
posted: 04. 01. 2005
LỊCH TA – LỊCH TÂY Trần Chung Ngọc Trên
thế giới từ xưa tới nay có rất nhiều loại lịch. Chúng ta có thể kể những lịch chính như
sau: Sớm nhất là những lịch của La
Mã, Do Thái, Hồi Giáo. Tây phương thì
có lịch Julian, lịch Gregorian (lịch Tây). Ở
Á Châu thì có Phật lịch, lịch Ấn Độ, lịch Trung Hoa (lịch Ta). Ở Châu Mỹ thì có lịch Maya, lịch Aztec ( Hầu
hết các lịch được tính theo ba chu kỳ của thiên nhiên: trái đất quay
xung quanh trục Nam-Bắc xác định thời gian của một ngày; mặt trăng quay
xung quanh trái đất xác định thời gian của một Tháng Ta; và trái đất
quay xung quanh mặt trời xác định thời
gian của một năm. Lịch Tây mà chúng
ta dùng ngày nay không dính dáng gì đến ngày sinh của Dê-su như những người
Ki-tô Giáo thường tưởng. Có nhiều
lý do: thứ nhất, không ai biết ngày sinh của Dê-su là ngày nào; thứ nhì
lịch Tây ngày nay [chỉ bắt đầu được
dùng ở Tây phương từ năm 1582, ở Trung Quốc năm 1912, ở Nga Sô-Viết năm
1918 (Cuộc cách mạng Sô-viết tháng 10, 1917, theo lịch Tây ngày nay thì thực
sự xảy ra vào tháng 11)] dựa vào ngày sinh của Dê-su là sai vì không
phù hợp với Kinh Thánh; và thứ ba, ba chu kỳ chuyển động thiên nhiên
trên không dính dáng gì đến ngày sinh của Dê-su [khoan kể là Kinh Thánh của
Ki Tô Giáo không biết là trái đất có hình cầu và chuyển động quay xung
quanh mặt trời.]. Nói tóm lại, lịch
được đặt ra chỉ là để đánh dấu ngày, tháng, năm, và Ki-tô Giáo đã
lấy một ngày sinh sai lầm của Dê-su [sẽ được chứng minh trong một đoạn
sau] để làm một cái mốc thời gian cho lịch Tây ngày nay. Do đó, lịch Tây này chỉ là một lịch
thuộc loại tùy tiện, độc đoán của Ki-tô Giáo. Cũng vì vậy mà ngày nay, tuy lịch Tây vẫn
được dùng một cách phổ quát, hầu hết các học giả trên thế giới đã
bỏ từ B.C. (Before Christ) và thay thế bằng B.C.E. (Before Common Era), và bỏ
từ A.D. (Anno Domino = Year of Our Lord) và thay thế bằng C.E. (Common Era) trong
các tác phẩm lịch sử và các niên đại lịch sử. Trong bài này tôi sẽ dùng các ký hiệu TTL
(Trước Tây Lịch) và TL (Tây Lịch) để chỉ các niên đại. Theo lịch Tây
thì Dê-su sinh ra năm 1, không có năm 0, cho nên năm 2000 không bắt đầu một
thiên niên kỷ mới, mà phải là 2001, nhưng người Ki-tô Giáo vẫn ăn mừng,
coi năm 2000 như bắt đầu một thiên niên kỷ, theo niên đại Dê-su. Còn thế giới thì coi năm 2000 như là mọi
năm, không có gì đặc biệt hơn những năm khác. Có
một điều lý thú về một ngày lễ trọng của Ki-tô Giáo. Đó là ngày lễ Phục Sinh (Easter). Tín đồ Ki-tô ăn mừng ngày lễ Phục
Sinh, tưởng rằng ngày này được quy định theo lịch Tây. Nhưng không phải.
Ngày lễ Phục sinh được quy định dựa theo cả hai lịch: Lịch
Ta và Lịch Tây. Ngày lễ Phục Sinh
được quy định vào ngày Chủ Nhật đầu tiên sau ngày rằm đầu tiên
(theo Lịch Ta) sau ngày Xuân Phân. Sau đây,
chúng ta sẽ tìm hiểu chút ít về lịch sử Lịch Ta và Lịch Tây. I.
LỊCH TA. Ngay
từ thế kỷ 14 TTL, thời nhà Thương, Trung Quốc đã quy định một năm
Dương Lịch (lịch theo mặt trời) gồm có 365.25 ngày [trước lịch của
Julian bắt đầu trong thời đại của Hoàng đế La Mã Julius Caesar vào thế
kỷ 1 TTL, 13 thế kỷ. Lịch Julian cũng
quy định một năm Dương lịch gồm 365.25 ngày], và một tuần trăng là
29.50 ngày. Con số đúng là 29.53059
ngày cho một tháng Ta. Do đó một năm
theo lịch Ta, tính theo 12 tuần trăng, chỉ có 354 ngày, ít hơn một năm theo
lịch Tây là 11 ngày. Vì thế, để cho
phù hợp với con số 365 ngày, cứ 4 năm lại có một tháng nhuận 29 hoặc
30 ngày, và năm nhuận thường là có 383 hoặc 384 ngày. Người Trung Hoa thường coi lịch của mình
là Lịch Âm-Dương vì phối hợp cả hai: Âm Lịch và Dương Lịch. Một sắc thái đặc biệt của Âm Lịch
là tổ hợp 10 Can (giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý)
và 12 Chi (tý, sửu, sần, mão, thìn, tỵ , ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi)
thành 60 đơn vị để đếm (gọi tên) ngày, và trong hơn 3000 năm hệ thống
đếm này vẫn không thay đổi. Tổ hợp
Can-Chi được dùng để đếm (gọi tên) năm có lẽ bắt đầu từ thời nhà
Hán vào thế kỷ 2 TL, và tạo thành chu kỳ 60 năm cho các năm. Năm nay là năm Giáp Thân, sang năm sẽ là
Ất Dậu. 60 năm sau lại trở lại Giáp
Thân, rồi tiếp theo lại là Ất Dậu, Bính Tuất v..v... Các nhà nghiên cứu
lịch còn cho thấy có bằng chứng chứng tỏ người Trung Hoa đã phát triển
một hệ thống lịch có chu kỳ là 19 năm, gồm 12 năm có 12 tháng Ta, và 7
năm có 13 tháng, với tổng số là 235 tháng, giống y như hệ thống lịch
phát triển bởi nhà thiên văn học Meton ở Athens, Ai Cập, vào khoảng năm
430 TTL, nghĩa là lịch Metonic ra sau lịch Tàu khoảng hơn một thế kỷ. II. LỊCH TÂY. Lịch
Tây mà chúng ta dùng ngày nay gồm 365 ngày một năm. Nhưng trái đất không quay xung quanh mặt trời
đúng 365 ngày, mà cũng chẳng phải là 365.25 ngày như theo lịch đời nhà
Thương (thế kỷ 14 TTL) hay sau đó theo lịch Julian thời Julius Caesar (thế kỷ
1 TTL), mà là “365 ngày, 5 giờ, 48 phút, và 45.96768... giây” Chuyển
động quay của trái đất, như chúng ta đã biết, xác định thời gian của
một ngày. Nhưng xếp những ngày thành
từng tuần lễ 7 ngày thì không phải là do toán học (vì 365 ngày không
chia đúng cho 52 tuần lễ, mỗi tuần 7 ngày, do đó mỗi năm dư ra một ngày,
tính theo tuần lễ) hay do huyền thoại sáng tạo của Ki-tô Giáo: Thượng đế sáng tạo ra vũ trụ muôn
loài trong 6 ngày rồi nghỉ ngày thứ bảy, mà có nguồn gốc có thể dựa
trên 4 kỳ của một tuần trăng, mỗi kỳ 7 ngày thành 28 ngày (gần đúng)
cho một tháng, hoặc dựa trên con số thiêng liêng, số 7, của dân Babylone
ngày xưa liên hệ đến 7 hành tinh như chúng ta thấy trong bảng tên sau đây: Hành
Tinh Tên
La-Tinh
Tên Pháp
Tên Anh Tên Saxon Sun
Dies Solis
Dimanche
Sunday
Sun’s Day Moon
Dies
Lunae
Lundi
Monday
Moon’s
Day Mars
Dies Martis
Mardi
Tuesday Tiw’s Day Mercury
Dies Mercurii
Mercredi
Wednesday
Wooden’s Day Jupiter
Dies Jovis
Jeudi
Thursday
Thor’s Day Venus
Dies
Veneris
Vendredi
Friday
Frigg’s Day Saturn
Dies
Saturni
Samedi
Saturday Saterne’s Day Năm
45 TTL, Julius Caesar đổi mới lịch của La Mã và dùng lịch Julian, dựa
trên một năm có 365.25 ngày (con số đúng ngày nay là 365.242199 ngày/1 năm). Vì mỗi năm, theo lịch Julian, dư ra ¼ ngày
nên cứ mỗi 4 năm lại có một năm 366 ngày.
Nhưng so với con số đúng thì lịch
Julian mỗi năm lại dư ra 11 phút 14 giây. Qua
nhiều thế kỷ, những phút dư này tích tụ thành
ngày, vào khoảng 7 ngày trong 1000 năm. Dưới
triều đại của Giáo Hoàng Gregory XIII vào thế kỷ 16, số ngày dư ra là
10 ngày. Điều này làm cho việc xác định
những ngày Xuân Phân, Thu Phân, Hạ Chí, Đông Chí rất khó khăn. Năm
1578, Giáo Hoàng Gregory XIII bổ nhiệm một giáo sĩ dòng Tên rất giỏi về
toán học, Christopher Clavius, để nghiên cứu một hệ thống lịch sao cho đúng
với các sự kiện thiên văn xảy ra hàng năm.
Lịch mới được công bố vào năm 1582. Trong lịch này, Clavius đã bỏ đi 10 ngày dư,
từ 5 đến 14 tháng 10, nghĩa là trong năm 1582, ngày sau ngày 4 tháng 10 là ngày 15 tháng 10. Mặt khác Clavius dùng con số 365.2422 ngày
trong một năm, nghĩa là dư vào khoảng 25.96 giây mỗi năm, tính ra thì cứ
khoảng 2800 năm lại dư mất một ngày. Và
đây chính là Dương Lịch mà chúng ta dùng ngày nay. Trở
lại 10 thế kỷ trước khi lịch Gregorian ra đời, trong thế kỷ 6, Giáo
Hoàng John I truyền cho linh mục Dionysius Exiguus nghiên cứu một bảng niên
đại của Ki-tô Giáo về lịch sử nhân loại, dựa theo ngày sinh của
Dê-su [A Christian chronology of human history, based on the date Jesus comes]. Vào thời đó, Dionysius Exiguus, thường ghi
các biến cố lịch sử theo ngày thành lập La Mã (AUC = Ab Urbe Condita). Ông
ta ấn định ngày sinh của Giê-su là ngày 25 tháng 12, 753 AUC, và thời đại
của Ki-tô (Christian Era) bắt đầu 1 tuần lễ sau đó, ngày 1 tháng 1, 754
AUC – ngày Giê-su làm lễ cắt bì, theo phong tục Do Thái, khi Giê-su sinh ra
được 1 tuần lễ. Ngày 1 tháng 1 cũng
là ngày mồng một đầu năm của lịch La Mã.
Về sau, Ki-tô Giáo lấy ngày 1 tháng 1, 754 AUC làm ngày 1 tháng 1
năm 1 [không có năm 0]. Do đó không có
một lý do nào để tính thiên niên kỷ theo ngày đó. Nhưng
vấn nạn chính là Dionysius Exiguus đã lấy sai ngày sinh của Dê-su [thật ra
thì cho tới ngày nay, không ai biết ngày sinh của Dê-su là ngày nào]. Ông ta lấy ngày sinh của Dê-su vào 4 năm sau khi Herod chết. Tuy các học giả không có một tài liệu lịch
sử nào về ngày sinh của Dê-su nhưng họ biết rõ năm Herod chết: năm 750
AUC hay năm 4 TTL. Kinh Thánh viết rằng
Dê-su sinh ra trong triều đại của Herod, và vì sự sinh ra của Dê-su mà
Herod ra lệnh giết tất cả những đứa trẻ sơ sinh dưới 2 tuổi ở Nói
tóm lại, về bản chất, lịch Tây ngày nay chúng ta dùng chẳng có gì đặc
biệt, chẳng qua chỉ là một hệ thống để ghi các niên đại dựa trên sự
chuyển động chính xác của trái đất xung quanh mặt trời. Và lẽ dĩ nhiên, vì lịch này gần đúng
nhất với những sự kiện thiên văn như những ngày Xuân Phân, Thu Phân, Hạ
Chí và Đông Chí, nên thế giới dùng nó để ghi những mốc điểm có
tính cách lịch sử, thuận tiện trong đời sống xã hội chung, tuyệt đối
không có nghĩa là liên hệ đến ngày sinh của Dê-su như người ta thường
tưởng.
Chúng ta cũng biết rằng, người Trung Hoa, người
Việt, kể cả những người Việt sống tạm bợ trong đời này với hi vọng
có một cuộc sống đời đời trong đời sau, cũng thường ăn Tết Ta chứ
không ăn Tết Tây. Tết Ta là ngày lễ
trọng của dân tộc Việt Nam trong khi Tết Tây chỉ là ngày được nghỉ
đi làm, như những ngày nghỉ lễ khác như lễ “giáng sinh”, “phục sinh”
của Ki-tô Giáo, vì “giáng sinh” hay “phục sinh” chỉ là những huyền
thoại của Ki-tô Giáo, không có một giá trị phổ quát nào trên thế giới.
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com