105-world.gif (4136 bytes)

posted: 04. 01. 2005

       PHẬT GIÁO & VẤN ĐỀ
      ĐỐI THOẠI TÔN GIÁO  

&

HÒA BÌNH GIỮA CÁC TÔN GIÁO

Trần Chung Ngọc

    Không ai có thể phủ nhận sự kiện là về bản chất, Phật Giáo là một tôn giáo, nếu có thể gọi là tôn giáo, yêu chuộng hòa bình.  [Danh từ “tôn giáo” được dùng ở đây theo nghĩa rất lỏng lẻo. Khi được hỏi Phật Giáo là tôn giáo hay triết học, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã trả lời rất ý nhị rằng: “Thật tội nghiệp cho Phật Giáo.  Các tôn giáo (thờ thần) không chấp nhận Phật Giáo vì cho rằng Phật Giáo là một hệ thống triết lý vô thần, một khoa học về tâm.  Còn các triết gia không chấp nhận Phật Giáo vì coi Phật Giáo là một tôn giáo.  Không có chỗ đứng nào mà Phật Giáo có quyền công dân.  Nhưng đó có thể là một lợi điểm của Phật Giáo để Phật Giáo có thể bắc những nhịp cầu nối giữa tôn giáo và triết học.”]. Do đó, trên nguyên tắc, với bản chất hòa bình, Phật Giáo không cần phải đối thoại với bất cứ tôn giáo nào để mưu cầu hòa bình giữa Phật Giáo và tôn giáo đó.  Tuy nhiên, tinh thần đơn phương yêu chuộng hòa bình của Phật Giáo không cho phép Phật Giáo không biết đến những âm mưu đánh phá Phật Giáo từ bên ngoài, thản nhiên trước những sự xung đột tôn giáo có đầy trong thế giới.   Vì vậy, Phật Giáo có bổn phận phải đối phó với những âm mưu đánh phá trên, quảng bá tinh thần yêu chuộng hòa bình của mình trước thế giới, và phải tích cực góp phần trong cuộc tạo lập một nền hòa bình giữa các tôn giáo trên thế giới.  Góp phần như thế nào?  Dùng trí tuệ Phật Giáo để giải hoặc tôn giáo, cùng lúc xiển dương giáo lý vị tha, nhân bản, nhân chủ và hòa bình của Phật Giáo.

Trong thế giới văn minh tiến bộ ngày nay, với trí tuệ của con người tiến hóa và phát triển qua nhiều thời đại, với những tiến bộ của khoa học và kỹ thuật, đầu óc con người đã mở mang trên mọi địa hạt, không một tôn giáo nào có thể cho là mình nắm giữ chân lý tuyệt đối, đối thoại tôn giáo là điều tất yếu để có thể tạo hòa bình giữa các tôn giáo.  Hòa bình chứ không phải là hòa hợp, hay hòa đồng, vì tôi nghĩ khó mà có thể hòa hợp hay hòa đồng các giáo lý, triết lý v..v.. tôn giáo khác nhau.  Hòa hợp hay hòa đồng chỉ có nghĩa đối với Ki-tô giáo, vì các hệ phái khác nhau cùng thờ một Chúa trong Ki-tô giáo như Ca-tô, Tin Lành, Chính Thống qua nhiều thế kỷ đã đối nghịch, chém giết, tàn sát lẫn nhau và còn kéo dài đến ngày nay ở một số địa phương.   Lẽ dĩ nhiên, trong một quốc gia, các tôn giáo có nguồn gốc khác nhau có thể đoàn kết, hợp tác với nhau trong những hoạt động xã hội để cải tiến xã hội hay hoạt động cho nền hòa bình thế giới, hay chống ngoại xâm nếu các tôn giáo đều là tôn giáo dân tộc, không lệ thuộc bất cứ một định chế nào ở ngoài nước.. 

Nhưng đối thoại như thế nào, đó là cả một vấn đề tế nhị.  Trong 5 nghĩa của từ “đối thoại” (dialogue) trong Tự Điển, chỉ có nghĩa thứ 5 là thích hợp với một cuộc đối thoại tôn giáo: “Sự trao đổi những ý kiến và quan niệm” (An exchange of ideas and opinions).  Đối thoại tôn giáo tuyệt đối không có nghĩa đánh đồng các ý kiến và quan niệm của hai hay nhiều tôn giáo, hoặc diễn giải tôn giáo khác theo giáo lý hay triết lý của tôn giáo mình.  Nếu mục tiêu của đối thoại tôn giáo là mang lại hòa bình giữa các tôn giáo thì chiều hướng đối thoại của Phật Giáo phải có tính cách chuyển hóa, nghĩa là, phải làm sao để thuyết phục các tôn giáo khác ý thức được rằng sự xung đột tôn giáo sẽ không mang lại lợi ích nào cho nhân loại, và thế giới chỉ có thể sống trong an bình hạnh phúc nếu các tôn giáo đều yêu chuộng hòa bình như Phật Giáo,  đều tôn trọng tín ngưỡng hợp lý, hợp với trình độ hiểu biết của con người về thế giới hiện tại, của các tôn giáo, tôn trọng sự thật lịch sử và không tìm cách xâm lăng văn hóa và tôn giáo như Ki-tô Giáo đã từng làm trong quá khứ và vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay.

Trong tinh thần đối thoại trí thức, có vài tiêu chuẩn chúng ta phải tôn trọng.  Tôn trọng quyền phát biểu ý kiến cũng như quyền bất đồng ý kiến; tôn trọng sự lương thiện trí thức nghĩa là phải chấp nhận sự thật dù sự thật đó có thể trái với niềm tin của mình và có thể làm cho mình đau lòng; ý kiến và quan niệm đưa ra phải có những luận cứ hợp lý bảo vệ giá trị; và đối thoại phải đặt thuần túy trên các luận điểm, ý kiến hay quan niệm.

Mọi tôn giáo đều khác nhau về bản chất, giáo lý và phương pháp thực hành.  Cho nên tinh thần đối thoại trí thức là tìm hiểu lẫn nhau ngõ hầu có thể đi đến sự hòa bình giữa các tôn giáo, tránh chiến tranh tôn giáo, chứ không phải để đánh đồng mọi tôn giáo qua những biện chứng méo mó mà thực chất chỉ là mị dân với mục đích truyền đạo, thu nhặt tín đồ.

Thật vậy, nhà Thần học Ca-tô nổi danh Hans Kung đã đưa ra một nhận định rất xác đáng trong cuốn Ki Tô Giáo: Tinh Chất, Lịch Sử, Tương Lai (Christianity: Essence, History, Future, Continuum Pub. Co., New York, 1995, trg. 1),  nhận định này hi vọng sẽ giúp chúng ta thấy rõ vấn đề:

"Chỉ có những người không biết gì mới có thể cho rằng mọi tôn giáo đều như nhau.   Trái lại, thật là vô cùng quan trọng cho những tín đồ của mỗi tôn giáo, và nhất là cho mỗi tôn giáo thuộc loại tiên tri, dù là Ki Tô Giáo, Do Thái Giáo hay Hồi Giáo, tự hỏi: "Sự khác biệt giữa tôn giáo của mình và các tôn giáo khác là gì?  Cái gì là tính chất đặc thù, chuyên biệt, điển hình, nghĩa là "Tinh Chất" của tôn giáo này hay tôn giáo nọ?"

(Only the ignorant can claim that all religions are the same.  On the contrary, it is extremely important for members of every religion and especially every prophetic religion, whether Christianity, Judaism or Islam, to ask, "What is the difference between my religion and other religions?  What is the special, the typical, the specific, the essential character, indeed the "essence" of this or that religion?)"

Ki-tô giáo, Do Thái Giáo và Hồi giáo có chung một nguồn gốc, cùng thờ một Thượng đế dưới các danh xưng khác nhau (God, Allah) và qua những diễn giải khác nhau.  Nhưng lịch sử cho thấy sự thù nghịch giữa ba tôn giáo này đã kéo dài triền miên trong nhiều thế kỷ cho tới tận ngày nay, đã gây ra bao cuộc chiến tranh tàn khốc để giết hại lẫn nhau.  Không những thế, những hệ phái khác nhau trong Ki-tô Giáo như Ca-tô, Tin Lành, Chính Thống cũng đã có một lịch sử thù nghịch chém giết lẫn nhau vì hệ phái nào cũng cho rằng mình nắm trong tay chân lý tuyệt đối, hàm ý các hệ phái Ki-tô khác bắt buộc phải thuộc loại tà ma ngoại đạo, khoan nói đến những tôn giáo phi-Ki-tô.  Qua bao thế kỷ, Ki-tô Giáo đã vu cho người Do Thái cái tội “giết Chúa” [nếu Chúa toàn năng có thể bị giết bởi chính tạo vật của Chúa tạo ra] và đã tàn sát người Do Thái vô số kể.  Cuộc xung đột giữa IsraelPalestine ngày nay không chỉ về quân sự, dành dân chiếm đất, mà còn về vấn đề khác biệt tôn giáo.  Cuộc chiến ở Iraq ngày nay do tổng thống Bush phát động cũng mang nhiều sắc thái tôn giáo qua những lời phát biểu của chính tổng thống Bush và quan niệm thiện, ác, “hoặc trắng, hoặc đen” của ông ta.

Trước đây, Hans Kung đã nghĩ đến một nền hòa bình giữa các tôn giáo, đặc biệt là giữa ba tôn giáo Ki-tô, Do Thái và Hồi Giáo, và đưa ra một phương pháp giải quyết qua sự đối thoại trí thức giữa các tôn giáo như sau:

"Không có hòa bình giữa các tôn giáo thì sẽ có chiến tranh giữa các nền văn minh khác nhau.  Không thể có hòa bình giữa các tôn giáo nếu không có sự đối thoại giữa các tôn giáo.   Không thể có sự đối thoại giữa các tôn giáo mà không có sự  tìm hiểu nghiên cứu về những nền tảng của các tôn giáo."

((Ibid., trg. 783) Without peace between the religions, war between the civilizations.  No peace among the religions without dialogue between the religions.  No dialogue between the religions without investigation of the foundations of the religions.)

Hiển nhiên, đối thoại giữa các tôn giáo là đối thoại trong tinh thần tôn trọng sự thật, trong tinh thần “hòa nhi bất đồng”, nghĩa là, tuy bất đồng ý kiến, quan niệm, nhưng vẫn có thể hòa thuận với nhau.  Một khi chúng ta đánh đồng những ý kiến, quan niệm, và nhất là “tinh chất” (essence) hay nền tảng của hai (hay các) tôn giáo hoàn toàn khác nhau từ giáo lý đến phương pháp hành trì với hi vọng có thể tạo được hòa bình giữa hai (hay các) tôn giáo thì tôi cho hành động này là hoặc thiếu hiểu biết, hoặc có mưu đồ thế tục, mị dân.  Thiếu hiểu biết có thể vì không tìm hiểu, nghiên cứu, nắm vững “tinh chất” hay “nền tảng” của tôn giáo khác.  Mưu đồ thế tục là để mong cầu tiếng tăm hay những lợi ích cá nhân, thu nhặt thêm tín đồ, thực chất không liên quan gì đến đối thoại để mang lại hòa bình giữa các tôn giáo.  Những hành động như trên liên quan nhiều đến sách lược truyền đạo cá nhân chứ không liên quan gì đến tôn giáo như là một tập thể.

Phật Giáo không sợ đối thoại với bất cứ tôn giáo nào khác, vì căn bản của Phật Giáo là phát triển trí tuệ, tăng gia trình độ hiểu biết, suy nghiệm và thực chứng của Phật tử.  Trí tuệ Phật Giáo, bắt nguồn từ những Kinh điển Phật Giáo, và qua sự hiểu biết của các bậc Tăng Ni chân chính, thừa sức để đối thoại hay đối phó với bất cứ tôn giáo nào khác về những vấn đề triết lý, nhân sinh v..v.. Nhưng tôi nghĩ không vì bất cứ lý do nào mà chúng ta phải đánh đồng một số quan niệm đặc thù của Phật Giáo với những quan niệm siêu hình của tôn giáo khác.  Bởi vì làm như vậy là chúng ta đã đánh mất đi những nét đặc thù và “tinh chất” của Phật giáo nếu không muốn nói là đã phản bội Phật Giáo.  Điều này không có nghĩa là Phật Giáo đúng hơn, hay hay hơn, hay vượt trên các tôn giáo khác.  Nhưng Phật giáo là Phật giáo, có những nét đặc thù của Phật Giáo, hợp với những người có căn trí thích nghi với giáo lý Phật Giáo, và chỉ như vậy thôi, không thể lẫn lộn với bất cứ tôn giáo nào khác, lẽ dĩ nhiên về phương diện giáo lý và hành trì. 

Thật ra, không cứ trong các tôn giáo khác, mà trong dân gian cũng có một số điểm về phương diện đạo đức xã hội tương đồng với một số điểm trong Phật giáo, nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta có thể mang vài điều tương đồng vụn vặt giữa Phật Giáo và một tôn giáo nào khác để mà đi đến kết luận là hai tôn giáo có chung những điểm hội tụ.  Chúng ta hãy lấy một thí dụ về điều mà các tín đồ Ki-tô Giáo thường ca tụng là tuyệt vời của Chúa Dê-su về xã hội, về đạo đức, gọi chung là giáo pháp của Dê-su mà không hề để ý đến những mâu thuẫn trong đó.  Đối với những người đã đọc kỹ Kinh Thánh và biết đôi chút về các nền văn hóa khác nhau trên thế giới thì khó có ai có thể phủ bác nhận định sau đây của Joseph L. Daleiden, một học giả Ca-tô Rô-ma, trong cuốn The Final Superstition, trg. 174:

"Có rất ít, nếu có, điều sáng tác độc đáo trong giáo pháp mà người ta cho là của Dê-su.   Giống như chính huyền thoại về Dê-su, những quan điểm mà Dê-su diễn đạt chỉ là một mớ hổ lốn những ngụ ngôn và luân lý mà chúng ta có thể thấy trong những đạo cổ xưa của Ai Cập, Babylon, Ba Tư, Hi Lạp, Phật, Khổng, Ấn Độ...  Một điều rõ ràng:  Ki Tô Giáo, một tôn giáo sinh sau đẻ muộn trong lịch sử các tôn giáo, chỉ cóp nhặt  những quan điểm, ý kiến của Do Thái Giáo và các tôn giáo gọi là dân gian.  Trong cuốn Nguồn Gốc Luân Lý Trong các Phúc Âm, Joseph McCabe (Một Linh Mục Ca-tô. TCN) đã trích dẫn những quan điểm luân lý trong Phúc Âm mà người ta cho là của Dê-su song song với những quan điểm luân lý tương đương và y hệt của các tác giả Do Thái và dân gian"

(There is very little, if anything, that is original in the teaching attributed to Jesus.  Like the myth of Jesus itself, the sentiments he expresses are a hodgepodge of aphorisms and moral convictions that can be found in the ancient Egyptian, Babylonian, Persian, Greek, Buddhist, Confucian, Hindu religions...One thing is certain: Christianity, a late-comer in the history of religion, merely plagiarized sentiments from Judaism and the so-called pagan religions.  In his book Sources of Morality in the Gospels, Joseph McCabe quoted the moral views attributed to Jesus in the gospels and in parallel columns gave exact moral equivalents from Jewish and pagan writers.)

Như vậy, nếu chúng ta chỉ nhặt ra vài điều trong Tân Ước, thấy chúng có vẻ tương đồng với một vài ý kiến trong Phật Giáo, rồi đưa ra kết luận là hai tôn giáo có những điểm chung v..v.., bắt nguồn từ cùng một trình độ trí tuệ, thì tôi cho là kết luận này có vẻ khá phiến diện.

Bởi vì khi xét đến một tôn giáo, chúng ta phải xét đến nền tảng tín ngưỡng của tôn giáo đó là gì.  Ngoài ra chúng ta còn phải xét đến lịch sử của tôn giáo đó, từ tư cách của Giáo chủ, toàn bộ giáo lý, nếu có, đến các phương pháp hành trì và nhất là, tôn giáo đó đã mang đến những gì cho nhân loại. Nếu chúng ta không hiểu được điều này, chỉ so sánh vài điều vụn vặt, và tổng quát hóa cho rằng bản chất các tôn giáo đều giống nhau, tôn giáo nào cũng dạy con người làm lành tránh ác, thì mọi đối thoại thực chất chỉ là vụn vặt, hời hợt, vô nghĩa, và có tính cách mị dân. Thật vậy, chính Đức Đạt Lai Lạt Ma là người cổ súy tinh thần đối thoại tôn giáo vì Ngài cho rằng sự đối thoại sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về bản chất tôn giáo.  Nhưng Ngài cũng khuyến cáo cùng thính chúng rằng:  “Những toan tính đánh đồng những nét đặc thù của các tôn giáo thì luôn luôn vu vơ, vô nghĩa” (Jean-Francois Revel and Matthieu Ricard, The Monk and the Philosopher, p. 154: He also warned his audience of the temptations of syncretism, which is always pointess).

Một số học giả Ki Tô Giáo, kể cả những nhà Thần học Ki Tô, trước những giáo lý nhân bản, hòa bình, từ bi v..v.. và những triết thuyết cao siêu vượt trội của Phật Giáo, càng ngày càng được biết đến nhiều hơn ở Tây phương, đã tìm đọc kinh điển Phật Giáo.  Và họ đã thấy trong Kinh điển Phật Giáo có những câu có vẻ giống như những câu Dê-su nói trong Kinh Thánh. Vì chưa thoát ra khỏi ý thức hệ Ki Tô Giáo, vì không hiểu Phật Giáo một cách đứng đắn, và với tâm cảnh của một tín đồ Ki Tô Giáo, họ chỉ có thể so sánh một cách phiến diện, hời hợt, trên mặt thuần túy văn tự, và nhất là dùng những câu vụn vặt, ngoài toàn bộ vấn đề (out of context) trong Kinh Thánh để chứng minh sự tương đồng giữa giáo lý của Đức Phật và giáo lý, nếu có, của Dê-su.

Một trong những tác giả Tây Phương đã cố công tìm ra những điểm tương đồng trong “giáo lý” của Dê-su với giáo lý của Đức Phật là Marcus Borg, một nhà Thần học Ki Tô Giáo.  Marcus Borg là   tác giả cuốn “Dê-su và Phật: Những Lời Nói Giống Nhau” (Jesus and Buddha: The Parallel Sayings), nxb Ulysses Press, Berkeley, California, 1997.  Trong cuốn sách này, tác giả Marcus Borg đã trình bày song song trên hai trang sách đối diện nhau, theo từng chủ đề, những lời nói của Đức Phật và của Dê-su mà ông cho là tương đồng, có cùng một ý tưởng, cùng một triết lý, cùng phát xuất từ một trí tuệ giống nhau.  Tuy nhiên, khi đọc những lời nói song song mà tác giả trích dẫn, chúng ta thấy rõ ngay là tác giả đã trích dẫn một cách vụn vặt, ngoài toàn bộ vấn đề (out of context), nhiều khi sai lời sai ý, do đó sự so sánh trở nên rất hời hợt và phiến diện, chứng tỏ kiến thức của tác giả về Phật Giáo vô cùng hạn hẹp và lệch lạc.   [Xin đọc bài Phật & Giê-su của Trần Chung Ngọc đã đăng trên trang nhà Giao Điểm]

Mặt khác, một số rất nhỏ nhân vật trong các tôn giáo Đông phương, điển hình là Phật Giáo, có lẽ vì thấy Ki Tô Giáo là một tôn giáo lớn trên thế giới với số tín đồ chiếm khoảng gần 1/3 dân số thế giới, là tôn giáo của Tây phương văn minh tiến bộ, có nhiều thế lực về tài chánh, chính trị và quân sự trên thế giới, cũng tìm cách tương đồng hóa một số quan niệm, ý tưởng Phật Giáo với những quan niệm, ý tưởng Ki Tô Giáo, tính chuyện hòa đồng tôn giáo một chiều, tưởng rằng như vậy có thể đi đến hòa bình tôn giáo.  Những nhân vật này, hoặc không nghiên cứu về lịch sử, bản chất Ki Tô Giáo, hoặc diễn giải Ki Tô Giáo theo cái hiểu của mình về Phật Giáo, nên đã gượng ép đánh đồng một số quan niệm trong Phật Giáo với một số quan niệm trong Ki Tô Giáo mà không thấy rằng Phật Giáo và Ki Tô Giáo là hai con đường song song ngược chiều, không bao giờ có thể gặp nhau ở bất cứ điểm nào: Giáo Chủ, Giáo Lý, và Phương Pháp tu tập hành trì.  Lẽ dĩ nhiên, giữa người với người, người Ki-tô và người Phật tử gặp nhau không mấy khó khăn.

Trong Phật Giáo có quan niệm tương tức (interbeing) hay tương nhập (inter-penetration) hay duyên khởi (dependent origination), đại cương nghĩa là mọi sự vật trên thế gian đều liên hệ với nhau.  Với quan niệm này, có thể người Phật tử nhìn vạn Pháp như là có chung một mối.  Nhưng, đạo Phật là đạo của trí tuệ, cho nên cũng như mọi giáo lý khác của Đức Phật, nếu áp dụng “tương tức” một cách máy móc để mà ôm tất cả làm một mối, không phân biệt đúng sai, thiện ác, thì thực chất không phải là hành trì “tuệ giác tương tức” mà là xa lìa thực tế.   Thực tế là con người không phải ai lúc nào cũng có thể “bất tư thiện, bất tư ác”. Nhớ lại khi xưa, Đức Phật là bậc giác ngộ, là bậc Tỉnh Thức, đã thấy rõ sự tương tức của vạn pháp, đã hội nhập Chân Đế.  Nhưng Người không từ bỏ Tục Đế để mà ôm mọi lý thuyết hay niềm tin của ngoại đạo, mà trong 45 năm Người đã không ngừng quảng bá Giáo Pháp của Người, cùng lúc giải hoặc ngoại đạo, chuyển hóa ngoại đạo để họ có được Chánh Kiến, Chánh Tư Duy v..v...  Xuất sinh trong một xã hội Bà La Môn, Đức Phật ôm người Bà La Môn nhưng không ôm đạo Bà La Môn.  Giáo pháp của Đức Phật đã nói rõ hơn gì hết điểm này.   Noi gương Đức Phật, chúng ta có thể ôm người Ki-tô nhưng không ôm đạo Ki-tô, ôm người Hồi Giáo nhưng không ôm đạo Hồi v..v...

Theo chân lý tương tức, nhìn một cái bàn, chúng ta thấy cả vũ trụ trong đó.  Điều này không sai, nhưng cái bàn không phải là khúc gỗ, không phải là ánh sáng mặt trời, không phải là người thợ mộc đóng bàn v..v..., mà là cái bàn chúng ta sử dụng như là cái bàn để làm việc, để ăn cơm v..v.. trong đời sống hàng ngày.  Trong cái ghế làm bằng cùng một khúc gỗ như cái bàn, đóng bởi cùng một người thợ mộc, thì có thể nói cái ghế cũng có đủ thứ như trong cái bàn.   Nhưng cái ghế không phải là cái bàn.   Nhìn một bát cơm, chúng ta có thể thấy cả vũ trụ trong đó.  Đúng vậy.  Nhưng khi chúng ta ăn là ăn cơm để sống, cơm là cơm, không phải là ánh sáng mặt trời, gạo lúa, hay người đi cầy, người giã gạo, người thổi cơm.  Biết rằng vạn pháp đều liên hệ với nhau trong vũ trụ nhưng quên đi những thiên sai vạn biệt trong thế giới chúng ta đang sống, đây không phải là con đường tu tập theo tinh thần Phật Giáo Đại Thừa. 

Mọi Phật tử đều biết rằng trong Phật Giáo có quan niệm Nhị Đế:  Chân Lý Tuyệt Đối (Chân Đế) và Chân Lý Tương Đối (Tục Đế).  Phật Giáo dạy là con người có thể sống trong hai thế giới: thế giới của chân lý tuyệt đối (Chân đế), và thế giới các hiện tượng (Tục đế).  Nhưng hiển nhiên là chân lý tuyệt đối chỉ có thể lãnh hội được bởi một số nhỏ các vị cao Tăng đạo cao đức trọng, sau nhiều năm tu tập, mà tác phong hàng ngày phản ánh đúng với những cái hiểu về chân lý  tuyệt đối.  Hiểu về chân lý tuyệt đối là một chuyện, và rất có thể mỗi người hiểu mỗi cách, nhưng sống theo cái hiểu về những chân lý tuyệt đối lại là chuyện khác, tôi e rằng không có mấy người.  Có điều chắc là tuyệt đại đa số Phật tử, Tăng cũng như tục, hàng ngày phải sống trong thế giới các hiện tượng, phải đối diện với những sự việc trong thế giới hiện tượng mà có thể nói, những chân lý tuyệt đối hầu như rất khó có thể áp dụng.  Chân lý tuyệt đối là đối tượng của quán chiếu, của tu tập cá nhân.   Còn chân lý tương đối là những đối đãi thường ngày trong thế giới các hiện tượng.  Ý thức được khó khăn này, Đại Thừa Phật Giáo chủ trương Phật Giáo đi vào cuộc đời với lý tưởng Bồ Tát, cuộc đời nằm trong thế giới hiện tượng.  Thời buổi này, chúng ta không có quyền cứ ngồi hít vào thở ra suốt ngày, mà phải có bổn phận đưa tinh thần thực tế, nhân bản, hòa bình của Phật Giáo vào trong nếp sống hàng ngày của mọi người, phải biết ôm cái gì, bỏ cái gì, cùng góp phần lành mạnh hóa xã hội, cải tiến xã hội, vì phúc lợi của quần chúng. Cũng vì thế mà Bồ Tát Long Thọ đã minh xác quan niệm Nhị Đế trong Phật Giáo như sau:

“Chư Phật vì chúng sinh, y vào Nhị đế, Chân Đế hay Đệ Nhất Nghĩa Đế và Tục Đế  mà nói Pháp. Không nhận thức được hai chân lý này, thì đối với Phật pháp không thể hiểu được chân nghĩa. Nếu không nương tựa vào tục đế, thì không thể thấy được chân lý; không thấy được chân lý, thì không thể ngộ được Niết bàn...”  

Tục đế, như trên đã nói, là thế giới hiện tượng mà chúng ta đang sống trong đó, một thế giới trong đó có những quy ước hay chân lý mà con người đồng ý với nhau và có tính cách tương đối.  Còn Chân Đế là thế giới của những chân lý tuyệt đối, có tính phổ quát, đúng ở khắp nơi và trong mọi thời gian. Trong khi hành đạo, chúng ta không thể lúc nào cũng mang Chân Đế ra mà nói, mà áp dụng, và bỏ qua những quy ước đồng thuận của nhân loại.   Y vào Nhị Đế mà nói Pháp, Phật Pháp chứ không phải là những điều phi Pháp, đây là con đường hoằng Pháp của chư Phật mà chúng ta cần noi theo. 

Thật vậy, không xa rời Tục Đế, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã giảng rất rõ thế nào là “ôm người ta” trong bài Kẻ Thù Ta:

“Ôm lấy người ta không có nghĩa là chấp nhận luôn cả cái thái độ hẹp hòi, cố chấp và cuồng tín của người ta. Thiếu bao dung, thiếu từ bi, thiếu sự quán chiếu, con người dễ trở thành hẹp hòi, cố chấp và cuồng tín. Bổn phận của người hành đạo là giúp con người tháo bỏ thái độ hẹp hòi, cố chấp và cuồng tín đó, giúp họ trở thành hiểu biết, bao dung và từ bi, chứ không phải là lấy súng bắn vào họ, tiêu diệt họ.”

Đây chính là trí tuệ Phật Giáo.  Trí tuệ Phật Giáo, trong khi hành đạo, là phải nghiên cứu kỹ vấn đề, rồi trong tinh thần vô úy, bao dung, từ bi, phải hành động ra sao để giúp con người tháo bỏ thái độ hẹp hòi, cố chấp và cuồng tín, [bắt nguồn từ một niềm tin sai lầm thuộc loại mê tín đã lỗi thời]  giúp họ trở thành hiểu biết, bao dung và từ bi.  Lẽ dĩ nhiên, hành động như thế nào tùy thuộc căn trí và trình độ hiểu biết của mỗi người, và tùy thuộc mỗi trường hợp.  Do đó không thể có một đường lối hành động có thể coi là mẫu mực, là khuôn vàng thước ngọc mà bất cứ ai cũng phải theo.  Và cũng lẽ dĩ nhiên, đối với những Phật tử thực sự là Phật tử thì, bất cứ theo đường hướng hành động nào, ý tưởng “lấy súng bắn vào họ, tiêu diệt họ.” không bao giờ có thể có trong đầu óc.

*

Việt Nam có hai tôn giáo lớn là Phật Giáo và Ki-tô Giáo phần lớn là Ca-tô Giáo Rô-ma, và gần đây mới có một tỷ lệ nhỏ là Tin Lành.  Lịch sử tôn giáo Việt Nam, cho đến khi các nhà truyền đạo Ca-tô xâm nhập vào đầu bán thế kỷ 16, là một lịch sử hòa bình tôn giáo, không hề có chiến tranh tôn giáo.  Chủ trương Tam Giáo (Thích, Nho, Lão) Đồng Nguyên đã nói lên ý thức chiết trung này.  Nhưng sự truyền đạo Ki-tô vào Việt Nam đã gây ra những gì.  Không ai có thể phủ nhận lời của Linh mục Lương Kim Định đã viết trong cuốn "Cẩm Nang Triết Việt" như sau:

"Sự truyền đạo Thiên Chúa vào Việt Nam.. đã đưa đến sự chia khối dân tộc đang thống nhất thành 2 phe lương giáo làm cho sự liên lạc giữa đôi bên trở nên nhức nhối đầy e dè nghi kỵ" và rằng: "Sự nghi kỵ này..xem ra không sao xóa sạch được".  

Tại sao vậy?  Có lẽ linh mục Lương Kim Định đã nhận ra mấu chốt của vấn đề, đó là dân tộc tính Việt Nam, và nhận xét của ông ta hàm ý Ki-tô Giáo không tương hợp với dân tộc tính Việt Nam.  Gần đây, Tin Lành cũng khuấy động trên vùng Tây Nguyên, muốn lập một quốc gia thiểu số dưới quyền cai trị của Tin Lành, và các tân tòng Tin Lành đang công khai chống phá Phật Giáo và chối bỏ truyền thống, văn hóa dân tộc. 

Nhưng dù sao thì ngày nay cũng có khoảng 7% người dân Việt Nam, trên dưới 5-6 triệu theo Ki-tô Giáo, và dù muốn dù không chúng ta cũng phải tìm cách xóa sạch những nhức nhối đầy e dè nghi kỵ giữa lương và giáo, và giải hoặc Tin Lành.    Đây là con đường tất yếu để đi đến hòa bình giữa lương và giáo.  Lương đây không phải là những người theo Phật Giáo mà là đại khối dân tộc phi Ki-tô, như linh mục Lương Kim Định đã viết, gồm 93% dân số Việt Nam.  Khi xưa, lương giáo xung đột, chém giết nhau, là vì những nghịch cảnh lịch sử:  tinh thần dân tộc, yêu nước sâu đậm đối nghịch với tinh thần phi dân tộc, lệ thuộc ngoại bang, và do đó tất nhiên phản dân tộc, chứ không phải là sự xung đột giữa Phật Giáo và Ki-tô Giáo.   Người Công Giáo, từ thời thực dân Pháp đến thời Ngô Đình Diệm ở miền Nam, đã đi cướp bóc, phá hủy đền Chùa, chiếm đất công cũng như đất Chùa làm nhà thờ v..v.. là vì tín ngưỡng Ki-tô giáo đã nhồi sọ họ như vậy, không chấp nhận đạo khác, coi tất cả những đạo khác là thờ lạy ma quỷ trong khi chính họ thờ lạy ma quỷ mà không tự biết.  Còn những phong trào yêu nước như Văn Thân, Cần Vương, có bạo hành, giết giáo dân, hay đôi khi cũng phá hủy nhà thờ thường thường là để trả đũa, động cơ thúc đẩy là vì lòng yêu nước, không chấp nhận những kẻ làm tay sai cho giặc, phản bội quốc gia v..v.. chứ không phải là chủ trương dùng bạo lực hay kỳ thị tôn giáo, rất xa lạ với Phật Giáo.

Như trên đã nói, đối thoại tôn giáo là con đường phải đi để đạt tới hòa bình tôn giáo.           Nhưng buồn thay, gần đây chúng ta thấy có những khuynh hướng đối thoại, điển hình là giữa Phật Giáo và Ki-tô Giáo, đi xa mục đích của sự đối thoại tôn giáo qua một số sai lầm căn bản.

Trong cuộc đối thoại tôn giáo, một trong những sai lầm trầm trọng và nguy hiểm nhất là chúng ta nhìn tôn giáo khác qua lăng kính của tôn giáo chúng ta, hoặc đưa ra những nhận định về một tôn giáo khác mà chưa nghiên cứu, chưa tìm hiểu kỹ càng về tôn giáo đó.   Thí dụ, chúng ta là Phật tử, khi bàn về Thượng đế của Ki tô giáo mà lại bàn theo quan niệm của chúng ta về Thượng đế như là Phật tánh hay gì gì đi nữa trong Phật Giáo thì thật sự chúng ta chưa hiểu thế nào là Thượng đế của Ki tô giáo, chưa hiểu người Ki-tô giáo và nền thần học Ki-tô Giáo quan niệm thế nào về Thượng đế của họ để tạo thành nền tảng tín ngưỡng của Ki-tô giáo.   Kiểu luận bàn này thực chất không khác gì người Ki Tô Giáo quan niệm Đức Phật chỉ là một ngôn sứ của Thượng đế của họ, và nền thần học Ki tô mới sáng chế ra gần đây với tên “Thần Học Ki-tô Giáo Theo Cung Cách Á Châu” đã diễn giải Đức Phật chỉ là người mở đường cho nhân loại dẫn đến sự “cứu rỗi” của Dê-su Kờ-rít (Jesus Christ) mà thực chất chỉ là một huyền thoại cần phải dẹp bỏ [Xin đọc bài Huyền Thoại Cứu Rỗi của Linh mục James Kavanaugh và Dê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một Hình Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ của Giám mục Tin Lành John Shelby Spong trên trang nhà Giao Điểm], và Dê-su chỉ là một nhân vật đầy tính thế tục đã được nền thần học Ki-tô Giáo dựng lên làm Chúa Cứu Thế cho cả nhân loại..  Tôi thực tình không nghĩ là Phật tử nào có đầu óc lại có thể chấp nhận lối diễn giải hoang đường, ấu trĩ này, cũng như không một tín đồ Ki tô nào, nếu họ  thực sự là tín đồ Ki tô, lại chấp nhận ơn “cứu rỗi” của họ chính là “niết bàn” của Phật Giáo, hay “Thánh Linh” của họ chính là “Phật Tánh” của Phật Giáo, hai quan niệm bất khả tương hợp, bất kể chúng ta cố sức xoay sở, diễn giải lệch lạc, méo mó ra sao để đánh đồng “tinh chất” và nền tảng tín ngưỡng của Ki-tô giáo với “tinh chất” và nền tảng tín ngưỡng của Phật Giáo.   

Cách đây gần 10 năm, vào khoảng cuối năm 1995 gì đó, tôi có đọc trên một tờ báo khá nổi tiếng ở Nam Cali một bài viết nào đó mà tôi không nhớ tên tác giả, vì tôi đã sơ sót chỉ ghi lại vài đoạn trên một mảnh giấy để làm tài liệu.  Trong bài có những đoạn như sau:  Chúa Ki-tô là Đức Hằng Sống, là Con Một của Thượng đế,  đã Phục Sinh v..v.. hoặc Chúa Dê-su là đấng tràn đầy tình yêu, sự hiểu biết, lòng can đảm,  sự bao dung v..v.. Đây là những câu mà các tín đồ Ki-tô Giáo thường dùng để mô tả Chúa Dê-su của họ.  Nhưng có vài câu có lẽ không phải của các tín đồ Ki-tô Giáo mà có vẻ như đã được viết trên quan điểm Phật Giáo, thí dụ như khuyên chúng ta phải “quán chiếu mọi hành động và mọi lời dạy của Chúa Dê-su trong cuộc đời Ngài, như một mẫu mực để chúng ta tu tập... Việc tu tập là tiếp xúc sâu xa với sự sống để Nước Chúa trở thành sự thật... Dê-su sống đúng như lời dạy của Ngài, cho nên suy gẫm cuộc đời Chúa Dê-su là điều tối cần thiết để hiểu giáo lý của Ngài.” và nhất là “Trong nhãn quan Phật Giáo, ai không phải là con của Thượng Đế?”

 Thật quả tôi hết sức ngỡ ngàng khi đọc những đoạn trên. Nếu những đoạn trên mà viết bởi một người Ki-tô Giáo ít hiểu biết [trong thời đại ngày nay, không một nhà thần học Ki-tô Giáo nào có hiểu biết về Kinh Thánh và về Chúa Dê-su của họ dám viết như trên] thì không nói làm gì, nhưng nếu nhân danh Phật Giáo mà viết như vậy thì thật là ngoài sức tưởng tượng của tôi. Hiển nhiên là người viết những câu trên đã không biết đến những nghiên cứu về Ki-tô Giáo và về chính nhân vật Dê-su trong 200 năm nay của hàng trăm học giả, chuyên gia về Ki-tô Giáo, ở trong cũng như ngoài các giáo hội Ki-tô, kể cả một số nhà thần học, linh mục, mục sư v..v... 

Thật vậy, học giả Ki-tô Russell Shorto đã viết trong cuốn “Sự Thật Trong Phúc Âm” (Gospel Truth) như sau:

“Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đã khiến cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội Ca-Tô bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ý là phần lớn những điều chúng ta biết về Dê-su chỉ  là huyền thoại... Các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Dê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng  – họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư.  Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường.”

   (Most important, the impact of the scientific perspective is having now that even scholars working under a conservative Catholic imprimatur agree that much of what we know of Jesus is myth... Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger.  So the only ones left in the dark are ordinary Christians.)

Cho nên, những câu như “Chúa Ki-tô là Đức Hằng Sống, là Con Một của Thượng đế,  đã Phục Sinh v..v..”  thì không còn mấy ý nghĩa đối với những người ở ngoài đức tin Ki-tô Giáo cũng như đối với giới hiểu biết trong Ki-tô Giáo. Lẽ dĩ nhiên, ai cũng có quyền nhận xét về Dê-su theo ý mình, nhưng theo tôi, những lời thuyết giảng trên, nếu nhân danh Phật Giáo, thì thật là nguy hại và thiếu tinh thần trách nhiệm.  Thiếu tinh thần trách nhiệm và nguy hại vì các tín đồ Ki-tô giáo có thể hài lòng trước những lời trên, và kết quả là vẫn tiếp tục sống trong trong bóng tối của sách lược che dấu sự thực của các giáo hội Ki-tô.  Còn đối với đa số Phật tử trong mọi giới, thì những lời giảng trên sẽ gây hoang mang nếu không muốn nói là gây nguy hại cho Phật Giáo.  Tại sao?

Vì Phật Giáo trên thế giới đang phải đối phó với sách lược xâm lăng văn hóa và tôn giáo của Ki-tô Giáo, một sách lược mà Tiến Sĩ C. de S. Wijesundera ở Tích Lan lên án là “tấn công Phật Giáo một cách ti tiện, xảo trá, và đại quy mô.” (They [the Christians] were engaged, Dr. C. de S. Wijesundera said, in a "despicable, treacherous, indecent and massive assault on Buddhism".)  [Xin đọc chi tiết về sách lược này trong bài VÀI NÉT VỀ  BẢN CHẤT VÀ SÁCH LƯỢC CỦA “HỘI THÁNH CA-TÔ” TRONG “THỜI ĐẠI MỚI” trên trang nhà Giao Điểm, tháng 7, 2004, hoặc trên tờ Hoa Sen, số 53, tháng 11, 2004].  Nhiều tài liệu đã in thành sách và ở trên Internet đã chứng tỏ là sách lược này đang được tích cực thi hành ở Ấn Độ, Thái Lan, Tích Lan, Việt Nam v..v..  Đáng lẽ Phật Giáo phải dấn thân tìm cách đối phó với sách lược ti tiện, xảo trá và đại quy mô tấn công Phật Giáo để cải đạo người Phật tử, thì chúng ta lại được dạy phải quán chiếu để mà tu tập theo Dê-su.  Vấn đề ở đây không phải là chúng ta không nên theo những cái hay của các vĩ nhân trên thế gian, nhưng về phương diện tu tập trong Phật Giáo, Cuộc đời Đức Phật, Giáo pháp của Đức Phật không đủ hay sao, gương tu hành của các Tổ, các Cao Tăng trong Phật Giáo không đủ hay sao, mà chúng ta còn phải tu tập theo Dê-su, những tư tưởng và hành động của dê-su mà thực sự chúng ta không biết rõ nếu chưa nghiên cứu kỹ Kinh Thánh và cuộc đời của Chúa Dê-su trong đó.  Thử hỏi, có cái gì của Dê-su, từ giáo lý, nếu có, đến phương pháp tu tập, nếu có, mà không có trong Phật Giáo ngoại trừ điều Dê-su dạy phải tin vào Cha của ông ta và phải tin vào chính ông ta nếu không thì sẽ bị đày hỏa ngục vĩnh viễn?  Đối với những người có đôi chút hiểu biết về Phật Giáo cũng như Ki-tô Giáo thì   không ai có thể chấp nhận, nghe theo những lời khuyên như trên.  Trái lại họ còn cảm thấy lo lắng vì Phật Giáo đang bị phá ngầm bởi một quan niệm đối thoại sai lầm.

Trước hết, theo nhãn quan Phật Giáo nào mà quan niệm rằng: “ai không phải là con của Thượng Đế?”  khi không hề định nghĩa Thượng đế là cái gì?   Phật Giáo có chấp nhận một Thượng đế sáng tạo ra vũ trụ muôn loài hay không?  Phật Giáo có chấp nhận là một Thượng đế nào đó đã sáng tạo ra loài người hay không?  Mấy chục năm nay, tôi đã đọc không ít sách, báo, Kinh điển Phật Giáo, nhưng tôi không thấy ở đâu viết rằng Phật Giáo tin là có một Thượng đế, nhất lại là Thượng đế của Ki-tô Giáo, theo quan niệm của Ki-tô Giáo.  Một khuôn mặt Phật Giáo có uy tín nhất trong thế giới ngày nay là Đức Đạt Lai Lạt Ma.   Ngài đã khẳng định lập trường của Phật Giáo đối với quan niệm Thượng đế của Ki-tô Giáo: “Phật Giáo đã luôn luôn tự kiềm chế trong việc khẳng định sự hiện hữu và thuộc tính toàn năng của một Thượng đế sáng tạo” [The Spirit of Peace: Teaching on Love, Compassion and Everyday Life, by His Holiness the Dalai Lama,, p.71:   Buddhism has always refrain from asserting the existence and the omnipotence of a creator god].  Điều này có nghĩa là Phật Giáo chưa bao giờ và sẽ không bao giờ chấp nhận sự hiện hữu và toàn năng của một Thượng đế sáng tạo ra muôn loài.  Vậy nhãn quan Phật Giáo nào, dựa vào kinh điển Phật Giáo nào, mà cho rằng: “ai không phải là con của Thượng Đế?”  Nếu chúng ta quan niệm Thượng đế như là một sinh thể ban khai, hay là cát bụi trên những ngôi sao [theo Giáo sư Trịnh Xuân Thuận], thì theo tinh thần thuyết Tiến Hóa ngày nay, câu trên có thể đúng.  Nhưng hiển nhiên đó không phải là Thượng đế của Ki-tô Giáo. 

Chúng ta cần phải nhớ rằng, danh từ Thượng đế là danh từ người Ki-tô Giáo Việt Nam gọi Thần Ki-tô [Christian God] của họ, Thần Jehovah của Do Thái,  và đó chính là Thượng đế trong Kinh Thánh của Ki-tô Giáo, là Cha của Dê-su, chứ không phải là Thượng đế theo cái hiểu khác của bất cứ ai.  Thí dụ, Einstein cho rằng Thượng đế là những định luật thiên nhiên trong vũ trụ, trái hẳn với quan niệm về Thượng đế của Ki-tô Giáo, một ông thần ngồi trên trời định đoạt số phận của con người, để quyết định xem ai là người được thưởng cho lên thiên đường, ai là người bị phạt, phải đầy đọa xuống hỏa ngục để cho ngọn lửa vĩnh hằng thiêu đốt.  Nhưng Einstein chỉ dùng danh từ Thượng đế (God) để nói một cách diễu cợt, vì Einstein không tin có một Thượng đế thưởng phạt như vậy.  Tại sao ta phải gán ghép danh từ Thượng đế vào những định luật thiên nhiên mà không gọi chúng đơn giản chỉ là những định luật thiên nhiên?  Vả lại, chẳng có ai đi cầu nguyện hay thờ phụng hay yêu hết lòng hết sức những định luật thiên nhiên, thí dụ như định luật vạn vật hấp dẫn.

Thứ đến, trước những tác phẩm nghiên cứu về chính nhân vật Dê-su của một số học giả, chuyên gia về Ki-tô Giáo, trong đó có cả những nhà thần học Ki-tô Giáo mà uy tín chuyên môn khó có ai có thể phủ nhận, và nếu chúng ta chịu khó đọc kỹ Kinh Thánh về tất cả những lời nói và hành động của Dê-su như được mô tả rõ trong Kinh Thánh, thì những câu trên không có mấy giá trị đối với những người ngoại đạo, nhất là đối với các Phật tử. Thật vậy, nếu chúng ta quán chiếu mọi hành động và mọi lời dạy của Dê-su để mà theo đó mà tu tập thì không hiểu chúng ta phải tu tập theo hành động nào và lời dạy nào, nếu không muốn nói là chắc chắn chúng ta sẽ bị “tẩu hỏa nhập ma”. Trong cuốn  Hãy Cứu Thánh Kinh Khỏi Phái Bảo Thủ (Rescuing the Bible From Fundamentalism), Giám mục Tin Lành John Shelby Spong viết:

-   Có những đoạn trong bốn Phúc Âm mô tả Dê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả. (There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical). Và,

-   Cuốn Kinh Thánh đã làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị.  Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng. (A literal Bible presents me with far more problems than assets.  It offers me a God I cannot respect, much less worship) 

Đây là những lời phê phán của một Giám Mục Tin Lành, chứ không phải của người ngoại đạo.   Có thể nào một Giám mục thờ Chúa lại có thể phê phán Chúa của mình như vậy, nếu không phải là sự thực bất khả phủ bác mà nhiều học giả nghiên cứu Kinh Thánh đã đồng thuận.  Nếu chúng ta đã đọc kỹ Tân Ước thì lời phê phán của Giám mục Spong ở trên quả thật không sai. Vậy chúng ta có nên tu tập theo những “đức tính” như thiển cận, đầy hận thù, và đạo đức giả của Dê-su hay không?

Để chứng minh, ở đây tôi chỉ nêu vài trường hợp trong mọi hành động và mọi lời dạy của Chúa Dê-su để chứng tỏ sự mâu thuẫn giữa lời nói và việc làm của Dê-su.  Thực chất của Dê-su là rất hiếm khi làm theo lời nói, trái lại còn thường làm trái ngược hẳn với những lời nói của mình. Tôi nghĩ, nhận định của một ông Giám mục Tin Lành, và những nhận định tương tự về Dê-su của nhiều học giả, chuyên gia về Kinh Thánh, có lẽ khả tín hơn là những lời thiếu căn bản nghiên cứu của những người ngoại đạo chưa nắm vững vấn đề.   Chúng minh?

1.   Dê-su dạy: " Hãy lấy cây sà trong mắt ngươi ra trước rồi hãy lấy cây kim trong mắt người khác ra sau. Đừng phê phán ai để ngươi cũng không bị phê phán." nhưng rồi chính ông lại đi phê phán người khác: Matthew 23: 13: Khốn cho giới dạy luật và Biệt Lập, hạng đạo đức giả; Matthew 23:15: Khốn cho các ông, hạng giả nhân giả nghĩa; Matthew 23: 16: Khốn cho các ông, hạng lãnh đạo mù quáng và còn nhiều lời phê phán tương tự khác đầy dãy trong Tân Ước.

 2.  Dê-su  dạy  môn  đồ  "phải  yêu  kẻ thù    cầu nguyện cho người khủng bố hành hạ các con" (Matthew 5: 44), nhưng chính Dê-su thì lại hành động ngược lại:

   Dê-su phán, Matthew 12:30: Kẻ nào không theo ta, ở  với ta, là chống đối ta.,  và coi những người không tin và tuân phục Dê-su là kẻ thù và dạy môn đồ:

   Luke 19:27 :  Hãy  mang  những  kẻ  thù  của  Ta  ra  đây, những người không muốn Ta  ngự  trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt Ta.

 3. Dê-su dạy: "Người nào nguyền rủa anh em sẽ bị xuống  hỏa  ngục"   (Matthew  5: 22)   nhưng  chính  Dê- su lại đi nguyền rủa những người không chịu theo Dê-su:

   Luke 8: 24: Nếu ngươi không tin ta là con Thượng Đế, ngươi sẽ chết trong tội lỗi của ngươi.

   Matthew 12: 34:  Ôi  thế  hệ của  những loài  rắn  độc, ác như các ngươi làm sao có thể nói những lời tốt lành?

   Matthew 23: 33: Ngươi là loài rắn, ngươi là thế hệ của những rắn độc, làm sao các ngươi thoát khỏi hỏa ngục?

     Và đây chỉ là vài thí dụ điển hình. Vậy ai là người dám khẳng định là Dê-su sống đúng như lời dạy của Ngài?   và làm sao chúng ta có thể từ đó để mà  suy gẫm cuộc đời Chúa Dê-su là điều tối cần thiết để hiểu giáo lý của Ngài “?  Giáo lý nào?   Trong Kinh Thánh còn nhiều điều tương tự viết về những hành động của Dê-su không đi đôi với lời nói, và Dê-su còn có những hành động khó có thể tán thưởng về phương diện đạo đức như được viết rõ trong Tân ước..  Vậy, tôi tự hỏi, nếu chúng ta quán chiếu mọi lời dạy và mọi hành động của Dê-su để mà tu tập theo đó thì chúng ta sẽ tu tập theo lời dạy hay hành động nào?  Đây chính là sự hoang mang của tôi, và tôi tin rằng cũng của nhiếu Phật tử khác, khi đọc những đoạn trên viết về Dê-su.

Một sai lầm nghiêm trọng thứ hai trong cuộc đối thoại tôn giáo là lấy vài trường hợp cá nhân để mà tổng quát hóa về tôn giáo.  Thí dụ như: trong Ki-tô Giáo cũng có nhiều người tốt, hay trong Phật Giáo cũng có nhiều người xấu v..v.. hàm ý đạo nào cũng có người tốt, người xấu.  Luận cứ này có vẻ hơi thiển cận.  Có vẻ như luận cứ này muốn bào chữa cho đạo là “người theo đạo xấu chứ đạo không xấu”, hàm ý đạo nào cũng tốt cả.  Lẽ dĩ nhiên trong đạo nào cũng có người tốt, người xấu, thí dụ như có nhiều người Ki-tô Giáo tốt hơn, thánh thiện hơn những người theo đạo Phật nhưng không theo giáo pháp của Đức Phật, hoặc có nhiều người theo Phật Giáo tốt hơn, thánh thiện hơn những người theo Ki-tô Giáo mà làm ác.  Và cả trong giới những người vô thần, hay không theo đạo nào, cũng có những người tốt người xấu.  Cho nên nói rằng, trong Ki-tô Giáo hay trong Phật Giáo có nhiều người tốt, hay xấu, hay ai tốt hơn ai, ai xấu hơn ai, thực chất không nói lên được gì, không thể chứng minh được Ki-tô Giáo hay Phật Giáo là tốt hay xấu. 

Muốn xét đến một tôn giáo, chúng ta không chỉ kể đến vấn đề lý thuyết mà còn phải kể đến vấn đề thực hành, bởi chính sự thực hành mới có nhiều ảnh hưởng tốt hay xấu cho xã hội.  Một câu hỏi phải được đặt ra:  hành động của một cá nhân, hay của một tập thể theo một tín ngưỡng, có phản ánh kinh điển, giáo lý của tôn giáo hay không?  Nếu những hành động xấu ác của một cá nhân, hay của một tập thể cùng một tín ngưỡng, không đúng với giáo lý, kinh điển của một tôn giáo nào đó, thì tôn giáo đó vô can, không chịu trách nhiệm đối với những hành động bắt nguồn từ bản chất xấu ác của cá nhân, hay tập thể.   Trái lại, nếu những hành động xấu của một cá nhân, hay của một tập thể có cùng tín ngưỡng, bắt nguồn từ niềm tin tôn giáo của mình, thì tôn giáo đó phải gánh trách nhiệm về nguồn gốc của những hành động xấu ác trên.  Thực chất và đặc tính của một tôn giáo là ở chỗ này.  Riêng về Phật Giáo thì học giả Ca-tô Joseph L. Daleiden đã viết trong cuốn The Final Superstition, trang 424:

“Những lời giới thiệu hay nhất về Phật Giáo là, như Khổng giáo, cái hệ thống tín ngưỡng này đã tồn tại suốt 25 thế kỷ mà không hề có lấy một cuộc Thánh Chiến, một Tòa Án Xử Dị Giáo, hay một toan tính đế quốc nào để đi xâm lăng và hủy diệt văn hóa của một dân tộc khác.”

(The best recommendations for Buddhism is that, like Confucianism, this belief system has existed for twenty-five centuries without a single Crusade, Inquisition, or Imperialist attempt to invade and destroy the culture of another people)

Thế còn Ki-tô Giáo thì sao?   Câu trả lời nằm trong lịch sử của Ki-tô Giáo.

Một sai lầm nghiêm trọng khác mà người ngoại đạo cũng như đa số tín đồ Ki tô Giáo thường vấp phải là quan niệm về một Nước Trời hay Nước Chúa (Kingdom of God) hay Nước Thiên Đường (Kingdom of Heaven) của Ki Tô Giáo.  Ngày nay, quan niệm Thiên Đường là một nơi chốn trên các tầng trời, nơi Dê-su ngự và và các tín đồ Ki Tô hi vọng được hưởng nhan thánh Chúa sau khi chết, đã dứt khoát bị bác bỏ, không những bởi giới trí thức và khoa học mà còn bởi chính Giáo Hoàng của Ca-tô giáo Rô Ma như đã nêu ở trên.   Để hiểu rõ về quan niệm Nước Thiên Đàng hay Nước Chúa chúng ta cần trở lại lịch sử của người Do Thái.

Vào thời điểm  Dê-su sinh ra  đời   thì Do Thái đang sống dưới ách thống trị khắc nghiệt của La Mã.  Do đó, dân Do Thái, cũng như trong những thời kỳ bị chinh phục và bắt làm nô lệ trước, mong chờ  và tin rằng Thần Gia-vê sẽ đoái thương đến họ, và một đấng cứu tinh thuộc dòng dõi vua David sẽ xuất hiện để giải phóng dân tộc họ.    Và quan niệm Nước Trời hay nước Chúa (Kingdom of God) nguyên thủy của người Do Thái rất đơn giản, đó chỉ là sự biến đổi thế giới thường thành một thế giới mà Thiên Chúa của họ sẽ trực tiếp cai quản công việc thế gian và do đó, khôi phục những phúc lợi của dân Do Thái, dân đã được Thiên Chúa chọn lựa (Joel Carmichael, The Birth of Christianity, Dorset Press, New York, 1989, p. 1: The Kingdom of God meant the transformation by God of the natural world into one in which God's will would conduct human affairs directly and hence restore the fortunes of the Jews, the Chosen People).

 Douglas Lockhart cũng viết như sau về sự rao giảng của Thánh Paul trong cuốn The Dark Side of God, trang 182: “Dê-su vẫn còn sống và sẵn sàng xuất hiện lúc mà Thượng đế làm phép lạ để khai mạc Nước Chúa ở trên trái đất.  Đó là cái mà người Do Thái chờ đợi.  Họ không chờ đợi Dê-su trở lại từ trên trời; họ chờ đợi Thượng đế hành động – chỉ khi đó Dê-su mới xuất hiện.   Và Dê-su sẽ xuất hiện như là một con người bằng xương bằng thịt.  Vì Nước Chúa là một nước vật chất, một vương quốc trên trái đất...” (Jesus was alive and ready to appear the moment God began to work the miracle of inaugurating the Kingdom of God on Earth.  This is what they were waiting for.  They were not waitin for Jesus to arrive back from heaven; they were waiting for God to make his move – only then would Jesus appear.  And he would appear in the flesh.  For the Kingdom of God was a physical kingdom, a kingdom on Earth..).

Người Do Thái tin tưởng rằng nơi Nước Trời hay Nước Thiên đàng (Kingdom of Heaven), hay Nước của Chúa (Kingdom of God) này, dân Do Thái sẽ sống sung sướng với sữa và mật tràn đầy, dưới sự quản trị và ân sủng trực tiếp của Thần Gia-vê., thần của dân tộc họ.  “Nhưng Nước của Chúa này không xuất hiện, vẫn lại là người La Mã cai trị..  Sự mơ ước của người Do Thái về một Nước vật chất của Chúa trên trái đất đã không xảy ra, và vì vậy Dê-su, đấng cứu thế, đã phải cuốn gói lên trời để cho Thượng đế không bị mất mặt.” (Lockhart, Ibid., p. 158: The Kingdom of God did not appear, it was just the Romans as usual...The sectarian dream of a physical Kingdom of God on Earth did not materialize, and so Jesus the Messiah had to be packed off to heaven so that God would not lose face.)

Đó là tại sao Nước của Chúa ở dưới đất được mang lên Trời.  Các tín đồ Ca-Tô Việt Nam, từ trên xuống dưới, không biết về lịch sử Do Thái, không đủ khả năng tự mình đọc và hiểu lấy Kinh Thánh, không hiểu ý nghĩa của nước Trời hay nước Chúa (Kingdom of God) trong Kinh Thánh, nghe lời giảng hoang đường huyễn hoặc của giới giáo sĩ, nên coi đó là một nước thiên đường ở trên những tầng trời mà không hiểu rằng nước này chỉ là một nước mà Chúa Cha trị vì, cai quản các việc thế gian của dân Do Thái như một ông vua trên trần thế, theo niềm tin  của người Do Thái thời bấy giờ, chứ  chẳng  dính dáng    tới  bất  cứ dân tộc nào khác trên thế giới.  Thật vậy, trong cuốn A Time For Christian Candor, Giám Mục James A. Pike của giáo xứ California viết như sau, trang 109:

Quan niệm về thế giới của Dê-su là quan niệm trong thời đại của ông ta.  Quan niệm về một Nước Chúa mà ông ta nhấn mạnh là quan niệm đã được đưa vào Do Thái giáo từ thế kỷ 5 trước thời đại thông thường này, dưới ảnh hưởng của Zoroaster (Một nhà tiên tri Ba-Tư trong thế kỷ 6 trước Tây Lịch. TCN).   Ông ta (Dê-su) chịu ảnh hưởng giáo lý của dân Essenes, như là chúng ta càng ngày càng thấy đó là điểu hiển nhiên qua những bản dịch của những Cuộn Kinh Trong Biển Chết.  Ông ta có một đầu óc giới hạn - điều này đúng đối với mọi người.  Thí dụ, giống như các ông thầy tu Do Thái (Rabbis) cùng thời, ông ta cho rằng chính David viết tất cả những bài Thánh Vịnh cho nên ông ta đã chưng dẫn David như là tác giả bài Thánh Vịnh số 110 (thực ra là một bài đã được viết sau thời David) trong một cuộc tranh cãi với dân Pharisees.  Và ông ta nghĩ, phù hợp với tâm cảnh về một ngày tận thế trong thời của ông ta, rằng ngày tận thế đã gần kề.

(Jesus' world-view was that of his time.  The concept of the Kingdom of God which he stressed was that introduced into Judaism in the fifth century B.C., under Zoroastrian influence.  He was influenced by the teaching of the Essenes, as is growing more and more evident with the availability of translations of the Dead Sea Scrolls.  He had a limited mind - as is true of every man.  For example, like his fellow rabbis he thought that David wrote all the Psalms and hence he quotes as of Davidic authorship Psalm 110 (which in fact is of later date) in an argument with the Pharisees.  And he thought, in accord with the apocalyptic temper of his day, that the end of the world is near.)

Như Kinh Thánh viết rõ, Dê-su, chịu ảnh hưởng của Cựu Ước, tin những lời giải thích của những bậc thông thái tiên tri Do Thái, rằng dân Do Thái tội lỗi nên bị Thiên Chúa của họ  phạt, nên khuyên mọi người hãy thống hối, đúng như nhận định của giáo sư đại học Hermann Samuel Reimarus: "Tất cả những điều giảng đạo của Dê-su nằm trong hai câu có ý nghĩa y hệt nhau: “Hãy thống hối, và tin vào Kinh Thánh” hoặc, ở một nơi khác “Hãy thống hối, vì Nước Thiên Đàng sắp tới".    Nhưng quan niệm về nước Chúa hay nước thiên đàng của Dê-su lại không phù hợp với quan niệm của người dân Do Thái, không đáp ứng được sự khao khát của dân Do Thái là được giải phóng khỏi ách nô lệ của La Mã, cho nên dân Do Thái mới không tin Dê-su là cứu tinh của dân tộc họ, khoan nói đến tin Dê-su là đấng cứu thế. 

Một điểm khác trong vấn đề đối thoại tôn giáo để đi đến hòa bình tôn giáo, đối với các Phật tử, là vấn đề xử dụng “ái ngữ”.  Chúng ta thường được dạy là hãy dùng “ái ngữ” để tránh làm phật lòng người khác, khiến cho họ khó chịu hay nổi sân hận.  Nhưng thế nào là “ái ngữ”?  Ái ngữ có phải là nói một cách đãi bôi, sai sự thực để vuốt ve tấm lòng của người đối thoại?  Về phương diện lương thiện trí thức, tôi có quyền nói sai sự thực hay không?  Một trong ngũ giới của người Phật tử sơ cơ là không được nói sai sự thực.  Khi dịch hay dùng một tài liệu để chứng minh một luận điểm, tôi có quyền thay đổi lời văn hay danh từ trong đó để làm đẹp lòng người đọc?  Hay là tôi không nên dùng những tài liệu trong đó có những lời không thuộc loại “ái ngữ”?  Khi trích dẫn nhận định của Giáo hoàng John Paul II về các nhà truyền giáo Tin Lành là “những con chó sói đói mồi”, tôi có quyền đổi “những con chó sói đói mồi” thành “những con cừu no nê” không?  Tôi phải dịch “ravenous wolves” như thế nào?  Thực ra, “ái ngữ” chỉ có thể áp dụng trong vấn đề giao tiếp hàng ngày, giữa người với người, chứ không thể áp dụng trong vấn đề học thuật, mà điều căn bản nhất của người trí thức phải là tôn trọng sự thật, bất kể sự thật đó là như thế nào.  Nếu chúng ta tránh không phê bình, chỉ trích chỉ vì chúng ta muốn ôm tất cả mọi người không phân biệt thì xã hội loài người không thể nào có những sự thay đổi để tiến bộ. Như vậy, thực ra chúng ta đã thiếu tinh thần trách nhiệm.  Lẽ dĩ nhiên, phê bình, chỉ trích dựa trên sự thật hay xuyên tạc là trách nhiệm của người phê bình, chỉ trích.  Nói tóm lại, xử dụng ái ngữ một cách không sáng suốt có thể không giúp gì cho xã hội, trái lại còn có thể có tác dụng nuôi dưỡng những sự bất công, mê tín, bạo hành, độc ác v..v.. trong xã hội.  Trong những xã hội Âu Mỹ, không những chúng ta thấy đầy dãy những tác phẩm phê bình, chỉ trích tôn giáo, mà ngay cả Kinh Thánh, Dê-su, và Thượng đế (God) cũng không tránh khỏi những phê bình trí thức.

Một điểm cuối trong vấn đề đối thoại tôn giáo là cho rằng bất cứ sự chỉ trích, chống đối tôn giáo nào cũng bắt nguồn từ lòng hận thù hay ganh ghét tôn giáo đó.  Quan niệm này là lấy tâm hẹp hòi của mình để đo lòng người khác và đương nhiên đã loại bỏ tinh thần đối thoại trí thức..  Có một số người cho rằng những bài của tôi viết về Ki-tô Giáo bắt nguồn từ lòng thù ghét Ki-tô Giáo hay trong cuộc đời của tôi đã có những kinh nghiệm đắng cay gì với Ki-tô Giáo.  Họ quên mất một điều là hầu hết những bài viết của tôi thuộc loại nghiên cứu với đầy đủ tài liệu dẫn chứng.  Những tài liệu này ở đâu mà ra?  Tuyệt đại đa số là của các nhà trí thức trong xã hội Tây phương gồm có các Giáo sư đại học, chuyên gia về tôn giáo, các nhà thần học Ki-tô Giáo, kể cả những bậc lãnh đạo trong Ki-tô Giáo như Giám Mục, Linh Mục, Mục sư v..v.., những người đã gắn bó với Ki-tô Giáo trong nhiều năm và chưa hề từ bỏ Ki-tô Giáo.  Có thể nói được chăng là những người này viết ra những tác phẩm phê bình, chỉ trích Ki-tô Giáo cũng như phê bình Kinh Thánh, đạo đức của Dê-su v..v.. bắt nguồn từ lòng sân hận hay thù ghét Ki-tô Giáo của họ, hay họ là tay sai của CS?  Những người không ở trong lãnh vực học thuật (scholarship) không thể nào hiểu được thế nào là lương tâm trí thức trước những vấn nạn của quốc gia, dân tộc.

Đối thoại tôn giáo để đi đến hòa bình tôn giáo là một vấn đề cấp thiết trên thế giới nói chung, trong xã hội Việt Nam nói riêng.  Tuy nhiên, tôi phải nói rằng, đối thoại với người Ki-tô Giáo Việt Nam rất khó.  Có nhiều lý do và dấu hiệu chứng tỏ đối thoại với người Ki-tô Giáo Việt Nam là một con đường đầy trở ngại, không phải từ phía Phật Giáo mà từ phía Ki-tô Giáo. Sau đây, tôi xin đưa ra một số trở ngại chính:

-                    Ki-tô Giáo là một tín giáo, đặt căn bản trên đức tin, nhất là khi đức tin này đã được cấy vào đầu tín đồ từ khi còn nhỏ.  Cho nên một cuộc đối thoại trí thức, dựa trên lý trí và hiểu biết thông thường (common sense) thường không có tác dụng gì trong vấn đề đưa ra những thông tin thời đại chân thật nhưng không hợp với niềm tin của người Ki-tô giáo.

-                    Riêng đối với người Công Giáo Việt Nam, vì được đào tạo theo sách lược đào tạo của Ca-tô Giáo Rô Ma, cộng với lịch sử phụ thuộc ngoại bang, nhất là trong thời thực dân Pháp v..v.. cho nên khó mà có thể thoát ra sự lệ thuộc hoàn toàn vào Vatican, vào các “bề trên”, và nền thần học Ki-tô Giáo.  Đối thoại đối với họ là tuyệt đối theo đúng sách lược “đối thoại” của Vatican.  Sách lược đối thoại của Vatican không ngoài mục đích truyền đạo và xâm lăng tôn giáo và văn hóa, đưa tất cả vào Công Giáo và văn hóa Ki-tô, như tôi đã phân tích trong một số bài về kế hoạch cải đạo Á Châu của Vatican. Do đó, chừng nào mà tinh thần lệ thuộc này còn tồn tại, thì chừng đó người dân Việt Nam vẫn còn phải lưu tâm đề phòng lịch sử tái diễn, và đối thoại tôn giáo sẽ không có nhiều tác dụng, khoan nói đến chuyện “đối thoại” một cách ve vuốt họ với hi vọng họ sẽ trở về với dân tộc.

-                    Đối với người Tin Lành thì đối thoại còn khó hơn, vì bản chất của Tin Lành là u mê cuồng tín, tin tất cả vào Kinh Thánh, cho đó là những lời mạc khải của Thiên Chúa nên không thể sai lầm.   Phần lớn tín đồ Tin Lành thiếu trình độ tôn giáo, đúng như nhận định của Robert G. Ingersoll: quần chúng [Tin Lành] thì mê tín và các mục sư thì đần độn (stupid).  [Xin đọc bài Hiểm Họa Tin Lành, Bài III, trên trang nhà Giao Điểm, tháng 12, 2004].  Cũng vì vậy mà ngày nay họ còn cố công ra sức chống đối Thuyết Tiến Hóa và tiếp tục tin vào Thuyết Sáng Tạo và những giáo lý đã quá lỗi thời của Ki-tô Giáo như: tội tổ tông, con người sinh ra trong tội lỗi, sự chuộc tội và cứu rỗi của Dê-su v..v... 

-                    Người Ki-tô Giáo Việt Nam không hiểu đối thoại tôn giáo là gì.  Đối với họ, đối thoại tôn giáo là có bổn phận phải mang những điều họ tin, phần nhiều là tin mà không cần biết, không cần hiểu, áp đặt trên các tôn giáo khác.  Đọc những “tác phẩm” thuộc loại đối thoại tôn giáo của một số linh mục Việt Nam như LM Cao Phương Kỷ, LM Nguyễn Hữu Duy, GS Nguyễn Chính Kết v..v.. và các mục sư Tin Lành Việt Nam như Nguyễn Hữu Ninh, Nguyễn Thanh Vũ, Nguyễn Huệ Nhật,  cùng các trí thức Tin Lành như Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng, Phan Như Ngọc, Khuất Minh v..v.., chúng ta thấy rõ trình độ thiếu sót của họ về vấn đề tôn giáo, về kiến thức tổng quát, cùng sự thiếu sót trầm trọng một đức tính: sự lương thiện trí thức trong tinh thần đối thoại. 

-                    Trong đối thoại tôn giáo, những tín đồ Ki-tô Giáo luôn luôn mang Kinh Thánh ra làm khuôn vàng thước ngọc trong mọi luận cứ, bất kể là Kinh Thánh chứa vô số những điều sai lầm về thần học và khoa học, và họ cũng không hiểu rằng, đối với giới học giả trí thức ngày nay, Kinh Thánh chỉ là một sản phẩm của những điều mê tín trong thời bán khai (a product of primitive superstitions).  Khi không đủ lý lẽ để đối thoại thì những tín đồ Ki-tô Giáo Việt Nam, hoặc giữ yên lặng, hoặc chụp mũ cọng sản, hoặc thốt ra những lời thiếu giáo dục để mạ lỵ cá nhân mà không đưa ra bất cứ một luận cứ nào để phản bác.

-                    Người Ki-tô Giáo không thật tâm đối thoại tuy rằng ngoài miệng họ luôn luôn nói đến chủ trương đối thoại để đi đến sự hòa hợp tôn giáo.  Những văn bản xuyên tạc, lệch lạc, hạ thấp Phật Giáo và các truyền thống dân tộc v..v.. nhằm mục đích tấn công Phật Giáo một cách ti tiện, xảo trá và đại quy mô, cùng lúc xóa bỏ nền văn hóa dân tộc, của Ca-tô cũng như Tin Lành là một bằng chứng rõ ràng nhất về sách lược “đối thoại” của Ki-tô Giáo.  Đúng như Hoàng Vũ đã nhận định trong bài Đả Thông Để Cảm Thông trên trang nhà Giao Điểm, tháng 12, 2004: “Nội dung nhiều bài viết rất tiêu cực, để đạt được mục tiêu “truyền đạo”, đề cao Kitô giáo, các vị đã không ngần ngại dùng thủ đoạn bôi đen, xuyên tạc, hạ thấp các “tôn giáo bạn” một cách thô bỉ.”

Chúng ta hẳn còn nhớ, ngay từ Công Đồng Vatican II, Giám Mục Emile de Smedt, phát ngôn viên của ủy ban soạn về đề mục tự do tôn giáo, đã đưa ra khuyến cáo về chính sách “đối thoại”,  “tự do tôn giáo”, “hòa hợp tôn giáo” chỉ có trên mặt văn tự của Vatican trước Công đồng linh mục ngày 19 tháng 11 năm 1963 như sau:

        "Nhiều người phi-Ca-Tô đã nuôi sự thù ghét đối với giáo hội, hay ít ra cũng nghi ngờ đó là một loại chủ thuyết Machiavelli (nghĩa là chỉ cần đạt được mục đích bất kể đạo đức. TCN),    đối với họ chúng ta  có vẻ như là khi ở thế thiểu số trong quốc gia nào thì chúng ta đòi hỏi phải  được tự do tôn giáo  nhưng cùng lúc lại từ chối hay tước bỏ cùng sự tự do tôn giáo đó của họ nếu chúng ta ở thế đa số.

     Tại sao lại nói đến đối thoại với các người Ki-Tô khác, với người Do Thái, với tất cả những người phi-Ki-Tô (non-Christians) khi thực ra về lý thuyết cũng như thực hành, giáo hội Ca Tô Rô Ma không tôn trọng tự do của những người phi-Ca-Tô.

     Bất cứ kế hoạch hòa hợp tôn giáo nào của giáo hội Ca Tô cũng sẽ hoàn toàn vô hiệu quả và hoàn toàn vô nghĩa trừ phi giáo hội tuyên bố rõ ràng và với thẩm quyền rằng giáo hội sẽ tôn trọng sự tự do của các tín ngưỡng khác, dù rằng giáo hội có quyền hành hay cơ hội có thể làm khác, và rằng giáo hội phải dựa trên căn bản tự do tôn giáo, lên án sự bất khoan dung, bách hại và kỳ thị ."

     (Many non-Catholics harbor an aversion against the Church, or at least suspect it of a kind of Machiacellianism, because we seem to them to demand free exercice of religion when Catholics are in a minority in any nation and at the  same time  refuse  and deny the same religious freedom when Catholics are in the majority.

     Why speak about dialogue with other Christians, with Jews, with all non-Christians, if, in theory or in fact, the Roman Catholic Church does not respect the freedom of non-Catholic religions?

     Every ecumenical "move" of  the Catholic Church will be completely fruitless and devoid of any real meaning unless the Church states clearly and authoritatively  that it will respect the liberty of other believers, even if it has the power or the occasion to do otherwise, and that it condemns intolerance, persecution and discrimination on grounds of religious liberty.)

     Đây chính là bản chất của Ca-tô Giáo Rô-ma trong sách lược “đối thoại tôn giáo” và sách lược này chưa hề thay đổi.  Đối với Tin Lành thì Tiến sĩ Madalyn O’Hair, chủ tịch hội những người vô thần ở Mỹ đã nhận định:

     “Điều răn đầu tiên của Thiên Chúa các người là “không được thờ thần nào khác”.  Những tín đồ Ki-tô Giáo không thể sống với những ý tưởng khác.  Họ bắt buộc phải đi cải đạo mọi người vào những hệ thống tín ngưỡng của họ.  Bất cứ một người nào còn ở ngoài tín ngưỡng này cũng là một sự đe dọa đối với những người ở trong hệ thống tín ngưỡng vì người đó, ở ngoài hệ thống, cũng minh họa là Thiên Chúa của các người đã thất bại để kéo ít nhất là một người vào với ông ta.  Do đó, ông ta không phải là một đấng toàn năng, toàn trí, cái gì cũng thấy, cái gì cũng biết, cái gì cũng hiểu, nhất mực nhân từ.  Nếu ông ta thực là như vậy, ông ta có thể kéo mọi người đến với ông ta.  [Ngày nay, không phải chỉ có một, mà trên 4 tỷ người ở ngoài hệ thống tín ngưỡng của Ki-tô Giáo.  Điều này chứng tỏ sự thất bại to lớn ngoài sức tưởng tượng của Thiên Chúa là một sự kiện không ai có thể phủ bác.  TCN]

     Những người bị mắc trong cái bẫy [của Ki-tô Giáo] không thể nào hiểu nổi là nhiều người khác lại không có những hệ thống tín ngưỡng như vậy và không sống trong các lồng tâm linh [như những con chim bị nhốt trong lồng].  Điều mà các người toan tính làm là, theo định nghĩa, kéo chúng tôi vào sự điên rồ của các người.  Sự suy nghĩ của các người bị thắt nghẽn đến độ các người không thể nào hiểu nổi thế nào là một “đầu óc tự do”, nghĩa là, một đầu óc không bị buộc chặt bởi xiềng xích tôn giáo.”

(The first commandement of your god is “Thou shalt have no other gods before me.”  Christians cannot live with other ideas.  They are forced to convert all persons to their belief system.  Any person outside of it is a threat to all of them inside the belief system because that person, who is outside, illustrates that your god has failed to bring at least one person to him.  Therefore, he is not an all-seeing, all-knowing, all-understanding, all-benevolent, all-powerful god.  If he were that, he could induce all to come unto him.

It is impossible for those of you who are caught in that trap to understand that others do not have such belief systems and do not live inside mental cages...What you are trying to do is, by definition, include us in your insanity....Your thinking is so strictured that it is impossible for you to understand the concept of a “free mind”, i.e., one without religious enchainment.)

     Nhận thức được rằng, đối thoại với người Ki-tô Giáo Việt Nam rất khó, nhưng “đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông” (Nguyễn Bá Học). Cho nên Phật tử chúng ta không thể tự cho phép mình rụt rè e sợ trên con đường đối thoại tôn giáo.  Nhưng đối thoại thế nào trước những khó khăn về sự mê tín, cố chấp, cuồng tín của người Ki-tô Giáo?  Như trên đã nói, Thầy Nhất Hạnh có dạy chúng ta là:

“Bổn phận của người hành đạo là giúp con người tháo bỏ thái độ hẹp hòi, cố chấp và cuồng tín đó, giúp họ trở thành hiểu biết, bao dung và từ bi, chứ không phải là lấy súng bắn vào họ, tiêu diệt họ.”

 Nhưng con đường hành đạo trên có chuyển hóa được những người Ki-tô Giáo trở thành hiểu biết, bao dung và từ bi hay không, thì đó lại là chuyện khác.  Vì có thể nói, sự hiểu biết, lòng bao dung và từ bi, tất cả hầu như đều đối ngược với đức tin đã được đóng khuôn trong đầu những người Ki-tô Giáo một cách khá chặt chẽ, không dễ gì mà bỏ xuống được gánh nặng Thượng đế và gánh nặng của đức tin mà họ đang vác trên vai..

Truyền thống của Phật Giáo là không sợ những khó khăn.  Cho nên, với thành tâm, kiên nhẫn, chúng ta cần vận dụng sự hiểu biết, tinh thần bao dung, từ bi của Phật Giáo trong việc đối thoại tôn giáo, với hi vọng có thể đạt được phần nào trong mục đích tạo hòa bình giữa các tôn giáo.

Hiểu biết là phải cập nhật hóa kiến thức, song song với sự tiến bộ trí thức của nhân loại, và bao dung là chấp nhận sự thật về một thế giới đa tôn giáo, chấp nhận sống hòa thuận với nhau dù bất đồng ý kiến, và không mưu toan diệt trừ lẫn nhau bằng những thủ đoạn ti tiện, xảo trá. Còn Từ là cho vui, và Bi là cứu khổ.  Theo tinh thần từ bi của Phật Giáo thì khai sáng trí tuệ người dân, trình bày sự thật lịch sử, bản chất tôn giáo như nó đúng là như vậy, chuyển hóa để cho mọi người thấm nhuần giáo lý nhân bản, thiết thực, hòa bình, vị tha, vô thường, vô ngã v..v.. của Phật Giáo là mang niềm vui đến cho họ.  Cứu họ ra khỏi vô minh, mê tín dị đoan, xiềng xích trí tuệ, xiềng xích tôn giáo, tinh thần nô lệ ngoại nhân v..v.., đó chính là cứu khổ.  Có lẽ đây là con đường đối thoại tôn giáo thích hợp nhất cho những người Phật tử còn nặng lòng vì dân vì nước. 

 

     


04-print.gif (107 bytes) In ra    @