105-world.gif (4136 bytes)
posted: 21.1.2005
           THẦY NHẤT HẠNH:

TSUNAMI  -  CHUYẾN VỀ VIỆT-NAM

Trần Chung Ngọc

Ngày 26 tháng 12, 2004, một trận thiên tai Tsunami đã xảy ra tại Nam Á, cho tới ngày nay con số tử vong đã lên tới sấp sỉ hai trăm hai mươi ngàn (220000), trong đó gần một phần ba là trẻ con. 

Đầu năm 2005, sau gần 40 năm sống ở nước ngoài, Thầy Nhất Hạnh đã trở về Việt Nam, thực hiện một hoài bão có lẽ đã ấp ủ trong tim từ lâu: thuyết giảng  Phật Pháp cho người Việt nơi quê nhà, tự mình hướng dẫn tu học cho người Phật tử trong nước, cùng lúc góp phần làm cho đất nước ngày càng tốt đẹp hơn về vấn đề xã hội, gìn giữ nền văn hóa Việt Nam.  Bài viết này là những suy tư của tôi về bài Pháp “Ôm Lấy Niềm Đau Sau Trận Hải Chấn [Tsunami] của Thầy Nhất Hạnh,  và về chuyến hoằng dương Đạo Pháp của Thầy nơi quê nhà.

I.      ĐÔI LỜI VỀ THẦY NHẤT HẠNH:

Đối với tôi, Thầy Nhất Hạnh  quả thật là một niềm hãnh diện cho Phật Giáo Việt Nam, nếu không muốn nói là cho tuyệt đại đa số người dân Việt Nam, ở trong nước cũng như ở hải ngoại.   Trong tinh thần Phật Giáo, rất có thể có một số Phật tử, tôi là một trong số này, đôi khi không đồng ý với Thầy về một vài điểm nào đó, không phải là về Phật Pháp mà là về những vấn đề khác, thí dụ như về Ki-tô Giáo.  Nhưng xét về toàn thể những đóng góp của Thầy cho cộng đồng thế giới, cho Phật Giáo nói chung, cho Phật Giáo và dân tộc Việt Nam, và nhất là cho hòa bình của Việt Nam nói riêng, chúng ta không thể phủ nhận sự kiện là, trong thời cận đại, hiếm có một tăng ni Việt Nam nào có thể sánh ngang với Thầy. 

Thật vậy, Thầy Nhất Hạnh đã từng đi thuyết giảng Phật Pháp và dạy phương pháp Thiền quán trong nhiều quốc gia ở Đông Âu như Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi v..v.., ở Nga và Trung Quốc, khối Cộng Sản trước đây, chưa kể là những nước khác ở Âu Châu cũng như Bắc Mỹ.  Ngoài ra, Thầy cũng còn được mời để hướng dẫn tu tập cho một số dân biểu Quốc Hội Mỹ, cho các cựu chiến binh Mỹ, và cho các nhân viên cảnh sát ở bang Wisconsin.  Đệ tử của Thầy gồm có những người trong nhiều quốc gia khác nhau cũng như trong nhiều tín ngưỡng khác nhau thí dụ như Ki-tô Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo, Ấn độ Giáo v..v..  Đó là chưa kể Thầy là tác giả của cả trăm tác phẩm có giá trị, được dịch ra nhiều thứ tiếng, và đều thuộc loại sách bán chạy nhất (best sellers).  Thầy không chỉ là một nhà tu Phật Giáo mà còn là một nhà văn, nhà thơ.

Ở đây tôi sẽ không nhắc đến tiểu sử của Thầy Nhất Hạnh, nghĩa là những chi tiết về Thầy xuất thân từ đâu, sinh năm nào, xuất gia năm nào, học trường nào, bằng cấp ra sao, đã giữ những chức vụ gì v..v..  Đối với tôi, những chi tiết này không phải là những tiêu chuẩn quyết định để đánh giá một Thiền sư. Trong lịch sử thế giới ngày nay cũng như khi xưa, chúng ta thấy không thiếu gì những bậc được gọi là "lãnh đạo tôn giáo" có bằng cấp, chức tước, địa vị thật cao, mũ mãng cân đai, áo đỏ, áo tím, áo đen, áo trắng v..v.., nhưng thực chất chỉ là những nô lệ tâm linh, đạo đức thấp kém.. như lịch sử các tôn giáo đã chứng minh.

Đối với người Việt Nam, khi viết về Thầy Nhất Hạnh, chúng ta không thể bỏ qua những hoạt động của Thầy trong thập niên 60, khi mà chiến tranh đang tàn phá đất nước Việt Nam, cả về sinh mạng lẫn vật chất, những hoạt động đã khiến cho cả thế giới biết đến Thầy, từ Giáo Hoàng Paul VI của Ca Tô Giáo Rô Ma, cho tới những nhân vật lãnh đạo quân sự, ngoại giao và tôn giáo của Hoa Kỳ và một số quốc gia trên thế giới.

Chúng ta hãy trở lại đầu thập niên 60, khi mà chính quyền Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam đang dung dưỡng cho những giám mục, linh mục Ca Tô Việt Nam thao túng chính trường và thị trường, cùng xuống tay tiêu diệt mọi đảng phái đối lập, bức hại các tôn giáo phi Ca-Tô trong đó có Phật Giáo.  Trong hoàn cảnh miền Nam Việt Nam bị đắm chìm trong chiến tranh,  và toàn dân miền Nam sống trong bức màn đen tối dày đặc của ý thức hệ Rô-Ma (Dr. Barnado: In the thick darkness of Romanism), một ý thức hệ tôn giáo trị của thời Trung Cổ mà Phán Quan Ngô Đình Diệm cùng những nô lệ tâm linh của Vatican đang cố gắng triệt để thi hành, thì ngày 11 tháng 6, 1963: Ngọn lửa từ bi bốc lên từ nhục thân Bồ Tát Thích Quảng Đức đã có tác dụng soi sáng và thức tỉnh lương tâm nhân loại, kết quả là xua đi bóng tối của vô minh và tàn bạo không bao lâu sau đó.    

Thật vậy, năm tháng sau, chế độ Ngô Đình Diệm Ca Tô độc tài, tôn giáo trị, gia đình trị, phi tự do, phi dân chủ, một chế độ mà tuyệt đại đa số người dân miền Nam oán ghét đã sụp đổ.  Trong giai đoạn lịch sử này, Thầy Thích Nhất Hạnh đang làm công tác nghiên cứu và giảng dạy tại đại học Columbia, Hoa Kỳ.  Sau khi chế độ nhà Ngô sụp đổ, đầu năm 1964 Thầy Nhất Hạnh được Thượng Tọa Thích Trí Quang mời về giúp đất nước.

Về tới nước, Thầy Nhất Hạnh bắt tay ngay vào việc trong đường hướng "Phật Giáo Dấn Thân" hay "Phật Giáo Đi Vào Cuộc Đời", một đường hướng đáng lẽ Phật Giáo Việt Nam đã phải thực hành từ lâu.   Thầy là một trong những sáng lập viên của Viện Đại Học Vạn Hạnh với tiêu chỉ "Duy Tuệ Thị Nghiệp" của Phật Giáo.  Thầy cũng là người sáng lập Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội năm 1965 để huấn luyện thanh niên thiện nguyện Việt Nam trong chiều hướng phục vụ các làng xã bằng những kiến thức chuyên môn, sửa soạn cho việc xây dựng và hàn gắn đất nước khi chiến tranh chấm dứt.  Những công tác cho vui cứu khổ (từ bi) của Trường lúc đầu khá thành công và được mọi người đón nhận với thiện cảm, kể cả trong những vùng xôi đậu, vì những hoạt động này mang lợi ích trực tiếp đến với người dân mà không vướng mắc vào những ràng buộc chính trị phe phái.  Bất hạnh thay, sự hoạt động của Trường không phát triển nổi vì Trường, với mục đích phụng sự xã hội thuần túy, đã tự đặt mình giữa hai lằn đạn của hai phe đối địch trong cuộc chiến.  

Ngoài ra, Thầy Nhất Hạnh cũng còn làm chủ bút của tuần báo Thiện Mỹ của Phật Giáo.  Nhà xuất bản Lá Bối ra đời và phổ biến những tác phẩm, thơ văn của Thầy, và những tác phẩm Phật Giáo.  Đặc biệt là, Thầy cùng một số tăng trẻ đã cùng với một số linh mục và giáo dân cấp tiến tạo nên phong trào Sống Đạo và cho ra tờ báo Sống Đạo.  Đây là một thành quả có tầm vóc lịch sử nếu chúng ta xét đến sự thù nghịch lịch sử giữa hai tôn giáo lớn ở Việt Nam.

Chiến tranh Việt Nam càng ngày càng khốc liệt, nhất là sau khi Mỹ đổ quân vào Việt Nam năm 1965.  Sự chết chóc về nhân mạng và hủy diệt về vật chất, môi sinh càng ngày càng nhiều.   Trong hoàn cảnh như vậy, Phật Giáo, tôn giáo của hòa bình, không thể ủng hộ chiến tranh, nhất là khi nhận thấy rõ người dân Việt Nam là nạn nhân của một cuộc chiến từ bên ngoài đưa đến. Đứng giữa hai phe gây chết chóc cho hàng ngàn dân Việt vô tội, năm 1966, Phật Giáo ý thức được rằng phải tìm đồng minh ở ngoài nước, và nhất là phải cho người Mỹ biết đến những sự đau khổ và khát khao hòa bình của đại đa số người dân Việt.  Khi đó, người duy nhất trong Phật Giáo Việt Nam có uy tín, khả năng, kinh nghiệm với người Mỹ, để hoàn thành nhiệm vụ khai sáng thế giới về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, không có ai khác ngoài Thầy Nhất Hạnh.

Một cơ hội đã tới.  Do lời mời của đại học Cornell, Thầy Nhất Hạnh đã được phép xuất ngoại.  Chuyến đi sang Mỹ của Thầy đã trở thành chuyến du thuyết cho hòa bình trên khắp thế giới, nhưng buồn thay, đó cũng là chuyến đi mở đầu cho cuộc đời lưu vong của Thầy.  Những hoạt động cho hòa bình của Thầy đã làm cho Thầy trở thành đối tượng chống đối và vu khống của cả hai phe trong cuộc chiến.  Thầy đã bị báo chí và đài phát thanh Saigon chụp cho Thầy cái mũ "Cộng sản" và không cho Thầy trở về nước.  Trong khi đó thì đài phát thanh Hà Nội lại gán cho thầy cái danh hiệu "Tay sai của Ngũ Giác Đài" (Tool of the Pentagon).   Những kẻ hiếu chiến ở miền Nam thì lên án Thầy là "phản chiến ".  Chỉ có những kẻ “hiếu chiến” một cách vô ý thức mới lên án những người chủ trương hòa bình để tiết kiệm xương máu người dân là "phản chiến".  Nhưng mà những ai phản chiến?    

Đó là giáo hoàng Paul VI, người đã tuyên bố ở giữa hội trường Liên Hiệp Quốc:  Hãy ngưng ngay cuộc chiến (ở Việt Nam).  Đừng có chiến tranh nữa, không bao giờ có chiến tranh nữa (Stop the war.  No more war, never again war) 

Đó cũng là Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc U Thant, sau khi quan sát tình hình, đã tuyên bố: Cuộc chiến chênh lệch giữa kỹ thuật Hoa Kỳ và một nước nhỏ kém mở mang (VN)  là một trong những cuộc chiến "man rợ nhất" của lịch sử. (The Secretary of the United Nations, U Thant, was driven by his observations to call this mismatch between the United States and a small underdeveloped nation one of the "most barbarous" wars in history)

Đó cũng là 2700 mục sư Tin Lành, linh mục Công giáo, mục sư  Do Thái (Rabbi) đã ký tên dưới một bức thư gửi  Tổng Thống Johnson, đăng trên tờ The New York Times ngày 4 tháng 4 năm 1965 kêu gọi:  "Nhân danh Thiên Chúa, Hãy ngưng ngay chiến tranh" (In the Name of God, STOP IT). 

Đó cũng là 65 giáo sư đại học Saigon, ngày 16 tháng 1, 1968, với bản tuyên ngôn kêu gọi "Các phe hiếu chiến hãy kéo dài vô thời hạn cuộc ngưng chiến vào dịp Tết và đàm phán với nhau ngay để có một dàn xếp hòa bình." (We appeal to all the belligerent parties to extend indefinitely the Tet cease fire and to negotiate immediately a peaceful settlement).   Trong số trí thức kêu gọi hòa bình này có cô Cao Ngọc Phượng, ngày nay là Sư Cô Chân Không (Tôi thường gọi là La Religieuse aux pieds nus).

Và còn những bậc trí thức vang danh thế giới như Bertrand Russell, Jean Paul Sartre, Martin Luther King, hàng trăm giáo sư đại học trên khắp thế giới, hai anh em cùng là linh mục Công giáo Daniel và Philip Berrigan, chưa kể đến hàng trăm ngàn sinh viên đại học Mỹ đã thường xuyên xuống đường "phản chiến".  Vậy "phản chiến" thì sao?  Ai có quyền "kết tội" những người "phản chiến"?  

Ngày nay, khi nhìn những di hại của cuộc chiến trên đất nước Việt Nam, cùng đọc lại lịch sử cuộc chiến ở Việt Nam qua những tài liệu đã được giải mật cũng như qua hàng trăm tác phẩm của các học giả, giáo sư đại học, ký giả, cựu quân nhân và tướng lãnh Mỹ, kể cả Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara v..v.. chúng ta thấy rõ cuộc chỉến ở Việt Nam sau Hiệp Định Genève là một cuộc chiến sai lầm do Mỹ gây nên, như trên đã nói, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc U Thant gọi đó là một trong những cuộc chiến "man rợ nhất" của lịch sử”, và sau 30 năm người Pháp vẫn gọi đó là một cuộc “chiến tranh nhơ bẩn” (La Sale Guerre) [Xin đọc bài Người Mỹ ở Việt Nam: Bộ Máy Nghiền Thịt (Les Américains au Vietnam: l’Engrenage) của Jacques Dallos, Thạc Sĩ Sử Học, Tiến Sĩ Sử Học, và bài Chiều Sâu của “Cuộc Chiến Nhơ Bẩn” (Au Coeur de la “Sale Guerre”) của André Kaspi, Giáo Sư Đại Học Paris-Panthéon-Sorbonne trong tập “Les Collections de L’Histoire” (tạm dịch là Những Bộ Sử), số 23, Avril-Juin 2004, xuất bản tại Paris], chúng ta cần phải cám ơn những người “phản chiến” đã can đảm, không sợ nguy hại đến bản thân, tích cực góp phần trong công cuộc thức tỉnh lương tâm nhân loại và người dân Mỹ để cuộc chiến phải đi đến kết thúc.

Với vài nét về Thầy Nhất Hạnh như trên, tôi nghĩ cũng đủ để cho chúng ta thấy Thầy Nhất Hạnh là mẫu người như thế nào. Những đóng góp của Thầy cho Phật Giáo nói chung, Phật Giáo Việt Nam nói riêng, kể từ 1975 đến nay, những đóng góp văn hóa cũng như những đóng góp thiết thực trong vấn đề tu tập thật là quá lớn để có thể đi vào chi tiết.  Những đóng góp này đã được thế giới và người Việt Nam, ở trong nước cũng như ở hải ngoại, biết đến nhiều, qua số đệ tử ngoại quốc đông đảo của Thầy cũng như những cuộc hoằng dương Đạo Pháp của Thầy trong nhiều nước trên thế giới. Muốn biết tất cả những chi tiết về Thầy Nhất Hạnh, độc giả có thể vào trong Google, đánh chữ Thich Nhat Hanh thì sẽ thấy xuất hiện mười mấy ngàn bài viết về Thầy.

II.     THẦY NHẤT HẠNH VÀ TSUNAMI.

Tháng 1, 2005, trang nhà Giao Điểm có đăng một bài Pháp Thiền Sư Thích Nhất Hạnh giảng tại Làng Mai Xóm Thượng, Chùa Pháp Vân ngày 30 tháng 12 năm 2004:   “Ôm Lấy Niềm Đau Sau Trận Hải Chấn”, sau thiên tai Tsunami (sóng thần gây nên bởi động đất dưới lòng biển) sáng ngày 26/12/2004 tại Nam Á.  Trước khi về Việt Nam 12 ngày, Thầy Nhất Hạnh đã có một bài Pháp tuyệt vời, nói lên một tiếng nói hiếm hoi của Phật Giáo về thiên tai Tsunami ở Nam Á, một tiếng nói rất cần thiết để con người ý thức được vị trí của mình trong vũ trụ, và trong thế giới loài người hỗn loạn mà, như Thầy đã viết trong bài “Kẻ Thù Ta”:  “kẻ thù ta không phải là người, mà là cuồng tín, hận thù, tham vọng và bạo động.”

Đọc báo Mỹ, lẽ dĩ nhiên là chỉ giới hạn trong một số báo, tôi không thấy ý kiến của một bậc lãnh đạo Phật Giáo nào có uy tín như Thầy Nhất Hạnh về thiên tai Tsunami ở Nam Á.  Trong tờ Newsweek, số ngày 10 tháng 1, 2005, tôi chỉ thấy vài lời phát biểu ngắn ngủi của Giáo sư Phật Học Donald Lopez, đại học Michigan, và không phải là chuyện lạ khi chúng ta thấy những lời phát biểu của Giáo sư Lopez rất phù hợp với tư tưởng của Thầy Nhất Hạnh trong bài Pháp.  Giáo sư Lopez phát biểu:  “Người Phật tử sẽ quán chiếu vào ý tưởng “nghiệp” và tự hỏi là mình đã làm gì, về phương diện cá nhân cũng như tập thể (biệt nghiệp và cọng nghiệp), để cho thảm trạng như vậy xảy ra (Buddhists will look to the idea of Karma and ask what they did, individually and collectively, that a tragedy like this happened?).  Sự quan tâm chính của Phật tử là tạo công đức để có thể hồi hướng cho những người bị tử nạn, một hành động để tạo nên một nguồn xung lực tốt đẹp trong đời sau của các nạn nhân.  Với mục đích này, người Phật tử sẽ đến Chùa làm lễ cầu siêu cho những người tử nạn và hồi hướng công đức cho họ.  Chủ lễ cầu siêu thường là một Tăng, Ni đóng vai trò trung gian trong lễ tiết cầu siêu và hồi hướng công đức.” 

Trong thế giới các Thần Giáo (Do Thái, Hồi Giáo, Ki-tô Giáo, Ấn Độ Giáo), các bậc lãnh đạo tôn giáo có vẻ như rất  bận tâm về vấn đề liên hệ và trách nhiệm giữa “Thiên Chúa và Tsunami” và tìm cách giải thích hoặc để tự an ủi, hoặc để nuôi dưỡng đức tin, hoặc để vinh danh Thiên Chúa trên trời.  Chúng ta thử điểm qua vài lời giải thích điển hình:

Ông Rabbi Do Thái Shlomo Amar: “Thế giới đang bị [Thiên Chúa] trừng phạt vì những việc sai lầm – hoặc là thù hận nhau không cần thiết, hoặc không có lòng từ thiện, hoặc sa đọa về luân lý”

Ông Pandit (Ấn Giáo) Harikrishna Shastri cho rằng tai họa trên xảy ra là vì “những sự xấu ác chồng chất trên trái đất”“vị trí của những hành tinh” (positions of the planets).

Sheikh Ibrahim Mogra, một ông thầy tu lãnh đạo Hồi giáo ở Leicester, Anh Quốc:: “Chúng tôi tin rằng Thiên Chúa có quyền năng kiểm soát rốt ráo trên toàn phần sáng tạo của ông ta.  Chúng ta có bổn phận phải làm sao để lôi cuốn lòng nhân từ của ông ta chứ đừng làm gì để cho ông ta nổi giận”  Một lãnh tụ Hồi Giáo khác ở Malaysia, Azizan Abdul Razak, nói rằng Tai họa trên xảy ra để nhắc nhở chúng ta rằng “Thiên Chúa sáng tạo ra thế giới và có thể phá hủy thế giới”

Ông Linh mục Robert Barron, Giáo sư trường Dòng Ca-tô Mundelein: “Quan điểm trong Kinh Thánh và trong truyền thống Ki-tô là Thiên Chúa cho phép những sự xấu ác xảy ra để từ đó  có được những sự tốt đẹp hơn (The biblical and traditional Christian view is that God permits evil so that to bring out of it a greater good.)  “Tại sao?  Chúng ta không biết.  Đó là ý thức được là sự hiểu biết vô cùng giới hạn của chúng ta về những ý định của Thiên Chúa.” (Why?  We don’t know, and that’s an acknowledgment of our extremely limit grasp of what God is up to) [Một câu hỏi được đặt ra: Thiên Chúa toàn năng không còn cách nào khác hay sao mà phải giáng tai họa như Tsunami ở Nam Á lên đầu con người để từ đó có thể có được những sự tốt đẹp hơn?   Đúng là lý luận Thần học mà thực chất là mạ ly chính Thiên Chúa của mình.  TCN]

Ông Linh Mục Dominic  Grassi ở nhà thờ Ca-tô St Josaphat, Chicago: “Toan tính đi vào đầu óc của Thiên Chúa (để hiểu Thiên Chúa) thì thật là hoàn toàn điên rồ.  Do đó bây giờ là lúc chúng ta phải dựa vào đức tin.  Nay chính vì chúng ta không có những câu trả lời cho những câu hỏi (về vai trò của Thiên Chúa trong những khổ nạn thiên tai Tsunami) mà chúng ta phải bỏ đi không nghĩ tới chúng và tin vào một Thiên Chúa thương yêu mỗi người chúng ta đã được Ngài sáng tạo ra.” (To try to get into the mind of God is sheer foolishness.  And so now is when we must rely on faith.  It is precisely now when we have all these questions that will not be answered that we must let go of them and believe in a God who loves each of us who have been created.) [Phải, nếu Thiên Chúa làm những gì ác thì tín đồ phải bỏ đi, không được nghĩ tới chúng, và tiếp tục tin vào một Thiên Chúa “quá thương yêu thế gian..” TCN]

Đọc những lời “giải thích” cho các tín đồ như trên, tôi cảm thấy tội nghiệp cho các tín đồ Thần giáo nếu họ tin vào những lời giải thích vô lý và kỳ quặc.  Trong tờ Newsweek, Kenneth Woodward có viết một câu rất chí lý: “Nhưng ngay cả sự chấp nhận sự bất hạnh đã gắn sâu vào quan niệm về thế giới của Ki-tô Giáo, riêng cái chết của quá nhiều trẻ con ngây thơ vô tội như vậy đã là một sự thử thách vô cùng nhức nhối cho niềm tin Ki-tô về Thiên Chúa của họ như là một Thiên Chúa của sự thương yêu.”   (But even though the acceptance of suffering is deeply embedded in the Christian world view, the death of so many innocent children alone was an excruating test of the Christian belief that their God is a God of love.)  

Các tín đồ Ki-tô thường viện câu chuyện trong sách Job trong Cựu Ước (Job bị Thiên Chúa, trong một trận thách đấu với Satan, làm cho khốn khổ đủ điều, tài sản mất sạch, nhưng vì giữ vững lòng tin Thiên Chúa nên sau cùng được Thiên Chúa đền bù lại cho tất cả) ra để tự an ủi  mỗi khi gặp điều bất hạnh xảy ra cho mình, tin rằng đó là sự thử thách của Thiên Chúa, và nếu cứ vững lòng tin vào Thiên Chúa thì sẽ có ngày Thiên Chúa sẽ đoái thương và đền bù cho mình. Nhưng tin rằng Thiên Chúa dùng cái chết của mấy chục ngàn đứa trẻ ngây thơ, hồn nhiên, vô tội để thử thách lòng tin của tín đồ thì đó là một luận điệu thần học mà chỉ có những người không có đầu óc mới tin được.  Nó vô lý kỳ quặc ở chỗ là, qua những lời giải thích trên và trên thực tế, không một người nào, từ Giáo hoàng cho tới các bậc lãnh đạo Ki-tô Giáo, Do Thái Giáo hay Hồi Giáo biết được Thiên Chúa ở đâu, đầu óc của Thiên Chúa như thế nào, ý định của Thiên Chúa ra sao v.. v.. cho nên bất cứ họ nói gì về Thiên Chúa đều chỉ là do sự tưởng tượng của đầu óc họ mà thôi.  Cũng vì vậy mà ngay từ thế kỷ 4 Trước Thường Lịch (TTL), triết gia Hi Lạp Aristotle đã viết: “Con người tạo ra những Thiên Chúa theo hình ảnh của chính con người, không chỉ theo hình dạng của con người mà còn theo lối sống của con người.” (Men create gods after their own image, not only with regard to their form but with regard to their mode of life.), và trong thế kỷ 18, nhà Đại Văn Hào Pháp Voltaire đã đưa ra nhận định rất chính xác như sau:  “Lời của Thiên Chúa là lời của các linh mục [hay mục sư. TCN]; sự vinh quang của Thiên Chúa là sự hãnh diện của các linh mục [hay mục sư. TCN]; ý của Thiên Chúa là ý của các linh mục [hay mục sư. TCN]; xúc phạm Thiên Chúa là xúc phạm các linh mục [hay mục sư. TCN]; tin vào Thiên Chúa là tin vào mọi điều linh mục [hay mục sư. TCN] bảo chúng ta tin” (The word of God is the word of the priests; the glory of god is the pride of the priests; the will of god is the will of the priests; to offend god is to offend the priests; to believe in god is to believe in all that the priests tell us.)

Thiền sư Nhất Hạnh có cái nhìn khác về Tsunami.  Thầy giảng:

“Khi ta tìm ra được nguyên tắc biệt nghiệp cộng nghiệp thì chúng ta đã có thể bắt đầu giải quyết được một phần rất quan trọng của các vấn đề rồi. Nếu chúng ta đi về hướng của tuệ giác vô ngã thì chúng ta sẽ từ từ tìm ra những câu trả lời xác đáng.”

Đây là một đề tài quán chiếu và không dễ gì cho con người hiểu thấu đáo được vì không phải ai cũng có được tuệ giác vô ngã.  Tôi hi vọng quý độc giả đều đọc được bài Pháp trên của Thầy Nhất Hạnh và cũng hi vọng từ đó chúng ta có thể rút tỉa ra những điều có thể giúp chúng ta thăng tiến trong vấn đề tu tập.

Trong bài Pháp Thầy Nhất Hạnh có kể câu chuyện về nhà đại văn hào Victor Hugo, khi mất đi đứa con gái thân yêu, đã kêu trước Thượng Đề: “Con đến với Ngài, Thượng Đế ơi, người Cha mà con phải tin.  Con mang đến cho Ngài, lòng bình thản, những mảnh nát của trái tim đầy sự vinh quang của ngài, trái tim mà ngài đã đập nát ra thành từng mảnh.” (Je viens à vous, Seigneur, Père auquel il faut croire. Je vous porte, apaisé, les morceaux de ce coeur tout plein de votre gloire que vous avez brisé).  Hiển nhiên, với lời kêu sắc bén và chứa nhiều hàm ý như trên, Victor Hugo không thể và cũng không muốn mình là Job trong Cựu ước.  Và tôi tin rằng, sau trận thiên tai Tsunami ở Nam Á, cũng không thiếu gì người mang trái tim vụn nát của họ quỳ trước chân Thượng đế, và lẽ dĩ nhiên, họ cũng đều không thể và cũng không muốn mình là Job trong Cựu Ước.  Ai muốn mình là Job trong Cựu Ước, xin lên tiếng.

Trong bài Pháp, Thầy Nhất Hạnh nói: “Ở trong đạo Chúa, vấn đề này: tại sao Thượng Đế sinh ra thế giới muôn loài mà lại để cho những thương đau như vậy xảy ra được? đã được đặt ra từ lâu.  Đó là một đề tài thần học có từ ngàn xưa.”  Đề tài này, tuy có từ ngàn xưa, nhưng trước sau vẫn không có giải đáp, vì không có giải đáp nào tránh khỏi sự mâu thuẫn trong lý luận.  Mục sư Brian Hiortdahl, Lutheran ChurchChicago, nói “Tất cả những giải đáp vẫn làm cho chúng ta phải gãi đầu phân vân, muốn có giải đáp rõ hơn nữa trước câu hỏi:  Tại sao Thượng đế lại cho phép, nếu không phải là tạo ra, những sự tàn phá thê thảm như vậy?” (All of these responses leave us still scratching our head, wondering, wanting more.  “Why does God allow, if not cause, such tragic devastation?)

Thật ra thì vấn đề “Thượng đế và Tsunami” chỉ là vấn đề đối với những người vẫn còn tin vào sự hiện hữu của một Thượng đế.  Đối với tuyệt đại đa số người trên thế giới ngày nay, kể cả số đông trong các Thần giáo, không còn mấy người coi đó là một vấn đề.  Điển hình là quan niệm của Bác Sĩ Deepak Chopra, tác giả của hơn 40 tác phẩm mà nội dung là hướng dẫn tâm linh con người và ngày nay có nhiều người theo con đường tâm linh đó.  Khi được hỏi   (Time, số ngày 24/1/2005, trang 10) “Cái chết của trên 150000 người trong trận Tsunami có ảnh hưởng gì đến hình tượng về Thượng đế của chúng ta không?”, Bác sĩ Chopra đã trả lời: “Dù Tsunami có xảy ra hay không thì thật ra hình tượng về Thượng đế của chúng ta dù sao cũng đã không còn hợp thời rồi. (Actually, our image of God is outmoded anyway, whether the Tsunami occurs or not) Tôn giáo đã trở thành chia rẽ, xung đột nhau và ngu xuẩn (Religion has become divisive, quarelsome and idiotic).  Tôn giáo là nguyên nhân mà chúng ta có tất cả những sự xung đột trên thế giới. Chúng ta đã bóp nhỏ Thượng đế vào trong thể tích của một thân xác và trong thời gian của một cuộc sống, cho Thượng đế một cái xác đàn ông, một chủng tộc, và làm cho ông ta thành một trưởng bộ lạc để đi đánh nhau.  Tuy vậy mà con người không dễ gì mà cất bỏ được hình tượng của Thượng đế.”

Trong thế giới của những người không tin Thiên Chúa và trong giới khoa học thì Tsunami chỉ là một hiện tượng thiên nhiên.  Những người tin ở một Thiên Chúa tuyên bố là đầu óc con người không thể nào hiểu được những việc làm của Thiên Chúa, thí dụ như ý định của Thiên Chúa khi gây nên trận Tsunami ở Nam Á, nhưng dù không hiểu được ý của Thiên Chúa, kỹ thuật khoa học ngày nay có thể tiên đoán được những việc Thiên Chúa sắp làm. Thật vậy, bất cứ người nào có chút kiến thức về Địa Chất Học cũng biết rằng, dưới vỏ trái đất, trong khoảng từ 10 đến 60 km dưới mặt đất, có những địa tầng (tectonic plates) luôn luôn di chuyển tuy rất chậm.  Khi hai địa tầng cọ xát nhau thì sẽ xảy ra động đất.  Khi áp lực lên cao trong một núi lửa thì núi lửa phải phun ra để giảm áp lực. Bão tố xảy ra cũng do sự thay đổi áp xuất trong bầu khí quyển.  Đó là nguyên nhân của những thiên tai và trong nhiều trường hợp, người ta có thể tiên đoán được những gì sẽ xảy ra, chứ chẳng làm gì có Thiên Chúa nào ngồi đó mà thưởng hay trừng phạt nhân loại.

III.  THẦY NHẤT HẠNH VỀ VIỆT NAM.

Tin Thầy Nhất Hạnh và Tăng đoàn Làng Mai cùng một số đông Phật tử tháp tùng về Việt Nam trong ba tháng, từ 12/1/2005, qua dịp Tết Nguyên Đán, đến 11/4/2005, đã gây nên một tiếng vang trên thế giới.  Đài BBC có một bản tin ngắn, trong đó có vài đoạn như sau:

Sau gần 40 năm xa quê hương, thiền sư Thích Nhất Hạnh, một nhà tu hành nổi tiếng thế giới, về thăm Việt Nam từ ngày 12/01/2005.

Chuyến về thăm quê và thuyết giảng Thiền tại nhiều nơi ở Việt Nam của thầy Nhất Hạnh được coi là một dấu hiệu thay đổi trong nước.

Không chỉ trong thời gian chiến tranh mà trong mấy thập niên qua, hoạt động truyền bá tư tưởng Thiền Việt Nam của thầy Nhất Hạnh và các học trò đã thu hút dư luận Phương Tây.

Hàng chục nghìn thanh niên Âu Mỹ đã đi theo Thích Nhất Hạnh và cách tổ chức cộng đồng sinh hoạt tôn giáo do Thiền sư chủ trương và lãnh đạo đã gây tiếng vang lớn.

Có các ý kiến cho rằng thiền sư Nhất Hạnh là một trong những nhà lãnh đạo tâm linh của thế giới và so sánh các 'Làng Mai' với phong trào kibutz của người Do Thái trong những ngày đầu ở Israel.”

Có nhiều ý kiến về chuyến về Việt Nam của Thầy Nhất Hạnh: ủng hộ có, chống đối có; hân hoan có, nhức nhối có; hi vọng có, thất vọng cũng có.  Điều rõ rệt là những ý kiến ủng hộ, hân hoan, hi vọng đã chiếm đa số.  Điều này thật dễ hiểu, vì những ý kiến này đã nhìn chuyến về Việt Nam của Thầy Nhất Hạnh qua lăng kính Phật Giáo, qua tinh thần yêu nước và dân tộc.  Sau đây là vài ý kiến điển hình, lấy trên Internet:

Tiến Sĩ Lý Khôi Việt:

Tự thân việc thầy Nhất Hạnh thong dong trở về trên quê hương đã là một tín hiệu văn hóa có ý nghĩa, nếu không nói đó đã là sự vượt thắng của văn hóa Việt Nam và văn hóa Phật giáo đối với các nguồn văn hóa phi-Việt-Nam, phi-Phật-giáo. Như Đức Phật chỉ ngồi yên và mĩm cười an lạc là đủ để đem lại hạnh phúc cho nhiều triệu người, và hòa bình cho nhiều xứ sở trong suốt hơn 25 thế kỷ vừa qua.

Lịch trình của phái đoàn Làng Mai tại Việt Nam chú trọng đến những khóa tu nhiều ngày cho tăng ni, cũng như cư sĩ Phật tử tại gia. Đây là một bước khởi đầu đầy khích lệ cho thấy đây là một chuyến đi mang tính tâm linh và văn hóa để đổi mới đạo Phật, đổi mới tinh hoa và cốt tủy của văn hóa truyền thống Việt Nam, để cho nó thêm sức sống, thích hợp với thời đại. Tôi tin đạo Phật Việt có đủ khả năng để đóng góp tích cực cho việc xây dựng phát triển văn hóa đặc thù Việt Nam, như nó đã đóng góp trong suốt 2.000 năm qua.

Chung, TP. HCM:

Thầy Nhất Hạnh là một vị cao tăng của thế giới mà ai cũng ngưỡng mộ, dù người đó ủng hộ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam hay Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thống nhất. Chuyến trở về quê hương của Thầy là một việc làm tốt, đáng trân trọng vô cùng. Quý vị bằng hữu đừng lấy cớ là một chuyến đi đầy ý nghĩa tốt đẹp của Thầy mà thể hiện sự chấp chước, ích kỷ của mình. Thay vào đó, hãy nhìn vào những việc làm của Thầy mà học hỏi.

Trần Tuyết Nhi, TPHCM:

Thiền sư Nhất Hạnh về thăm Việt Nam. Tôi nhận xét thấy ngài là một người tu hành chân chính cho một tôn giáo không bị lợi dụng bởi chính trị. Mặt khác, ngài là người Việt Nam, ngài muốn về Việt Nam đó là điều bình thường. Bất cứ ai cũng có tổ quốc mà điều thiết yếu là phải yêu tổ quốc của mình. Còn kẻ nào vì sự thù hằn cá nhân trà đạp lên tổ quốc của mình thì xin nghĩ lại.

Lê Nguyên, Paris:

Mong rằng chuyến hành hóa của Thiền sư ngay trên quê hương của Ngài sau 40 năm bị lưu đày sẽ mang lại nhiều lợi lạc cho đồng bào của Ngài. Mong rằng thanh niên Việt Nam sẽ biết tận dụng thời gian ngắn ngủi của Ngài ở Việt Nam để học hạnh Hiểu biết và Thương yêu mà Ngài đã trao truyền cho giới trẻ ngoại quốc hàng chục năm qua.

Một người tên “nix”:

Theo nix chuyến về thăm Việt nam của thầy Nhất Hạnh rất có thể sẽ có một số ảnh hưởng tích cực nếu người trong nước có thể tận dụng được.
Chắc chắn hơn cả, theo nix nghĩ là ảnh hưởng về văn hóa và tâm linh. Trong tương quan này (văn hóa và tâm linh), người dân trong nước đang sống trong tâm lí vọng ngoại và khao khát những "lạc thú vật chất" chứ hiếm người còn giữ được nề nếp "biết đủ" của người xưa. Về khía cạnh tâm linh, thì giữa các điều khác, tôn giáo, trong tâm lí của đám đông và thể hiện của nhận thức đó, chỉ là tín ngưỡng, tin thờ ngưỡng mộ một hay nhiều đấng thần thánh nào đó và đi chùa, nhà thờ vv. có vẻ như là một thứ bổn phận để làm đẹp lòng các đấng thần linh đó, một hình thức hối lộ để có được một chỗ trên thiên đường hay cực lạc quốc sau khi chết.

Chuyến về của thầy ấy sẽ có một tác dụng thách đố các tâm lí như thế đặc biệt là nơi giới trẻ, trong đó nhiều người có lí tưởng nhưng điều kiện và môi trường sống đã làm họ xem nhiều điều lai căng, mất gốc như điều tự nhiên, phải như thế thôi, và theo đó 'miễn nhiễm' với các thói tật thiếu văn hóa (rượu chè, bia ôm, vv. và vv.).

Nơi những người trong lớp tuổi còn lí tưởng, còn hướng thượng như vậy, chuyến về của thầy NH trước hết sẽ tạo ấn tượng mạnh mẽ theo lối, ít ra đạo bụt VN và nước VN hiện đại cũng có được MỘT nhân vật được thế giới nễ vì và học hỏi chứ VN không chỉ ngữa tay đón nhận mà thôi.

Ấn tượng như vậy có được trước hết là vì thầy NH không chỉ về với một số tăng ni VN, và từ nơi ông ở, mà một loạt tăng ni nước ngoài, từ nhiều nơi trong thế giới. Từ một ấn tượng như vậy người trẻ có thể tìm hiểu thêm về đạo bụt nói chung và tư tưởng của thầy NH nói riêng, và chẳng hạn chỉ cần đọc một cuốn sách trong đó thầy Nhất Hạnh bàn về tư tưởng Thiền trong truyện Kiều thì kiến thức và nhận thức của người ta về đạo bụt và văn hóa VN cũng trở nên phong phú, giàu có hơn.

Tác động tích cực về chính trị chắc cũng có nhưng trong điều kiện hiện tại, nó có đủ mạnh để chúng ta thấy được hay không lại là chuyện khác. Thầy Nhất Hạnh chắc chắn sẽ nói với nhà cầm quyền rằng đạo Bụt không có tham vọng chính trị mà chỉ cất lên tiếng nói của lương thức, vì đạo vì người mà thôi.

Trong khi đó thì cũng có lác đác vài ý kiến chống đối, nhức nhối, thất vọng, nhìn sự việc qua cặp kính màu đỏ, nhìn đâu cũng thấy đỏ, nên liên kết chuyến về Việt Nam của Thầy Nhất Hạnh với những xu thế chống Cộng thời thượng ở hải ngoại, nội dung vừa xuyên tạc cá nhân Thầy, vừa muốn kéo Thầy xuống vũng bùn chính trị hải ngoại.  Đại diện cho vài ý kiến tiêu cực lạc lõng này có lẽ là nội dung bản văn: “Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin trả lời chung về chuyến đi Việt Nam của Sư Ông Thích Nhất Hạnh” của Võ Văn Ái, người rất nổi tiếng ở Pháp, tiếng tốt hay tiếng xấu, có lẽ mọi người đều biết cả rồi.

Đài quốc tế BBC có một câu loan tin ngắn về phản ứng của Võ Văn Ái như sau:

Ngày 14.01.2005, ông Võ Văn Ái thuộc Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế đóng tại Paris có thông cáo phê phán chuyến đi này. Ông Võ Văn Ái gọi 'Đây là món quà hậu hĩ nhân dịp Tết nhà Sư Ông Thích Nhất Hạnh trao tặng cho nhà cầm quyền Việt Nam....”

Đài BBC, loan tin như trên,  chắn chắn là không hề tin là vì có “nhiều Báo, Ðài quốc tế và thân hữu khắp nơi gọi về Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế hỏi ý kiến và yêu cầu bình luận về chuyến viếng thăm Việt Nam của Sư Ông Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai.” nên Võ Văn Ái và Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế (cũng là Võ Văn Ái) mới ra thông cáo phê phán chuyến đi này.  Nhưng tại sao Võ Văn Ái lại ra thông cáo phê phán chuyến đi của Thầy Nhất Hạnh?  Dễ hiểu thôi.   Vì đó là nhiệm vụ của ông ta, nhiệm vụ đả phá tất cả những gì có lợi cho dân tộc đất nước, nấp sau chiêu bài tranh đấu cho nhân quyền, tự do, dân chủ ở Việt Nam với tiền của ngoại bang.  Chứng minh?

Chúng ta biết rằng, Võ Văn Ái hàng năm lãnh tiền của cơ quan Mỹ N.E.D. (National Endowment for Democracy) để làm nhiệm vụ mà N.E.D. giao phó, theo tài liệu của chính N.E.D. trong www.ned.org :

“Xuất bản tờ Quê Mẹ bằng tiếng Việt, hai tháng một lần, một nguồn tin tức và thảo luận về những ý tưởng dân chủ ở Việt Nam không bị kiểm duyệt.  “Quê Mẹ Paris” cũng phải in và phân phối 50000 bản tin ngắn hàng tháng về những mối quan tâm về nhân quyền và quyền công nhân ở Việt Nam.”

(To publish Que Me, a bi-monthly Vietnamese-language magazine, a source of uncensored news and discussion of democratic ideas in Vietnam.  The association will also publish and distribute 50000 copies of a mini-bulletin on urgent human and worker rights in Vietnam)

Lẽ dĩ nhiên là những thông tin trong Quê Mẹ và trong những bản tin ngắn cùng qua những bản Thông Cáo Báo Chí của Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế mà Võ Văn Ái làm giám đốc phải theo đúng mục đích của N.E.D.  Cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi thấy trong đó có những điều bịa đặt, ngụy tạo, sai sự thật v..v.. mà không cần phải thông minh sáng suốt cho lắm cũng có thể nhận ra như tôi đã phân tích trong một số bài trước đây.   Để hiểu rõ vấn đề này chúng ta cần phải biết N.E.D., cơ quan cấp tiền cho Võ Văn Ái, là cơ quan như thế nào?

Xin mời quý độc giả hãy vào trang nhà Giao Điểm tháng 1, 2005, đọc bài Tổ Chức AFL-CIO và NED – Góp Vốn Quốc Gia cho Những Toán Sát Thủ? ("National Endowment for Death Squads? The AFL-CIO and the NED") của Jon Quaccia do Thường Đức chuyển ngữ. Sau đây là vài đoạn điển hình về N.E.D. trong bài dịch của Thường Đức:

Ít người thọ thuế biết đến tổ chức National Endowment for Democracy (NED), một tổ chức do tư nhân làm chủ nhưng lại được chính phủ tài trợ hoạt động trong ít nhất bốn mươi quốc gia. Nhiệm vụ của NED ? – là nhằm giúp cho Mỹ thiết lập một hệ thống kinh tế tư bản vòng quanh thế giới, trợ lực bởi các chế độ thân thiện với nền kinh tài lớn của Mỹ.

Vì không bị sự can dự của chính quyền và quốc hội, nên NED tự do hoàn toàn để đạt mục tiêu bằng sự thao túng và mua chuộc các cuộc bầu cử ở nước ngoài, gây rối loạn chính trị cũng như kinh tế, tài trợ vật chất cho các nhóm cực hữu chống lại kháng chiến, và xử dụng những chiến thuật bị coi là bất hợp pháp ở Mỹ...

Sự u ám của các phần tử trong cơ quan NED từ tổ chức tiền nhiệm chỉ rõ một lịch sử cấu kết với cơ quan khủng bố CIA từ đầu thập niên 60s.

Cuối thập niên 1970s, CIA đã lộ diện về sự phá hoại các chính phủ và các phong trào lao động khắp thế giới. Những tên độc tài tham những ở Trung Mỹ, hổ trợ bời những toán sát thủ được trang bị và huấn luyện từ CIA đã thảm sát hàng trăm ngàn nông dân trong suốt các cuộc kháng chiến ở Nicaragua, El Salvador và Guatemala.

Từ lúc các tai tiếng xấu xa đó đi vào não trạng công chúng, Chính quyền Reagan phải tạo ra cơ quan National Endowment for Democracy năm 1983 nhằm đạt nốt các nhiệm vụ chưa hoàn tất. Allen Weinstein, người sáng lập NED, đã nhấn mạnh trong năm 1991 : “Phần lớn những công tác mà chúng ta đang thực hiện hôm nay, đã được hoàn thành một cách bí mật bởi CIA trong 25 năm trước...”

Qua tổ chức Endowment, công dân Mỹ thọ thuế đã trả tiền cho một nhóm đặc-quyền đi phá rối các chính quyền dân cử chính đáng của các quốc gia đầy thiện cảm, can thiệp vào các cuộc bầu cử ở nước ngoài, khuyến khích sự tham ô trong các phong trào dân chủ…”

Tổ chức NED và phe nhóm tự cho các hành động của họ là “hổ trợ dân chủ”, thế nhưng các chính phủ hay phong trào là các mục tiêu mà họ nhắm đến, đã gọi họ là “những kẻ đi gây sự bất ổn”.

Trong một bài viết trước đây, một trong những tài liệu về N.E.D. mà tôi đưa ra là của William Blum viết trong bài “Trojan Horse: The National Endowment for Democracy”:

NED là một tổ chức thường hoạt động đối ngược hẳn lại mà cái tên của tổ chức đó (nghĩa là hoạt động cho dân chủ) uẩn hàm: “ủng hộ những cơ chế dân chủ trên thế giới qua những nỗ lực tư nhân, không thuộc chính phủ”.   Hãy để ý đến phần hình ảnh và huyền thoại “không thuộc chính phủ”.  Thật ra, hầu như từng xu một của quỹ của NED là từ chính phủ liên bang như đã được kê rõ trong những bản kê khai tài chánh trong mỗi bản phúc trình hàng năm của NED.

Allen Weinstein, người đã giúp thảo qui chế thành lập NED, năm 1991 đã nói thẳng rằng: “Rất nhiều những việc chúng tôi làm ngày nay đã được CIA làm lén lút 25 năm trước.”

Với trăm ngàn cách khác nhau, NED đã xía vào những vấn đề nội bộ của các quốc gia khác bằng cách tài trợ, cung cấp kiến thức kỹ thuật, huấn luyện, tài liệu học tập, máy điện toán, máy fax, máy sao tài liệu, xe cộ v..v.. cho những nhóm chính trị được tuyển chọn, những tổ chức dân sự, nghiệp đoàn lao động, phong trào đối kháng, nhóm sinh viên, nhà xuất bản sách, báo chí, những phương tiện truyền thông khác v..v..”

(NED is an organization which often does exactly the opposite of what its name implies: “supports democratic institutions throughout the world through private, non-governmental efforts”  Notice the “nongovernmental” part of the image, part of the myth.  In actuality, virtually every penny of its fundings comes from the federal government, as it clearly indicated in the financial statement in each issue of its annual report.

Allen Weinstein, who helped draft the legislation establishing NED, was quite candid when he said in 1991: “A lot of what we do today was done covertly 25 years ago by the CIA.

   In a multitude of ways, NED meddles in the internal affairs of foreign countries by supplying funds, technical know-how, training, educational materials, computers, faxes, copiers, automobiles, and so on, to selected political groups, civic organizations, labor union, dissident movements, student groups, book publishers, newspapers, other media etc...)

Đó là bộ mặt thật của N.E.D., cơ quan đã cấp tiền cho “Quê Mẹ” của Võ Văn Ái trong nhiều năm để Võ Văn Ái thi hành nhiệm vụ tranh đấu cho “dân chủ, tự do tôn giáo” (sic) và “quyền làm người” (sic) ở Việt Nam.  Như vậy, thử hỏi, tiếng nói của Võ Văn Ái hay của “Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế” mà Võ Văn Ái làm giám đốc thì có giá trị gì ngoài đám người ngu ngơ tưởng rằng Võ Văn Ái có một thế lực mạnh làm hậu thuẫn ở ngoại quốc, không biết rằng Võ Văn Ái chỉ là một quân tốt thí mà N.E.D. dùng để đánh phá Việt Nam với chiêu bài dân chủ.  Không ai có thể dấu kín mãi được sự thật.  Trước sau gì rồi sự thật cũng phải phanh phui.  Cổ nhân đã dạy: “Muốn cho người khác không biết thì đứng có làm.”   Võ Văn Ái không thể tiếp tục lừa dối dư luận mãi mãi được.

Tuy bản văn của “Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế” mà Võ Văn Ái làm giám đốc chẳng có giá trị gì, nhưng chúng ta hãy điểm qua vài điều trong đó để thấy rõ thực chất con người và trí tuệ của Võ Văn Ái như thế nào.  Mở đầu, bản văn viết:

Mấy ngày vừa qua, nhiều Báo, Ðài quốc tế và thân hữu khắp nơi gọi về Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế hỏi ý kiến và yêu cầu bình luận về chuyến viếng thăm Việt Nam trong vòng 3 tháng của Sư Ông Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai. Chúng tôi xin được trả lời chung về thái độ của chúng tôi như sau:”

Lẽ dĩ nhiên là Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế không cho chúng ta biết là những báo nào, đài quốc tế nào “ở khắp nơi” và những ai là thân hữu, và tôi cũng không hiểu là Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế có ghi lại những cú điện thoại đó để làm bằng chứng hay không.  Vì viết một câu rất mù mờ, không ai có thể kiểm chứng được, nên tôi cho là những người gọi và người trả lời là một.  Không lẽ tự nhiên lên tiếng khi không có ai mời hỏi, cho nên phải có người hỏi thì mới có cớ để mà bày tỏ thái độ.  Nhưng viết như vậy là coi thường độc giả.  Bởi vì, một câu hỏi sẽ được đặt ra: “Trong ban biên tập các báo chí và các đài quốc tế ở khắp nơi, không có ai có đủ khả năng để đưa ra một ý kiến hay bình luận về chuyến hồi hương của Thầy Nhất Hạnh hay sao mà phải hỏi ý kiến và yêu cầu Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế bình luận? Vậy thì làm báo để làm gì?  Để nói láo ăn tiền?  Và dựng lên những đài quốc tế để làm gì?  Để mỗi khi có một biến cố nào xảy ra thì đi yêu cầu Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế bình luận hay sao?”   Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế có nghĩ là mình đang mạ lỵ, hạ thấp các báo chí và các đài quốc tế ở hải ngoại, lẽ dĩ nhiên, không?

Nhưng Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế đã phê phán như thế nào, khoan nói đến chuyện Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế có đủ tư cách để “phê phán” chuyến đi của Thầy Nhất Hạnh và Tăng Thân Làng Mai hay không?  Đọc kỹ bản văn của Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế chúng ta thấy rõ Võ Văn Ái nhằm hai mục đích: Tố Cộng và xuyên tạc chuyến đi của Thầy Nhất Hạnh về Việt Nam hành hương và thuyết giảng Phật Pháp.

Thật vậy, cứ cho là có các báo và đài quốc tế hỏi ý kiến và yêu cầu bình luận, nhưng phần lớn trong bài trả lời của Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế là để tố Cộng bằng những luận điệu cũ rích, nhai đi nhai lại như cái rẻ rách.  Đó chẳng phải là ý kiến hay bình luận về chuyến đi của Thầy Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai cùng các Phật tử, mà thực chất chỉ là những lời “chống Cộng thuê” rẻ tiền đã lỗi thời.

Bày tỏ ý kiến và bình luận về chuyến hành hương và thuyết giảng Phật Pháp của Thầy Nhất Hạnh, một tu sĩ Phật Giáo Việt Nam nổi tiếng trên thế giới về chủ trương hòa bình, hiểu và thương v..v.. chúng ta phải xét đến ảnh hưởng của chuyến đi đó trên người Việt Nam ở trong nước như thế nào, phân tích trên mọi khía cạnh.  Dựa trên cái gì để mà phân tích?  Trước hết phải xét đến những yếu tố nào đã khiến cho chuyến đi này được thực hiện.  Thứ đến là phải xét đến chương trình hoạt động của Thầy Nhất Hạnh trong thời gian ở Việt Nam.

Phân tích vấn đề, điều đầu tiên chúng ta cần phải để ý đến là: Thầy Nhất Hạnh đã muốn trở về Việt Nam hoằng Pháp và trực tiếp hướng dẫn tu học cho Phật tử quốc nội từ lâu và đã có những cuộc vận động để cho Nhà Nước cho phép Thầy về chứ không phải là Nhà Nước mời Thầy về.  Việc này thật là rõ ràng khi chúng ta biết, tin Thầy Nhất Hạnh sắp về Việt Nam vào mùa Xuân Ất Dậu đã được tung ra sớm, nhưng rồi đến tháng 10, 2004, lại có tin Nhà Nuớc rút lại quyết định cho Thầy về vì không thỏa thuận với một số điều kiện của Thầy.  Sau đó Thầy Pháp Ấn và một vài Thầy khác ở Làng Mai về Việt Nam thương thuyết, điều đình với Nhà Nuớc để đi đến một thỏa hiệp về chương trình hành hương và thuyết giảng Phật Pháp và hướng dẫn tu học của Thầy Nhất Hạnh trong ba tháng Thầy ở Việt Nam.  Như vậy mà Võ Văn Ái viết là :

Xem như thế thì chuyến đi của Sư Ông Thích Nhất Hạnh chỉ nhắm vào hai mục tiêu: [mục tiêu thứ nhất là] Ðồng lõa với Ðảng và Nhà cầm quyền Hà Nội che giấu cuộc đàn áp khốc liệt Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất...”

Bỏ qua những yếu tố tạo thành chuyến đi của Thầy Nhất Hạnh, và khi mà chương trình hoạt động của Thầy Nhất Hạnh chưa thực hiện, chưa biết là Thầy Nhất Hạnh sẽ làm gì, nói gì ở Việt Nam mà Võ Văn Ái đã lên tiếng phê phán chuyến đi của Thầy thì phê phán cái gì.  Lời phê phán trên thật ra chỉ là điều cố tình xuyên tạc một cách vô ý thức nếu không muốn nói là đần độn của một tên đầu cơ chính trị, không biết đến liêm sỉ là gì, dùng thủ đoạn “côn đồ văn hóa” [từ của Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang] để đánh phủ đầu, xuyên tạc trắng trợn sự thật để chụp mũ một vị Thấy đáng kính của đa số người Việt Nam và của cả thế giới. Thật vậy, đồng lõa là toa rập cùng nhau để làm một điều gì đó.  Đồng lõa không bao giờ phải qua những cuộc vận động, thương thuyết, điều đình để đi đến một thỏa hiệp về một vấn đề nào đó. Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc tế do Võ Văn Ái làm giám đốc thao túng thật là một lưỡi dao đâm vào sau lưng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất hải ngoại, hay Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, khi tung ra những bản văn quá thấp kém về từ cũng như về  ý như trên.

Thế còn mục tiêu thứ hai của chuyến đi của Thầy Nhất Hạnh là gì?  Theo Võ Văn Ái thì:

Thứ hai, là phát triển tại Việt Nam Dòng Tiếp Hiện của Sư Ông. Ðây là dòng phái mới trong lịch sử Phật giáo Việt Nam hiện đại cho phép chư Tăng, Ni có quyền lập gia đình.”

Ở đây, Võ Văn Ái đã để lộ cái bộ mặt thực của mình, mục đích là xuyên tạc dòng tu của Thầy Nhất Hạnh, không biết đến liêm sỉ là gì. Thật vậy, Võ Văn Ái đã dựa theo văn bản nào của dòng Tiếp Hiện để mà viết như trên.  Tôi không thấy ở đâu và cũng chưa nghe ai nói là Dòng Tiếp Hiện của Thầy Nhất Hạnh cho phép chư Tăng, Ni có quyền lập gia đình.  Vì thực ra Dòng Tiếp Hiện là dành cho Cư Sĩ, những Phật tử chưa có hoặc đã có gia đình, thọ 14 Giới của Dòng Tiếp Hiện trong khi các Phật tử quy y chỉ thọ có 5 giới,  chứ không phải là cho những người xuất gia. 

Thật vậy, Vào trang nhà tiếng Anh “Plumvillage”, chúng ta có thể thấy đoạn sau đây về giới xuất gia theo Dòng Tu của Thầy Nhất Hạnh:

Sống Đời Sống Xuất Gia Dưới Sự Hướng Dẫn Của Thiền Sư Nhất Hạnh:

“Dưới 18 tuổi phải được phép của cha mẹ.  Phải hiểu rằng Tăng và Ni trong truyền thống Thích Nhất Hạnh sẽ sống độc thân suốt đời và sẽ sống, hành trì, giảng dạy cùng với Tăng đoàn chứ không sống, hành trì và giảng dạy như là những cá thể.”

(Living Monastic Life under the guidance of Zen Master Thich Nhat Hanh.

Under 18, permission from parents is required. It is understood that monks and nuns in Thich Nhat Hanh's tradition will be celibate for all their life and will be living, practicing and teaching with the sangha and not to live, practice and teach as individuals.)

Và trong trang nhà Làng Mai, trong 10 giới điều cho Sa Di, có giới thứ ba như sau:

Giới thứ ba là bảo vệ tiết hạnh:

Ý thức được rằng lý tưởng của người xuất gia chỉ có thể thực hiện được với sự cắt bỏ hoàn toàn những ràng buộc đối với ái dục, con nguyện giữ mình thật tinh khiết, tự bảo vệ nếp sống phạm hạnh của con và hết lòng bảo vệ tiết hạnh của kẻ khác. Con biết hành động dâm dục sẽ làm tan vỡ cuộc đời xuất gia của con, làm hại đến cuộc đời của kẻ khác, và không cho con thực hiện được lý tưởng cứu độ chúng sanh của mình. “

Báo Người Việt ở Cali., sau khi trích đăng vội bài trả lời của Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc tế  của Võ Văn Ái, số 6984 ngày 20 tháng 1, 2005, cũng đã lên tiếng đính chính là Dòng Tiếp Hiện của Thầy Nhất Hạnh không chủ trương cho phép Tăng, Ni được quyền lập gia đình, và đã xin lỗi Phật tử và các độc giả vì đã đăng lên điều bịa đặt láo lếu này của Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc tế.   Điều khó hiểu đối với tôi là trong báo Người Việt ít ra cũng có vài đệ tử của Thầy Nhất Hạnh với Pháp danh bắt đầu bằng chữ “Chân” mà tại sao lại phải trích đăng một câu quá sai sự thật như vậy?

Vậy, dựa vào đâu mà Võ Văn Ái có viết lên được câu về Dòng Tiếp Hiện của Thầy Nhất Hạnh là: “dòng phái mới trong lịch sử Phật giáo Việt Nam hiện đại cho phép chư Tăng, Ni có quyền lập gia đình. nếu không phải một trong những thủ đoạn vặt, vô liêm sỉ, xuyên tạc sự thật của Võ Văn Ái đã nổi tiếng trên diễn đàn hải ngoại?  Võ Văn Ái nấp sau bình phong Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế để mà tự tung tự tác, làm ô nhục lây đến Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại và Văn Phòng II Viện Hóa Đạo qua những thủ đoạn bất lương trí thức như tôi vừa phân tích ở trên.  Tại sao Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại hay Văn Phòng II Viện Hóa Đạo còn tiếp tục dùng Võ Văn Ái làm giám đốc Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế?  Hay sự thật cái Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế này chỉ do chính Võ Văn Ái dựng lên và tự khoác cho mình cái chức giám đốc?  Tôi hi vọng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại và Văn Phòng II Viện Hóa Đạo sẽ lên tiếng để làm sáng tỏ vụ này.  Im lặng sẽ không giải quyết được vấn đề, nếu không muốn nói là chấp nhận cả Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại và Văn Phòng II Viện Hóa Đạo đều nằm trong sự thao túng của Võ Văn Ái.

Vấn đề thứ hai chúng ta phải xét đến là Thầy Nhất Hạnh về Việt Nam để làm gì, và chương trình sinh hoạt của Thầy trong vòng 3 tháng ở Việt Nam như thế nào.  Võ Văn Ái viết phủ đầu như sau:

“Chẳng có chút tự do thăm viếng hay truyền đạo gì trong chuyến đi của Sư ông Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai này...  Tuyệt nhiên trong bản chương trình sinh ho ạt ba tháng được phổ biến rộng rãi ở Việt Nam, không có một kho ản nào cho cuộc thăm viếng hàng giáo phẩm lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.”

Chúng ta hãy bỏ qua sự kiện là về phương diện pháp lý, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất   đã không còn tồn tại ở Việt Nam nhưng về phương diện tình cảm thì Giáo hội này vẫn còn tồn tại trong lòng của nhiều Phật tử ở miền Nam, ít ra là trong lớp người trung niên hoặc đã lớn tuổi.  Nhưng những điều Võ Văn Ái viết như trên có đúng không?  Điều rõ ràng là Võ Văn Ái đã viết láo.  Chứng minh?

Nhìn vào lịch trình của phái đoàn Làng Mai, đúng như Tiến sĩ Lý Khôi Việt đã phát biểu:

“Lịch trình của phái đoàn Làng Mai tại Việt Nam chú trọng đến những khóa tu nhiều ngày cho tăng ni, cũng như cư sĩ Phật tử tại gia. Đây là một bước khởi đầu đầy khích lệ cho thấy đây là một chuyến đi mang tính tâm linh và văn hóa để đổi mới đạo Phật, đổi mới tinh hoa và cốt tủy của văn hóa truyền thống Việt Nam, để cho nó thêm sức sống, thích hợp với thời đại.”

Tưởng chúng ta cũng nên biết là Thầy Nhất Hạnh sẽ thuyết giảng những gì ở Việt Nam ngoài những khóa Thầy trực tiếp hướng dẫn tu tập?  Sau đây là những chủ đề thuyết giảng:

-    Cuộc phối hợp tuyệt hảo của tuệ giác đạo Bụt và thờ cúng tổ tiên tại Việt Nam.

-    Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam

-    Tuổi Trẻ - Tình Yêu - Lý Tưởng

-    Vai trò của Phật giáo trong xã hội đương đại

-    'Tương lai của đạo Bụt ở Âu, Úc và Mỹ Châu'

-    Thiết lập lại truyền thông giữa hai thế hệ, nối kết hai nền văn hóa và dựng lại tình thâm trong gia đình

-    Truyền thống Thiền tập của Phật Giáo Việt Nam

-    Những phép thực tập hữu hiệu để điều phục cơn giận và tái lập truyền thông

-    Ðón chào Ðức Từ Thị Di Lặc, đức Phật của thương yêu, đức Phật của thế kỷ chúng ta

-    Tương lai và sự phát triển của Phật giáo tại Tây phương

-    Tuệ giác Phật Giáo trong Truyện Kiều và sự áp dụng vào đời sống hằng ngày

-    Bản chất của Tình Yêu

-    Văn hóa Việt Nam có thể đóng góp những gì cho sự an vui và hòa bình của thế giới hiện tại ?

-    Vai trò của các Tôn Giáo trong việc giúp lành mạnh hóa xã hội

-    Truyền thống Thiền tập của Phật Giáo Việt Nam

-    Truyện Kiều dưới cái nhìn thiền quán

-    Tương lai văn hóa Việt Nam

-    Thương yêu theo phương pháp Bụt dạy

-    Tây phương đang tiếp nhận đạo Bụt như thế nào ?

Ngoài ra Thầy Nhất Hạnh còn thuyết giảng và hướng dẫn tu học ở nhiều Chùa, nhiều tổ chức cơ sở trên ba miền đất nước cũng như đi thăm viếng rất nhiều Chùa, di tích lịch sử văn hóa dân tộc.

Đài quốc tế BBC có phỏng vấn Thạc Sĩ Nguyễn Bá Chung, chuyên gia nghiên cứu văn hóa Việt Nam, hiện đang ở Boston, về chuyến đi của Thầy Nhất Hạnh.  Theo Thạc sĩ Nguyễn Bá Chung thì chuyến về Việt Nam của Thầy Nhất Hạnh là một “duyên, hạnh nguyện tốt đẹp không những riêng cho Thầy Nhất Hạnh mà còn cho cả người dân trong nước cũng như ở hải ngoại.”  Thạc sĩ Chung cũng nhận định là ngày nay Nhà Nước Việt Nam đã nhận thức được là một mình Nhà Nước không thể quán xuyến nổi vấn đề nâng cao văn hóa, đạo đức xã hội, mà cần đến sự tiếp tay của Phật Giáo, và một khuôn mặt chói sáng về trí tuệ và đạo đức trong Phật Giáo ngày nay là Thầy Nhất Hạnh.  Đây là một tầm nhìn về tương lai xa của Nhà Nước cũng như của Thầy Nhất Hạnh trong chiều hướng giáo dục người dân để người dân có được sự tự hào của nền văn hóa Việt Nam, tự mình có được hạnh phúc và do đó đưa đến hạnh phúc chung của xã hội.

Để kết thúc bài viết này, tôi xin trích dẫn vài đoạn trong bài viết của phóng viên Kay Johnson trên tạp chí Time, số báo ghi ngày 24-1-2005, Vol. 165, No.3., nhan đề “A Long Journey Home” (Một cuộc Hành Trình Dài Về Quê Hương), như sau:

“Một vị thầy Phật Giáo nổi tiếng ở Tây Phương được cho phép từ nơi lưu vong về thăm quê.

Đó là một chuyến hồi hương thích nghi với hoàng gia hay ngôi sao nhạc rock hơn là một nhà sư. Khoảng 1,000 Phật Tử hay nhiều hơn đứng chờ trong buổi sáng lạnh giá ở Phi Trường Nội Bài, Hà Nội, ôm các bó hoa, hát các bài ca, và chen chúc để nhìn rõ hơn.

... Theo lời James Shaheen, chủ bút và là chủ nhiệm tạp chí Phật Giáo Mỹ Tricycle, thì: “Ở phương Tây, sư Nhất Hạnh là một biểu tượng. Tôi không thể nghĩ ra một  Phật Tử Tây Phương nào mà không biết sư Nhất Hạnh.”
Bây giờ, người Việt đang có cơ hội làm quen lại với HT Nhất Hạnh... Sau hơn 1 năm thương thuyết, Hà Nội cho sư và 200 đệ tử trở về trong 3 tháng thăm quê và giảng dạy. (Chính phủ cũng cho 4 sách của sư được in.)

Ngồi trên 1 tấm đệm trong ngôi chùa ngụ tạm, HT Nhất Hạnh không lộ vẻ dao động bởi mọi chú ý mà sư đang gặp... Sư nói, sư dự định viếng thăm các nhà sư đang bị giam giữ [hay quản thúc] cũng như thăm các lãnh đạo giáo hội nhà nước, và hy vọng chuyến đi của sư sẽ làm dịu đi thái độ chính phủ đối với tôn giáo. Các lãnh tụ của Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất, cơ chế mà HT Nhất Hạnh rời bỏ để lập riêng dòng thiền của sư, đã bị quản thúc tại gia hầu hết trong 20 năm qua.

Các phân tích gia nói là việc Hà Nội bố ráp các Phật Tử và Cơ Đốc Nhân ngoài-vòng không phải là vì lý thuyết vô thần CS, mà chỉ là lo ngại về chính trị. “Không phải chuyện lo sợ chuyện tôn giáo,” theo lời Tiến Sĩ David Koh, chuyên gia về VN tại Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á ở Singapore. “Đó là nỗi lo sợ tôn giáo bị lợi dụng bởi ngoại nhân để lật đổ chính phủ CSVN.”

HT Nhất Hạnh, với thái độ trầm lặng của 1 thiền sư, nói là sư không lo ngại về chuyện bị lợi dụng như 1 công cụ tuyên truyền. “Có thể như thế lắm,” Sư nhìn nhận. “Nhưng cách suy nghĩ của tôi không bị ảnh hưởng bởi các chuyện đó.” Sư nói, mục tiêu của sư là để xua tan đi nỗi lo của chính phủ rằng tình hình Phật Giáo độc lập là một hiểm họa. Sư nói, “Để cho tự do được thành hình, chúng ta nên gỡ bỏ sợ hãi, ngộ nhận và phân biệt.”

 

     

    


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com