105-world.gif (4136 bytes)
posted: 6.1.05
          THIÊN CHÚA VÀ TSUNAMIS

Trần Chung Ngọc

Tân Ước John 3:16: “Vì Thiên Chúa Quá Thương Yêu Thế Gian .....”

Trải qua nhiều thế kỷ, thế giới Ki-tô Giáo tin rằng tất cả những thiên tai là “hành động của Thiên Chúa” (Acts of God), hoặc để biểu lộ sự bất mãn của Thiên Chúa trước những sự xấu xa của con người, hoặc để trừng phạt con người vì một lý do nào đó.  Niềm tin này kéo dài cho tới tận ngày nay trong các khối Hồi Giáo và Ki-tô Giáo, kể cả trong quốc gia văn minh tiến bộ nhất trên trái đất là nước Mỹ.

Người Ki-tô Giáo, nhất là các hệ phái “Tin Dữ”, đều tin rằng tất cả những việc xảy ra trên thế gian đều do sự an bài của Thiên Chúa, hay nói theo Giáo Hoàng John Paul II và Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, đều nằm trong “kế hoạch huyền nhiệm” của Thiên Chúa mà đầu óc hữu hạn của con người không thể nào hiểu nổi.  Lẽ dĩ nhiên chỉ có giới giáo sĩ Ki-tô Giáo nói chung, hiểu, vì nếu không hiểu thì làm sao mà tất cả các ông ấy cứ luôn luôn tuyên bố Thiên Chúa là thế này, thế nọ, Thiên Chúa muốn thế này, thế nọ.  Nhưng chẳng bao giờ các ông ấy nói cái hiểu của mình ra cho người khác hay mà chỉ tuyên bố khơi khơi như vậy, và cũng lẽ dĩ nhiên, các tín đồ chỉ có bổn phận phải tin như vậy, không tin thì không được lên thiên đường.

Thiên tai Tsunami gần đây ở Nam Á, người Việt mình gọi là “sóng Thần”, gây thiệt hại nhân mạng, tính cho đến nay, 3 tháng 1, 2005, đã lên đến con số sấp sỉ 150000 (một trăm năm mươi ngàn), khoan nói đến thiệt hại vật chất mà chưa có con số ước tính nào có thể coi là chính xác.  Thiên Chúa của Ki-tô Giáo nhất định phải có mặt trong Tsunami vì theo nền Thần học Ki-tô Giáo thì Thiên Chúa có một thuộc tính là “có mặt khắp nơi” (omnipresent = being present everywhere), nghĩa là không có chỗ nào con người biết đến, và không biết đến, mà Ngài không có mặt.  Có mặt trong Tsunami, quả là Thiên Chúa đã “quá Thương Yêu Thế Gian..”, lẽ dĩ nhiên là theo quan niệm “thương yêu” của Ngài và theo kế hoạch mầu nhiệm của Ngài.   Một số tổ chức truyền đạo để “phúc âm hóa” thế giới, nấp sau bình phong từ thiện, tăng gia nỗ lực để giúp những nạn nhân trong vùng bị “Thiên tai”, thực chất là mượn cơ hội, lợi dụng sự đau khổ của con người để truyền đạo.  Biết rõ chuyện này, Ấn Độ đã từ chối sự giúp đỡ của một số tổ chức “từ thiện” Ki Tô Giáo. 

Các nhà truyền giáo Ki-tô khấp khởi mừng thầm, vì tai họa xảy ra trong vùng Hồi Giáo và Phật Giáo, và là cơ hội bằng vàng để rao giảng tình thương của Thiên Chúa qua những mẩu bánh mì, quần áo cũ, chăn mền v..v..., giống như “Mẹ Teresa” ở Calcutta trước đây, đã từng tuyên bố là những cảnh khổ ở Ấn Độ là cơ hội để cho bà rao giảng và thể hiện tình thương của Thiên Chúa, bằng cách thu tiền của thiên hạ để vào ngân hàng, và chỉ nhỏ giọt cứu giúp nhưng được thổi phồng, phóng đại bởi các cơ quan truyền thông Ca-tô giáo.  Lẽ dĩ nhiên là họ đều lờ đi chuyện, theo niềm tin về một Thiên Chúa của họ, thủ phạm gây ra Tsunami chính là Thiên Chúa của họ, và Thiên Chúa có mặt trong Tsunami.  Nhưng hành động để vinh danh Chúa của họ như vậy đã ô-tô-ma-tíc đưa họ tất cả xuống hỏa ngục, vì thực sự họ đang phá kế hoạch mầu nhiệm của Thiên Chúa.  Thật vậy, kế hoạch mầu nhiệm của Thiên Chúa là dùng Tsunami để tạo đau khổ trên những vật thụ tạo của Ngài mà Ngài không ưa.  Cứu giúp, làm vơi nỗi đau khổ của những người này là làm trái ý Chúa, nếu không muốn nói là phá kế hoạch mầu nhiệm của Chúa.

Song song với những tổ chức này cũng có nhiều tổ chức thuần túy vô vị lợi và không có mưu đồ, trong này phải kể một số tổ chức Phật Giáo và cả những tổ chức “vô thần” (atheist) hay thế tục (secular), không tin Thiên Chúa, không coi Tsunami là hành động của Thiên Chúa, cũng đã có những hành động tích cực để giúp đỡ những nạn nhân của Tsunami (sóng biển gây ra bởi “động đất” ở ngoài biển), biểu lộ tình tương thân tương ái giữa con người và con người, không hề có bóng dáng của Thiên Chúa xen vào. 

Thiên nhiên quả thật là vô tình cảm, không biết bao nhiêu lần đã giáng những “đòn ân huệ” (coup de grâce) xuống đức tin của Ki-tô Giáo (Christian faith), ít ra là đức tin về những thuộc tính toàn năng, toàn trí, nhân từ mà các tín đồ Ki-tô thường nhắm mắt tin, không hề nhìn thấy gì ở bên ngoài, xảy ra hàng ngày ngay trước mắt.  Nhưng lạ thay, cho tới ngày nay, vẫn còn nhiều người cỡ Tin Lành Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng, Nguyễn Huệ Nhật và vô số người khác cùng trình độ vẫn lên tiếng rao giảng về những thuộc tính trên của Thiên Chúa.  Chúng ta thấy rõ, thuyết Tiến Hóa mà nền tảng khởi đầu là của Darwin, đã chứng minh rõ ràng hiện tượng này.  Trong quá trình tiến hóa, có những tập thể không hề thay đổi trong một thời gian dài, rồi có thể đột nhiên thay đổi (Thuyết “punctuated equilibrium” của Niles Elredge và Stephen J. Gould), phù hợp với chân lý của nhà Phật: Chúng sinh thì vô lượng, nhưng căn trí thì bất đồng, có đủ duyên thì mới thành.   Cho nên, với một loại “gen” đặc biệt, phù hợp với một loại căn trí đặc biệt, một số không nhỏ vẫn có thể tiếp tục tin vào những điều mà đại đa số dân chúng trên thế giới đã không còn tin.

Trong tờ Newsweek số January 10, 2005, Kenneth L. Woodward có viết, trang 37:

“Giống như Kinh Thánh (của Ki-tô Giáo), Kinh Koran nhận thức rằng không có luật thiên nhiên nào mà độc lập với Ý của Thiên Chúa.   Tất cả những gì xảy ra là do Allah (cũng là Thiên Chúa của Ki-tô Giáo) làm, và (những hiện tượng) thiên nhiên – gió, mưa, bão – đều là những dấu hiệu của lòng nhân từ và thương yêu của ông ta.  Do đó, ngay cả sự tàn phá của Tsunami cũng phải có một mục đích tích cực ẩn kín nào đó. [All that happens is Allah’s (aka Christian God) doing, and nature itself –wind, rain, storms – constitutes signs of his mercy and compassion.  Even the destructive Tsunami, therefore, must have some hidden, positive purpose]

Về phương diện cá nhân, người Do Thái, Hồi giáo, cũng như người Ki-tô, cho rằng những thảm họa xảy ra cho mình chỉ là sự thử thách của Thiên Chúa về lòng kiên nhẫn tin Chúa của mình.  Giáo sư Akbar Ahmed tại Amercian University giải thích:  “Niềm tin về sự thử thách của Thiên Chúa cung cấp cho các tín đồ một tấm nệm tâm lý (psychological cushion) để hấp thụ, làm giảm ảnh hưởng của những tai họa lớn lao như là Tsunami”.   Chúng ta cần để ý là, nạn nhân của các Thiên Tai trong quá khứ cũng như trong Tsunami này không chỉ tập trung trong một sắc dân, một tôn giáo.  Thật vậy, nạn nhân của Tsunami ở Nam Á ngày 26/12/2004 gồm có những người Hồi Giáo, Ấn Độ Giáo, Phật Giáo, Do Thái Giáo và Ki-tô Giáo, và tất nhiên có cả những người vô thần.  4 nhà thờ Ki-tô Giáo ở bờ biển Mullaitivu, Sri Lanka bị tàn phá tan tành.   Nhà thờ St. Peter chỉ còn một cái khung nhà.  Bức hình Dê-su còn sót lại bị lấm đầy bùn.  Điều này chứng tỏ thiên nhiên không chừa một ai, kể cả Chúa và những nơi thờ Chúa. 

Tuy nhiên, đối với tín đồ các tôn giáo thờ Thần, Tsunami này là một sự thử thách khó nuốt về niềm tin vào vị Thần mà họ đang thờ phượng.   Chúng ta hãy điểm qua một số ý kiến của những tín đồ các tôn giáo thờ Thần, điển hình là Ki-tô Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo và Ấn Độ Giáo.

Theo tin của ký giả Peter Graff , hãng Reuters ở Luân Đôn, ngày 30 tháng 12, 2004 thì:

Một phụ nữ ở Tamil Nadu, miền Nam Ấn Độ, than: “Tại sao ông lại gây tai họa cho chúng tôi hả God?  Chúng tôi đã làm gì phật ý ông?” (Why did you do this to us, God?  What did we do to upset you?).

Trong các nhà thờ Ki-tô, giáo đường Do Thái, đền thờ Hồi Giáo, các bậc lãnh đạo tôn giáo được vời đến để trả lời câu hỏi: “Tại sao một ông God nhất mực nhân từ lại có thể gây ra tai họa khủng khiếp như vậy cho những con người bình thường?” (How could a benevolent god visit such horror on ordinary people?)

Những tín ngưỡng  thờ Thần truyền thống giải thích sự tàn phá là nằm trong kế hoạch của God, chứng minh quyền năng và sự trừng phạt của ông ta vì những tội lỗi của con người (the destruction as part of God’s plan, proof of his power and punishment for human sins)

Ông Rabbi Do Thái Shlomo Amar phán: “Thế giới đang bị trừng phạt vì những việc sai lầm – hoặc là thù hận nhau không cần thiết, hoặc không có lòng từ thiện, hoặc sa đọa về luân lý”

Ông Pandit (Ấn Giáo) Harikrishna Shastri cho rằng tai họa trên xảy ra là vì “những sự xấu ác chồng chất trên trái đất”“vị trí của những hành tinh” (positions of the planets).

Sheikh Ibrahim Mogra, một ông thầy tu lãnh đạo Hồi giáo ở Leicester, Anh Quốc, nói: “Chúng tôi tin rằng God có quyền năng kiểm soát rốt ráo trên toàn phần sáng tạo của ông ta.  Chúng ta có bổn phận phải làm sao để lôi cuốn lòng nhân từ của ông ta chứ đừng làm gì để cho ông ta nổi giận”  Một lãnh tụ Hồi Giáo khác ở Malaysia, Azizan Abdul Razak, nói rằng Tai họa trên xảy ra để nhắc nhở chúng ta rằng “God sáng tạo ra thế giới và có thể phá hủy thế giới”

Nhiều tín ngưỡng thờ Thần, đặc biệt là Ki-tô Giáo, cho rằng tai họa này là dấu hiệu của ngày tận thế sắp tới như được tiên đoán trong sách Khải Huyền, Tân Ước.

Tất cả những người phát biểu như trên hầu như chưa bao giờ học “Geology 101”.

Ngoài các tín ngưỡng thờ Thần, Martin Kettle, một người theo chủ nghĩa thế tục (a secularist), viết trong tờ báo Guardian ở bên Anh:  Tsunami bắt buộc con người phải đặt vấn đề là “Một God có thể hiện hữu và làm ra những cảnh như vậy không” –hay là, “chẳng làm gì có God, mà chỉ là thiên nhiên”.  “Tsunami không thành vấn đề đối với hệ thống tin vào khoa học:  Thiên nhiên vô tình cảm và phá hủy không phân biệt.”  “Những tín ngưỡng thờ Thần phải tìm cách giải thích chứ không phải là khoa học.”

Ông Rabbi Mỹ ở Portland, Oregon, Daniel Isaak, cho rằng: “Đây là vấn đề mà giới giáo sĩ phải đối diện hầu như mỗi ngày, khi tìm cách an ủi những sự đau khổ trong đời sống, chứ không chỉ khi xảy ra những tai họa lớn.  Thật là rất khó mà có thể tin vào một God không những chỉ gây ra những Tsunami giết hàng trăm ngàn người, nhưng còn đặt những dị tật (birth defects) trên những đứa trẻ.”

Nếu có người hỏi ý kiến tôi về tại sao Tsunami lại xảy ra làm bao nhiêu người chết như vậy thì tôi có thể trả lời theo ba quan điểm: lịch sử, Phật Giáo và khoa học, và tôi nghĩ quan điểm nào cũng đúng cả.

1.      Theo lịch sử, không phải đây là lần đầu Tsunami xảy ra.  Tsunami đã xảy ra nhiều lần trên thế giới rồi và nó có thể xảy ra bất cứ lúc nào [Xin xem bảng liệt kê các thiên tai ở cuôi bài].

2.      Trên quan điểm Phật Giáo của riêng tôi, chúng ta có thể quán chiếu lý vô thường và quan niệm về biệt nghiệp và cọng nghiệp trong Phật Giáo.  Điều mà chúng ta có thể làm, ngoài cứu trợ vật chất, là tụng niệm cầu siêu cho mọi người tử nạn được siêu thoát về nơi họ muốn về, và hồi hướng công đức, nếu có, cho tất cả các nạn nhân.

3.      Những người giải thích thiên nhiên nhưng vẫn bám vào quan niệm về sự hiện hữu của một God, tôi khuyên họ nên học Geology 101. Thật vậy, bất cứ người nào có chút kiến thức về Địa Chất Học cũng biết rằng, gần dưới vỏ trái đất, trong khoảng từ 10 đến 60 km dưới mặt đất, có những địa tầng (tectonic plates) luôn luôn di chuyển tuy rất chậm.  Khi hai địa tầng cọ xát nhau thì sẽ xảy ra động đất.  Khi áp lực lên cao trong một núi lửa thì núi lửa phải phun ra để giảm áp lực. Bão tố xảy ra cũng do sự thay đổi áp xuất trong bầu khí quyển.  Đó là nguyên nhân của những thiên tai và trong nhiều trường hợp, người ta có thể tiên đoán được những gì sẽ xảy ra, chứ chẳng làm gì có Thiên Chúa nào ngồi đó mà thưởng hay trừng phạt nhân loại. 

Các nhà lãnh đạo Ki-tô Giáo thường có nhiều ngụy biện giải thích, biến đổi mặt tiêu cực của Thiên Chúa thành mặt tích cực của Ngài, thí dụ như phải có ác thì mới biết được thiện.  Một số nhỏ thú nhận không có cách nào có thể phối hợp hai thuộc tính Toàn Năng và Lòng Nhân Từ của Thiên Chúa.  Tuy nhiên, tất cả đều có vẻ như muốn quên đi, hay lờ đi, mặt tiêu cực của Thiên Chúa, mà chỉ đặt trọng tâm vào mặt tích cực của Thiên Chúa, thí dụ như nhìn một bông hoa đẹp, nhìn một đứa bé đang bú mẹ, chúng ta thấy tất cả những sự kỳ diệu trong tác phẩm “sáng tạo” của Thiên Chúa.  Lẽ dĩ nhiên họ không bao giờ kể đến những cảnh trong nhà thương, những cảnh đói rét ở Phi Châu, và sự kiện mỗi ngày có 40000 trẻ em dưới 5 tuổi chết vì bệnh tật, thiếu dinh dưỡng.

Luận điệu của các giáo sĩ chuyển ác thành thiện, chuyển xấu thành tốt, để vớt vát mặt mũi Thiên Chúa của họ, đã khiến cho Louis Clark viết bài God’s Love Of His Chosen People mà tôi đã dịch và đăng trên trang nhà Giao Điểm trước đây. Tôi nghĩ nhắc lại một đoạn không phải là vô ích:

“Các tín đồ Ki-tô, tuy không tự nhận là dân tộc được Thiên Chúa chọn theo nghĩa của người Do Thái, nhưng tin rằng họ nắm trong tay tôn giáo chân thật duy nhất, và do đó, đặc biệt được hưởng ân huệ của Thiên Chúa. Do đó, qua nhiều thế kỷ, họ cũng tìm cách giải thích tại sao Thiên Chúa lại cho phép những sự khủng khiếp mà những tín đồ Ki-tô vô tội phải chịu đựng trước những thiên tai và dưới tay con người.  Nhưng với tất cả những nghi vấn này, và những cố gắng lươn lẹo để biến hóa những sự ác thành một điều thiện có tính cách huyền nhiệm của Thiên Chúa (tortuous efforts to transmogrify perceived evil into a mystical good), thật là chẳng có mấy ai đưa ra được một giải đáp thỏa đáng, rõ ràng như sau:

     Vấn đề thật là quá đơn giản!  Mark Twain nhìn thấy vấn đề rõ ràng trong cuốn Những Bức Thư Từ Trái Đất (Letters from the Earth, 1962).  Dùng thể văn châm biếm khó nuốt mà ông ta là một bậc đại sư trong lối hành văn này, Mark Twain đã nghiêm khắc lên án sự vô nghĩa của một Thiên Chúa có thể ngăn ngừa mọi sự ác (với thuộc tính toàn năng của mình), nhưng lại không chịu làm – một Thiên Chúa mà con người thờ phụng như là một cha già đầy tình thương yêu!  Twain viết là các tín đồ Ki-tô “trang bị đấng Sáng Tạo với tất cả những nét để làm cho ông ta thành một kẻ ác ôn, và rồi đi đến kết luận là tên ác ôn và cha già là một.” (Christians equip the Creator with every trait into the making of a fiend, and then arrive at the conclusion that a fiend and a father are the same).   Twain đã chỉ rõ là không có một người nào đầu óc lành mạnh lại có thể dung thứ cho một người cha hành hạ con cái của mình, tuy vậy mà hàng triệu người tự cho là có đầu óc lành mạnh, không những chỉ chấp nhận ý tưởng về một Thiên Chúa đã hành hạ con cái của mình, mà họ còn cố vận dụng đầu óc để làm cho điều đó đã đem lại vinh dự cho Thiên Chúa.

      Từ đâu mà nẩy ra nhu cầu để cho những nhà gọi là thần học giải thích những sự xấu ác ở trên đời là một biểu thị của ân sủng và lòng thương yêu của Thiên Chúa? (Whence comes this need of would-be theologians to explain the evil in the world as an expression of divine favor and love?)  Có phải là chính con người có nhu cầu, vì nền văn minh của nhân loại, đã thương yêu lẫn nhau và thực thi công lý?  Vậy tại sao không trao vinh dự cho chỗ đáng trao – cho chính chúng ta – thay vì trao cho một Thiên Chúa của những sự khao khát cao nhất của chúng ta và triền miên tự mãn với lý luận là những sự ác theo tiêu chuẩn của chúng ta bằng cách nào đó lại là điều thiện đối với Thiên Chúa?  Chỉ có lý trí, như là của Mark Twain, mới làm cho con người vứt bỏ đi cái tâm cảnh tâm lý độc hại “Thiên-Chúa–thương-yêu-chúng-ta-trong-khi-giết-chúng–ta (Throw off the psychologically destructive god-loves-us-while-killing-us mentality) đã tồn tại trong nhiều thế kỷ và cho phép chúng ta nhìn thiện và ác như chúng là như vậy, và chịu trách nhiệm cho cả hai.”

Trước sự tàn phá của Tsunami ở Nam Á, giới lãnh đạo Ki-tô Giáo đã bắt buộc phải đối diện với một vấn nạn.  Hoặc phủ nhận quyền năng sáng tạo cũng như lòng thương yêu của Thiên Chúa, hoặc phải chấp nhận Tsunami cũng như các thiên tai xảy ra trên thế gian đều là những tác phẩm của Thiên Chúa, bất kể là họ có hiểu “Ý Chúa” hay không.  Giải thích sao cũng không tránh khỏi mâu thuẫn, và “há miệng mắc quai”, khó còn có thể rao giảng tin mừng “Vì Thiên Chúa quá thương yêu thế gian...” để thuyết phục con người hãy tiếp tục tin vào Thiên Chúa.  Lẽ dĩ nhiên, đối với những người chỉ cần tin vào một cuộc sống đời đời bên Chúa sau khi chết, với tâm cảnh “sống chết mặc bay” thì lòng tin vào một Thiên Chúa “quá thương yêu thế gian” không vì bất cứ cái gì mà thay đổi.  Chẳng vậy mà chúng ta có thể đọc trên Internet, vào “Google” và search “God and Tsunamis”, có người viết rằng anh ta đáng lẽ đến ở một khách sạn trong vùng Tsunami tàn phá, nhưng rồi không đến, và do hồng ân Thiên Chúa (by the grace of God), anh ta đã thoát nạn.  Anh ta chắc tin rằng Thiên Chúa đặc biệt lo cho mình anh ta, còn hơn 150.000 người chết vì không có hồng ân Thiên Chúa thì anh ta không quan tâm.  Có thể nói đây là tâm cảnh của đa số tín đồ Ki-tô Giáo.

Đối với những người tin rằng mọi sự xảy ra trên thế gian đều do sự an bài của Thiên Chúa, Kinh Thánh là những lời mạc khải của Thiên Chúa nên không thể sai lầm, tôi liệt kê một số thiên tai chính, từ trước tới nay, để cho những tín đồ Ki-tô thấy rõ Thiên Chúa của họ đã “Quá thương yêu thế gian..” như thế nào.  Chúng ta cần ghi nhận rằng, lòng “thương yêu” của Thiên Chúa không chỉ ban phát cho những kẻ thù của Chúa vì không tin Chúa, mà phần lớn là ban phát cho chính những tín đồ sùng tín, tin Chúa.

-          Năm 4000 Trước Tây Lịch (TTL):  Trận Hồng Thủy mà tác giả là Thiên Chúa, giết hại toàn thể nhân loại do chính Thiên Chúa tạo ra, chỉ chừa lại gia đình 7 người của một tên say rượu Noah, và giết hại luôn toàn thể cả hàng trăm triệu các loại sinh vật khác chỉ chừa mỗi loại một cặp.

-          Năm 79:  Núi lửa phun ở Ý, thiêu hủy thành phố Pompei, ít nhất là 2000 người chết.

-          Năm 526:  Động đất ở Antioch, Turkey, 250.000 người chết.

-          Năm 1290:  Động đất ở Chihli, Trung Quốc, 100.000 người chết.

-          Năm 1332: Lụt bởi nước sông Hoàng Hà, Trung Quốc, 7 triệu người chết.

-          Năm 1556:  Động đất ở Shansi, Trung Quốc, 830.000 người chết.

-          Năm 1631:  Núi lửa phun, Vesuvius, Ý, hơn 4.000 người chết.

-          Năm 1642:  Lụt, Trung Quốc, 900.000 người chết.

-          Năm 1737:  Động đất ở Calcutta, Ấn Độ, 300.000 người chết.

-          Năm 1755: Động đất ở Lisbon, Bồ Đào Nha (quốc gia toàn tòng Ca-tô Giáo Rô-ma), 50.000 người chết

-          Năm 1815: Núi lửa phun ở Tambora, Indonesia, 90.000 người chết.

-          Năm 1855:  Động đất ở Edo, Nhật Bản, nhiều ngàn người chết.

-          Năm 1883:  Núi lửa phun, Krakatoa, Indonesia, 36.000 người chết.

-          Năm 1887:  Lụt bởi nước sông Hoàng Hà, Trung Quốc, 900.000 – 2 ½  triệu người chết.

-          Năm 1896:  Tsunami, Sanriku, Nhật Bản, trên 22.000 người chết.

-          Năm 1902:  Núi lửa, Pelée, Martinique, 30.000 người chết.

-          Năm 1906:  Động đất, San Francisco, Hoa Kỳ, 700 người chết.

-          Năm 1908:  Động đất, Messina, Ý, 120.000 người chết.

-          Năm 1920:  Động đất, Trung Quốc, 200.000 người chết

-          Năm 1923:  Động đất ở Kanto, tiếp theo là Tsunami, Tokyo, Nhật Bản, 160.000 người chết.

-          Năm 1925:  Cuồng phong ở vùng Trung Tây, Hoa Kỳ, 689 người chết.

-          Năm 1927:  Lụt sông Mississipi, Hoa Kỳ, 500 người chết.

-          Năm 1927:  Động đất, Trung Quốc, 200.000 người chết.

-          Năm 1931:  Lụt, Trung Quốc, 3 triệu 7 người chết.

-          Năm 1946:  Tsunami ở Hilo, Hawai, 159 người chết.

-          Năm 1960:  Động đất, Chile, 5.700 người chết.

-          Năm 1964:  Động đất, Anchorage, Alaska, 131 người chết.

-          Năm 1970:  Động đất, Peru, 66.000 người chết.

-          Năm 1970:  Bão lốc, Bangladesh, 300.000 người chết.

-          Năm 1976:  Động đất, Tangshan, Trung Quốc,  255.000 người chết

-          Năm 1982:  Động đất, El Chichon, Mexico, 3.500 người chết.

-          Năm 1984/85:   Hạn hán và nạn đói, Ethiopia, 1 triệu người chết.

-          Năm 1985:  Núi lửa, Nevado del Ruiz, Colombia, 22.000 người chết.

-          Năm 1988:  Động đất, Armenia, 25.000 người chết.

-          Năm 1990:  Động đất, Iran, 36.000 người chết

-          Năm 1991:  Bão lốc, Bangladesh, 150.000 người chết.

-          Năm 1991:  Núi lửa, Pinatubo, Phi Luật Tân, 800 người chết.

-          Năm 2004:  7-8 giờ sáng ngày 26/12 ở Sumatra, 6-7 giờ tối ngày “Chúa Giáng Sinh” ở  Mỹ, Tsunami, Nam Á, trên 150.000 người chết.

Ngoài những “acts of God” như trên, theo niềm tin của người Do Thái, Ki-tô và Hồi Giáo, còn những hành động của con người, được “sáng tạo” theo hình ảnh của Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa, mà mức độ hủy diệt con người không kém mức độ gây nên bởi những thiên tai.  Xin liệt kê vài sự kiện lịch sử sau đây:

-          Thập niên 1930:   Stalin thanh trừng ở Liên Bang Sô-viết: 700.000-1triệu 300.000 người chết.

-          1937-1938: Cuộc cưỡng đoạt tàn bạo Nam Kinh (The rape of Nankin) của Nhật Bản: 370.000 người chết.

-          Thập niên 1940:   Nazi Đức Quốc Xã giết 6 triệu người Do Thái.

-          Thập niên 1940:   Chính quyền Ca-tô ở Croatia giết trên 700.000 người theo Chính Thống Giáo Ki-tô và Gypsies.

-          Thập niên 1970:   Pol Pot giết 2 triệu người ở Cambod.

-          1994: Chính sách diệt chủng ở Rwanda, có Ca-tô dự phần, giết 800000 người.

-          Từ khi lập giáo: Ki-tô Giáo đã giết hại trên trăm triệu người dân vô tội qua những cuộc Thánh Chiến, Săn Lùng Phù Thủy, Tòa Hình Án Xử Dị Giáo, và trong các cuộc xâm lăng của thực dân.

Không biết đã có người nào đặt vấn đề:  Chúng ta phải cảm tạ và hết lòng, hết sức, hết linh hồn yêu Thiên Chúa của Ki Tô Giáo như thế nào khi mà Thiên Chúa này đã tạo nên một trái đất đầy những thiên tai và những con người, theo hình ảnh ông ta và giống như ông ta, cho nên cũng tàn ác không kém ông ta như được kể trong Cựu Ước về những hành động của ông ta ?

Để kết luận, tôi xin kể câu chuyện về Black Death ở Âu Châu để quý độc giả nghĩ sao thì nghĩ:

Giữa thế kỷ 14, trong khoảng 1347-1350, ở Âu Châu xảy ra bệnh dịch hạch, đầu thế kỷ 19 người Anh gọi là “Black death”.  Vào thời đó Âu Châu có thể nói là toàn tòng Ca-tô Giáo Rô-ma.  Bệnh dịch giết hại từ một phần ba đến nửa dân số Âu Châu (từ 25 đến 37 triệu người trên tổng số 75 triệu).  Tín đồ đổ sô vào nhà thờ cầu nguyện, bệnh dịch vẫn tiếp tục hoành hành.  Tín đồ Ki-tô, đúng hơn là tín đồ Ca-tô, đổ cho người Do Thái bỏ thuốc độc vào các giếng nước và kéo nhau đi giết người Do Thái như chúng ta có thể đọc trong đoạn sau đây:

“Khi bệnh dịch đe dọa Âu Châu năm 1348, giết hại gần nửa dân số, những tín đồ Ki-tô cuồng loạn kết luận nguyên nhân là vì người Do Thái bỏ thuốc độc vào các giếng nước.  Kết quả là những cuộc tàn sát (người Do Thái) xảy ra trong khoảng 300 thị trấn.  Những toán Ki-tô ô hợp tràn vào những vùng (Do Thái) lân cận không có tự vệ, và giết hại hầu như mọi người dân trong đó – trừ một vài người được phép tự cứu bằng cách chấp nhận rửa tội (theo Ca-tô Giáo)

Ở Speyer, Đức, những thây người Do Thái được chất vào những thùng đựng rượu lớn và thả trôi theo giòng sông Rhine.  Ở Strasbourg, 2000 người Do Thái bị lùa như trâu bò vào những nhà chứa lúa bằng gỗ, rồi bị thiêu sống.  Trong một ngày, 24 tháng 8, 1349, ở Mainz, vào khoảng 6000 người Do Thái bị giết bởi những người Ki-tô giận dữ.  Trong nhiều tỉnh ở miền Bắc nước Đức, người Do Thái bị bít kín trong nhà của họ để cho bị chết ngạt hoặc chết đói.

Ở Benfield, môt số người Do Thái bị thiêu sống hay dìm chết trong một vũng lầy.  Ở Bavaria, những toán Ki-tô ô hợp với mác và liềm, tràn qua 80 cộng đồng Do Thái, giết 10000 người.  Ở Basel, Thụy Sĩ, những nhà lãnh đạo Ki-tô thiêu sống 600 người Do Thái vì tội bỏ thuốc độc vào các giếng nước, và 140 con cái của họ bị cưỡng bách rửa tội hay mang đi để nuôi thành người Ki-tô.

Những người thuộc hệ phái Ki-tô Flagellant là một đoàn quân lang thang gồm những người có mặc cảm phạm tội, tự quất roi vào mình đến chảy máu để chuộc tội với hi vọng làm cho Thiên Chúa cất bỏ nạn dịch.  Khi những người này đến Frankfurt vào tháng 7, 1349, họ tấn công vào khu vực người Do Thái ở và thực hiện một cuộc tàn sát đẫm máu.   Ở Brussels, sự tiến đến gần của đoàn quân Flagellant đã khiến cho những người Ki-tô địa phương tàn sát 600 người Do Thái.

Ông Hoàng cai quản ở Thuringia loan báo là ông ta thiêu sống những người Do Thái ở trong vùng là “để vinh danh Thiên Chúa” (for the honor of God).”

(Haught, James A.,  Holy Horrors: An Illustrated History Of Religious Murder And Madness, Prometheus Books, New York, 1990, pp. 69-70:  When the bubonic plague stalked Europe in 1348, destroying neraly half the population, hysterical Christians concluded that it was caused by Jews poisoning wells.   Massacres ensued in about 300 cities.  Mobs raged through defenseless neighborhoods, murdering virtually all residents – except a few allowed to save themselves by accepting baptism.

At Speyer, Germany, Jewish bodies were piled into huge wine casks and send floating down the Rhine.  At Strasbourg, 2,000 Jews wered herde like cattle into a large wooden barn, which was set afire.  On a single day, August 24, 1349, an estimated 6,000 Jews were slaughtered by inflamed Christians at Mainz.  In several northern German cities, Jews were walled up in their homes to suffocated or starve.

At Benfeld, some Jews were burned and others were drowned in a swamp.  In Bavaria, Christian mobs with pitchforks and sickles slashed through 80 Jewish communities, killing a reported 10,000.  At Basel, Switzerland, Christians leaders burned 600 Jews at the stake as well-poisoners, and 140 of their children were forcibly baptized and taken away to be raised as Christians.

The Flagellants were a roaming army of penitents who whipped themselves bloody to expiate their sins in hope of inducing God to lift the plague.  When the Flagellants arrived in Frankfurt in July, 1349, they stormed the Jewish quarter in a gory massacre.  At Brussels, the approach of a Flagellent march sent local Christians on a rampage that killed 600 Jews.

The prince of Thuringia announced that he had burned his Jews “for the honor of God” and urged colleagues to do likewise.)

Cầu nguyện trong nhà thờ, tự hành hạ để chuộc tội, giết oan vô số người Do Thái v..v.. tất cả đều không làm cho bệnh dịch chấm dứt.  Cho đến khi các nhà nghiên cứu y khoa khám phá ra nguyên nhân của bệnh dịch hạch là do loại vi khuẩn Yersinia pestis, truyền nhiễm từ những con bọ phát sinh từ một loại chuột đen, và sự truyền nhiễm lan rộng của nạn dịch này là vấn đề người dân không biết giữ vệ sinh, thí dụ như dùng tay không để chôn người chết v..v.., chứ không phải là hành động của Chúa (act of God).

Khoa học gia Chet Raymo, tác giả cuốn sách nổi tiếng Skeptics and True Believers: The Exhilarating Connection Between Science and Religion, Walker and Co., New York, 1998, viết, trang 76:

“Đã một thời, trên các bục giảng đạo, người ta giảng rằng God gửi xuống Black Death để giáng tai họa xuống đầu những người không tin God; khi người ta khám phá ra rằng chính những con chuột là tác nhân (agent) của bệnh dịch, thì người ta vẫn có thể khẳng định là God đã gửi những con chuột xuống.  Đến khi những con chuột (và bệnh dịch) bị tiêu diệt bởi những biện pháp vệ sinh công cộng, thì chắc là God phải tìm cách khác để trừng phạt sự vô tín.”

(It was once preached from the pulpits that God sent the Black Death to scourge a faithless people; when it was discovered that fleas on rats were the agents of the disease, it was still possible to claim that God sent the rats.  When the rats (and the disease) were abolished by effective publis sanitation, then God presumably found other ways of punishing faithlessness.)

John 3:16:  “Vì Thiên Chúa Quá Thương Yêu Thế Gian ....”, vậy các tín đồ Ki-tô, Ca-tô cũng như Tin Lành Việt Nam, xin hãy cứ tiếp tục:

           Cảm tạ Chúa đi, vì Chúa nhân lành,
           Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

Tôi tuyệt đối không phản đối.

 

     

    


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com