
| THIÊN CHÚA VÀ TSUNAMIS Trần Chung Ngọc Tân Ước John 3:16: “Vì Thiên
Chúa Quá Thương Yêu Thế Gian .....” Trải qua nhiều thế kỷ, thế
giới Ki-tô Giáo tin rằng tất cả những thiên tai là “hành động của
Thiên Chúa” (Acts of God), hoặc để biểu lộ sự bất mãn của Thiên Chúa
trước những sự xấu xa của con người, hoặc để trừng phạt con người
vì một lý do nào đó. Niềm tin này
kéo dài cho tới tận ngày nay trong các khối Hồi Giáo và Ki-tô Giáo, kể cả
trong quốc gia văn minh tiến bộ nhất trên trái đất là nước Mỹ. Người Ki-tô Giáo, nhất là
các hệ phái “Tin Dữ”, đều tin rằng tất cả những việc xảy ra trên
thế gian đều do sự an bài của Thiên Chúa, hay nói theo Giáo Hoàng John Paul
II và Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, đều nằm trong “kế hoạch huyền nhiệm”
của Thiên Chúa mà đầu óc hữu hạn của con người không thể nào hiểu
nổi. Lẽ dĩ nhiên chỉ có giới giáo
sĩ Ki-tô Giáo nói chung, hiểu, vì nếu không hiểu thì làm sao mà tất cả
các ông ấy cứ luôn luôn tuyên bố Thiên Chúa là thế này, thế nọ,
Thiên Chúa muốn thế này, thế nọ. Nhưng
chẳng bao giờ các ông ấy nói cái hiểu của mình ra cho người khác hay
mà chỉ tuyên bố khơi khơi như vậy, và cũng lẽ dĩ nhiên, các tín đồ
chỉ có bổn phận phải tin như vậy, không tin thì không được lên thiên
đường. Thiên tai Tsunami gần đây ở
Nam Á, người Việt mình gọi là “sóng Thần”, gây thiệt hại nhân mạng,
tính cho đến nay, 3 tháng 1, 2005, đã lên đến con số sấp sỉ 150000 (một
trăm năm mươi ngàn), khoan nói đến thiệt hại vật chất mà chưa có con số
ước tính nào có thể coi là chính xác. Thiên
Chúa của Ki-tô Giáo nhất định phải có mặt trong Tsunami vì theo nền Thần
học Ki-tô Giáo thì Thiên Chúa có một thuộc tính là “có mặt khắp nơi”
(omnipresent = being present everywhere), nghĩa là không có chỗ nào con người biết
đến, và không biết đến, mà Ngài không có mặt. Có mặt trong Tsunami, quả là Thiên Chúa đã
“quá Thương
Yêu Thế Gian..”, lẽ dĩ nhiên là theo quan niệm “thương yêu” của
Ngài và theo kế hoạch mầu nhiệm của Ngài.
Một số tổ chức truyền đạo để “phúc âm hóa” thế giới,
nấp sau bình phong từ thiện, tăng gia nỗ lực để giúp những nạn nhân
trong vùng bị “Thiên tai”, thực chất là mượn cơ hội, lợi dụng sự
đau khổ của con người để truyền đạo. Biết
rõ chuyện này, Ấn Độ đã từ chối sự giúp đỡ của một số tổ chức
“từ thiện” Ki Tô Giáo. Các nhà truyền giáo Ki-tô khấp
khởi mừng thầm, vì tai họa xảy ra trong vùng Hồi Giáo và Phật Giáo, và
là cơ hội bằng vàng để rao giảng tình
thương của Thiên Chúa qua những mẩu bánh mì, quần áo cũ, chăn mền
v..v..., giống như “Mẹ Teresa” ở Calcutta trước đây, đã từng
tuyên bố là những cảnh khổ ở Ấn Độ là cơ hội để cho bà rao giảng
và thể hiện tình thương của Thiên Chúa, bằng cách thu tiền của thiên hạ
để vào ngân hàng, và chỉ nhỏ giọt cứu giúp nhưng được thổi phồng,
phóng đại bởi các cơ quan truyền thông Ca-tô giáo. Lẽ dĩ nhiên là họ đều lờ đi chuyện,
theo niềm tin về một Thiên Chúa của họ, thủ phạm gây ra Tsunami chính
là Thiên Chúa của họ, và Thiên Chúa có mặt trong Tsunami. Nhưng hành động để vinh danh Chúa của họ
như vậy đã ô-tô-ma-tíc đưa họ tất cả xuống hỏa ngục, vì thực sự
họ đang phá kế hoạch mầu nhiệm của Thiên Chúa. Thật vậy, kế hoạch mầu nhiệm của
Thiên Chúa là dùng Tsunami để tạo đau khổ trên những vật thụ tạo của
Ngài mà Ngài không ưa. Cứu giúp, làm
vơi nỗi đau khổ của những người này là làm trái ý Chúa, nếu không muốn
nói là phá kế hoạch mầu nhiệm của Chúa. Song song với những tổ chức
này cũng có nhiều tổ chức thuần túy vô vị lợi và không có mưu đồ,
trong này phải kể một số tổ chức Phật Giáo và cả những tổ chức
“vô thần” (atheist) hay thế tục (secular), không tin Thiên Chúa, không coi
Tsunami là hành động của Thiên Chúa, cũng đã có những hành động tích cực
để giúp đỡ những nạn nhân của Tsunami (sóng biển gây ra bởi “động
đất” ở ngoài biển), biểu lộ tình tương thân tương ái giữa con người
và con người, không hề có bóng dáng của Thiên Chúa xen vào. Thiên nhiên quả thật là vô
tình cảm, không biết bao nhiêu lần đã giáng những “đòn ân huệ”
(coup de grâce) xuống đức tin của Ki-tô Giáo (Christian faith), ít ra là đức
tin về những thuộc tính toàn năng, toàn trí, nhân từ mà các tín đồ
Ki-tô thường nhắm mắt tin, không hề nhìn thấy gì ở bên ngoài, xảy ra
hàng ngày ngay trước mắt. Nhưng lạ
thay, cho tới ngày nay, vẫn còn nhiều người cỡ Tin Lành Lê Anh Huy, Huỳnh
Thiên Hồng, Nguyễn Huệ Nhật và vô số người khác cùng trình độ vẫn
lên tiếng rao giảng về những thuộc tính trên của Thiên Chúa. Chúng ta thấy rõ, thuyết Tiến Hóa mà nền
tảng khởi đầu là của Trong tờ Newsweek số January 10,
2005, Kenneth L. Woodward có viết, trang 37: “Giống như Kinh Thánh (của Ki-tô Giáo), Kinh Koran nhận
thức rằng không có luật thiên nhiên
nào mà độc lập với Ý của Thiên Chúa.
Tất cả những gì xảy ra là
do Allah (cũng là Thiên Chúa của
Ki-tô Giáo) làm, và (những hiện tượng) thiên nhiên – gió, mưa, bão – đều là những dấu
hiệu của lòng nhân từ và thương yêu của ông ta. Do đó,
ngay cả sự tàn phá của Tsunami cũng phải có một mục đích tích cực ẩn
kín nào đó.” [All that
happens is Allah’s (aka Christian God) doing, and nature itself –wind, rain, storms
– constitutes signs of his mercy and compassion. Even
the destructive Tsunami, therefore, must have some hidden, positive purpose] Về phương diện cá nhân, người Do Thái, Hồi giáo, cũng
như người Ki-tô, cho rằng những thảm họa xảy ra cho mình chỉ là sự thử
thách của Thiên Chúa về lòng kiên nhẫn tin Chúa của mình. Giáo sư Akbar Ahmed tại Tuy nhiên, đối với tín đồ các tôn giáo thờ Thần,
Tsunami này là một sự thử thách khó nuốt về niềm tin vào vị Thần mà
họ đang thờ phượng. Chúng ta
hãy điểm qua một số ý kiến của những tín đồ các tôn giáo thờ Thần,
điển hình là Ki-tô Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo và Ấn Độ Giáo. Theo tin của ký giả Peter Graff
, hãng Reuters ở Luân Đôn, ngày 30 tháng 12, 2004 thì: Một phụ nữ ở Tamil Nadu, miền
Trong các nhà thờ Ki-tô, giáo
đường Do Thái, đền thờ Hồi Giáo, các bậc lãnh đạo tôn giáo được
vời đến để trả lời câu hỏi: “Tại
sao một ông God nhất mực nhân từ lại có thể gây ra tai họa khủng khiếp
như vậy cho những con người bình thường?” (How could a benevolent god
visit such horror on ordinary people?) Những tín ngưỡng thờ
Thần truyền thống giải thích sự tàn phá là nằm trong kế hoạch của
God, chứng minh quyền năng và sự trừng phạt của ông ta vì những tội lỗi
của con người (the destruction as part of God’s plan, proof of his power and
punishment for human sins) Ông Rabbi Do Thái Shlomo Amar phán: “Thế giới đang bị trừng phạt vì những
việc sai lầm – hoặc là thù hận nhau không cần thiết, hoặc không có
lòng từ thiện, hoặc sa đọa về luân lý” Ông Pandit (Ấn Giáo) Harikrishna Shastri cho rằng tai họa
trên xảy ra là vì “những sự xấu ác chồng
chất trên trái đất” và “vị trí của
những hành tinh” (positions of the planets). Sheikh Ibrahim Mogra, một ông thầy tu lãnh đạo Hồi giáo
ở Nhiều tín ngưỡng thờ Thần, đặc biệt là Ki-tô
Giáo, cho rằng tai họa này là dấu hiệu của ngày tận thế sắp tới như
được tiên đoán trong sách Khải Huyền, Tân Ước. Tất cả những người phát biểu như trên hầu như
chưa bao giờ học “Geology 101”. Ngoài các tín ngưỡng thờ Thần, Martin Kettle, một
người theo chủ nghĩa thế tục (a secularist), viết trong tờ báo Guardian ở
bên Anh: Tsunami bắt buộc con người phải
đặt vấn đề là “Một God có thể hiện hữu và làm ra những cảnh như
vậy không” –hay là, “chẳng làm gì có God, mà chỉ là thiên nhiên”. “Tsunami không thành vấn đề đối với hệ
thống tin vào khoa học: Thiên nhiên vô
tình cảm và phá hủy không phân biệt.” “Những
tín ngưỡng thờ Thần phải tìm cách giải thích chứ không phải là khoa học.” Ông Rabbi Mỹ ở Portland, Oregon, Daniel Isaak, cho rằng: “Đây là vấn đề mà giới giáo sĩ phải
đối diện hầu như mỗi ngày, khi tìm cách an ủi những sự đau khổ trong
đời sống, chứ không chỉ khi xảy ra những tai họa lớn. Thật là
rất khó mà có thể tin vào một God không những chỉ gây ra những Tsunami
giết hàng trăm ngàn người, nhưng còn đặt những dị tật (birth defects)
trên những đứa trẻ.” Nếu có người hỏi ý kiến
tôi về tại sao Tsunami lại xảy ra làm bao nhiêu người chết như vậy thì
tôi có thể trả lời theo ba quan điểm: lịch sử, Phật Giáo và khoa học,
và tôi nghĩ quan điểm nào cũng đúng cả. 1. Theo
lịch sử, không phải đây là lần đầu Tsunami xảy ra. Tsunami đã xảy ra nhiều lần trên thế giới
rồi và nó có thể xảy ra bất cứ lúc nào [Xin xem bảng liệt kê các
thiên tai ở cuôi bài]. 2. Trên
quan điểm Phật Giáo của riêng tôi, chúng ta có thể quán chiếu lý vô thường
và quan niệm về biệt nghiệp và cọng nghiệp trong Phật Giáo. Điều mà chúng ta có thể làm, ngoài cứu
trợ vật chất, là tụng niệm cầu siêu cho mọi người tử nạn được
siêu thoát về nơi họ muốn về, và hồi hướng công đức, nếu có, cho tất
cả các nạn nhân. 3. Những
người giải thích thiên nhiên nhưng vẫn bám vào quan niệm về sự hiện hữu
của một God, tôi khuyên họ nên học Geology 101. Thật vậy, bất cứ người
nào có chút kiến thức về Địa Chất Học cũng biết rằng, gần dưới vỏ
trái đất, trong khoảng từ 10 đến 60 km dưới mặt đất, có những địa
tầng (tectonic plates) luôn luôn di chuyển tuy rất chậm. Khi hai địa tầng cọ xát nhau thì sẽ xảy
ra động đất. Khi áp lực lên cao
trong một núi lửa thì núi lửa phải phun ra để giảm áp lực. Bão tố xảy
ra cũng do sự thay đổi áp xuất trong bầu khí quyển. Đó là nguyên nhân của những thiên tai và
trong nhiều trường hợp, người ta có thể tiên đoán được những gì sẽ
xảy ra, chứ chẳng làm gì có Thiên Chúa nào ngồi đó mà thưởng hay trừng
phạt nhân loại. Các nhà lãnh đạo Ki-tô Giáo
thường có nhiều ngụy biện giải thích, biến đổi mặt tiêu cực của
Thiên Chúa thành mặt tích cực của Ngài, thí dụ như phải có ác thì mới
biết được thiện. Một số nhỏ thú
nhận không có cách nào có thể phối hợp hai thuộc tính Toàn Năng và
Lòng Nhân Từ của Thiên Chúa. Tuy
nhiên, tất cả đều có vẻ như muốn quên đi, hay lờ đi, mặt tiêu cực
của Thiên Chúa, mà chỉ đặt trọng tâm vào mặt tích cực của Thiên
Chúa, thí dụ như nhìn một bông hoa đẹp, nhìn một đứa bé đang bú mẹ,
chúng ta thấy tất cả những sự kỳ diệu trong tác phẩm “sáng tạo” của
Thiên Chúa. Lẽ dĩ nhiên họ không bao
giờ kể đến những cảnh trong nhà thương, những cảnh đói rét ở Phi
Châu, và sự kiện mỗi ngày có 40000 trẻ em dưới 5 tuổi chết vì bệnh tật,
thiếu dinh dưỡng. Luận điệu của các giáo sĩ chuyển ác thành thiện,
chuyển xấu thành tốt, để vớt vát mặt mũi Thiên Chúa của họ, đã khiến
cho Louis Clark viết bài God’s Love Of His
Chosen People mà tôi đã dịch và đăng trên trang nhà Giao Điểm trước
đây. Tôi nghĩ nhắc lại một đoạn không phải là vô ích: “Các tín đồ Ki-tô,
tuy không tự nhận là dân tộc được Thiên Chúa chọn theo nghĩa của người
Do Thái, nhưng tin rằng họ nắm trong tay tôn giáo chân thật duy nhất, và
do đó, đặc biệt được hưởng ân huệ của Thiên Chúa. Do đó, qua nhiều thế kỷ, họ cũng tìm cách
giải thích tại sao Thiên Chúa lại cho phép những sự khủng khiếp mà những
tín đồ Ki-tô vô tội phải chịu đựng trước những thiên tai và dưới
tay con người. Nhưng với tất cả những
nghi vấn này, và những cố gắng lươn lẹo để biến hóa những sự ác
thành một điều thiện có tính cách huyền nhiệm của Thiên Chúa (tortuous
efforts to transmogrify perceived evil into a mystical good), thật là
chẳng có mấy ai đưa ra được một giải đáp thỏa đáng, rõ ràng như
sau:
Vấn đề thật là quá đơn giản! Mark
Twain nhìn thấy vấn đề rõ ràng trong cuốn Những Bức Thư Từ Trái Đất (Letters
from the Earth, 1962). Dùng thể văn châm biếm khó nuốt mà ông
ta là một bậc đại sư trong lối hành văn này, Mark Twain đã nghiêm khắc lên án sự vô
nghĩa của một Thiên Chúa có thể ngăn ngừa mọi sự ác (với thuộc
tính toàn năng của mình), nhưng lại không chịu làm – một Thiên
Chúa mà con người thờ phụng như là một cha già đầy tình thương yêu! Twain viết là các tín đồ Ki-tô “trang bị đấng Sáng Tạo với tất cả những
nét để làm cho ông ta thành một kẻ ác ôn, và rồi đi đến kết luận là
tên ác ôn và cha già là một.” (Christians equip the Creator with every
trait into the making of a fiend, and then arrive at the conclusion that a fiend and a
father are the same).
Twain đã chỉ rõ là không có một
người nào đầu óc lành mạnh lại có thể dung thứ cho một người cha hành
hạ con cái của mình, tuy vậy mà hàng triệu người tự cho là có đầu
óc lành mạnh, không những chỉ chấp nhận ý tưởng về một Thiên Chúa
đã hành hạ con cái của mình, mà họ còn cố vận dụng đầu óc để làm
cho điều đó đã đem lại vinh dự cho Thiên Chúa.
Từ đâu mà nẩy ra nhu cầu để cho
những nhà gọi là thần học giải thích những sự xấu ác ở trên đời
là một biểu thị của ân sủng và lòng thương yêu của Thiên Chúa?
(Whence comes this need of would-be theologians to explain the evil in the world as an
expression of divine favor and love?) Có phải là chính con người có nhu cầu,
vì nền văn minh của nhân loại, đã thương yêu lẫn nhau và thực thi công
lý? Vậy tại sao không trao vinh dự cho
chỗ đáng trao – cho chính chúng ta – thay vì trao cho một Thiên Chúa của
những sự khao khát cao nhất của chúng ta và triền miên tự mãn với lý
luận là những sự ác theo tiêu chuẩn của
chúng ta bằng cách nào đó lại là điều thiện đối với Thiên Chúa? Chỉ có
lý trí, như là của Mark Twain, mới làm cho con người vứt bỏ đi cái tâm cảnh tâm lý độc
hại “Thiên-Chúa–thương-yêu-chúng-ta-trong-khi-giết-chúng–ta”
(Throw off the psychologically destructive god-loves-us-while-killing-us mentality) đã tồn tại trong nhiều thế kỷ và cho
phép chúng ta nhìn thiện và ác như chúng là như vậy, và chịu trách nhiệm
cho cả hai.” Trước sự tàn phá của Tsunami ở Nam Á, giới lãnh đạo
Ki-tô Giáo đã bắt buộc phải đối diện với một vấn nạn. Hoặc phủ nhận quyền năng sáng tạo cũng
như lòng thương yêu của Thiên Chúa, hoặc phải chấp nhận Tsunami cũng
như các thiên tai xảy ra trên thế gian đều là những tác phẩm của Thiên
Chúa, bất kể là họ có hiểu “Ý Chúa” hay không. Giải thích sao cũng không tránh khỏi mâu
thuẫn, và “há miệng mắc quai”, khó còn có thể rao giảng tin mừng “Vì Thiên
Chúa quá thương yêu thế gian...” để thuyết phục con người hãy
tiếp tục tin vào Thiên Chúa. Lẽ dĩ
nhiên, đối với những người chỉ cần tin vào một cuộc sống đời đời
bên Chúa sau khi chết, với tâm cảnh “sống chết mặc bay” thì lòng tin
vào một Thiên Chúa “quá thương yêu thế gian” không vì bất cứ cái gì
mà thay đổi. Chẳng vậy mà chúng ta
có thể đọc trên Internet, vào “Google” và search “God and Tsunamis”, có
người viết rằng anh ta đáng lẽ đến ở một khách sạn trong vùng
Tsunami tàn phá, nhưng rồi không đến, và do
hồng ân Thiên Chúa (by the grace of God), anh ta đã thoát nạn. Anh ta chắc tin rằng Thiên Chúa đặc biệt
lo cho mình anh ta, còn hơn 150.000 người chết vì không có hồng ân Thiên
Chúa thì anh ta không quan tâm. Có thể
nói đây là tâm cảnh của đa số tín đồ Ki-tô Giáo. Đối với những người tin rằng mọi sự xảy ra trên
thế gian đều do sự an bài của Thiên Chúa, Kinh Thánh là những lời mạc
khải của Thiên Chúa nên không thể sai lầm, tôi liệt kê một số thiên
tai chính, từ trước tới nay, để cho những tín đồ Ki-tô thấy rõ Thiên
Chúa của họ đã “Quá thương yêu thế gian..” như thế nào. Chúng ta cần ghi nhận rằng, lòng “thương
yêu” của Thiên Chúa không chỉ ban phát cho những kẻ thù của Chúa vì
không tin Chúa, mà phần lớn là ban phát cho chính những tín đồ sùng tín,
tin Chúa. -
Năm 4000 Trước Tây Lịch (TTL): Trận Hồng Thủy mà tác giả là Thiên
Chúa, giết hại toàn thể nhân loại do chính Thiên Chúa tạo ra, chỉ chừa
lại gia đình 7 người của một tên say rượu Noah, và giết hại luôn
toàn thể cả hàng trăm triệu các loại sinh vật khác chỉ chừa mỗi loại
một cặp. -
Năm 79: Núi
lửa phun ở Ý, thiêu hủy thành phố Pompei, ít nhất là 2000 người chết. -
Năm 526: Động
đất ở -
Năm 1290: Động
đất ở Chihli, Trung Quốc, 100.000 người chết. -
Năm 1332: Lụt bởi nước sông Hoàng Hà,
Trung Quốc, 7 triệu người chết. -
Năm 1556: Động
đất ở -
Năm 1631: Núi
lửa phun, Vesuvius, Ý, hơn 4.000 người chết. -
Năm 1642: Lụt,
Trung Quốc, 900.000 người chết. -
Năm 1737: Động
đất ở -
Năm 1755: Động đất ở -
Năm 1815: Núi lửa phun ở -
Năm 1855: Động
đất ở -
Năm 1883: Núi
lửa phun, -
Năm 1887: Lụt
bởi nước sông Hoàng Hà, Trung Quốc, 900.000 – 2 ½ triệu người chết. -
Năm 1896: Tsunami,
Sanriku, Nhật Bản, trên 22.000 người chết. -
Năm 1902: Núi
lửa, Pelée, -
Năm 1906: Động
đất, -
Năm 1908: Động
đất, -
Năm 1920: Động
đất, Trung Quốc, 200.000 người chết -
Năm 1923: Động
đất ở Kanto, tiếp theo là Tsunami, -
Năm 1925: Cuồng
phong ở vùng Trung Tây, Hoa Kỳ, 689 người chết. -
Năm 1927: Lụt
sông Mississipi, Hoa Kỳ, 500 người chết. -
Năm 1927: Động
đất, Trung Quốc, 200.000 người chết. -
Năm 1931: Lụt,
Trung Quốc, 3 triệu 7 người chết. -
Năm 1946: Tsunami
ở -
Năm 1960: Động
đất, -
Năm 1964: Động
đất, -
Năm 1970: Động
đất, -
Năm 1970: Bão
lốc, -
Năm 1976: Động
đất, -
Năm 1982: Động
đất, -
Năm 1984/85:
Hạn hán và nạn đói, -
Năm 1985: Núi
lửa, -
Năm 1988: Động
đất, -
Năm 1990: Động
đất, -
Năm 1991: Bão
lốc, -
Năm 1991: Núi
lửa, Pinatubo, Phi Luật Tân, 800 người chết. -
Năm 2004: 7-8
giờ sáng ngày 26/12 ở Sumatra, 6-7 giờ tối ngày “Chúa Giáng Sinh” ở Mỹ, Tsunami, Nam Á, trên 150.000 người chết. Ngoài những “acts of God” như
trên, theo niềm tin của người Do Thái, Ki-tô và Hồi Giáo, còn những hành
động của con người, được “sáng tạo” theo hình ảnh của Thiên Chúa
và giống như Thiên Chúa, mà mức độ hủy diệt con người không kém mức
độ gây nên bởi những thiên tai. Xin
liệt kê vài sự kiện lịch sử sau đây: -
Thập niên 1930:
Stalin thanh trừng ở Liên Bang Sô-viết: 700.000-1triệu 300.000 người
chết. -
1937-1938: Cuộc cưỡng đoạt tàn bạo Nam
Kinh (The rape of Nankin) của Nhật Bản: 370.000 người chết. -
Thập niên 1940:
Nazi Đức Quốc Xã giết 6 triệu người Do Thái. -
Thập niên 1940:
Chính quyền Ca-tô ở -
Thập niên 1970:
Pol Pot giết 2 triệu người ở Cambod. -
1994: Chính sách diệt chủng ở -
Từ khi lập giáo: Ki-tô Giáo đã giết hại
trên trăm triệu người dân vô tội qua những cuộc Thánh Chiến, Săn Lùng
Phù Thủy, Tòa Hình Án Xử Dị Giáo, và trong các cuộc xâm lăng của thực
dân. Không biết đã có người nào
đặt vấn đề: Chúng ta phải cảm tạ
và hết lòng, hết sức, hết linh hồn yêu Thiên Chúa của Ki Tô Giáo như
thế nào khi mà Thiên Chúa này đã tạo nên một trái đất đầy những thiên
tai và những con người, theo hình ảnh ông ta và giống như ông ta, cho nên
cũng tàn ác không kém ông ta như được kể trong Cựu Ước về những hành
động của ông ta ? Để kết luận, tôi xin kể
câu chuyện về Black Death ở Âu Châu để quý độc giả nghĩ sao thì nghĩ: Giữa thế kỷ 14, trong khoảng
1347-1350, ở Âu Châu xảy ra bệnh dịch hạch, đầu thế kỷ 19 người Anh
gọi là “Black death”. Vào thời đó
Âu Châu có thể nói là toàn tòng Ca-tô Giáo Rô-ma. Bệnh dịch giết hại từ một phần ba đến
nửa dân số Âu Châu (từ 25 đến 37 triệu người trên tổng số 75 triệu). Tín đồ đổ sô vào nhà thờ cầu nguyện,
bệnh dịch vẫn tiếp tục hoành hành. Tín
đồ Ki-tô, đúng hơn là tín đồ Ca-tô, đổ cho người Do Thái bỏ thuốc
độc vào các giếng nước và kéo nhau đi giết người Do Thái như chúng ta
có thể đọc trong đoạn sau đây: “Khi bệnh dịch đe dọa Âu Châu năm 1348, giết
hại gần nửa dân số, những tín đồ Ki-tô cuồng loạn kết luận nguyên
nhân là vì người Do Thái bỏ thuốc độc vào các giếng nước. Kết quả là những cuộc tàn sát (người
Do Thái) xảy ra trong khoảng 300 thị trấn. Những toán Ki-tô ô hợp tràn vào những
vùng (Do Thái) lân cận không có tự vệ,
và giết hại hầu như mọi người dân trong đó – trừ một vài người
được phép tự cứu bằng cách chấp nhận rửa tội (theo Ca-tô Giáo) Ở Speyer, Đức, những thây người Do Thái được chất
vào những thùng đựng rượu lớn và thả trôi theo giòng sông Ở Benfield, môt số người Do Thái bị thiêu sống hay
dìm chết trong một vũng lầy. Ở
Bavaria, những toán Ki-tô ô hợp với mác và liềm, tràn qua 80 cộng đồng
Do Thái, giết 10000 người. Ở Basel, Thụy
Sĩ, những nhà lãnh đạo Ki-tô thiêu sống 600 người Do Thái vì tội bỏ
thuốc độc vào các giếng nước, và 140 con cái của họ bị cưỡng bách
rửa tội hay mang đi để nuôi thành người Ki-tô. Những người thuộc hệ phái Ki-tô Flagellant là một
đoàn quân lang thang gồm những người có mặc cảm phạm tội, tự quất
roi vào mình đến chảy máu để chuộc tội với hi vọng làm cho Thiên
Chúa cất bỏ nạn dịch. Khi những người
này đến Ông Hoàng cai quản ở (Haught, James A., Holy Horrors:
An Illustrated History Of Religious Murder And Madness, Prometheus Books, At At Benfeld, some Jews were burned
and others were drowned in a swamp. In The Flagellants were a roaming army
of penitents who whipped themselves bloody to expiate their sins in hope of inducing God
to lift the plague. When the Flagellants
arrived in The prince of Cầu nguyện trong nhà thờ, tự hành hạ để chuộc tội,
giết oan vô số người Do Thái v..v.. tất cả đều không làm cho bệnh dịch
chấm dứt. Cho đến khi các nhà nghiên
cứu y khoa khám phá ra nguyên nhân của bệnh dịch hạch là do loại vi khuẩn
Yersinia pestis, truyền nhiễm từ những con bọ phát sinh từ một loại chuột
đen, và sự truyền nhiễm lan rộng của nạn dịch này là vấn đề người
dân không biết giữ vệ sinh, thí dụ như dùng tay không để chôn người
chết v..v.., chứ không phải là hành động của Chúa (act of God). Khoa học gia Chet Raymo, tác giả cuốn sách nổi tiếng Skeptics and True Believers: The Exhilarating
Connection Between Science and Religion, Walker and Co., New York, 1998, viết, trang
76: “Đã một thời,
trên các bục giảng đạo, người ta giảng rằng God gửi xuống Black Death
để giáng tai họa xuống đầu những người không tin God; khi người ta khám
phá ra rằng chính những con chuột là tác nhân (agent) của bệnh dịch, thì
người ta vẫn có thể khẳng định là God đã gửi những con chuột xuống. Đến khi những con chuột (và bệnh dịch)
bị tiêu diệt bởi những biện pháp vệ sinh công cộng, thì chắc là God
phải tìm cách khác để trừng phạt sự vô tín.” (It was once preached from the pulpits that God sent the Black
Death to scourge a faithless people; when it was discovered that fleas on rats were the
agents of the disease, it was still possible to claim that God sent the rats. When the rats (and the disease) were abolished by
effective publis sanitation, then God presumably found other ways of punishing
faithlessness.) John 3:16: “Vì Thiên
Chúa Quá Thương Yêu Thế Gian ....”,
vậy các tín đồ Ki-tô, Ca-tô cũng như Tin Lành Việt Nam, xin hãy cứ tiếp
tục:
Tôi tuyệt đối không phản đối. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com