biểu lộ cách
này cách khác, làm sao mất được ngay giữa tâm hồn mỗi người.” Tôi cảm
kích theo những lời này, càng nhiều hơn khi biết ông đã từng là một
giáo sư dạy về sử địa. Từ đó, ông trở thành bạn của tôi, một người bạn
già đáng bậc cha, chú. Người bạn ngủ gầm cầu sông Tháng 6/1979. Lưu diễn Cà Mau, tỉnh Minh Hải. Minh Hải là tỉnh cực nam của nước Việt Nam, bắc giáp hai tỉnh Kiên Giang và Hậu Giang, đông, tây và nam đều là biển. Tỉnh Minh Hải có hình ba cạnh, chỏm là mũi Cà Mau, được thành lập bởi hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu cũ gom chung lại. Thời nhà Nguyễn, thế kỷ 18, Cà Mau có tên là huyện Long Xuyên, thuộc tỉnh Hà Tiên. Bạc Liêu thì thuộc phủ Bãi Xàu, tỉnh An Giang. Năm 1876, thực dân Pháp phân chia toàn bộ Nam Kỳ thành bốn khu vực hành chánh lớn: Sàigòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long và Bassac. Mỗi khu vực bao gồm nhiều tiểu khu, trong đó chưa có tên Cà Mau và Bạc Liêu. Năm 1899, Pháp đổi tên gọi tiểu khu thành tỉnh và phân chia Nam Kỳ thành 20 tỉnh. Bạc Liêu lúc này thành một tỉnh riêng. Còn Cà Mau thì vẫn nằm trong tỉnh Rạch Giá. Kể từ sau 1975, hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu nhập lại làm một thành tỉnh Minh Hải. Đoàn đi thẳng xuống Cà Mau, mở đầu chuyến lưu diễn miền Tây, hát ra mắt tuồng mới. Đường đi miền Tây phải qua bắc Mỹ Thuận, bến phà
lớn và mấu chốt nhất của miền Có một hình ảnh tôi vẫn nhìn thấy trên chiếc phà qua bắc Mỹ Thuận. Một vũ nữ nhan sắc một thời, bây giờ chỉ còn là người hành khách tàn phế, khuôn mặt méo mó ghê rợn vì những giọt acide phát xuất từ lòng ghen gần 20 năm cũ. Tôi chưa bao giờ dám nhìn thẳng khuôn mặt đáng thương ấy, nhưng cứ mỗi lần qua bến bắc là mỗi lần nghĩ về hai chữ Định Mệnh hằn lên trên trán người vũ nữ năm xưa. Thời
gian như nước chảy qua cầu, cuốn trôi đi hết mọi rá rến của dĩ vãng.
Thời gian có lẽ đã làm tan biến đi những hối hận dày vò nào đó trong
tâm hồn người đàn bà gây ra tội ác? Thời gian chắc hẳn cũng không để
lại chút xót xa nào trong ký ức kẻ tình nhân xưa? Nhưng thời gian sao mãi
còn hằn trên khuôn mặt tàn phế kia những nét tận cùng đau khổ?
Và, mối hận trong tim người vũ nữ, biết có phai nhạt chút nào theo với thời gian không? .. .. Con đường từ Sàigòn xuống Cà Mau phải đi gần hết một ngày xe đò. Ai nấy mệt phờ, mặt mũi đầy bụi. Đêm hát được bắt đầu ngay và khán giả thật đông, chẳng bù với những ngày Sàigòn gió mưa ế ẩm. Cà Mau là thị xã tuy ở giữa một đồng bằng còn lầy lội, có nhiều rừng và đầm sình lầy, nhưng lại là vùng trù phú với hai nguồn lợi chính là gạo thóc và tôm cá. Vì vậy, mức sống của người dân địa phương cũng được dễ chịu hơn. Sinh hoạt giải trí sau 1975 rất cao so với những vùng đồng quê khác. Dẫn từ chợ Cà Mau qua đến rạp hát Hương Tràm xuống dãy phố chính là cả một dọc dài các hàng quán ăn uống, bắt đầu từ 3, 4 giờ chiều cho đến suốt gần sáng. Cái cảnh nhộn nhịp về đêm tại trung tâm thị xã Cà Mau khác biệt quá với những thành phố chết tôi đã từng đi đến, làm cho tôi có cảm tưởng rằng cái mũi tận cùng của giải đất hình chữ S đã không bị ảnh hưởng gì bởi biến cố 1975. Vậy mà trong những ngày Cà Mau, tôi đã không có nhiều dịp để tận hưởng cái cảm giác thanh bình ấy. Một câu chuyện bất hòa xảy ra giữa tôi với người đàn bà hống hách, vợ của một diễn viên hạng nhất. Câu chuyện trầm trọng đến độ ban quản trị phải quy tụ ngay một cuộc họp đoàn bất thường. Trong buổi hội, sau những lời đối đáp giữa tôi với người đàn bà cùng vị ủy viên chính trị –một cán bộ Cộng Sản-, đã có hơn 100 người, đa số là công nhân, biểu quyết bằng cách giơ tay rằng tôi không có lỗi gì cả. Dầu vậy, tôi vẫn là người bị buộc phải xin lỗi. Giữa
buổi hội đoàn, tôi nghĩ nhanh đến những luật lệ khó khăn mà chế độ
đang dần bóp xiết người dân vào trong một guồng máy sắt đá, đến công
việc làm hiện tại là một điều kiện dể gia đình khỏi bị đầy đi vùng
kinh tế mới... rồi ngần ngừ một giây, tôi ngỏ lời xin lỗi đối
phương. Tiếng vỗ tay của 120 người rào rào vang lên, trong khi tôi chợt
nhận thức buổi hội giống như một môi trường để mọi người tranh giành
chỗ đứng, và nếu muốn sống yên được trong tập thể, điều đầu tiên
cần làm là phải chối bỏ những cái thực trong cá chất riêng mình. Sau buổi hội, ông phó đoàn, một vị đã già và là soạn
giả nổi tiếng từ trước 75, rất có cảm tình với tổ Tân Nhạc, đến
tìm tôi an ủi: “Xã hội cải lương là như vậy cả con à. Cái trò
phủ bênh phủ huyện bênh huyện sẽ không bao giờ chấm dứt đâu.” [] Những
xung đột thế này không phải là ít đối với người Việt tại đây.
Xung đột với người bản xứ vì những dị biệt đã đành, lại còn xung
đột luôn với cả những người đến cùng xứ sở. Vấn đề chính trị
không những là nguyên nhân được đặt lên hàng đầu, mà nhiều khi chẳng
có chút chính trị nào dự phần cũng trở thành xung đột. Một
người bạn tôi đã nói: “Mỗi người đàn ông Việt Giữa tháng 6/1979. Lưu diễn Bạc Liêu, tỉnh Minh Hải. Trong cuộc rượu một đêm sau khi tan hát, tôi ngồi tranh luận với người bạn chơi guitare basse đã lớn tuổi, về vấn đề bất công trong xã hội. Người bạn không chấp nhận những ý nghĩ của tôi, nhân danh kinh nghuiệm già dặn mà bảo rằng chẳng ích lợi gì nếu tôi nói lên tiếng nói bênh vực quyền lợi những người yếu thế. Rồi anh thêm, đến một tuổi nào đó, tôi phải nhận rằng mình chẳng làm được gì và những bất công trong xã hội sẽ cứ còn nguyên tình trạng cũ. Vậy thì hãy cứ nên nhắm mắt ngơ tai, nhận lấy cái tốt cũng như cái xấu một cách dửng dưng là hơn. Tôi thì không nghĩ như anh, không đồng ý với anh về thái độ dửng dưng ích kỷ ấy trước mọi sự trong cuộc đời, mà điển hình gần nhất là đoàn hát với đầy dẫy bất công đổ lên đầu đám công nhân thấp kém. Tôi biện luận, sống tức là phải có trách nhiệm với chính mình và với những gì chung quanh, từ cá nhân, gia đình cho tới xã hội. Thì sự xấu xa hay tốt đẹp của cuộc đời, một phần nhỏ nào đó chính tôi (hay anh) cũng đã dự phần trách nhiệm. Anh không nhận, bảo rằng hành động phẫn nộ ví như nước chảy qua cầu, chẳng ích lợi gì, mà nhiều khi còn đem cho mình biết bao phiền nhiễu. Tôi cười, một con nước thật chẳng là gì, nhưng trăm ngàn con nước cùng xuôi về một đòng, có thể làm nên lụt lội, cuốn trôi đi tất cả những điều kiên cố nhất. “Những cái gì đó” được ví như những xấu xa của cuộc đời. Nhiều khi cái vòng cơm áo giam hãm mọi chí lớn, làm cho con người trở nên ù lì và chỉ nghĩ đến cá nhân ích kỷ. Tôi hiểu điều này, nhưng cũng biết rằng cho đến chết, tôi vẫn không thể nào đóng được vai trò một người khách lạ nhìn cuộc đời một cách dửng dưng! [] Cái hướng “vượt biên” một lần nữa lại được
vạch ra. Lần thứ ba ”bắt đầu cuộc đời” không phải là không có những
e ngại hay buồn bã. Sự bắt đầu không giống như thuở đôi mươi dấn
thân với tràn đầy tin tưởng. Cũng không giống lần bỏ Sàigòn ra đi,
trong óc chưa có ý niệm rõ rệt khác biệt nào giữa xứ lạ và quê hương.
Giờ đây, sự bắt đầu mang một sắc thái hoàn toàn mới. Trước mặt là
một chuỗi dài mù mịt và sau lưng chẳng còn gì để hỗ trợ niềm tin. Dầu
vậy, tình thương cho người mẹ già và tương lai đứa con trai nhỏ là những
điều sau cùng tôi còn nghĩ –cũng là nguyên nhân của mọi ý định hiện
tại- tôi muốn đặt cả lên canh chót trong ván bài Định Mệnh, thử xem
con Tạo xoay vần ra sao? Cuối tháng 6/1979. Lưu diễn Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang. Nằm ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, bên triền hữu bờ sông Hậu, tỉnh Hậu Giang là một trong những tỉnh lớn chiếm một vị trí quan trọng đối với vùng đồng bằng mièn Tây Nam phần. Hậu Giang do hai tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng cũ sát nhập lại, bắc giáp tỉnh An Giang, nam và đông nam giáp biển Đông và tỉnh Minh Hải; phía đông và đông bắc giáp tỉnh Kiên Giang. Năm 1876, theo sự phân chia của thực dân Pháp, Cần Thơ và Sóc Trăng là hai trong số sáu tiểu khu của khu vực Bassac. Năm 1899, thựic dân đổi tiểu khu thành tỉnh. Cần Thơ và Sóc Trăng trở thành tỉnh từ đó. Đoàn dừng bến tại Sóc Trăng. Mỗi buổi sáng thả bộ ra chợ là điều thú vị đối với tôi. Trong nhiều vùng đã đi qua, các ngôi chợ thường giống nhau; vậy mà sao tôi lại chỉ ưa thích hơn cả ngôi chợ chính của Sóc Trăng, nằm ngay trung tâm thị xã? Có lẽ vì nơi đây hàng hóa nhiều và rẻ hơn mọi nơi khác? Hay bởi nơi đây, “một chục” trái cây được tính là 16, thay vì 10, 12, hay 13? Hoặc cũng có lẽ các bà bán hàng –cả Miên lẫn Việt- ai cũng đều tươi cười, dễ chịu? Nụ cười không có sóng ba đào nhưng đủ làm đắm lòng người khách phương xa. Dù sao, những lần đến Sóc Trăng, tôi vẫn thích tiêu thì giờ buổi sáng bằng một vòng dạo quanh chợ, mua vài món vặt vãnh, ngồi kề cà trò chuyện với các bà bán hàng, rồi ghé vào nhà lồng chợ ăn một tô cà ri vịt nổi tiếng ngon và rẻ. Điều thú vị thứ hai là những cuộc rượu với vài người bạn lúc nửa khuya. Cứ mỗi lần đến Sóc Trăng là đoàn thường hát ở rạp Nguyễn Văn Kiểng; đa số nhân viên ngủ lại phía sau hậu trường. Vì vậy, trước cửa rạp biến thành một nơi hoạt động không ngừng của các gánh cháo, gánh cà-ri, hay của những quán rượu, quán café bỏ túi. Mỗi đêm, đúng nửa giờ đồng hồ sau khi chiếc màn nhung đã khép lại là chiếc máy đèn (được bật lên từ đầu đêm hát) ngưng hoạt động. Cả một vùng trời đắm chìm trong bóng tối và những cái đèn dầu con được thắp lên, tiếp tục sinh hoạt rộn ràng nửa khuya,. Một
cái quán nhỏ tồi tàn bên bờ sông, đối diện rạp hát, nơi “dung thân”
của chúng tôi sau khi ngưng tiếng nhạc. Chiếc bàn gỗ gập ghềnh, ngọn
đèn dầu mù mù, chung rượu thuốc và vài con khô cá sặc dưới vòm trời
đầy sao lúc 12 giờ đêm... là hạnh phúc vừa đủ cho một kiếp đời đó
đây phiêu bạt. Khoảng thời gian của trái tim và những cảm xúc nghệ sĩ;
thời gian của nỗi êm ái dịu dàng bùng lên trong tâm tư có nhiều hốc trống
đảo điên. Đêm thật đẹp với cơn huyễn mộng túy lúy càn khôn trong hơi men đang dần thắm. Dưới bóng tối mù mờ có những cái đèn hột vịt chiếu lên thứ ánh sáng lập lòa quỉ mị, trước chung rượu và hai người bạn, tôi bỗng nghĩ thật nhiều đến câu chuyện Kinh Kha. Cuộc rượu hào sảng phóng dật, đưa tiễn Kinh Kha nhập Tần. Tóc tráng sĩ dựng ngược vì hùng khí bốc lên. Nước sông Dịch tự thou nào vẫn lạnh căm căm.
Và
tôi nhìn lại mình, trong đầu chợt thoáng qua cái ý nghĩ ngộ nghĩnh: “Kinh
Kha trong thời buổi nguyên tử, lênh đênh rơi rớt, đi tìm Thái Tử Yên
Đan đã chết từ cổ đại!”
X Xóm Montmartre –mà cái truyền thống nghệ thuật của
nó đã có từ cuối thế kỷ 19, là nơi tập trung của nhiều nhà danh họa
quốc tế- ngày nay vẫn còn cái phong độ độc đáo ấy. Những nghệ sĩ
chưa gặp thời, hay những nghệ sĩ lỡ thời mạt vận, những sinh viên của
trường Cao Đẳng Mỹ Thuật ở Paris (Ecole nationale supérieure des Beaux-Arts)
đa số quy tụ tại đây, trong các tòa nhà hay những quán rượu cũ kỹ
được xây cất từ cuối thế kỷ 19. Họ làm đủ thứ nghề để sinh
nhai và “nuôi sống” nghệ thuật của họ: từ việc vẽ những bức
chân dung cho khách hàng qua lại, vẽ những chiếc cối xay gió, tháp Eiffel,
nhà thờ Đức Bà... cho đến việc bán báo, bán sách và bán hàng
rong trên bờ cầu sông Seine. Tất cả, miễn là nghề tự do và họ tự
làm chủ lấy mình. Tôi
có một anh bạn người Pháp, cũng là một loại “nghệ sĩ của hè phố Một bữa, tôi hỏi anh, với tài năng như thế, sao
anh không tham gia vào một ban đại hòa tấu? Anh mỉm cười: “Cả một dân
tộc Việt Đầu tháng 7/1979, hát Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang. Cần Thơ (thời thực dân gọi là Tây Đô), tỉnh lỵ chính của tỉnh Hậu Giang, được xây trên bờ hữu sông Hậu. Nơi đây là trung tâm lúa gạo của miền Tây; chỗ gặp nhau của các đường bộ từ Châu Đốc & Long Xuyên; từ Hà Tiên & Rạch Giá; từ Sóc Trăng, Bạc Liêu; cũng là chỗ giao lưu của nhiều kinh lạch miền Hậu Giang. Nước sông sâu từ 8 đến 10 mét. Đoàn hát tại một rạp lớn ngay giữa trung tâm thị xã. Công viên được dựng lên gần đó. Mỗi chiều tối, các cô gái ăn sương tụ tập về đây với đủ sắc hương, tuổi tác. Các khách thưởng hoa cũng dập dìu lai vãng, hai mắt láo liên đảo xuôi đảo ngược, một mắt kiếm tìm cho đúng món hàng ưng ý, mắt còn lại canh chừng sự xuất hiện của công an. Các
anh bạn của tôi trong tổ Tân Nhạc đều đã ngoài ba mươi nên rất có
kinh nghiệm về “chợ người” trong các vùng chúng tôi đi đến. Từ chợ
người Rạch Giá, Mỹ Tho, Long Xuyên, cho chí đến các chợ người ở các
vùng hẻo lánh như Thủ Đức, Hốc Môn, đâu đâu các anh cũng biết. Nhiều
lần tôi nghe họ phê bình, so sánh với nhau về các cái “phao câu” (từ
ngữ của họ) một cách thẳng thừng trắng trợn. Tuy nhiên, với chợ người
Cần Thơ, tất cả đều ngụ ý chê bai. Anh bạn chơi guitare basse, một người gốc miền
Nam, đã lớn tuổi và vui tánh nhất trong bọn, oang oang cười khi kể lại:
“Mình chưa kịp nói gì thì nó đã giựt phăng hàng nút áo, bày ra bộ
ngực xẹp lép không cọt xê, xú cheng gì ráo, rồi ỏn ẻn nói ‘Anh Hai
đi với em nghe? Có một trăm bạc thôi. Thấy mặt mày anh Hai sáng láng nên
em thương, bớt cho năm chục!’ Mình cười cầu tài: ‘Nghệ sĩ nghèo lắm
em ơi! Tiền đâu mà chơi gái?’ Tức thì nó nguýt mắt cái một, hai tay
kéo vạt áo, vừa gài nút vừa chửi ‘Thứ hà tiện như anh thì về mà
xào khô một mình cho chắc cái bóp! Đừng bày đặt đi tới đi lui trong công
viên này nữa!’ Nói rồi, nó ngoe nguẩy chạy vội sang phía một thằng
cha nào đó đang đạp xe trờ tới.” Anh chơi kèn sax alto cũng kể: “Mình là đàn
ông thì ba cái vụ chơi bời đâu có lạ. Đi qua nhiều nơi rồi mà chẳng
thấy nơi nào như ở đây. Có đứa mặt mày non choẹt, tuổi chỉ đáng
12, 13, còn nhỏ hơn đứa con gái lớn của tui nữa. Vậy mà nó tỏ ra sành
nghề đến sợ, làm tui chẳng thể nào nghe hứng thú. Thế nhưng khi tui cho
nó tiền mà chẳng ‘mần’ gì nó thì nó lại chỉ vào mặt tui, cười khẩy:
‘Con này bị cha ghẻ phá trinh từ khi 10 tuổi, bụi đời liền ngay sau đó,
giờ mới thấy một anh quân tử Tàu như anh!’ Điệu bộ và giọng nói
nó khi gọi tui bằng anh làm tui muốn lợm giọng. Đồng thời, tui cũng thấy
tràn ngập trong tim một mối thương xót lạ kỳ.” Mỗi buổi chiều ở Cần Thơ, trước giờ hát, tôi và người bạn chơi trompette vẫn đến ngồi trên ghế đá công viên ngắm nhìn các cô gái bán hoa nhởn nhơ cười nói. Trông bề ngoài, họ có vẻ vô tư và toại ý với “nghề nghiệp” của mình. Đa số đều ở lứa tuổi từ 20 đến bốn chục. Có cô độ 15, 17, hoặc nhỏ hơn. Tất cả các khuôn mặt đều phấn son lòe loẹt. Tuy nhiên, nhìn bộ áo quần của họ đã cũ sờn theo năm tháng, có chỗ còn vá víu, tôi không khỏi se lòng xúc động mang mang. Hoàn cảnh nào đã đưa đẩy các cô gái vào chốn cùng thấp kém? Gia đình và xã hội dự phần trách nhiệm gì? Những câu hỏi trên đây là của các nhà luân lý đạo đức đặt ra lúc đứng trước một vấn đề không kém phần quan trọng của quốc gia, đất nước. Còn tôi, khi đối diện với một trong muôn ngàn mặt trái của đời sống, tôi vừa nghe bất lực cam chịu, lại cũng vừa buồn bã mênh mang. [] Nhận
định được một điều, trong buổi tiệc trà gồm khảng 100 người, những
vị luật sư, bác sĩ và các thương gia gần như bị cô lập tẻ nhạt hẳn.
Họ đứng riêng một góc với nhau và không một nhà nghệ sĩ nào –trừ
ra vị chủ nhân- đến chuyện trò với họ. Tôi hỏi Daniel sao lại tốt bụng với tôi như vậy?
Anh quay sang vợ, mỉm cười, rồi hỏi lại tôi thay cho câu đáp: “Nếu đổi
ngược vai trò cô là tôi, sang Việt Tháng 7/1979, lưu diễn Long Xuyên, tỉnh An Giang. Địa
giới An Giang mang hình tam giác giống như cánh buồm căng gió nơi đầu nguồn
của những giòng sông vùng đồng bằng châu thổ, bắc giáp tỉnh Đồng Tháp;
tây giáp nước Campuchia; đông giáp tỉnh Hậu Giang; nam giáp tỉnh Kiên
Giang. Khác với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, ở đây có một miền
núi nhỏ dài 30km, rộng 17km. Đó là đám núi Thất Sơn, Cô Tô, Cấm Sơn,
Ốc Nhẫm, Nam Vị, Tà Biệt và núi Nhân Hòa. Có ngọn cao 580m, 614m và 716.
Chung quanh còn nhiều ngọn khác nữa. Hai ngọn núi xa về phía đông là núi
Ba Thê và Núi Sập. Đoàn hát 10 ngày ở Long Xuyên, thị xã nằm trên bờ hữu sông Hậu, thuộc tỉnh An Giang. Hầu hết nhân viên đoàn trú ngụ lại khách sạn An
Giang, tọa lạc ngay trung tâm thị xã, nhìn ra công viên Trưng Vương. Đường
phố đẹp và sạch sẽ, khác hẳn với sự lầy lội trong nhiều thành phố
miền Tây Một món ăn đặc biệt là món chuột đồng được anh em trong đoàn chiếu cố nhiều nhất. Cứ mỗi mùa luau chín thì lại có nhiều ông Tí ranh mãnh nổi lên cắn trộm lúa non, phá phách ruộng bờ. Người dân Long Xuyên đặt bẫy sập các tên trộm nhỏ bé; nhiều đến nỗi phải đem ra chợ bầy bán. Chuột ăn lúa nên thịt rất ngon, nhất là khi đem ướp ngũ vị hương hành tỏi rồi chiên lên, thật chẳng kém gì so với thịt gà tơ thơm phức. Những ngày Long Xuyên, tôi đã không thể tìm ra cho tâm hồn mình một nỗi an bình cần thiết. Vào những giờ rảnh rỗi, tôi thường nằm lại trong khách sạn, đầu óc cứ mãi bị khuấy động bởi cái tin đứa em gái út vượt biển từ ba tuần trước mà người bạn trong tổ đem đến cho tôi sau năm ngày phép Sàigòn. Mẹ tôi đã nói với anh rằng ngay buổi sáng hôm sau cái đêm em ra đi, dân vùng quanh đó phát giác ra một chiếc ghe bị đắm ngoài khơi vào đêm trước. Những mảnh ván tàu và những đồ vật nhẹ trôi lềnh bềnh đầy theo làn sóng. Không nghe nói có nạn nhân nào sống sót. Mặt biển im lìm đã giữ kín những bí mật của người chết. Tôi không muốn tin những gì tưởng tượng trong đầu; không muốn nghĩ rằng em tôi đã dự phần trong chuyến ghe bị đắm. Vậy mà sao tâm ttí cứ bị ngập chìm theo những nghĩ ngợi ấy trong suốt những ngày Long Xuyên? Từ lâu, tôi vẫn không có ý kiến gì theo các quyết định đi hay ở của các người thân. Đến một khúc đường cùng nào đó của cuộc sống mỗi con người, tình cảm đã bị bản năng sinh tồn mạnh hơn lấn lướt. Thì khúc đường cùng này đang xảy ra với nhiều người Việt; gần hơn cả chung quanh tôi là những người thân và bè bạn. Người ta đi tìm tự do bằng đủ mọi cách, mọi phương tiện. Thứ tự do được mua bằng một giá rất đắt, bằng cả một truyền thống tình cảm sâu dầy trong lòng người Việt đối với quê hương xứ sở, với đất đai mồ mả tổ tiên. Thứ tự do được đánh đổi bằng mạng sống mong manh của con người trong cuộc chiến đấu sống còn cùng thiên nhiên huyền bí. Thứ tự do được tắm bằng máu và nước mắt, hiểm nguy và cái chết. Thứ tự do đã làm cho cả thế giới phải cảm thán nghiêng mình. Từ lâu, tôi chỉ biết buồn khi nhìn từng người bạn bỏ đi, từng người thân xa lìa nơi chôn nhau cắt rốn để đến một vùng trời khác, làm lại cuộc đời mới. Bây giờ đến lượt em tôi, đứa em vô cùng yêu thương.
Tôi tưởng như một ngión tay của mình vừa bị đứt lìa và những giòng máu không ngớt tuôn ra xối xả. Vết thương rồi sẽ lành theo năm tháng, nhưng liệu năm tháng có làm mờ đi được vết sẹo trong hồn tôi hay không? []
Long Xuyên, tháng 7/1979. Những giòng của nhà văn Mặc Đỗ viết về André
Maurois (2) đã làm tôi lưu tâm đặc biệt kể từ
sau buổi họp đoàn ở Cà Mau cứ mãi loay hoay theo những ý nghĩ về cái Đẹp
không có thật trong cuộc đời. “Triết lý của Maurois là một triết lý buồn nhưng
nuôi dưỡng niềm lạc quan. Dõi theo hạnh phúc, ta không thể từ chối hạnh
phúc dù phải trả một giá cao. Tạm đặt chân lên hòn đảo nhỏ giữa
đại dương đau khổ, chưa hẳn đã trả giá cao, vì ý chí vẫn còn nơi
ta. Đằm mình trong đại dương đau khổ mới là buông xuôi, cho dù sự
buông xuôi có vuốt ve được tự ái. Một đoạn trong cuốn Khung Cảnh Gia
Đình của Maurois đã vạch ra một lằn ranh tế nhị giữa “Định Mệnh”
và “Ý Chí”. Bernard Smith nói về vở kịch siêu hình mà chàng mới cấu
tạo nên. Các nhân vật được hình dung bằng những con búp bê trên một
sân khấu hoạt kịch: chàng ghen, chàng si, chàng tham, chàng giàu, chàng
nghèo... Màn đầu, nhà đạo diễn còn làm chủ được các vai. Qua màn hai,
một nhân vật búp bê phản kháng, đem vạch rõ thân phận tối tăm của đám
nhân vật búp bê và bày cách thoát ly khỏi bàn tay nhà đạo diễn. Vở kịch
tiếp nối không còn là vở kịch của nhà đạo diễn nữa. Bernard nói với
Denis: “Tôi đã tìm ra tên của vở kịch: Các Nhân Vật Búp Bê Hiểu Ý
Nghĩa Của Vở Kịch.” “Nhưng kịch kết thúc ra sao?” “Tôi
chưa biết. Tôi cho rằng nhà đạo diễn sẽ thắng bằng cách đập tan chú
búp bê nổi lọan kia, vì bề gì ông ta cũng nắm những sợi giây.” Mặc Đỗ kết luận: “Chúng ta biết rõ thân phận búp bê của mình, nhưng chúng ta cũng biết rõ không nắm được những sợi giây. Vấn đề hạnh phúc nằm trong mớ tương quan ấy.” Paris. Đêm, khi trở về nhà, tôi chợt bàng hoàng vì ánh trăng tràn ngập khắp nơi.
Thật là một điều hãn hữu trong một xứ lạnh thế này. Con trăng tròn vằng
vặc sáng, treo lơ lửng trên nền trời thành phố Giữa khuya, đứng bên cửa sổ trông xuống cả một
vùng phố im lìm trong giấc ngủ, rồi lại ngước nhìn trăng, lòng sao thật
cảm hoài xa vắng. Đã lâu rồi tôi mới lại có dịp nhìn trăng. Con trăng
giống như một người bạn thiết bất chợt tìm đến thăm giữa đêm
nơi xa xôi đất khách. Con trăng của một thời dĩ vãng quê hương! Tân Châu, tỉnh An Giang, đầu tháng 8/1979. Từ ba giờ khuya, chúng tôi đã phải thức giậy cho kịp chuyến tàu thủy 4 giờ sáng qua Tân Châu. Trên bến Chợ Mới, Long Xuyên, ghe thuyền nhiều như mắc cửi. Chuyến tàu của đoàn thuê bao là một loại thuyền buôn lớn, xuôi theo giòng Tiền Giang và đến Tân Châu lúc đã xế trưa. Ai nấy đều bơ phờ mệt mỏi. Người bạn chơi trompette rủ tôi đi uống một chầu café “nhập thị”. Cái quán nhỏ ở cạnh bờ sông, gần cuối con đường, đã đem lại cho chúng tôi ít nhiều thoải mái sau một ngày dài bó gối trên ghe. Người chủ quán bảo với chúng tôi rằng bên kia sông
là địa phận của nước Cam Bốt. Tôi kinh ngạc nhìn khúc sông trước mặt,
nghe như có nỗi gì là lạ trong ý nghĩa của nó. Lòng chiều ngang không rộng
lắm, ở giữa là một dọc dài kẽm lưới được dùng làm ranh giới chắn
ngang hai quốc gia. Bên kia bờ, những người đàn bà và trẻ em Cam Bốt
đang tắm rửa, giặt giũ. Làn da đen đen cùa họ nổi bật dưới nền trời
xanh biếc bao la. Đây là lần đầu tiên tôi mới nhận thức được bằng cụ thể ý ngĩa của hai chữ “biên giới”. Mọi sự đơn giản giống như hai xóm làng được ngăn đôi bằng một giòng sông. Vậy mà có ai ngờ rằng biết bao tang thương đã đưa đến từ cái biên giới hiền hòa ấy? Bao nhiêu xác người đã gục ngã chỉ để bảo vệ an toàn cho phần đất giới hạn của mình. Bao nhiêu cuộc chiến tranh xảy ra chỉ vì hai chữ “biên giới” đã không được tôn trọng đúng với lằn ranh chỉ định? Buổi chiều ở Tân Châu, trời cao và trong vắt, tôi nghe ông chỉ quán kể: “Lúc này bộ đội gác dữ lắm để ngăn những người bỏ trốn ra khỏi nước bằng ngã biên giới Cam Bốt. Chứ còn lúc trước, dân bên này và dân bên kia chèo thuyền mua bán, trao đổi hàng hóa như cơm bữa với nhau.’ Buổi
chiều, tôi ngồi uống ly café, nhìn ra giòng sông mà hình dung cái cảnh
thanh bình ngày xưa ấy. Con sông hiền hòa lơ lửng trôi như không cần biết
đến những mưu toan rắc rối trong lòng dạ con người. Bên kia, những người
dân Cam Bốt mộc mạc vẫn bình thản tắm giặt; các đứa trẻ té nước
vào nhau trong tiếng cười rộn rã. Và bên này, người dân Việt vẫn an
nhiên sống cuộc đời của họ; tôi và người bạn vẫn ngồi uống ly café
ngào ngạt mùi thơm. Không có gì khác lạ, ngoại trừ bên này biên giới
là hình ảnh anh lính bộ đội và bên kia là anh lính Cam Bốt cầm súng đúng
gác trong cái chòi nhỏ ở ven sông. Hai hình ảnh này đã phá tan đi sự êm
đềm dịu dàng của cảnh sắc nơi một vùng quê miền Nam Việt Nam và chiến
tranh có thể xẩy ra bất cứ lúc nào từ ngón tay trên cò súng của hai vị
thần giữ cửa kia. [] Chiến
tranh với những kỷ niệm sợ hãi chưa kịp xóa nhòa trong đầu óc thơ trẻ
thì lại dồn dập tiếp những hình ảnh đau lòng theo các cuộc tù đày của
cha, anh; hay những chứng kiến kinh hoàng trong các cuộc vượt biển. Lại
thêm những tranh đấu cam go với ngôn ngữ xa lạ, với ý thức chênh lệch
về thể chất, tất cả đều là nguyên nhân thay thế bàn tay Thời Gian
làm cho sự ngây thơ của trẻ em Việt Nam bị mai một lần hồi đi. Chúa
đã bảo: “Thiên đàng là nước của trẻ em.” Vậy mà lớp trẻ ở Việt
Nam bị đau khổ vì một thứ “thiên đàng” không có thật đã đành, lớp
trẻ ở ngoại quốc cũng chẳng kém gì hơn theo một thứ thiên đàng sung
mãn quá độ của tự do vật chất. Trái xanh bị ép cho mau chín thì làm
sao có thể tìm thấy được hương vị ngon ngọt, đậm đà? Tháng 8/1979, lưu diễn Châu Đốc, tỉnh An Giang. Châu Đốc là thị xã biên thùy thuộc tỉnh An Giang,
được xây trên bờ hữu sông Hậu, ngay cửa kinh Vĩnh Tế, sát biên giới
Kampuchia. Nơi đây hàng hóa phong phú vì là chợ biên giới, nhiều người bên
nước Cam Bốt qua lại buôn bán với người Việt Các đêm hát ngoài trời trong 10 ngày lưu lại Châu Đốc thường đầy nghẹt khán giả. Có chừng 100 chiếc băng ghế dài ở giữa khán trường, xếp hàng song song theo chiều ngang, dành cho lớp người mua vé ngồi. Phía hai bên hông dẫn dọc ra sau là vị trí của lớp mua vé đồng hạng vào cửa, rồi mạnh ai nấy tìm chỗ đứng. Trong các đêm hát, vấn đề trật tự thường không được ổn định. Lớp ngươi đứng sau đùn lên, xô lớp đứng trước té nhào xuống lớp ngồi trên ghế, làm thành một cuộc chen lấn ồn ào như vỡ chợ. Cứ mỗi lần như vậy, cuộc biểu diễn lại tạm ngưng và chiếc đèn pha được rọi sáng vào nơi gây ra rối loạn. Vị trí của hai tổ Tân và Cổ Nhạc ở sát ngay mặt tiền sân khấu, cách hàng ghế đầu tiên của khán giả là ba mét. Vậy mà cái khoảng cách bé nhỏ này luôn luôn bị tràn lấn tới cùng. Trong các đêm hát Châu Đốc, tôi thường gặp một bà cụ già ngồi chồm hổm sau lưng anh bạn chơi trống, bên cạnh là đứa cháu trai độ 10 tuổi, mặt mày hiền lành ngơ ngác. Cứ mỗi lúc nhìn qua là tôi đếu bắt gặp ánh mắt của bà.Á鮨 mắt mới đôn hậu làm sao, đủ sức làm rung động bất cứ trái tim nào cứng mạnh nhất. Một lần ái ngại, tôi mời bà ngồi vào chiếc ghế trống của tổ Tân Nhạc. Bà nhỏ nhẹ chối từ với nụ cười ấm áp. Hình ảnh bà quen thuộc đến độ làm cho tôi yêu mến. Từ đêm hát đầu tiên cho đến đêm thứ tám, cứ đúng 7 giờ là tôi đã thấy bà ngồi vào vị trí cố định sau lưng anh bạn chơi trống, phía trái giàn nhạc. Bà ngồi lặng yên bên cạnh đứa cháu, nhìn chúng tôi làm việc và đợi chờ giờ hát. Trong sự ồn ào chung quanh, pha trộn giữa âm thanh và tiếng động, sự lặng yên của bà chẳng khác nào một đốm sáng rực rỡ hiện ra trên vùng trời đen tối. Và rồi, không biết tự lúc nào, cái đốm sáng ấy đã len thật nhỏ nhẹ êm đềm vào hồn tôi. Đêm hát thứ chín bỗng dưng không thấy bà đâu nữa. Chỗ ngồi sau lưng anh bạn chơi trống đã có kẻ khác mau mắn thế vào. Tôi nghe như thiếu thốn nỗi gì trong suốt bốn giờ làm việc, nghe tiếng đàn mình trở nên thừa thải, vô duyên! Đêm hát thứ mười cũng là đêm cuối cùng ở Châu Đốc, tôi đến sớm, lần dò tìm tới những khuôn mặt mà vài lần tôi đã thấy bà trò chuyện. Có một người là hàng xóm của bà. Người này kể rằng bà đã chết đêm qua, khi cùng đứa cháu băng qua chiếc cầu khỉ bắc ngang con suối nhỏ, trợt chân té, đầu đập mạnh vào một hòn đá... Cái lúc bà đang trên đường đi xem cải lương. Tôi
thốt lặng người trong ý nghĩ rằng mọi sự trước mặt vẫn tuần hoàn
như nhiên, trong khi đã có biết bao biến đổi âm thầm đằng sau cái như
nhiên tuần hoàn ấy. Đoàn hát vẫn kéo màn, khán giả vẫn ồn ào như vỡ
chợ, tôi vẫn cứ bấy nhiêu việc làm buổi tối... Tất cả đều vô
tình như nước chảy qua cầu để không hay rằng một cuộc đời vừa kết
thúc, song song với nỗi buồn thiếu vắng vừa được thành hình và lớn dậy
giữa trái tim tôi. [] Đây không phải lần đầu tôi đọc được mẩu tin
như thế. Có những trường hợp tương tự xẩy ra trong cộng đồng người
Việt ở Người
ta di tìm cái chết như một lối thoát cho một ngõ cụt của tâm hồn. Người
ta chối từ đời sống như một hình thức đạp vỡ sự cùng khốn trong
đầu óc. Người ta đến gần với sự tự tử khi cảm thấy như đang chết
giữa một cuộc đời có những con người đang sống. Con số tự tử không
phải là ít và phần đông đều là giới rí thức trong cộng đồng người
Việt Trái ngọt phương Đông đem trồng phương Tây, làm
sao cho khỏi héo hon, chua chát? Người hiền phương Đông lưu lạc phương Tây
làm sao không biến thể được vì phong thổ đổi thay? Hà Tiên, giữa tháng 8/1979. Từ Châu Đốc, đoàn dùng xe đò quốc doanh đi về hướng
Tây Dưới đời vua Minh Mạng (1833), Hà Tiên là tỉnh bao gồm một phạm vi rộng lớn từ Hà Tiên xuống tận Cà Mau ngày nay. Năm 1876, do sự phân chia của thực dân Pháp, tỉnh Hà Tiên cũ biến thành hai tiểu khu Hà Tiên và Rạch Giá, thuộc khu vực Bassac. Từ 1899, Hà Tiên và Rạch Giá trở thành hai tỉnh riêng biệt. Từ 1975, Hà Tiên và Rạch Giá được gom chung lại thành tỉnh Kiên Giang. Đoàn dừng bến 5 ngày ở Hà Tiên, thuộc tỉnh Kiên Giang, một mũi đất nhô ra biển, cách biên giới Cam Bốt không bao xa. Nơi đây cảnh sắc rất đẹp với các hòn Phụ Tử, Thạch Động, Đông Hồ, Đá Dựng. Thời xa xưa, Hà Tiên là thị trấn nhỏ được đặt
dưới quyền cai quản của Tổng binh Mạc Cửu, một người Trung Hoa vì
không thần phục chế độ nhà Mãn Thanh nên kéo cả gia đình sang đất Chân
Lạp vào đầu thề kỷ 18. Ông được vua Chân Lạp cho cai quản đất Sài
Mẹt, bèn mộ lưu dân, tổ chức lập ra 7 xã thành đất Hà Tiên. Năm Mậu
Tý (1708), ông thần phục chúa Nguyễn Phúc Chu, dâng đất Hà Tiên cho chúa
và được phong làm tổng binh, giữ đất Hà Tiên. Con trai ông, Mạc Thiên Tứ,
mẹ là người Việt ….. Một đêm trong năm ngày lưu lại nơi đây, trước giờ hát, bảy người trong tổ Tân Nhạc sửa soạn nhạc cụ chuẩn bị cho buổi trình diễn. Tiếng vang của sợi giây Sol trên cây violon khiến lòng tôi chùng lại. Một chuỗi âm thanh của một bản nhạc thời cũ vô tình theo nguồn cảm hứng trong tôi mà tuôn chảy ra trên 10 đầu ngón tay. Đột nhiên, tôi nghe tiếng trống đệm theo nho nhỏ, rồi tiếng basse, lại tiếng guitare của anh bạn ngồi bên cạnh. Bản nhạc vang lên nồng ấm làm lôi cuốn luôn tiếng kèn của hai anh saxo và trompette. Người cuối cùng nhập cuộc là anh nhạc sĩ đàn keyboard. Anh là kẻ duy nhất trong tổ Tân Nhạc vẫn được ông trưởng đoàn ngợi khen là “có đạo đức cách mạng!” Chúng tôi như bị cuốn hút vào bản nhạc của một thời năm cũ để quên mất môi trường hiện tại. Trời đêm sáng trăng. Trên sân banh Hà Tiên, khán giả đã bắt đầu đông, một số vây chung quanh chỗ ngồi các người nhạc sĩ. Âm nhạc vẫn vang lên nồng ấm, lan rộng khắp nơi. Mười ngón tay của từng người nhạc sĩ vẫn không ngừng múa may trên hàng phím. Và rồi khi dứt bản nhạc, tâᴠcả đều ngỡ ngàng vì tiếng vỗ tay rào rào của các người dự khán, từ trong hậu trường ra đến ngoài đám khán giả sau lưng. Hai anh bạn chơi trống và kèn saxo bật lên tiếng cười thích thú. Còn anh chơi guitare vừa búng thật kêu một sợi giây đàn, vừa cất giọng la: “Làm nữa đi!” Riêng người nhạc sĩ dàn keyboard quay đầu nói nhỏ cùng anh chơi guitare basse: “Tối nay thế nào mỗi người cũng nhận được một bản tự kiểm dài năm trang giấy!” Tuy nhiên, không ai trong số 6 người còn lại là không nhận ra một nụ cười thoáng nét thỏa mãn hiện trên khuôn mặt lầm lì đạo đức của anh. [] 14
năm xưa, thuở mới vào đời, tôi là một cô giáo được hầu hết học
trò thương mến. Chênh lệch nhau trên dưới mười năm, vậy mà đám trẻ
trai cũng như gái trong các trường tôi dạy ai cũng đều tỏ bày với tôi
cả một tình thân. Nhiều người về sau trở thành bạn của tôi, không
vì bất cứ lý do nào ngoài cái điều tôi rất chân thành khi nghe những tỏ
bày của họ… 14 năm dâu bể, gặp lại lớp học trò cũ ngày nào nay đã
lớn thì nhìn lại mình đã sắp bước qua tuổi già! Trên mái tóc đã có
vài sợi bạc và trong tâm hồn không còn gì nữa những ước mơ xưa!
Cái ước mơ duy nhất còn lại -nếu có- chỉ là điều trên, bình dị đơn sơ quá nhưng sao cũng thật xa vời như một ảo ảnh? Rạch Giá, giữa tháng 8/1989. Rạch Giá là thị xã chính, cũng là ngư cảng lớn của tỉnh Kiên Giang, được xây trên cửa sông Cái Lớn và sông Cái Bé ở vịnh Rạch Giá. Dân cư hầu hết sống bằng những việc liên quan đến nghề cá: đánh cá, nhận cá, phơi cá, ướp cá, chữa thuyền bè đánh cá. Rạch Giá cũng là nơi nổi tiếng trong thành tích chống Pháp, đặc biệt là chiến công đánh chiếm đồn Rạch Giá tháng 6/1868 của nhà anh hùng Nguyễn Trung Trực. Cũng nơi đây, ngày 27/10/1868, ông Nguyễn Trung Trực bị giặc Pháp hành quyết tại chợ thị xã. Về sau, dân Rạch Giá đúc tượng và lập đền thờ ông. Rạch Giá là một trong các vùng xuất phát của nhiều chuyến vượt biên. Có chuyến thành công và cũng có chuyến thất bại. Tuy nhiên, một điều không giống với các thành phố biển khác là ở đây người ta nói chuyện vượt biên dễ dàng và công khai trong các quán ăn, quán café mà không phải e dè gì. Có cả một hệ thống công an nhúng tay vào các chuyến đi, như một hình thức “ăn chia” với các chủ ghe vượt biển. Mỗi lần hát Rạch Giá là tôi lại gặp đâu đó trong thị xã những “khuôn mặt Sàigòn” quen biết cũ, bỏ thành phố xuống đây để “lập nghiệp”. Đêm hát đầu tiên ở Rạch Giá, tôi gặp lại một người bạn thuở còn đi học, hiện đang là bác sĩ trong một bệnh viện lớn ở đây. “Tha hương ngộ cố tri”, mười ngày Rạch Giá bỗng dưng mang một ý nghĩa đặc biệt. Những tối người bạn đến cửa sau hậu trường, gửi cho một mảnh giấy nhỏ với chữ “café” duy nhất; hay những sáng mù sương ngồi với nhau trong cái quán nhìn ra ngoài biển... đều là những kỷ niệm êm đềm trong 10 ngày lưu lại Rạch Giá. Trong các câu chuyện, tôi hỏi anh sao lại bỏ Sàigòn xuống
đây. Anh thành thật đáp: “Thoạt tiên, tôi cũng có nghĩ đến điều
vượt biên, nhưng sau một thời gian làm việc ở bệnh viện, tôi đã
không còn muốn ra đi.” Tôi chưa hết ngạc nhiên, đã nghe anh giải
thích: “Trong tim tôi vẫn hằn một mặc cảm có tội đối với gia đình
khi mà chính tôi đã dàn xếp cho đứa em trai duy nhất ra đi trên một chuyến
ghe và chuyến ghe mất tích luôn ngoài biển.” Nét mặt anh trầm xuống:
“Tuy nhiên, nguyên nhân chính không phải là điều trên. Ở đây, nhìn
thấy hằng ngày những bệnh nhân nghèo khó, tiếp xúc hằng bữa với các
con người đau khổ, tôi đã tự thấy xấu hổ nếu bỏ ra đi. Cảm tưởng
giống như một người đang chạy trốn một trách nhiệm lương tâm nào đó.”
Rồi anh cười buồn: “Không có tôi thì cuộc đời vẫn không thay
đổi. Nhưng tôi nghĩ là chị hiểu, thà rằng tôi đừng đến đây,
vấn đề sẽ khác hơn. Ở đây, chế độ bạc đãi những người cũ,
nhưng chúng tôi lại được các bệnh nhân cần và quyến luyến.” Những buổi café thường là như vậy. Mười năm rồi tôi
mới gặp anh, người bạn dễ chịu nhất trong đám bạn ngày nào. Anh vẫn
độc thân, ánh nhìn đượm nét khắc khoải của một nghệ sĩ nhiều hơn
một y sĩ. Mười năm mà anh vẫn không thay đổi bao nhiêu trong những ý tưởng
sống. Ngày xưa, khi quyết định bỏ cái học bỗng dương cầm ở Tân Tây
Lan để thi vào trường y khoa Sàigòn, anh đã làm cho cả đám chúng tôi ngạc
nhiên. Trước điều này, anh cười, giải thích: “Đất nước mình còn
nghèo quá. Một y sĩ cần thiết hơn một nghệ sĩ.” Mười năm sau, tôi
lại cũng nghe anh nói: “Bánh xe lịch sử đã quay, điều đó không thể
chối được. Nhưng đất nước càng bị mắc vào cái vòng quay tệ hại
bao nhiêu thì vai trò người trí thức càng được cần thiết nhiều hơn bấy
nhiêu.” Tôi hỏi anh nghĩ gì về những người đã bỏ ra đi khỏi
nước? Anh đáp: “Mỗi người có một hoàn cảnh sống và môi trường
suy nghĩ riêng, không thể nói cho chính xác được là ai sai, ai đúng. Riêng
tôi thì lại cho rằng quê hương giống như một mái nhà, mình có đứng
trong ấy mối thấy rõ được những chỗ dột của mái, chỗ thủng của
vách để mà sửa sang lại cho hoàn chỉnh.” Tôi cười, ngộ nhỡ cái
nhà ấy đã bị kẻ khác chiếm đoạt? Anh gật đầu mạnh mẽ: “Thì sự
hiện hữu của mình càng cần phải được phô bày nhiều hơn. Trên một mặt
nào đó, tôi nghĩ rằng ra đi tức là đã đồng hóa với biến mất khỏi
mái nhà quê hương của mình rồi đó.” Mười
ngày ở Rạch Giá, tôi như tìm lại chút gì cái thuở ngày xưa khi cuộc đời
còn tươi thắm màu xanh. Biết bao kỷ niệm được gợi lại, bao nhiêu cái
tên bạn bè được nhắc tới.
Những ly café đượm mùi thơm khét làm nhớ sao là nhớ thuở nào còn đi học. Những ước mơ tuổi nhỏ được kể ra trong âm vang tiếc nuối ít nhiều. Và thời gian vẫn cứ lạnh lùng trôi trong làn sương mỏng của 10 ngày Rạch Giá, nhưng trong hồn hai người bạn cũ, nỗi ngậm ngùi còn vương vất mãi không thôi. [] (1) Trích bài Hành Phương (2) Trích bài Trương Chi của Văn Cao. (1) Thơ Trần Nghi Hoàng. (2) André Mauroi, nhà văn Pháp (1885-1967) (1) Thơ Hoàng Trúc Ly. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com