
| THẦY NHẤT
HẠNH: TSUNAMI - CHUYẾN VỀ VIỆT- Trần Chung Ngọc Ngày 26 tháng
12, 2004, một trận thiên tai Tsunami đã xảy ra tại Nam Á, cho tới ngày nay
con số tử vong đã lên tới sấp sỉ hai trăm hai mươi ngàn (220000), trong
đó gần một phần ba là trẻ con. Đầu năm 2005,
sau gần 40 năm sống ở nước ngoài, Thầy Nhất Hạnh đã trở về Việt
Nam, thực hiện một hoài bão có lẽ đã ấp ủ trong tim từ lâu: thuyết
giảng Phật Pháp cho người Việt nơi
quê nhà, tự mình hướng dẫn tu học cho người Phật tử trong nước, cùng
lúc góp phần làm cho đất nước ngày càng tốt đẹp hơn về vấn đề xã
hội, gìn giữ nền văn hóa Việt Nam. Bài
viết này là những suy tư của tôi về bài Pháp “Ôm Lấy Niềm Đau
Sau Trận Hải Chấn [Tsunami]” của Thầy Nhất Hạnh, và về chuyến hoằng dương Đạo Pháp của
Thầy nơi quê nhà. I. ĐÔI LỜI VỀ THẦY NHẤT HẠNH: Đối với tôi, Thầy Nhất Hạnh quả thật là một niềm hãnh diện cho Phật
Giáo Việt Nam, nếu không muốn nói là cho tuyệt đại đa số người dân
Việt Nam, ở trong nước cũng như ở hải ngoại.
Trong tinh thần Phật Giáo, rất có thể có một số Phật tử,
tôi là một trong số này, đôi khi không đồng ý với Thầy về một vài
điểm nào đó, không phải là về Phật Pháp mà là về những vấn đề khác,
thí dụ như về Ki-tô Giáo. Nhưng xét
về toàn thể những đóng góp của Thầy cho cộng đồng thế giới, cho Phật
Giáo nói chung, cho Phật Giáo và dân tộc Việt Nam, và nhất là cho hòa
bình của Việt Nam nói riêng, chúng ta không thể phủ nhận sự kiện là,
trong thời cận đại, hiếm có một tăng ni Việt Nam nào có thể sánh ngang
với Thầy. Thật vậy, Thầy Nhất Hạnh
đã từng đi thuyết giảng Phật Pháp và dạy phương pháp Thiền quán trong
nhiều quốc gia ở Đông Âu như Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi v..v.., ở
Nga và Trung Quốc, khối Cộng Sản trước đây, chưa kể là những nước
khác ở Âu Châu cũng như Bắc Mỹ. Ngoài
ra, Thầy cũng còn được mời để hướng dẫn tu tập cho một số dân biểu
Quốc Hội Mỹ, cho các cựu chiến binh Mỹ, và cho các nhân viên cảnh sát
ở bang Wisconsin. Đệ tử của Thầy gồm
có những người trong nhiều quốc gia khác nhau cũng như trong nhiều tín ngưỡng
khác nhau thí dụ như Ki-tô Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo, Ấn độ Giáo
v..v.. Đó là chưa kể Thầy là tác giả
của cả trăm tác phẩm có giá trị, được dịch ra nhiều thứ tiếng, và
đều thuộc loại sách bán chạy nhất (best sellers). Thầy không chỉ là một nhà tu Phật Giáo
mà còn là một nhà văn, nhà thơ. Ở đây tôi sẽ không nhắc đến
tiểu sử của Thầy Nhất Hạnh, nghĩa là những chi tiết về Thầy xuất
thân từ đâu, sinh năm nào, xuất gia năm nào, học trường nào, bằng cấp
ra sao, đã giữ những chức vụ gì v..v.. Đối
với tôi, những chi tiết này không phải là những tiêu chuẩn quyết định
để đánh giá một Thiền sư. Trong lịch sử thế giới ngày nay cũng như
khi xưa, chúng ta thấy không thiếu gì những bậc được gọi là "lãnh
đạo tôn giáo" có bằng cấp, chức tước, địa vị thật cao, mũ mãng
cân đai, áo đỏ, áo tím, áo đen, áo trắng v..v.., nhưng thực chất chỉ là
những nô lệ tâm linh, đạo đức thấp kém.. như lịch sử các tôn giáo
đã chứng minh. Đối với người Việt Nam,
khi viết về Thầy Nhất Hạnh, chúng ta không thể bỏ qua những hoạt động
của Thầy trong thập niên 60, khi mà chiến tranh đang tàn phá đất nước
Việt Nam, cả về sinh mạng lẫn vật chất, những hoạt động đã khiến
cho cả thế giới biết đến Thầy, từ Giáo Hoàng Paul VI của Ca Tô Giáo
Rô Ma, cho tới những nhân vật lãnh đạo quân sự, ngoại giao và tôn giáo
của Hoa Kỳ và một số quốc gia trên thế giới. Chúng ta hãy trở lại đầu thập
niên 60, khi mà chính quyền Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam đang dung dưỡng
cho những giám mục, linh mục Ca Tô Việt Nam thao túng chính trường và thị
trường, cùng xuống tay tiêu diệt mọi đảng phái đối lập, bức hại các
tôn giáo phi Ca-Tô trong đó có Phật Giáo. Trong
hoàn cảnh miền Nam Việt Nam bị đắm chìm trong chiến tranh, và toàn dân miền Nam sống trong bức màn
đen tối dày đặc của ý thức hệ Rô-Ma (Dr. Barnado: In the thick darkness of
Romanism), một ý thức hệ tôn giáo trị của thời Trung Cổ mà Phán Quan
Ngô Đình Diệm cùng những nô lệ tâm linh của Vatican đang cố gắng triệt
để thi hành, thì ngày 11 tháng 6, 1963: Ngọn lửa từ bi bốc lên từ nhục
thân Bồ Tát Thích Quảng Đức đã có tác dụng soi sáng và thức tỉnh lương
tâm nhân loại, kết quả là xua đi bóng tối của vô minh và tàn bạo
không bao lâu sau đó. Thật vậy, năm tháng sau, chế
độ Ngô Đình Diệm Ca Tô độc tài, tôn giáo trị, gia đình trị, phi tự
do, phi dân chủ, một chế độ mà tuyệt đại đa số người dân miền Về tới nước, Thầy Nhất Hạnh
bắt tay ngay vào việc trong đường hướng "Phật Giáo Dấn Thân"
hay "Phật Giáo Đi Vào Cuộc Đời", một đường hướng đáng lẽ
Phật Giáo Việt Nam đã phải thực hành từ lâu.
Thầy là một trong những sáng lập viên của Viện Đại Học Vạn
Hạnh với tiêu chỉ "Duy Tuệ Thị Nghiệp" của Phật Giáo. Thầy cũng là người sáng lập Trường
Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội năm 1965 để huấn luyện thanh niên thiện nguyện
Việt Ngoài ra, Thầy Nhất Hạnh cũng
còn làm chủ bút của tuần báo Thiện Mỹ
của Phật Giáo. Nhà xuất bản Lá Bối ra đời và phổ biến những tác
phẩm, thơ văn của Thầy, và những tác phẩm Phật Giáo. Đặc biệt là, Thầy cùng một số tăng trẻ
đã cùng với một số linh mục và giáo dân cấp tiến tạo nên phong trào
Sống Đạo và cho ra tờ báo Sống Đạo. Đây là một thành quả có tầm vóc lịch
sử nếu chúng ta xét đến sự thù nghịch lịch sử giữa hai tôn giáo lớn
ở Việt Chiến tranh Việt Một cơ hội đã tới. Do lời mời của đại học Cornell, Thầy
Nhất Hạnh đã được phép xuất ngoại. Chuyến
đi sang Mỹ của Thầy đã trở thành chuyến du thuyết cho hòa bình trên khắp
thế giới, nhưng buồn thay, đó cũng là chuyến đi mở đầu cho cuộc đời
lưu vong của Thầy. Những hoạt động cho hòa bình của Thầy
đã làm cho Thầy trở thành đối tượng chống đối và vu khống của cả
hai phe trong cuộc chiến. Thầy đã bị
báo chí và đài phát thanh Đó là giáo hoàng Paul VI, người
đã tuyên bố ở giữa hội trường Liên Hiệp Quốc: Hãy ngưng
ngay cuộc chiến (ở Việt Đó cũng là Tổng Thư Ký Liên
Hiệp Quốc U Thant, sau khi quan sát tình hình, đã tuyên bố: Cuộc chiến chênh lệch giữa kỹ thuật Hoa Kỳ
và một nước nhỏ kém mở mang (VN) là một trong những cuộc chiến "man rợ
nhất" của lịch sử. (The Secretary of the United Nations, U Thant, was
driven by his observations to call this mismatch between the Đó cũng là 2700 mục sư Tin Lành,
linh mục Công giáo, mục sư Do Thái
(Rabbi) đã ký tên dưới một bức thư gửi Tổng
Thống Johnson, đăng trên tờ The New York
Times ngày 4 tháng 4 năm 1965 kêu gọi: "Nhân danh Thiên Chúa, Hãy ngưng ngay chiến
tranh" (In the Name of God, STOP IT). Đó cũng là 65 giáo sư đại học
Saigon, ngày 16 tháng 1, 1968, với bản tuyên ngôn kêu gọi "Các phe hiếu chiến hãy kéo dài vô thời
hạn cuộc ngưng chiến vào dịp Tết và đàm phán với nhau ngay để có một
dàn xếp hòa bình." (We appeal to all the belligerent parties to extend
indefinitely the Tet cease fire and to negotiate immediately a peaceful settlement). Trong số trí thức kêu gọi hòa bình
này có cô Cao Ngọc Phượng, ngày nay là Sư Cô Chân Không (Tôi thường gọi
là La Religieuse aux pieds nus). Và còn những bậc trí thức
vang danh thế giới như Bertrand Russell, Jean Paul Sartre, Martin Luther King, hàng
trăm giáo sư đại học trên khắp thế giới, hai anh em cùng là linh mục
Công giáo Daniel và Philip Berrigan, chưa kể đến hàng trăm ngàn sinh viên đại
học Mỹ đã thường xuyên xuống đường "phản chiến". Vậy "phản chiến" thì sao? Ai có quyền "kết tội" những người
"phản chiến"? Ngày nay, khi nhìn những di hại
của cuộc chiến trên đất nước Việt Nam, cùng đọc lại lịch sử cuộc
chiến ở Việt Nam qua những tài liệu đã được giải mật cũng như qua hàng
trăm tác phẩm của các học giả, giáo sư đại học, ký giả, cựu quân
nhân và tướng lãnh Mỹ, kể cả Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara v..v..
chúng ta thấy rõ cuộc chỉến ở Việt Nam sau Hiệp Định Genève là một
cuộc chiến sai lầm do Mỹ gây nên, như trên đã nói, Tổng Thư Ký Liên Hiệp
Quốc U Thant gọi đó là “một trong những cuộc chiến "man rợ nhất"
của lịch sử”, và sau 30 năm người
Pháp vẫn gọi đó là một cuộc “chiến tranh nhơ bẩn” (La Sale
Guerre) [Xin đọc bài Người Mỹ ở Việt Nam: Bộ Máy Nghiền Thịt
(Les Américains au Vietnam: l’Engrenage) của Jacques Dallos, Thạc Sĩ Sử Học,
Tiến Sĩ Sử Học, và bài Chiều Sâu của “Cuộc Chiến Nhơ Bẩn”
(Au Coeur de la “Sale Guerre”) của André Kaspi, Giáo Sư Đại Học Paris-Panthéon-Sorbonne
trong tập “Les
Collections de L’Histoire” (tạm dịch là Những Bộ Sử), số 23,
Avril-Juin 2004, xuất bản tại Paris], chúng ta cần phải cám ơn những người
“phản chiến” đã can đảm, không sợ nguy hại đến bản thân, tích cực
góp phần trong công cuộc thức tỉnh lương tâm nhân loại và người dân Mỹ
để cuộc chiến phải đi đến kết thúc. Với vài nét về Thầy Nhất Hạnh
như trên, tôi nghĩ cũng đủ để cho chúng ta thấy Thầy Nhất Hạnh là mẫu
người như thế nào. Những đóng góp của Thầy cho Phật Giáo nói chung, Phật
Giáo Việt Nam nói riêng, kể từ 1975 đến nay, những đóng góp văn hóa cũng
như những đóng góp thiết thực trong vấn đề tu tập thật là quá lớn
để có thể đi vào chi tiết. Những
đóng góp này đã được thế giới và người Việt Nam, ở trong nước
cũng như ở hải ngoại, biết đến nhiều, qua số đệ tử ngoại quốc đông
đảo của Thầy cũng như những cuộc hoằng dương Đạo Pháp của Thầy
trong nhiều nước trên thế giới. Muốn biết tất cả những chi tiết về
Thầy Nhất Hạnh, độc giả có thể vào trong Google, đánh chữ Thich Nhat
Hanh thì sẽ thấy xuất hiện mười mấy ngàn bài viết về Thầy. II. THẦY
NHẤT HẠNH VÀ TSUNAMI. Tháng 1, 2005, trang nhà Giao Điểm
có đăng một bài Pháp Thiền Sư Thích Nhất Hạnh giảng tại Làng Mai Xóm
Thượng, Chùa Pháp Vân ngày 30 tháng 12 năm 2004:
“Ôm
Lấy Niềm Đau Sau Trận Hải Chấn”, sau thiên tai Tsunami (sóng thần
gây nên bởi động đất dưới lòng biển) sáng ngày 26/12/2004 tại Nam Á. Trước
khi về Việt Nam 12 ngày, Thầy Nhất Hạnh đã có một bài Pháp tuyệt vời,
nói lên một tiếng nói hiếm hoi của Phật Giáo về thiên tai Tsunami ở Nam
Á, một tiếng nói rất cần thiết để con người ý thức được vị trí
của mình trong vũ trụ, và trong thế giới loài người hỗn loạn mà, như
Thầy đã viết trong bài “Kẻ Thù Ta”: “kẻ thù
ta không phải là người, mà là cuồng tín, hận thù, tham vọng và bạo động.” Đọc báo Mỹ, lẽ dĩ nhiên
là chỉ giới hạn trong một số báo, tôi không thấy ý kiến của một bậc
lãnh đạo Phật Giáo nào có uy tín như Thầy Nhất Hạnh về thiên tai
Tsunami ở Nam Á. Trong tờ Newsweek, số
ngày 10 tháng 1, 2005, tôi chỉ thấy vài lời phát biểu ngắn ngủi của
Giáo sư Phật Học Donald Lopez, đại học Michigan, và không phải là chuyện
lạ khi chúng ta thấy những lời phát biểu của Giáo sư Lopez rất phù hợp
với tư tưởng của Thầy Nhất Hạnh trong bài Pháp. Giáo sư Lopez phát biểu: “Người
Phật tử sẽ quán chiếu vào ý tưởng “nghiệp” và tự hỏi là mình đã
làm gì, về phương diện cá nhân cũng như tập thể (biệt nghiệp và cọng
nghiệp), để cho thảm trạng như vậy xảy
ra (Buddhists will look to the idea of Karma and ask what they did, individually and
collectively, that a tragedy like this happened?). Sự quan tâm chính của Phật tử là tạo
công đức để có thể hồi hướng cho những người bị tử nạn, một hành
động để tạo nên một nguồn xung lực tốt đẹp trong đời sau của các
nạn nhân. Với mục đích này, người
Phật tử sẽ đến Chùa làm lễ cầu siêu cho những người tử nạn và hồi
hướng công đức cho họ. Chủ lễ cầu
siêu thường là một Tăng, Ni đóng vai trò trung gian trong lễ tiết cầu
siêu và hồi hướng công đức.” Trong thế giới các Thần Giáo
(Do Thái, Hồi Giáo, Ki-tô Giáo, Ấn Độ Giáo), các bậc lãnh đạo tôn
giáo có vẻ như rất bận tâm về vấn
đề liên hệ và trách nhiệm giữa “Thiên Chúa và Tsunami” và tìm cách
giải thích hoặc để tự an ủi, hoặc để nuôi dưỡng đức tin, hoặc để
vinh danh Thiên Chúa trên trời. Chúng ta
thử điểm qua vài lời giải thích điển hình: Ông Rabbi Do Thái Shlomo Amar: “Thế giới đang bị [Thiên Chúa] trừng phạt vì những việc sai lầm – hoặc
là thù hận nhau không cần thiết, hoặc không có lòng từ thiện, hoặc sa
đọa về luân lý” Ông Pandit (Ấn Giáo) Harikrishna Shastri cho rằng tai họa
trên xảy ra là vì “những sự xấu ác chồng
chất trên trái đất” và “vị trí của
những hành tinh” (positions of the planets). Sheikh Ibrahim Mogra, một ông thầy tu lãnh đạo Hồi giáo
ở Ông Linh mục Robert Barron, Giáo sư trường Dòng Ca-tô
Mundelein: “Quan
điểm trong Kinh Thánh và trong truyền thống Ki-tô là Thiên Chúa cho phép những
sự xấu ác xảy ra để từ đó có
được những sự tốt đẹp hơn (The biblical and traditional Christian
view is that God permits evil so that to bring out of it a greater good.) “Tại sao? Chúng
ta không biết. Đó là ý thức được
là sự hiểu biết vô cùng giới hạn của chúng ta về những ý định của
Thiên Chúa.” (Why? We don’t
know, and that’s an acknowledgment of our extremely limit grasp of what God is up to) [Một
câu hỏi được đặt ra: Thiên Chúa toàn năng không còn cách nào khác hay
sao mà phải giáng tai họa như Tsunami ở Nam Á lên đầu con người để từ
đó có thể có được những sự tốt đẹp hơn?
Đúng là lý luận Thần học mà thực chất là mạ ly chính
Thiên Chúa của mình. TCN] Ông Linh Mục Dominic Grassi
ở nhà thờ Ca-tô St Josaphat, Đọc những lời “giải thích”
cho các tín đồ như trên, tôi cảm thấy tội nghiệp cho các tín đồ Thần
giáo nếu họ tin vào những lời giải thích vô lý và kỳ quặc. Trong tờ Newsweek, Kenneth Woodward có viết một
câu rất chí lý: “Nhưng ngay cả sự chấp nhận sự bất hạnh
đã gắn sâu vào quan niệm về thế giới của Ki-tô Giáo, riêng cái chết
của quá nhiều trẻ con ngây thơ vô tội như vậy đã là một sự thử
thách vô cùng nhức nhối cho niềm tin Ki-tô về Thiên Chúa của họ như là
một Thiên Chúa của sự thương yêu.”
(But even though the acceptance of suffering is deeply embedded in the
Christian world view, the death of so many innocent children alone was an excruating test
of the Christian belief that their God is a God of love.)
Các tín đồ Ki-tô thường viện
câu chuyện trong sách Job trong Cựu Ước (Job bị Thiên Chúa, trong một trận
thách đấu với Satan, làm cho khốn khổ đủ điều, tài sản mất sạch,
nhưng vì giữ vững lòng tin Thiên Chúa nên sau cùng được Thiên Chúa đền
bù lại cho tất cả) ra để tự an ủi mỗi
khi gặp điều bất hạnh xảy ra cho mình, tin rằng đó là sự thử thách của
Thiên Chúa, và nếu cứ vững lòng tin vào Thiên Chúa thì sẽ có ngày Thiên
Chúa sẽ đoái thương và đền bù cho mình. Nhưng tin rằng Thiên Chúa dùng
cái chết của mấy chục ngàn đứa trẻ ngây thơ, hồn nhiên, vô tội để
thử thách lòng tin của tín đồ thì đó là một luận điệu thần học mà
chỉ có những người không có đầu óc mới tin được. Nó vô lý kỳ quặc ở chỗ là, qua những
lời giải thích trên và trên thực tế, không một người nào, từ Giáo
hoàng cho tới các bậc lãnh đạo Ki-tô Giáo, Do Thái Giáo hay Hồi Giáo biết
được Thiên Chúa ở đâu, đầu óc của Thiên Chúa như thế nào, ý định
của Thiên Chúa ra sao v.. v.. cho nên bất cứ họ nói gì về Thiên Chúa đều
chỉ là do sự tưởng tượng của đầu óc họ mà thôi. Cũng vì vậy mà ngay từ thế kỷ 4 Trước
Thường Lịch (TTL), triết gia Hi Lạp Aristotle đã viết: “Con người
tạo ra những Thiên Chúa theo hình ảnh của chính con người, không chỉ
theo hình dạng của con người mà còn theo lối sống của con người.”
(Men create gods after their own image, not only with regard to their form but with regard
to their mode of life.), và trong thế kỷ 18, nhà Đại Văn Hào Pháp Voltaire đã
đưa ra nhận định rất chính xác như sau: “Lời của
Thiên Chúa là lời của các linh mục [hay mục sư. TCN]; sự vinh quang của
Thiên Chúa là sự hãnh diện của các linh mục [hay mục sư. TCN]; ý của
Thiên Chúa là ý của các linh mục [hay mục sư. TCN]; xúc phạm Thiên Chúa
là xúc phạm các linh mục [hay mục sư. TCN]; tin vào Thiên Chúa là tin vào mọi
điều linh mục [hay mục sư. TCN] bảo chúng ta tin” (The word of God is
the word of the priests; the glory of god is the pride of the priests; the will of god is
the will of the priests; to offend god is to offend the priests; to believe in god is to
believe in all that the priests tell us.) Thiền sư Nhất Hạnh có cái nhìn khác về Tsunami. Thầy giảng: “Khi ta tìm ra được nguyên tắc biệt nghiệp cộng
nghiệp thì chúng ta đã có thể bắt đầu giải quyết được một phần rất
quan trọng của các vấn đề rồi. Nếu chúng ta đi về hướng của tuệ
giác vô ngã thì chúng ta sẽ từ từ tìm ra những câu trả lời xác đáng.” Đây là một đề tài quán chiếu và
không dễ gì cho con người hiểu thấu đáo được vì không phải ai cũng có
được tuệ giác vô ngã. Tôi hi vọng
quý độc giả đều đọc được bài Pháp trên của Thầy Nhất Hạnh và cũng
hi vọng từ đó chúng ta có thể rút tỉa ra những điều có thể giúp
chúng ta thăng tiến trong vấn đề tu tập. Trong bài Pháp Thầy Nhất Hạnh có kể
câu chuyện về nhà đại văn hào Victor Hugo, khi mất đi đứa con gái thân
yêu, đã kêu trước Thượng Đề: “Con đến
với Ngài, Thượng Đế ơi, người Cha mà con phải tin. Con mang đến cho Ngài, lòng bình thản, những
mảnh nát của trái tim đầy sự vinh quang của ngài, trái tim mà ngài đã
đập nát ra thành từng mảnh.” (Je viens à vous, Seigneur, Père auquel il faut
croire. Je vous porte, apaisé, les morceaux de ce coeur tout plein de votre gloire que
vous avez brisé). Hiển nhiên, với lời kêu sắc bén và
chứa nhiều hàm ý như trên, Victor Hugo không thể và cũng không muốn mình
là Job trong Cựu ước. Và tôi tin rằng,
sau trận thiên tai Tsunami ở Nam Á, cũng không thiếu gì người mang trái tim
vụn nát của họ quỳ trước chân Thượng đế, và lẽ dĩ nhiên, họ cũng
đều không thể và cũng không muốn mình là Job trong Cựu Ước. Ai muốn mình là Job trong Cựu Ước, xin lên
tiếng. Trong bài Pháp, Thầy Nhất Hạnh nói: “Ở trong đạo Chúa, vấn đề này: tại sao Thượng Đế sinh ra thế giới muôn
loài mà lại để cho những thương đau như vậy xảy ra được? đã được đặt ra từ lâu. Đó là một
đề tài thần học có từ ngàn xưa.” Đề
tài này, tuy có từ ngàn xưa, nhưng trước sau vẫn không có giải đáp, vì
không có giải đáp nào tránh khỏi sự mâu thuẫn trong lý luận. Mục sư Brian Hiortdahl, Thật ra thì vấn đề “Thượng đế
và Tsunami” chỉ là vấn đề đối với những người vẫn còn tin vào sự
hiện hữu của một Thượng đế. Đối
với tuyệt đại đa số người trên thế giới ngày nay, kể cả số đông
trong các Thần giáo, không còn mấy người coi đó là một vấn đề. Điển hình là quan niệm của Bác Sĩ Deepak
Chopra, tác giả của hơn 40 tác phẩm mà nội dung là hướng dẫn tâm linh
con người và ngày nay có nhiều người theo con đường tâm linh đó. Khi được hỏi
(Time, số ngày 24/1/2005, trang 10) “Cái
chết của trên 150000 người trong trận Tsunami có ảnh hưởng gì đến hình
tượng về Thượng đế của chúng ta không?”, Bác sĩ Chopra đã trả lời: “Dù Tsunami có xảy
ra hay không thì thật ra hình tượng về Thượng đế của chúng ta dù sao cũng
đã không còn hợp thời rồi. (Actually, our image of God is outmoded anyway,
whether the Tsunami occurs or not) Tôn giáo đã trở thành chia rẽ, xung đột nhau và ngu
xuẩn (Religion has become divisive, quarelsome and
idiotic). Tôn giáo là
nguyên nhân mà chúng ta có tất cả những sự xung đột trên thế giới.
Chúng ta đã bóp nhỏ Thượng đế vào trong thể tích của một thân xác
và trong thời gian của một cuộc sống, cho Thượng đế một cái xác đàn
ông, một chủng tộc, và làm cho ông ta thành một trưởng bộ lạc để
đi đánh nhau. Tuy vậy mà con người không
dễ gì mà cất bỏ được hình tượng của Thượng đế.” Trong thế giới của những người không
tin Thiên Chúa và trong giới khoa học thì Tsunami chỉ là một hiện tượng
thiên nhiên. Những người tin ở một
Thiên Chúa tuyên bố là đầu óc con người không thể nào hiểu được những
việc làm của Thiên Chúa, thí dụ như ý định của Thiên Chúa khi gây nên
trận Tsunami ở Nam Á, nhưng dù không hiểu được ý của Thiên Chúa, kỹ
thuật khoa học ngày nay có thể tiên đoán được những việc Thiên Chúa sắp
làm. Thật vậy, bất cứ người nào có chút kiến thức về Địa Chất Học
cũng biết rằng, dưới vỏ trái đất, trong khoảng từ 10 đến 60 km dưới
mặt đất, có những địa tầng (tectonic plates) luôn luôn di chuyển tuy rất
chậm. Khi hai địa tầng cọ xát nhau
thì sẽ xảy ra động đất. Khi áp lực
lên cao trong một núi lửa thì núi lửa phải phun ra để giảm áp lực.
Bão tố xảy ra cũng do sự thay đổi áp xuất trong bầu khí quyển. Đó là nguyên nhân của những thiên tai và
trong nhiều trường hợp, người ta có thể tiên đoán được những gì sẽ
xảy ra, chứ chẳng làm gì có Thiên Chúa nào ngồi đó mà thưởng hay trừng
phạt nhân loại. III. THẦY NHẤT
HẠNH VỀ VIỆT Tin Thầy Nhất Hạnh và Tăng đoàn
Làng Mai cùng một số đông Phật tử tháp tùng về Việt “Sau gần 40 năm xa quê hương, thiền sư Thích
Nhất Hạnh, một nhà tu hành nổi tiếng thế giới, về thăm Việt
Chuyến về thăm
quê và thuyết giảng Thiền tại nhiều nơi ở Việt Không chỉ trong thời
gian chiến tranh mà trong mấy thập niên qua, hoạt động truyền bá tư
tưởng Thiền Việt Hàng chục nghìn thanh niên Âu Mỹ đã đi theo Thích
Nhất Hạnh và cách tổ chức cộng đồng sinh hoạt tôn giáo do Thiền
sư chủ trương và lãnh đạo đã gây tiếng vang lớn. Có các ý kiến
cho rằng thiền sư Nhất Hạnh là một trong những nhà lãnh đạo tâm
linh của thế giới và so sánh các 'Làng Mai' với phong trào kibutz của
người Do Thái trong những ngày đầu ở Israel.” Có nhiều ý kiến về chuyến về Việt
Tiến
Sĩ Lý Khôi Việt: Tự thân việc thầy Nhất Hạnh
thong dong trở về trên quê hương đã là một tín hiệu văn hóa có ý nghĩa,
nếu không nói đó đã là sự vượt thắng của văn hóa Việt Nam và văn hóa
Phật giáo đối với các nguồn văn hóa phi-Việt-Nam, phi-Phật-giáo. Như Đức
Phật chỉ ngồi yên và mĩm cười an lạc là đủ để đem lại hạnh phúc
cho nhiều triệu người, và hòa bình cho nhiều xứ sở trong suốt hơn 25 thế
kỷ vừa qua. Lịch trình của phái đoàn Làng Mai tại Việt Nam chú
trọng đến những khóa tu nhiều ngày cho tăng ni, cũng như cư sĩ Phật tử
tại gia. Đây là một bước khởi đầu đầy khích lệ cho thấy đây là một
chuyến đi mang tính tâm linh và văn hóa để đổi mới đạo Phật, đổi mới
tinh hoa và cốt tủy của văn hóa truyền thống Việt Nam, để cho nó thêm
sức sống, thích hợp với thời đại. Tôi tin đạo Phật Việt có đủ khả
năng để đóng góp tích cực cho việc xây dựng phát triển văn hóa đặc
thù Việt Nam, như nó đã đóng góp trong suốt 2.000 năm qua. Chung,
TP. HCM: Thầy Nhất Hạnh là một vị cao tăng của thế giới
mà ai cũng ngưỡng mộ, dù người đó ủng hộ Giáo hội Phật Giáo Việt Trần
Tuyết Nhi, TPHCM: Thiền sư Nhất Hạnh về thăm Việt Lê
Nguyên, Paris: Mong rằng chuyến hành hóa của Thiền sư ngay trên quê
hương của Ngài sau 40 năm bị lưu đày sẽ mang lại nhiều lợi lạc cho đồng
bào của Ngài. Mong rằng thanh niên Việt Nam sẽ biết tận dụng thời
gian ngắn ngủi của Ngài ở Việt Nam để học hạnh Hiểu biết và Thương
yêu mà Ngài đã trao truyền cho giới trẻ ngoại quốc hàng chục năm qua. Một
người tên “nix”: Theo nix chuyến về thăm Việt nam của thầy Nhất Hạnh
rất có thể sẽ có một số ảnh hưởng tích cực nếu người trong nước
có thể tận dụng được. Chuyến về của thầy ấy sẽ có một tác dụng thách
đố các tâm lí như thế đặc biệt là nơi giới trẻ, trong đó nhiều người
có lí tưởng nhưng điều kiện và môi trường sống đã làm họ xem nhiều
điều lai căng, mất gốc như điều tự nhiên, phải như thế thôi, và theo
đó 'miễn nhiễm' với các thói tật thiếu văn hóa (rượu chè, bia ôm, vv.
và vv.). Nơi những người trong lớp tuổi còn lí tưởng, còn
hướng thượng như vậy, chuyến về của thầy NH trước hết sẽ tạo ấn
tượng mạnh mẽ theo lối, ít ra đạo bụt VN và nước VN hiện đại cũng
có được MỘT nhân vật được thế giới nễ vì và học hỏi chứ VN
không chỉ ngữa tay đón nhận mà thôi. Ấn tượng như vậy có được trước hết là vì thầy
NH không chỉ về với một số tăng ni VN, và từ nơi ông ở, mà một loạt
tăng ni nước ngoài, từ nhiều nơi trong thế giới. Từ một ấn tượng
như vậy người trẻ có thể tìm hiểu thêm về đạo bụt nói chung và tư
tưởng của thầy NH nói riêng, và chẳng hạn chỉ cần đọc một cuốn sách
trong đó thầy Nhất Hạnh bàn về tư tưởng Thiền trong truyện Kiều thì
kiến thức và nhận thức của người ta về đạo bụt và văn hóa VN cũng
trở nên phong phú, giàu có hơn. Tác động tích cực về chính trị chắc cũng có nhưng
trong điều kiện hiện tại, nó có đủ mạnh để chúng ta thấy được
hay không lại là chuyện khác. Thầy Nhất Hạnh chắc chắn sẽ nói với
nhà cầm quyền rằng đạo Bụt không có tham vọng chính trị mà chỉ cất
lên tiếng nói của lương thức, vì đạo vì người mà thôi. Trong khi đó thì cũng có lác
đác vài ý kiến chống đối, nhức nhối, thất vọng, nhìn sự việc qua cặp
kính màu đỏ, nhìn đâu cũng thấy đỏ, nên liên kết chuyến về Việt
Nam của Thầy Nhất Hạnh với những xu thế chống Cộng thời thượng ở
hải ngoại, nội dung vừa xuyên tạc cá nhân Thầy, vừa muốn kéo Thầy xuống
vũng bùn chính trị hải ngoại. Đại
diện cho vài ý kiến tiêu cực lạc lõng này có lẽ là nội dung bản văn:
“Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin
trả lời chung về chuyến đi Việt Nam của Sư Ông Thích Nhất Hạnh” của
Võ Văn Ái, người rất nổi tiếng ở Pháp, tiếng tốt hay tiếng xấu, có
lẽ mọi người đều biết cả rồi. Đài quốc tế BBC có một câu
loan tin ngắn về phản ứng của Võ Văn Ái như sau: “Ngày 14.01.2005, ông Võ Văn Ái thuộc Phòng
Thông tin Phật giáo Quốc tế đóng tại Paris có thông cáo phê phán
chuyến đi này. Ông Võ Văn Ái gọi 'Đây là món quà hậu hĩ nhân
dịp Tết nhà Sư Ông Thích Nhất Hạnh trao tặng cho nhà cầm quyền
Việt Nam....” Đài BBC, loan tin như trên, chắn chắn là không hề tin là vì có “nhiều
Báo, Ðài quốc tế và thân hữu khắp nơi gọi về Phòng Thông tin Phật
giáo Quốc tế hỏi ý kiến và yêu cầu bình luận về chuyến viếng thăm
Việt Nam của Sư Ông Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai.” nên Võ Văn
Ái và Phòng Thông tin Phật giáo Quốc
tế (cũng là Võ Văn Ái) mới ra thông
cáo phê phán chuyến đi này. Nhưng
tại sao Võ Văn Ái lại ra thông cáo phê phán chuyến đi của Thầy Nhất Hạnh? Dễ hiểu thôi.
Vì đó là nhiệm vụ của ông ta, nhiệm vụ đả phá tất cả
những gì có lợi cho dân tộc đất nước, nấp sau chiêu bài tranh đấu
cho nhân quyền, tự do, dân chủ ở Việt Chúng ta biết rằng, Võ Văn
Ái hàng năm lãnh tiền của cơ quan Mỹ N.E.D. (National Endowment for Democracy)
để làm nhiệm vụ mà N.E.D. giao phó, theo
tài liệu của chính N.E.D. trong www.ned.org : “Xuất bản tờ Quê Mẹ bằng tiếng Việt, hai tháng
một lần, một nguồn tin tức và thảo luận về những ý tưởng dân chủ
ở Việt (To publish Que Me, a bi-monthly
Vietnamese-language magazine, a source of uncensored news and discussion of democratic
ideas in Lẽ dĩ nhiên là những thông
tin trong Quê Mẹ và trong những bản tin ngắn cùng qua những bản Thông Cáo
Báo Chí của Phòng Thông tin Phật giáo
Quốc tế mà Võ Văn Ái làm giám đốc phải theo đúng mục đích của
N.E.D. Cho nên chúng ta không lấy làm lạ
khi thấy trong đó có những điều bịa đặt, ngụy tạo, sai sự thật
v..v.. mà không cần phải thông minh sáng suốt cho lắm cũng có thể nhận
ra như tôi đã phân tích trong một số bài trước đây. Để hiểu rõ vấn đề này chúng ta cần
phải biết N.E.D., cơ quan cấp tiền cho Võ Văn Ái, là cơ quan như thế nào? Xin mời quý độc giả hãy
vào trang nhà Giao Điểm tháng 1, 2005, đọc bài Tổ Chức AFL-CIO
và NED – Góp Vốn Quốc Gia cho Những Toán Sát Thủ? ("National Endowment for Death Squads? The AFL-CIO and the NED")
của Jon Quaccia do Thường Đức chuyển ngữ.
Sau đây là vài đoạn điển hình về N.E.D. trong bài dịch của Thường Đức: “Ít người thọ thuế biết đến tổ chức
National Endowment for Democracy (NED), một tổ chức do tư nhân làm chủ nhưng lại
được chính phủ tài trợ hoạt động trong ít nhất bốn mươi quốc gia.
Nhiệm vụ của NED ? – là nhằm giúp cho Mỹ thiết lập một hệ thống
kinh tế tư bản vòng quanh thế giới, trợ lực bởi các chế độ thân thiện
với nền kinh tài lớn của Mỹ. Vì không bị sự can dự của chính quyền và quốc hội,
nên NED tự do hoàn toàn để đạt mục
tiêu bằng sự thao túng và mua chuộc các cuộc bầu cử ở nước ngoài,
gây rối loạn chính trị cũng như kinh tế, tài trợ vật chất cho các
nhóm cực hữu chống lại kháng chiến, và xử dụng những chiến thuật bị
coi là bất hợp pháp ở Mỹ... Sự u ám của các phần tử trong cơ quan NED từ tổ chức
tiền nhiệm chỉ rõ một lịch sử cấu kết với cơ quan khủng bố CIA từ
đầu thập niên 60s. Cuối thập niên 1970s, CIA đã lộ diện về sự phá hoại
các chính phủ và các phong trào lao động khắp thế giới. Những tên độc
tài tham những ở Trung Mỹ, hổ trợ bời những toán sát thủ được trang
bị và huấn luyện từ CIA đã thảm sát hàng trăm ngàn nông dân trong suốt
các cuộc kháng chiến ở Nicaragua, El Salvador và Guatemala. Từ lúc các tai tiếng
xấu xa đó đi vào não trạng công chúng, Chính quyền Reagan phải tạo ra cơ
quan National Endowment for Democracy năm 1983 nhằm đạt nốt các nhiệm vụ chưa
hoàn tất. Allen Weinstein, người sáng lập
NED, đã nhấn mạnh trong năm 1991 : “Phần
lớn những công tác mà chúng ta đang thực hiện hôm nay, đã được hoàn
thành một cách bí mật bởi CIA trong 25 năm trước...” Qua tổ chức Endowment, công dân Mỹ thọ thuế đã trả
tiền cho một nhóm đặc-quyền đi phá rối các chính quyền dân cử chính
đáng của các quốc gia đầy thiện cảm, can thiệp vào các cuộc bầu cử
ở nước ngoài, khuyến khích sự tham ô trong các phong trào dân chủ…” Tổ chức NED và phe nhóm tự cho các hành động của họ
là “hổ trợ dân chủ”, thế nhưng các chính phủ hay phong trào là các mục
tiêu mà họ nhắm đến, đã gọi họ là “những kẻ đi gây sự bất ổn”. Trong một bài viết trước đây,
một trong những tài liệu về N.E.D. mà tôi đưa ra là của William Blum viết
trong bài “Trojan Horse: The National Endowment
for Democracy”: “NED là một tổ chức thường hoạt động đối
ngược hẳn lại mà cái tên của tổ chức đó (nghĩa là hoạt động cho dân
chủ) uẩn hàm: “ủng hộ những cơ chế dân chủ trên thế giới qua những
nỗ lực tư nhân, không thuộc chính phủ”.
Hãy để ý đến phần hình ảnh và huyền thoại “không thuộc
chính phủ”. Thật ra, hầu như từng
xu một của quỹ của NED là từ chính phủ liên bang như đã được kê rõ
trong những bản kê khai tài chánh trong mỗi bản phúc trình hàng năm của
NED. Allen Weinstein,
người đã giúp thảo qui chế thành lập NED, năm 1991 đã nói thẳng rằng:
“Rất nhiều những việc chúng tôi làm ngày nay đã được CIA làm lén
lút 25 năm trước.” Với trăm ngàn cách khác nhau, NED đã xía vào những vấn đề nội bộ của
các quốc gia khác bằng cách tài trợ,
cung cấp kiến thức kỹ thuật, huấn luyện, tài liệu học tập, máy điện
toán, máy fax, máy sao tài liệu, xe cộ v..v.. cho những nhóm chính trị được
tuyển chọn, những tổ chức dân sự, nghiệp đoàn lao động, phong trào đối
kháng, nhóm sinh viên, nhà xuất bản sách, báo chí, những phương tiện truyền
thông khác v..v..” (NED is an organization which often
does exactly the opposite of what its name implies: “supports democratic institutions
throughout the world through private, non-governmental efforts” Notice the “nongovernmental” part of the image,
part of the myth. In actuality, virtually
every penny of its fundings comes from the federal government, as it clearly indicated in
the financial statement in each issue of its annual report. Allen Weinstein, who helped draft
the legislation establishing NED, was quite candid when he said in 1991: “A lot of what
we do today was done covertly 25 years ago by the CIA.
In a multitude of ways, NED meddles in the internal affairs of foreign countries by
supplying funds, technical know-how, training, educational materials, computers, faxes,
copiers, automobiles, and so on, to selected political groups, civic organizations, labor
union, dissident movements, student groups, book publishers, newspapers, other media
etc...) Đó là bộ mặt thật của N.E.D., cơ quan đã cấp tiền
cho “Quê Mẹ” của Võ Văn Ái trong nhiều năm để Võ Văn Ái thi hành nhiệm
vụ tranh đấu cho “dân chủ, tự do tôn giáo” (sic) và “quyền làm người”
(sic) ở Việt Nam. Như vậy, thử hỏi,
tiếng nói của Võ Văn Ái hay của “Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế”
mà Võ Văn Ái làm giám đốc thì có giá trị gì ngoài đám người ngu ngơ
tưởng rằng Võ Văn Ái có một thế lực mạnh làm hậu thuẫn ở ngoại
quốc, không biết rằng Võ Văn Ái chỉ là một quân tốt thí mà N.E.D.
dùng để đánh phá Việt Nam với chiêu bài dân chủ. Không ai có thể dấu kín mãi được sự
thật. Trước sau gì rồi sự thật cũng
phải phanh phui. Cổ nhân đã dạy: “Muốn
cho người khác không biết thì đứng có làm.”
Võ Văn Ái không thể tiếp tục lừa dối dư luận mãi mãi được. Tuy bản văn của “Phòng
Thông tin Phật giáo Quốc tế” mà Võ Văn Ái làm giám đốc chẳng có giá
trị gì, nhưng chúng ta hãy điểm qua vài điều trong đó để thấy rõ thực
chất con người và trí tuệ của Võ Văn Ái như thế nào. Mở đầu, bản văn viết: “Mấy ngày vừa qua, nhiều Báo, Ðài quốc tế và
thân hữu khắp nơi gọi về Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế hỏi ý kiến
và yêu cầu bình luận về chuyến viếng thăm Việt Nam trong vòng 3 tháng của
Sư Ông Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai. Chúng tôi xin được trả lời
chung về thái độ của chúng tôi như sau:” Lẽ dĩ nhiên là Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế không
cho chúng ta biết là những báo nào, đài quốc tế nào “ở khắp nơi” và
những ai là thân hữu, và tôi cũng không hiểu là Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế có ghi
lại những cú điện thoại đó để làm bằng chứng hay không. Vì viết một câu rất mù mờ, không ai có
thể kiểm chứng được, nên tôi cho là những người gọi và người trả
lời là một. Không lẽ tự nhiên lên
tiếng khi không có ai mời hỏi, cho nên phải có người hỏi thì mới có cớ
để mà bày tỏ thái độ. Nhưng viết
như vậy là coi thường độc giả. Bởi
vì, một câu hỏi sẽ được đặt ra: “Trong ban biên tập các báo chí và
các đài quốc tế ở khắp nơi, không có ai có đủ khả năng để đưa ra
một ý kiến hay bình luận về chuyến hồi hương của Thầy Nhất Hạnh
hay sao mà phải hỏi ý kiến và yêu cầu Phòng
Thông tin Phật giáo Quốc tế bình luận? Vậy thì làm báo để làm gì? Để nói láo ăn tiền? Và dựng lên những đài quốc tế để làm
gì? Để mỗi khi có một biến cố
nào xảy ra thì đi yêu cầu Phòng Thông tin
Phật giáo Quốc tế bình luận hay sao?”
Phòng Thông tin Phật giáo Quốc
tế có nghĩ là mình đang mạ lỵ, hạ thấp các báo chí và các đài quốc
tế ở hải ngoại, lẽ dĩ nhiên, không? Nhưng Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế đã
phê phán như thế nào, khoan nói đến chuyện Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế có
đủ tư cách để “phê phán” chuyến đi của Thầy Nhất Hạnh và Tăng
Thân Làng Mai hay không? Đọc kỹ bản
văn của Phòng Thông tin Phật giáo Quốc
tế chúng ta thấy rõ Võ Văn Ái nhằm hai mục đích: Tố Cộng và xuyên
tạc chuyến đi của Thầy Nhất Hạnh về Việt Thật vậy, cứ cho là có các
báo và đài quốc tế hỏi ý kiến và yêu cầu bình luận, nhưng phần lớn
trong bài trả lời của Phòng Thông tin Phật
giáo Quốc tế là để tố Cộng bằng những luận điệu cũ rích,
nhai đi nhai lại như cái rẻ rách. Đó
chẳng phải là ý kiến hay bình luận về chuyến đi của Thầy Nhất Hạnh
và Tăng thân Làng Mai cùng các Phật tử, mà thực chất chỉ là những lời
“chống Cộng thuê” rẻ tiền đã lỗi thời. Bày tỏ ý kiến và bình luận
về chuyến hành hương và thuyết giảng Phật Pháp của Thầy Nhất Hạnh,
một tu sĩ Phật Giáo Việt Phân tích vấn đề, điều đầu
tiên chúng ta cần phải để ý đến là: Thầy Nhất Hạnh đã muốn trở về
Việt Nam hoằng Pháp và trực tiếp hướng dẫn tu học cho Phật tử quốc
nội từ lâu và đã có những cuộc vận động để cho Nhà Nước cho phép
Thầy về chứ không phải là Nhà Nước mời Thầy về. Việc này thật là rõ ràng khi chúng ta biết,
tin Thầy Nhất Hạnh sắp về Việt Nam vào mùa Xuân Ất Dậu đã được
tung ra sớm, nhưng rồi đến tháng 10, 2004, lại có tin Nhà Nuớc rút lại
quyết định cho Thầy về vì không thỏa thuận với một số điều kiện
của Thầy. Sau đó Thầy Pháp Ấn và một
vài Thầy khác ở Làng Mai về Việt Nam thương thuyết, điều đình với
Nhà Nuớc để đi đến một thỏa hiệp về chương trình hành hương và
thuyết giảng Phật Pháp và hướng dẫn tu học của Thầy Nhất Hạnh trong
ba tháng Thầy ở Việt Nam. Như vậy mà
Võ Văn Ái viết là : “Xem như thế thì chuyến đi của Sư Ông Thích Nhất
Hạnh chỉ nhắm vào hai mục tiêu: [mục tiêu thứ nhất là] Ðồng lõa với Ðảng và Nhà cầm quyền Hà Nội che
giấu cuộc đàn áp khốc liệt Giáo hội Phật giáo Việt Bỏ qua những yếu tố tạo
thành chuyến đi của Thầy Nhất Hạnh, và khi mà chương trình hoạt động
của Thầy Nhất Hạnh chưa thực hiện, chưa biết là Thầy Nhất Hạnh sẽ
làm gì, nói gì ở Việt Nam mà Võ Văn Ái đã lên tiếng phê phán chuyến
đi của Thầy thì phê phán cái gì. Lời
phê phán trên thật ra chỉ là điều cố tình xuyên tạc một cách vô ý thức
nếu không muốn nói là đần độn của một tên đầu cơ chính trị,
không biết đến liêm sỉ là gì, dùng thủ đoạn “côn đồ văn hóa” [từ
của Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang] để đánh phủ đầu, xuyên tạc trắng trợn
sự thật để chụp mũ một vị Thấy đáng kính của đa số người Việt
Nam và của cả thế giới. Thật vậy, đồng lõa là toa rập cùng nhau để
làm một điều gì đó. Đồng lõa
không bao giờ phải qua những cuộc vận động, thương thuyết, điều đình
để đi đến một thỏa hiệp về một vấn đề nào đó. Phòng Thông Tin
Phật Giáo Quốc tế do Võ Văn Ái làm giám đốc thao túng thật là một lưỡi
dao đâm vào sau lưng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất hải ngoại,
hay Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, khi tung ra những bản văn quá thấp kém về
từ cũng như về ý như trên. Thế còn mục tiêu thứ hai của
chuyến đi của Thầy Nhất Hạnh là gì? Theo
Võ Văn Ái thì: “Thứ hai, là phát triển tại Việt Ở đây,
Võ Văn Ái đã để lộ cái bộ mặt thực của mình, mục đích là xuyên tạc
dòng tu của Thầy Nhất Hạnh, không biết đến liêm sỉ là gì. Thật vậy,
Võ Văn Ái đã dựa theo văn bản nào của dòng Tiếp Hiện để mà viết như
trên. Tôi không thấy ở đâu và cũng
chưa nghe ai nói là Dòng Tiếp Hiện của Thầy Nhất Hạnh cho phép chư
Tăng, Ni có quyền lập gia đình. Vì thực
ra Dòng Tiếp Hiện là dành cho Cư Sĩ, những Phật tử chưa có hoặc đã
có gia đình, thọ 14 Giới của Dòng Tiếp Hiện trong khi các Phật tử quy y
chỉ thọ có 5 giới, chứ không phải
là cho những người xuất gia. Thật vậy,
Vào trang nhà tiếng Anh “Plumvillage”, chúng ta có thể thấy đoạn sau đây
về giới xuất gia theo Dòng Tu của Thầy Nhất Hạnh: Sống Đời Sống Xuất
Gia Dưới Sự Hướng Dẫn Của Thiền Sư Nhất Hạnh: “Dưới
18 tuổi phải được phép của cha mẹ. Phải hiểu rằng Tăng và Ni trong truyền thống
Thích Nhất Hạnh sẽ sống độc thân suốt đời và
sẽ sống, hành trì, giảng dạy cùng với Tăng đoàn chứ không sống, hành
trì và giảng dạy như là những cá thể.” (Living Monastic Life under the
guidance of Zen Master Thich Nhat Hanh. Under 18, permission from parents is
required. It is understood that monks and nuns in
Thich Nhat Hanh's tradition will be celibate for all their life and will be living,
practicing and teaching with the sangha and not to live, practice and teach as
individuals.) Và trong
trang nhà Làng Mai, trong 10 giới điều cho Sa Di, có giới thứ ba như sau: “Giới thứ ba là bảo vệ tiết hạnh:
Ý thức được rằng lý tưởng của người xuất gia
chỉ có thể thực hiện được với sự cắt bỏ hoàn toàn những ràng buộc
đối với ái dục, con nguyện giữ mình thật tinh khiết, tự bảo vệ nếp
sống phạm hạnh của con và hết lòng bảo vệ tiết hạnh của kẻ khác.
Con biết hành động dâm dục sẽ làm tan vỡ cuộc đời xuất gia của con,
làm hại đến cuộc đời của kẻ khác, và không cho con thực hiện được
lý tưởng cứu độ chúng sanh của mình. “ Báo Người Việt ở Cali., sau
khi trích đăng vội bài trả lời của Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc tế của Võ Văn Ái, số 6984 ngày 20 tháng 1,
2005, cũng đã lên tiếng đính chính là Dòng Tiếp Hiện của Thầy Nhất Hạnh
không chủ trương cho phép Tăng, Ni được quyền lập gia đình, và đã xin
lỗi Phật tử và các độc giả vì đã đăng lên điều bịa đặt láo lếu
này của Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc tế.
Điều khó hiểu đối với tôi là trong báo Người Việt ít ra
cũng có vài đệ tử của Thầy Nhất Hạnh với Pháp danh bắt đầu bằng
chữ “Chân” mà tại sao lại phải trích đăng một câu quá sai sự thật
như vậy? Vậy, dựa vào đâu mà Võ Văn
Ái có viết lên được câu về Dòng Tiếp Hiện của Thầy Nhất Hạnh là:
“dòng phái mới trong lịch sử Phật giáo
Việt Nam hiện đại cho phép chư Tăng, Ni
có quyền lập gia đình.” nếu không phải một trong những thủ đoạn
vặt, vô liêm sỉ, xuyên tạc sự thật của Võ Văn Ái đã nổi tiếng
trên diễn đàn hải ngoại? Võ Văn Ái
nấp sau bình phong Phòng Thông tin Phật giáo
Quốc tế để mà tự tung tự tác, làm ô nhục lây đến Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại và Văn Phòng II Viện Hóa Đạo qua những
thủ đoạn bất lương trí thức như tôi vừa phân tích ở trên. Tại sao Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất Hải Ngoại hay Văn Phòng II Viện Hóa Đạo còn tiếp tục dùng Võ Văn
Ái làm giám đốc Phòng Thông tin Phật giáo
Quốc tế? Hay sự thật cái Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế này
chỉ do chính Võ Văn Ái dựng lên và tự khoác cho mình cái chức giám đốc? Tôi hi vọng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất Hải Ngoại và Văn Phòng II Viện Hóa Đạo sẽ lên tiếng để
làm sáng tỏ vụ này. Im lặng sẽ
không giải quyết được vấn đề, nếu không muốn nói là chấp nhận cả
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại và Văn Phòng II Viện
Hóa Đạo đều nằm trong sự thao túng của Võ Văn Ái. Vấn đề thứ hai chúng ta phải xét đến là Thầy Nhất
Hạnh về Việt Nam để làm gì, và chương trình sinh hoạt của Thầy trong
vòng 3 tháng ở Việt Nam như thế nào. Võ
Văn Ái viết phủ đầu như sau: “Chẳng có chút tự do thăm viếng hay truyền
đạo gì trong chuyến đi của Sư ông Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng
Mai này... Tuyệt nhiên trong bản chương
trình sinh ho ạt ba tháng được phổ biến rộng rãi ở Việt Nam, không có
một kho ản nào cho cuộc thăm viếng hàng giáo phẩm lãnh đạo Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.” Chúng ta hãy bỏ qua sự kiện là về phương diện pháp
lý, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
đã không còn tồn tại ở Việt Nam nhưng về phương diện tình
cảm thì Giáo hội này vẫn còn tồn tại trong lòng của nhiều Phật tử
ở miền Nam, ít ra là trong lớp người trung niên hoặc đã lớn tuổi. Nhưng những điều Võ Văn Ái viết như trên
có đúng không? Điều rõ ràng là Võ Văn
Ái đã viết láo. Chứng minh? Nhìn vào lịch trình của phái
đoàn Làng Mai, đúng như Tiến sĩ Lý Khôi Việt đã phát biểu: “Lịch trình của
phái đoàn Làng Mai tại Việt Nam chú trọng đến những khóa tu nhiều ngày
cho tăng ni, cũng như cư sĩ Phật tử tại gia. Đây là một bước khởi đầu
đầy khích lệ cho thấy đây là một chuyến đi mang tính tâm linh và văn hóa
để đổi mới đạo Phật, đổi mới tinh hoa và cốt tủy của văn hóa
truyền thống Việt Nam, để cho nó thêm sức sống, thích hợp với thời
đại.” Tưởng chúng ta cũng nên biết
là Thầy Nhất Hạnh sẽ thuyết giảng những gì ở Việt -
Cuộc phối hợp tuyệt hảo của tuệ giác đạo Bụt và
thờ cúng tổ tiên tại Việt -
Lịch Sử Phật Giáo Việt -
Tuổi Trẻ - Tình Yêu - Lý Tưởng -
Vai trò của Phật giáo trong xã hội đương đại -
'Tương lai của đạo Bụt ở Âu, Úc và Mỹ Châu' -
Thiết lập lại truyền thông giữa hai thế hệ, nối kết
hai nền văn hóa và dựng lại tình thâm trong gia đình -
Truyền thống Thiền tập của Phật Giáo Việt -
Những phép thực tập hữu hiệu để điều phục cơn giận
và tái lập truyền thông -
Ðón chào Ðức Từ Thị Di Lặc, đức Phật của thương yêu,
đức Phật của thế kỷ chúng ta -
Tương lai và sự phát triển của Phật giáo tại Tây phương
-
Tuệ giác Phật Giáo trong Truyện Kiều và sự áp dụng
vào đời sống hằng ngày -
Bản chất của Tình Yêu -
Văn hóa Việt -
Vai trò của các Tôn Giáo trong việc giúp lành mạnh hóa
xã hội -
Truyền thống Thiền tập của Phật Giáo Việt -
Truyện Kiều dưới cái nhìn thiền quán -
Tương lai văn hóa Việt -
Thương yêu theo phương pháp Bụt dạy -
Tây phương đang tiếp nhận đạo Bụt như thế nào ? Ngoài ra Thầy Nhất Hạnh còn
thuyết giảng và hướng dẫn tu học ở nhiều Chùa, nhiều tổ chức cơ sở
trên ba miền đất nước cũng như đi thăm viếng rất nhiều Chùa, di tích
lịch sử văn hóa dân tộc. Đài quốc tế BBC có phỏng vấn
Thạc Sĩ Nguyễn Bá Chung, chuyên gia nghiên cứu văn hóa Việt Để kết thúc bài viết này,
tôi xin trích dẫn vài đoạn trong bài viết của phóng viên Kay Johnson trên
tạp chí Time, số báo ghi ngày 24-1-2005, Vol. 165, No.3., nhan đề “A Long
Journey Home” (Một cuộc Hành Trình Dài Về Quê Hương), như sau: “Một vị thầy Phật Giáo nổi tiếng ở Tây Phương
được cho phép từ nơi lưu vong về thăm quê. Đó là một chuyến hồi hương thích nghi với hoàng
gia hay ngôi sao nhạc rock hơn là một nhà sư. Khoảng 1,000 Phật Tử hay nhiều
hơn đứng chờ trong buổi sáng lạnh giá ở Phi Trường Nội Bài, Hà Nội,
ôm các bó hoa, hát các bài ca, và chen chúc để nhìn rõ hơn. ... Theo lời James Shaheen, chủ bút và là chủ nhiệm tạp
chí Phật Giáo Mỹ Tricycle, thì: “Ở phương Tây, sư Nhất Hạnh là một
biểu tượng. Tôi không thể nghĩ ra một Phật
Tử Tây Phương nào mà không biết sư Nhất Hạnh.” Ngồi trên 1 tấm đệm trong ngôi chùa ngụ tạm, HT Nhất
Hạnh không lộ vẻ dao động bởi mọi chú ý mà sư đang gặp... Sư nói, sư dự định viếng thăm các nhà sư
đang bị giam giữ [hay quản thúc] cũng như thăm các lãnh đạo giáo hội
nhà nước, và hy vọng chuyến đi của sư sẽ làm dịu đi thái độ chính
phủ đối với tôn giáo. Các lãnh tụ của Giáo Hội Phật Giáo VN Thống
Nhất, cơ chế mà HT Nhất Hạnh rời bỏ để lập riêng dòng thiền của sư,
đã bị quản thúc tại gia hầu hết trong 20 năm qua. Các phân tích gia nói là việc Hà Nội bố ráp các Phật
Tử và Cơ Đốc Nhân ngoài-vòng không phải là vì lý thuyết vô thần CS,
mà chỉ là lo ngại về chính trị. “Không phải chuyện lo sợ chuyện tôn
giáo,” theo lời Tiến Sĩ David Koh, chuyên gia về VN tại Viện Nghiên Cứu
Đông HT Nhất Hạnh, với thái độ trầm lặng của
1 thiền sư, nói là sư không lo ngại về chuyện bị lợi dụng như 1 công
cụ tuyên truyền. “Có thể như thế lắm,” Sư nhìn nhận. “Nhưng cách
suy nghĩ của tôi không bị ảnh hưởng bởi các chuyện đó.” Sư nói, mục
tiêu của sư là để xua tan đi nỗi lo của chính phủ rằng tình hình Phật
Giáo độc lập là một hiểm họa. Sư nói, “Để cho tự do được thành hình, chúng ta
nên gỡ bỏ sợ hãi, ngộ nhận và phân biệt.” |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com