
posted: 04. 01. 2005
Trần Thị Bông Giấy MIKHAIL YUR’EVICH
(1814 - 1841) Thập niên 1830 ở Nga, tiếp theo sự
dẫn đầu cùng cái chết bi thảm của Púshkin, chàng trẻ tuổi kiêu ngạo
sáng giá Lermontov được nhìn nhận là thi sĩ vĩ đại thứ hai, một thiên
tài họa hiếm làm rộ lên trong vòm trời thi ca Nga những đóa hoa rực rỡ.
Ngoài ra, Lermontov còn có thể là một trong những nhà văn lớn nhất của
Nga nếu như cuối cùng ông không dự phần để sắp đặt cái chết lãng mạn
của mình trong một cuộc đấu súng. Đường hướng thi ca của Lermontov
dẫu khác biệt với Púshkin, nhưng thứ nhạc tính đầy ma thuật cũng đạt
được hiệu lực sôi nổi như Púshkin đã đạt. Trong thi ca Lermontov có sự
cô đọng, khúc chiết. So sánh với điểm sáng ngời và hoàn hảo của những
vần thơ Púshkin, các bài thơ Lermontov chứa đựng nhiều tính chất tối tăm,
bối rối. Nỗi đau khổ báo trước của nhà thi sĩ trẻ, những mâu thuẫn,
sự yếm thế và các khát vọng lý tưởng đã chính là sức mạnh chân thực,
làm bảo trì tiếng vang sâu thẳm của thi ca ông qua nhiều thế hệ thanh
niên Nga. Phần bố cục, ngoài cái chủ yếu
nói lên một ước muốn về những điều không thể đạt và cũng không thể
diễn tả, nhà thơ thỉnh thoảng còn làm nổ bùng trong các dòng chữ tính
cách châm chọc cay đắng, đối kháng lại với không những chế độ
Nicholas I độc tài hà khắc, mà còn với cả Thượng Đế trên những nỗi
bất an của cuộc đời và con người. Trong tác phẩm, Lermontov bày ra
cho thấy cái ám ảnh dai dẳng theo hình tượng ảm đạm của một thiên thần
nổi loạn cứ mãi kiếm tìm vô vọng sự tái sinh suốt qua tình yêu của
nàng trinh nữ. Tuy nhiên, nhà thơ cũng cưu mang
trong tâm hồn trạng thái trầm tĩnh và lắng đọng: “Một khuynh hướng
thực tế chìm sâu trong khí chất các văn thi sĩ lãng mạn Nga.” Giống như tất cả mọi thi sĩ
thực thụ khác, Ler- montov cũng yêu cuộc đời nhưng theo cái cách hoàn
toàn khác biệt. Dĩ nhiên, từ ngữ “yêu cuộc đời” ở đây không có
nghĩa là như yêu một hồi chuông rền rĩ những tiếng vang than khóc, hay
yêu ly rượu champagne ngây ngất men cay; cũng không phải với trạng thái đắm
say, và không cả nỗi đảo điên thống hận. Một cách khôn ngoan và
nghiêm trang, nhà thơ không cố gắng để suy dò ra những bí mật của cuộc
đời, không làm cho trầm trọng thêm bằng những câu hỏi, không cúi mình
trước nó, đồng thời cũng chối từ cả vai trò phán đoán nó. Tình yêu
cho cuộc đời trong nhà thơ tự nhiên như thể chính nó đến với ông chứ
không phải là ông đến với nó. Nhưng ông đáp trả sự đến trên cả
hai mặt vừa quyến rũ lại cũng vừa thách thức của nó bằng thái độ
kiêu kỳ ngạo mạn. Và, giống như Baudelaire, Lermontov yêu sự tĩnh lặng trầm
tư mà đôi lần họa hiếm, nhà thơ bắt gặp. Tuy nhiên, cũng chính cuộc
đời đã biến ông thành kẻ lang thang, đẩy ông không ngừng vào cái vận
số lưu đày, cô đơn. Dẫu vậy, không thi sĩ Nga nào
có thể khơi dậy được độ sâu buồn thảm của cuộc đời bằng những
vần thơ óng ả trau chuốt như Lermontov đã có. Cũng không thi sĩ nào cưu
mang cùng tâm tư rung động trước những gớm ghiếc của nó như Lermontov
đã từng. Lermontov là thi sĩ đặt để chân
giá trị con người không chỉ bằng những mối liên hệ đạo đức, mà
còn bằng những nhu cầu thuộc về thẩm mỹ, biểu tượng cho sự tồn tại
và thăng hoa tinh thần không chia cắt được. Nhà thơ tự biết cách làm
cho mình đứng bên trên cái vòng mê đắm như thường tình nhân thế. Ông
cũng không hề, dẫu chỉ trong một phút, đóng vai trò là kẻ kiềm chế cuộc
đời. Với cách yêu như thế, quả cuộc đời trở nên thật dài và vô
cùng đáng sống. Do đó, khó thể tin được rằng Lermontov đã từ giã cuộc
đời trong cái tuổi 26 đầy khát vọng say mê. I. (1814 - 1827) Mikhail Yur’evich LERMONTOV sinh ngày
2 tháng 10 năm 1814 tại Moscow, nhỏ hơn Púshkin 15 tuổi, nhưng lại thuộc một
thế hệ khác và sống trong một thời đại xã hội hoàn toàn khác hẳn với
Púshkin. Tổ tiên Lermontov (xuất thân từ lớp
địa chủ Tô Cách Lan dòng họ Learmont và các vị công tước Tây Ban Nha
thuộc dòng Lerma) đến phục vụ trong quân đội Nga vào đầu thế kỷ 17,
định cư trong vùng đất được ban phát và biến đổi cái tên Learmont tiền
nhân truyền lại thành âm Nga: Lermontov. (Hai trong số những bài thơ đầu
tiên của Lermontov, đặc biệt bài Ước Muốn, nhà thơ đã ám chỉ Tô
Cách Lan như vùng quê hương chính thức của mình). Người cha, ông Yuri Petrvich
Lermontov, một đại úy bộ binh nghèo đã về hưu, sống cuộc đời lông
bông, không định hướng. Năm 1813 ông thành hôn với Mariya Mikhaylovna
Arsenyeva. Bà mẹ vợ, Yelizaveta Alekseyevna Arsenyeva, một địa chủ giàu có,
tính nết cực kỳ thất thường, và cũng là một khuôn mặt quan trọng
trong xã hội thượng lưu Năm 1817, bà Mariya Mikhaylovna qua đời,
để lại đứa con trai độc nhất khi ấy vừa ba tuổi. Mối bất hòa giữa
Đại úy và bà Arsenyeva càng thêm trầm trọng. Bà ngoại bèn đem cháu về
nuôi trong lãnh địa riêng ở Tarkhany, thuộc tỉnh Penzenskaya. Bà hết mực
cưng chiều cháu, nhưng lại chẳng bao giờ cho phép đại úy Lermontov đến
thăm con. Sớm tỏ ra thông minh nhưng thiếu
tình thương cha mẹ, cũng thiếu luôn những cuộc chơi với bạn bè cùng lứa
tuổi, từ thuở ấu thơ, Mikhail Lermontov đã cảm nghe cô đơn trong cảnh sống
xa hoa tại nhà bà ngoại; dần dần lại trở nên mơ mộng, tính nết ngang
ngạnh, tự hãnh. Những vị thầy được mời đến nhà để dạy riêng cho
Lermontov tiếng Latin, Hy Lạp, Pháp Đức, và về sau luôn cả tiếng Anh. Năm lên 9 tuổi, do bởi sức khoẻ
rất yếu kém nên nhà thơ được bà ngoại đưa đến an dưỡng trong vùng
suối nước ấm Caucase. Tại đây, dù chỉ là một cậu bé, Lermontov (cũng
như rất nhiều nhà văn Nga khác) vẫn bị say mê dữ dội bởi phong cảnh
núi rừng hùng vĩ và không khí huyền thoại đầy tính Đông Phương của nó.
Các bài dân ca, các giai thoại thần tiên, các câu chuyện đau khổ về giới
nông nô hèn kém được nghe kể, đã là những điều gây ảnh hưởng mạnh
trong sự khai triển cá chất chàng thi sĩ tương lai. Năm 1827, 13 tuổi, Lermontov theo bà
ngoại đến sinh sống tại Thời gian này, Lermontov bắt đầu
làm thơ, những bài thơ thứ nhất chứa đầy ý tưởng phàn nàn về cảnh
sống cô đơn, các hy vọng gãy đổ và tính hoài nghi về Con Người lẫn cả
Thượng Đế, đồng thời hun đúc trong tâm hồn một nổi sùng bái đối với
Byron. Tự nghĩ mình giống như Byron và phóng đại những cảm xúc riêng (như
các mối tình thuở mới lớn) hoặc những hoàn cảnh (như sự chia cách với
người cha) trên một phạm vi rất lãng mạn, ông cũng bộc lộ ra (trong một
xã hội đầy những họ hàng thân tộc và người quen biết, chủ yếu là
phụ nữ) một nỗi tự cao tự đại vô bờ bến và sự ý thức bệnh hoạn
về bản thân mình. II (1827 - 1834) Năm 1830, bài thơ thứ nhất tựa
đề Mùa Xuân (Vesna) được xuất bản. Cùng năm 1830, Lermontov ghi tên vào
đại học Những bài thơ thời kỳ thứ nhất
của Lermontov dẫu lê thê và không theo một quy luật nào hết, nhưng thỉnh
thoảng vẫn thấy loé lên tia sáng của thiên tài. Có vài bài biểu lộ một
sức mạnh không dự đoán trước của những tiếng khóc bi thương, và những
đoạn sâu sắc nhức buốt của một loại tự thú nội tâm. Chữ nghĩa chưa thành thục, bút
pháp không trau chuốt, kỹ thuật chẳng tinh luyện, nhưng tính trữ tình
trong các vần điệu thô sơ thì thật phong phú. Vượt trên tất cả là Thiên Thần, viết ra năm 1832, một trong những
thi phẩm hay nhất của Lermontov, cũng là bài được định giá là lãng mạn
nhất trong ngôn ngữ thi ca Nga. Nó rất hoàn hảo –dù rằng cái hoàn hảo
ấy chưa phải là chín chắn. Trong lịch sử văn học thế giới,
chưa từng có một bài thơ nào diễn tả lòng hoài cảm hay hơn Thiên Thần, trong chỉ 16 dòng, bằng một sự
chính xác đầy nhạc tính thuần chất và được viết ra bởi một cậu
trai 16 tuổi. Sáng tác Thiên Thần cũng là
bài thơ thuộc nằm lòng của các trẻ em Nga. “Một thiên thần trẻ tuổi
bay qua cánh đồng thiên đàng rồi lạc vào trần gian. Thoạt đầu, những
bài ca nhân gian thấm sâu vào hồn khiến chàng thích thú. Nhưng về sau, càng
lúc chàng càng héo hon mòn mỏi, tâm tư dày vò bởi ước muốn được nghe
lại các âm điệu siêu phàm mà qua các bài ca đều đều buồn chán của
con người, chàng không tìm thấy được...” Bài thơ có thể cung ứng đầu mối
nào đó cho dòng trào lưu lãng mạn ngầm tuôn chảy trong con người
Lermontov, giải thích được một trong những quan điểm khác biệt giữa
nhà thơ và Púshkin qua tính bi quan ông đặt để trên nhân vật. Lermontov là thi sĩ đầu tiên trong
văn học Nga đã xoay chuyển phần lớn tác phẩm vào trong dạng thức tự
thú nội tâm sôi nổi. Tuy nhiên, cũng khác Púshkin (mà ngay từ những bài
thơ đầu tiên đã cho thấy một kỹ thuật trau chuốt khéo léo), các sáng
tác Lermontov viết ra trong thời tuổi nhỏ chỉ là một loạt những rèn luyện
và thí nghiệm chưa thành thục so với những bài chủ yếu về sau. Nhà thơ
biết rõ điểm này. Vì vậy, trong cách làm việc của ông đã có một sự
khác thường đặc biệt: ông lập đi lập lại nhiều lần trên cùng một
chủ đề cho đến khi nó trở nên là khuôn mẫu xứng đáng và tìm thấy
được bối cảnh không gian thích hợp (như vài câu chuyện kết thúc trong
giai đoạn 1838-40 ở Géorgie.) Một điều rõ rệt là Lermontov
không thể sáng tác ra ngoài ảnh hưởng của Púshkin. Ngay cả sự kiện
nhà thơ tới gần thi ca Byron cũng chỉ suốt qua ảnh hưởng ấy. Hai thi phẩm
vững vàng viết ra trong tuổi 15, Những Người
Vùng Caucase (Cherkésy) và Người Tù Ở
Caucase (Kavkásskiy Plénnik), phỏng theo các câu chuyện của Byron, đã
dùng không gian lãng mạn của vùng Caucase làm bối cảnh. Kiểu thức độc
đáo của thi luật Lermontov chủ yếu được cấu tạo từ các xúc cảm
trong ba chuyến du hành đến vùng Caucase thời tuổi nhỏ, làm nên ấn tượng
nổi bật cho các sáng tác thời ấy (và cả về sau) của ông.
* Tuổi thanh niên của Lermontov mang
màu sắc ảm đạm bởi tất cả mọi loại tình cảm phức tạp. Sự đam mê
trong ông thì rất dữ dội, và những xúc cảm thật dồi dào phong phú. Nhưng
các nỗi này, nhà thơ đã khéo che đậy dưới lớp bề ngoài lãnh đạm, một
thứ mặt nạ mỉa mai xa cách cùng nhân thế. Cả thẹn nhưng hung hăng, đầu
óc lý tưởng nhưng lại ham khoái lạc, tốt bụng nhưng hay tỏ ra tàn nhẫn,
nhà thơ thường xuyên đau khổ vì những cơn chán nản ngã lòng trong chính
con người thật của mình. Và dù rằng sự cảm hứng trên tất
cả mọi thi phẩm về tình yêu có phát sinh từ nàng Madezhda Ivanova, con gái
một nhà viết kịch ở Moscow, hay vị tiểu thư quý phái Varenka Lopukhina
(mà tấm lòng sâu đậm của nhà thơ kéo dài suốt cả đời vẫn không
được đáp trả), thì sự dày vò nội tâm nói trên vẫn là điều chính yếu
mài bén cá chất mâu thuẫn của nhà thơ. Về sau, sự lãnh đạm cay đắng
trong tâm hồn Lermontov càng gia tăng bởi những mối tình dang dở. Nhà thơ
dường như có khuynh hướng trả thù trên đàn bà. Hàng loạt các cuộc
phiêu lưu tình ái nối tiếp nhau mang cùng kiểu mẫu của một trò chơi quyến
rũ mà ngay tại điểm thắng lợi đầu tiên, nhà thơ đã không còn cảm
nghe thích thú lâu hơn nữa; thế vào đó chỉ là một tình cảm hững hờ
hay chán nản. Nên, không ngạc nhiên rằng khoảng
giữa những năm 1827-1832, đang theo học tại các trường trung và đại học
ở (Lord George Gordon Byron, thi sĩ người
Anh (1788-1824), rất nổi tiếng với nhiều tác phẩm như Pèlerinage de Childe Harold (1812); bộ Don Juan
I-IV (1819); Cain (1821); Ciel et Terre (1823)..., đồng thời cũng nổi tiếng đẹp
trai, say mê tự do, có cuộc đời giang hồ phóng đãng, và được nhiều phụ
nữ say mê.) Tuy nhiên, tinh thần Byronism của
Lermontov không phải nẩy sinh từ một điệu bộ màu mè làm dáng. Nhà thơ
yêu thích và thân thiết với các tác phẩm Byron do từ sự trùng hợp của
một cá chất bất mãn, kiêu hãnh và nổi loạn như của Byron, dù rằng khi
nói về mình, nhà thơ đã viết:
Nhà thơ rất thích thú với cuốn
tiểu sử Byron do Thomas Moore viết, đồng thời chính ông cũng tự phiên dịch
các tác phẩm Byron sang tiếng Nga. Sống trong thế giới Byronism như
thế, Lermontov tự tạo cho mình một thái độ cách biệt với xã hội chung
quanh; đến nỗi không hề mảy may chú ý tới sự kiện rằng đầu thập
niên 1830, đại học Moscow đã trở nên là một trung tâm văn hóa sống động,
bao gồm các nhóm hội thảo: */ Nhóm Stankevich (sau đó có nhà
phê bình nổi tiếng Vissarion Belínski tham dự như một hội viên) khảo sát
tỉ mỉ mọi vấn đề về văn chương, triết học và cái vận mệnh khổ
ải của tầng lớp nông nô Nga. */ Nhóm điều khiển bởi nhà văn
Alexander Herzen (1812-1870) qui tụ rất đông các người trẻ tuổi. Trong các
cuộc tranh luận của nhóm này, tinh thần Décembriste cấp tiến đè chụp
lên trí não họ. (Décembriste (còn gọi Décabriste,
phiên âm từ Nga ngữ “Dekabr, có nghĩa “tháng Mười Hai”) là tên gọi của
một nhóm nhỏ trong cuộc nổi dậy lật đổ Nga hoàng ngày 26/12/1825, gồm
các người trong giới quý tộc có tư tưởng tự do và các sĩ quan trẻ muốn
thực hiện những cải cách xã hội và chính trị cho nước Nga kể từ sau
cuộc xâm lăng của Napoléon năm 1812. Cuộc chính biến xảy ra nhân dịp
lên ngôi của Nicholas I (1825-1855). Nhưng bởi sắp đặt lủng củng và thiếu
sự ủng hộ của quần chúng, cuộc nổi dậy tức thì bị dập tắt và những
thành viên phải nhận lãnh những hình phạt rất nặng. Trong số 121 người
bị đưa ra xét xử trước một phiên tòa đại hình, năm người bị treo cổ,
và 102 bị lưu đày khổ sai ở Tây Bá Lợi Á. Nhưng dù thất bại, cuộc nổi
dậy cũng đã gây một ấn tượng rất mạnh trên quần chúng, và được các
thế hệ sau nhìn như một bước mở đầu cho cuộc cách mạng trong lịch sử
cận đại của nước Nga. Trong những thập niên kế tiếp, giới chính trị
và các nhà tư tưởng cấp tiến vinh danh nhóm Décembristes như những người
tiên phong trong cuộc tranh đấu giải phóng nông nô. Họ cũng cố gắng, trên
cách của họ, theo sau bước chân nhóm Décembristes. ) */ Triết học Đức, đặc biệt
tư tưởng của Schelling (1775-1854) và Hegel (1770-1831) gây ảnh hưởng mạnh
trong thời buổi ấy. */ Một mối khích động khác đưa
đến từ lý thuyết các nhà Xã Hội Chủ Nghĩa Không Tưởng Pháp (Proudhon,
Cabet, Fourier) cũng cao bằng như hiệu quả tạo ra từ các tiểu thuyết của
George Sand (1804-1876), về sau được vài kẻ xúi giục (trong số có
Belínski) kết hợp với cánh tả Hegelianism, nhen nhúm hình thành ý nghĩ cách
mạng giữa những người trẻ cấp tiến Nga. Dĩ nhiên, Lermontov không thuộc vào
bất cứ nhóm nào trong số đó. Ông chỉ làm thơ, những bài thơ trữ tình
dài, ngắn; đồng thời viết kịch. Cảm hứng từ tác phẩm Những Kẻ Cướp của Schiller (nhà văn Đức,
1759-1805) mang đầy âm hưởng bão tố nổi loạn rất thanh niên, và bằng một
kiểu thức hoa mỹ, các kịch bản của Lermontov, Con Người Và Đam Mê (được đặt cho cái
tựa bằng tiếng Đức, Menschen und Leidenschaften, 1830), và Một Gã Kỳ Quặc (Stránny chelovék, 1831) đã
phản ảnh rõ rệt các luồng tư tưởng của sinh viên trong đại học
Moscow lúc bấy giờ: “Căm thù chế độ Nga hoàng bạo ngược và sự đàn
áp của chủ điền đối với giai cấp nông nô.” Năm 1832, nhân cuộc xung đột với
một giáo sư có đầu óc phản động, Lermontov rời đại học Hai năm sau, 1834, nhà thơ được nhận
vào đội Kỵ Binh Hoàng Gia Hussar, đóng tại Tsarkoye Selo, gần St.
Pétersbourg. Là sĩ quan của một trung đoàn lịch
sự hợp thời trang, lại nắm trong tay những ưu điểm trẻ tuổi, đẹp
trai và nổi bật trên nhiều mặt, nhà thơ chẳng ưa gì (Don Juan, nhân vật biểu tượng
cho tinh thần tự do. Khởi nguồn từ huyền thoại dân gian, nhân vật này
được đưa vào văn chương lần đầu qua bi kịch “El burlador de Sevilla”
–Kẻ quyến rũ ở thành Séville) năm 1630, do nhà viết kịch người Tây
Ban Nha, Tirso de Monila, soạn. Nhờ bản kịch, Don Juan trở nên một nhân vật
phổ thông của chung mọi người, giống như các nhân vật Don Quixote (của
Miguel de Cervantes), Hamlet (của Shakespeare) và Faust (của Goethe). Rồi lại biến
hình thành nhân vật “anh-hùng-du-đãng” trong các kịch phẩm, tiểu thuyết,
thi ca của nhiều tác giả khác nhau trên thế giới. Đặc biệt, huyền thoại
về anh ta được phổ biến rộng rãi và vững vàng suốt qua bản đại nhạc
kịch Don Giovanni của Mozart (viết ra năm 1787), kể chuyện chàng Don Juan khi
đang ở vào điểm cao nhất trong cuộc sống phóng túng của mình đã quyến
dụ một thiếu nữ quí tộc và giết chết cha cô ta, người đã cố gắng
báo thù để rửa nhục cho con. Sau đó, nhìn thấy trên nấm mồ người cha
có đặt một hình nộm để tưởng nhớ, anh ta suồng sã mời hình nhân
này đi dùng cơm với anh ta. Không ngờ, chính ngay cái tượng quỷ bằng đá
kia đã đến bữa tiệc thật, như một báo hiệu cho cái chết của Don Juan
sắp xảy đến. Trong bản văn nguyên thủy của
tác giả Tây Ban Nha, những phẩm chất quyến rũ của Don Juan –như sức
sinh động, lòng can đảm ngạo nghễ, và khiếu khôi hài- đã nâng cao giá
trị sự kết thúc bi thảm của vở kịch. Sức hấp dẫn phát sinh từ những
chuyển biến nhanh, tạo nên ấn tượng
căng thẳng cho độc giả theo những truy đuổi chồng chất mà các kẻ thù
của Don Juan đang dồn anh ta đến chỗ hủy diệt. Sự kích thích của bản
văn cũng được tạo nên từ việc độc giả nhận biết rằng chàng Don
Juan bị đưa vào bước đường cùng đã bất chấp mọi người mọi thứ,
ngay cả đến sức mạnh quỷ thần của
kẻ lạ mặt kia. Cuối cùng, anh ta từ chối sự chuộc tội và đời đời
rơi xuống địa ngục. ) Tuy nhiên, bên dưới bề mặt này,
Lermontov còn cưu mang trái tim của một thi sĩ và dần dần đạt tới sự
trưởng thành chín chắn. (Cái bản chất lãng mạn đầy thi cảm chỉ được
nổ bùng nhân cái chết của Púshkin sẽ xảy ra về sau). III. (1834 - 1837) Thời kỳ 1832-1836, hiệu năng sáng
tác kém hơn thời kỳ trước. Tính trữ tình đặc biệt hoàn toàn không
có. Lermontov chỉ viết những bài tự do mang tính cách tục tĩu, hoàn toàn
đối nghịch với dòng thi ca thời kỳ trước. Cuộc sống quân sự tạo ra
một đối chạm với thực tế; do đó, thi ca Lermontov cũng chuyển hướng từ
sự tự quan sát nội tâm của thời kỳ niên thiếu sang thô lỗ bộc trực.
Những bài thơ của thời kỳ này dẫu không thể in ra được thì lại
chính là những mầm mống đầu tiên cho các tác phẩm hiện thực sau này
ông sẽ viết. Bản chất thật của Lermontov cũng được tìm thấy
trong các diễn tả xoàng xĩnh vừa nói: “một tổng hợp của hai yếu tố,
thực tế và lãng mạn nội tâm.” Từ năm 1835, ông chuyển hướng
nghiêm trang hơn trong việc viết lách. Mơ rằng sẽ trở nên ngang hàng với
Púshkin trên lãnh vực thi ca, Lermontov cho xuất hiện một loạt các bài thơ
không ký tên trên các tạp chí định kỳ ở St. Pétersbourg, trong đó, nhà
thơ tỏ thái độ khinh bỉ cay độc, nhạo báng xã hội thượng lưu với
những trò tiêu khiển thường lệ của nó. Tuy nhiên, tác phẩm Lermontov thì
quá chủ quan và cá nhân, đến nỗi chúng vang vọng giống như một tự
truyện hay một bản thú tội trữ tình lãng mạn. Nhà thơ diễn đạt cơn
bùng nổ không những chỉ trong các sáng tác ngắn (cảm hứng từ nỗi đam
mê tuổi trẻ) mà còn trong các thi phẩm hoàn hảo về sau. Phần đời đáng kể ở St.
Pétersbourg và những quan sát về giới quý tộc triều đình đã làm nền tảng
cho bản kịch thơ Buổi Hội Hóa Trang
(Maskarád, 1835, xuất bản năm 1842): “Arbenin là một tay cựu cờ bạc
và một cựu Don Juan. Vợ anh ta, một
thiếu phụ trẻ, tính nết đoan trang, bị mất cái vòng xuyến đeo tay. Bà Dù có hơi cường điệu thống thiết
với các nhân vật “không mang nhiều tính thật”, trên một phía, Buổi
Hội Hóa Trang trình bày cho thấy nhiều điểm gợi cảm theo bức chân
dung một con người đang mù quáng vì ghen; phía khác, soi sáng sự xung đột
trong tâm hồn một kẻ tự đắc kiêu ngạo trước xã hội. Nhân vật
Arbenin thách đố với xã hội và khẳꮧ định quyền hành, xây dựng cái
Thiện và Ác của riêng mình. Đó là hình ảnh trở đi trở lại của
Ma Quỷ, làm nên biểu tượng nổi loạn trong tâm hồn Lermontov để chống
lại Con Người và Thượng Đế. Buổi
Hội Hóa Trang không phải là tác phẩm nghệ thuật lớn, nhưng lại là
một kịch phẩm tuyệt vời. (Lermontov viết sáu kịch thơ,
nhưng chỉ mỗi “Buổi Hội Hóa Trang” là chiếm được chỗ đứng thường
xuyên trong các buổi trình diễn kịch ở Nga. Năm kịch thơ kia, Những Kẻ
Du Mục, Các Người Tây Ban Nha, Con Người Và Đam Mê, Một Gã Kỳ Quặc,
Hai Anh Em, đều được viết ra trong thời kỳ sáng tác thứ nhất, mang
tính cách hài hước lãng mạn. Không kịch thơ nào đượxuất bản trong
thời sinh tiền của Lermontov. Riêng Buổi Hội Hóa Trang nhiều lần bị ty
kiểm duyệt từ khước cho dù có sự thay đổi đặc biệt nào trong phần nội dung chăng nữa. Họ ghi trong bản báo
cáo rằng tác phẩm này đã dựa trên vài dữ kiện thật để viết ra. Cuối
cùng, vào năm 1842, một năm sau khi Lermontov đã chết, nó cũng được xuất
bản, nhưng các cố gắng để đưa nó lên sân khấu đều gặp sự đối
kháng dữ dội của phía chính quyền. Chỉ vào năm 1852, có vài cảnh trong
kịch bản mới được cho phép trrình diễn, và phải đợi đến năm 1862,
toàn thể kịch bản mới được chính thức thức xuất hiện trước khán
giả. Kể từ đó, nó là một trong những tác phẩm trụ cột của sân khấu
kịch nghệ ở Nga và Âu Châu.) Lermontov là một thi sĩ lãng mạn
kiểu Byronic. Sự mâu thuẫn gắn liền trong cá chất làm cho tư tưởng bị
phân hóa, điều cũng đã từng xảy ra với Byron. Trong khi Púshkin thi sĩ
có thể và đã dựng nên được một thái độ quả quyết khoan thứ trên
cuộc đời rộng lớn, thì Lermontov lãng mạn lại thiên về khuynh hướng
nhìn và đối xử với toàn thể cuộc đời bằng cái bản ngã thất vọng
riêng. Ngôn ngữ trong nhiều bài thuở đầu tiên có thể được xem như
hơi mờ tối. Nhưng dần dần, nhà thơ khai triển sự phong phú của chữ
nghĩa, và cái khí lực trong những đoạn tả của ông đôi khi có thể so
sánh ngang hàng với của chính Púshkin. Mặt khác, thuyết hiện thực trong
tác phẩm Lermontov thường xuyên sôi sục với sự hiềm thù, chống lại
xã hội. Chẳng hạn, Sáshka. Sáshka
là hiện thân cho một Don Juan xác thật, nhưng ít lãng mạn và kém lịch
sự hơn nhân vật Don Juan. Viết ra năm 1835-39, đó là một thi phẩm
châm biếm mang âm điệu cáu bẳn, hung hăng, đôi lúc mờ tối, lại non nớt,
đầy tính tự cao tự đại, nội dung bao gồm những dữ kiện lý lịch về
người bạn thi sĩ thân thiết thuộc nhóm Décembriste (hoàng thân Aleksandr
Odoyevski), và về chính cá nhân nhà thơ. Bài thơ không thể in ra vì có nhiều
đoạn quá tục tằn, không phải rút nguồn từ ngôn ngữ của Byron, mà là
từ những lối nói lỗ mãng thô lậu trong nước Nga thời ấy. Mặc dù thế,
cái ấn tượng chung tạo ra từ Sáshka thì rõ ràng lãng mạn. Sáshka lưu lại dở dang và
chỉ được xuất bản rất lâu (1862) sau khi Lermontov đã chết. Cũng cùng mạch điệu nhưng không
mang tính lãng mạn hay sự tục tằn của Sáshka, Vợ Người Thủ Quỷ (Tambóvskaya
kaznachéisha, 1837-38) cũng bao hàm chủ thuyết hiện thực. Đó là một bài
thơ hài hước viết theo thể tứ tuyệt, phần nào bắt chước Count Núlin của Púshkin nhưng với một
chuyển biến cay đắng và kềm nén hơn, vẽ nên bức tranh về “các
viên chức tỉnh lỵ, trong số có một viên thủ quỹ trung niên thua bạc,
đem cầm cố người vợ đẹp của mình cho một sĩ quan kỵ binh.” Toan tính thứ nhất về tiểu thuyết
của Lermontov thời gian này là một tác phẩm dở dang mang tựa đề Cuộc Nổi Loạn Ở Pugachev, viết theo trường
phái cuồng nộ của Pháp với sự trả thù đen tối kiểu Byronic trên nhân
vật chính; trong đó các xúc cảm dữ dội thỉnh thoảng được làm cho nhẹ
bớt đi bởi các màn cảnh thực tế tàn nhẫn. Toan tính thứ hai là một cuốn tiểu
thuyết viết về xã hội thượng lưu, Công
Chúa Lígovskaya –cũng dở dang-, được nhà thơ bắt tay từ 1835-36 với
sự cộng tác của người bạn tên Svyatoslák Rayévski. (Tác phẩm này mang
nhiều phẩm chất cuốn tiểu thuyết Con Người
Của Thời Đại Hôm Nay sẽ viết ra năm 1840; nhân vật chính trong Công Chúa Lígovskaya là phác họa đầu tiên
của nhân vật Petchorin về sau trong tiểu thuyết kia.) IV. (1837 - 1839) Tháng 1/1837, cái chết bi thảm của
Púshkin trong cuộc đấu súng cùng Nam tước d’Anthes đã là một cú đấm
thẳng thừng, làm xúc động toàn thể giới trí thức Nga thời ấy. Tuy
nhiên, giới quyền hành không nhìn biến cố này bằng cặp mắt như vậy.
Khi một tờ báo ở St. Pétersbourg cho xuất hiện nơi trang nhất hàng chữ
đen đậm Mặt Trời Của Nền Thi Ca Nga Đã
Lặn, Bá tước Benckendorf, giám đốc Sở Mật Vụ, đã kêu lên: “Tại
sao tất cả mọi người chỉ đặt sự quan trọng chung quanh một cá nhân,
kẻ đã không có được một địa vị quan trọng nào hết?” Tiếp đó,
giới cung đình và thủ cựu thượng lưu lên tiếng giễu cợt “gã thi
sĩ tồi có người vợ quá đẹp!”... Tức thì trong khắp thủ đô thấy
có phổ biến rất nhiều bản sao chép tay một bài điếu ca vừa cảm động,
vừa cuồng nộ, tựa đề Cái Chết Của Một
Thi Sĩ (Smert’ Poéta), nội dung vinh danh nhà thơ quá cố và quở trách kịch
liệt giới trưởng giả cùng những kẻ bênh vực Nam tước d’Anthes, gọi,
d’Anthes là “tên giết người không cùng chủng tộc” kẻ “không
thể hiểu được giá trị ngần nào của cuộc đời một con người mà hắn
đã sát hại”, gọi những kẻ xỉ vả Púshkin là “một đám đông
đói khát, gáy bi bô nơi cung điện”, là “các tình nhân đê tiện
của sự đồi trụy”, là “những kẻ đàn áp Tự Do, Thiên Tài và
Vinh Quang đã thừa nhận cho một tên ngoại quốc giết chết Púshkin.” Bài
thơ có một dòng, nhanh chóng được toàn thể dân chúng ở St. Pétersbourg
biết đến như một câu tục ngữ: “Cây súng sẽ vững vàng trong tay kẻ
giết người mang trái tim tàn nhẫn.” (Bài thơ không được in ra trong thời
Nicholas I còn tại vị, nhưng được sao chép thành vô số bản viết tay,
khiến tên tuổi Lermontov vang lừng trên toàn nước Nga thời ấy. Năm 1856,
nó xuất hiện lần đầu trong tập Polar Star của Herzen, xuất bản tại Luân
Đôn. Hai năm sau, 1856, mới được chính thức in ra trong nước Nga.) Một bản sao bài thơ cũng được
kẻ vô danh gửi lên đương kim hoàng đế với câu viết: “Đây là lời
kêu gọi một cuộc cách mạng.” Nicholas I lập tức ra lệnh bắt giữ
tác giả có tính cách lật đổ ấy: Mikhail Lermontov, một sĩ quan 23 tuổi
trong trung đoàn Hussar Phòng vệ Hoàng gia. Sau đó không lâu, Lermontov bị trục
xuất khỏi trung đoàn, và bị gửi ra tiền tuyến trong vùng Caucase, nơi
người Nga vẫn còn tiến hành các cuộc chiến tranh chống lại các bộ lạc
địa phương chưa được bình định. Tại vùng đất mới Caucase (địa
danh mang một định số lạ lùng liên kết với cuộc đời, tác phẩm và cả
cái chết của Lermontov sau này), nhà thơ được gặp những người trong nhóm
Décembriste bị lưu đày đến đó, và được giới thiệu với giới trí thức
xứ Géorgie (trong có thi sĩ ngoại hạng Ilia Chavchavadze, cha vợ của nhà viết
kịch nổi tiếng Nga, Aleksandr Sergeyevich Griboyedov), cùng những thi sĩ Géorgie
xuất sắc khác trong Tiflis (bây giờ là Tbilisi.)
* Từ lúc ra đi, tên tuổi nhà thơ
vang dậy trong giới văn chương thủ đô. Vì thế, cuộc lưu đày đánh dấu
thời kỳ bắt đầu của một nghề nghiệp thi ca sáng chói nhưng cũng rất
ngắn ngủi của Lermontov. Bị quyến rũ bởi vùng thiên
nhiên trữ tình và bị khích động bởi dân ca của người xứ Géorgie,
Lermontov học tiếng địa phương rồi phiên dịch và làm tao nhã thêm bằng
tiếng Nga cho câu chuyện Ashik Kerib của
người dân miền núi. Lúc này, nhà thơ khởi sự xuất bản các tác phẩm
của mình một cách đều đặn. Sự thành công tức thì tìm đến. Nét đẹp
hùng vĩ của vùng Caucase chiếm chỗ đứng quan trọng trong thi ca Lermontov
(luôn cả trong cuốn tiểu thuyết Con Người
Của Thời Đại Hôm Nay ở giai đoạn cuối). Tính kiêu ngạo, lòng đam mê, tình
yêu và sự nổi loạn tâm hồn, đối nghịch với niềm yêu chuộng thiên
nhiên, tất cả đều được phô bày ra trong các tác phẩm. Nên, ngay dù thi
ca Lermontov (giống như nhà thơ tự nói) “thường xuyên đầy những đắng
cay giận dữ” thì chúng cũng ứ đầy sự tán dương “nỗi diệu kỳ
ngây ngất thách thức với thiên nhiên.” (Những năm cuối đời, tính bi
quan và biệt tài châm biếm của nhà thơ dịu bớt đi để trong thi ca ông,
điều này ít được nhận biết. Trên các vần thơ trữ tình, bầu trời
xanh vẫn chiếu xuyên qua những áng mây mù ảm đạm. Nhà thơ mong mỏi một
sự hòa giải với Cuộc Đời và Thượng Đế. Hơn nữa, trong các câu chuyện
kể thực tế, Lermontov, thi sĩ đam mê và lãng mạn nhất của nước Nga, đã
trình bày ra cho thấy một nỗi thích thú hân hoan.) Mặt khác, cuộc lưu đày giúp ông
giải thoát khỏi ảnh hưởng của Byron. Tại đây, các thi phẩm tuyệt diệu
lần lượt chào đời: Bài Hát Về Hoàng Đế
Ivan Khủng Khiếp Và Chàng Thương Buôn Kalachnikov (1838), Vị Sơ Tu (1839). Nhà thơ cũng sửa chữa lại
đến lần thứ sáu thi phẩm Ác Thần,
đồng thời thai nghén trong óc quyển tiểu thuyết Con Người Của Thời Đại Hôm Nay. Bài
Hát Về Hoàng Đế Ivan Khủng Khiếp Và Chàng Thương Buôn Kalachnikov, thi
phẩm duy nhất mang đặc chất dân dã trong toàn bộ sáng tác của Lermontov,
được viết ra trong kiểu thức một thiên sử thi, thể hiện rõ ràng mạch
điệu mới của thi ca Lermontov. “Kalachnikov, một thương buôn
trẻ tuổi ở Moscow, theo truyền thống Nga, đã thách thức một nhà quý tộc
thân cận với hoàng đế Ivan Khủng Khiếp một cuộc chiến đấu tay đôi
sau khi vị này xúc phạm và làm nhục người vợ của chàng. Trong cuộc chiến
đấu, chàng tuổi trẻ giết chết nhà quý tộc bằng một cú đấm mạnh vào
màng tang ông ta. Nội vụ đưa lên hoàng đế Ivan xét xử. ‘Có phải nhà ngươi đã hành
động với dự mưu từ trước?’, hoàng đế hỏi. ‘Đúng vậy’, Kalachnikov thật
thà trả lời. ‘Tôi đã cố tình giết chết ông ta, nhưng tôi sẽ không
trình cho Ngài nghe lý do nào khiến tôi làm như thế. Tôi sẽ chỉ cho ông
ta biết điều ấy trước mặt Thượng Đế.’ Hoàng đế nói: ‘Ngươi khá lắm, bạn nhỏ ạ.
Một kẻ chiến đấu can đảm, dám trả lời ta bằng chính lương tâm của
mình. Vì lẽ đó, ta sẽ ban thưởng tiền bạc để đền bù cho vợ góa
và các đứa con mồ côi của ngươi. Kể từ hôm nay, ta sẽ ban phát tự do
trong toàn cõi nước Nga rộng lớn. Về phần ngươi, ngươi sẽ phải chịu
hình phạt chém đầu vì sự nổi loạn của mình. Ta sẽ cho mài cái rìu thật
bén, bảo người đao phủ thủ trang sức đẹp đẽ và sẽ rung chuông cho tất
cả dân chúng nước Nga hay rằng ta đã bày tỏ lòng khoan thứ của ta’.” Hoàn thành năm 1837 nhưng phải đợi
đến năm 1840, nhờ vào sự can thiệp mạnh mẽ với ty kiểm duyệt của
Vassily Zhukovski (thi sĩ đạt được uy tín lớn trong triều đình), Bài Hát Về Hoàng Đế Ivan Khủng Khiếp Và
Chàng Thương Buôn Kalachnikov mới được cho xuất bản. Tư tưởng giấu
diếm trong câu chuyện là sự ám chỉ đến bi kịch gia đình của Púshkin,
điều dễ dàng nhận biết đối với độc giả. Ngoài ra nó còn được đánh
giá là một trong những tác phẩm bậc thầy trong nền văn học Nga. Thỉnh thoảng, Lermontov cũng đạt
được sự đơn giản mộc mạc và vô tư của Púshkin. Ví dụ, trong bài Borodino (1837, xuất bản năm 1839), nhà thơ
diễn tả đến độ hoàn hảo những âm thanh, thái độ và tiếng lầm bầm
hài hước của một cựu chiến binh già trong trận chiến Borodino, lúc bấy
giờ đang kể lại cho một chàng tuổi trẻ nghe về cuộc xâm lăng đầu tiên
của Napoléon vào nước Nga năm 1812. Trong bài Di Chúc (Zaveshchánie), tính chất thương tâm
được thể hiện thích đáng qua âm điệu khôi hài của một người lính
bị thương gần chết, nhắn gửi với một chiến hữu đang sắp về phép
những lời ao ước:
Lermontov cũng viết vài bài thơ diễn
tả sự chán ghét đối với xã hội ông đang hiện hữu. Trong Trầm Tư
(1838), nhà thơ nói về thế hệ thua thiệt mất mát của ông, một thế hệ
không có đặc tính, không có sự vui thú, mục đích, hoặc tương lai. Nó
không lưu lại dấu vết nào, và thế hệ theo sau sẽ sỉ nhục nó với “sự
nhạo báng cay đắng của một đứa con không có gia sản để lại bởi
người cha hư hỏng.” Ý tưởng mấu chốt của bài thơ này trở đi trở
lại nhiều lần trong các bài khác, vẽ nên hình tượng một trái quả còn
non nhưng đã sớm chín, do đó bị quên lãng và trở nên vô dụng rất
nhanh. Kẻ
Đào Tẩu (viết năm 1838, xuất bản năm 1846) là câu chuyện về một người
lính Cosaque một mình trốn khỏi chiến trường khi cha và anh hắn bị giết
chết. Hắn bị từ chối bởi tất cả mọi người, ngay cả mẹ hắn, và
cuối cùng thoát ra khỏi những khốn khổ bởi lưỡi dao găm của một kẻ
nào đó. Chủ đề u tối này rất thích hợp
với nhà thơ. Riêng Ác Thần, thiên sử thi rất nổi tiếng, lại
đã chứa đựng cảm nghĩ và tư tưởng đầy đủ nhất của Lermontov thời
điểm ấy. Chia làm hai phần, Ác Thần
được khởi sự từ năm 1829-30 ở Moscow, tiếp tục năm 1837 tại Géorgie
và hoàn tất năm 1839. Tác phẩm trình bày tình yêu tuyệt vọng của một vị
ác thần, qua đó, bàng bạc tất cả bùa mê của một thứ huyền thoại Đông
Phương. Trong bản thảo đầu tiên, sự sắp
xếp nơi chốn rất mơ hồ, nhưng trong bản cuối cùng, bối cảnh được
chọn là vùng Géorgie; thêm nữa, những đoạn tả cảnh nổi tiếng ở phần
đầu chỉ được viết ra tại Géorgie trong giai đoạn sáng tác cuối. Chủ
đề làm gợi nhớ tác phẩm Trời Và Đất
của Byron, người cha tinh thần của Lermontov và cũng là của Púshkin. Tuy
nhiên, nhân vật và bối cảnh được làm cho biến trạng sâu xa bởi người
thi sĩ Nga: “Không gian Caucase hoang dã rực rỡ, và nhân vật nữ, một
nàng công chúa xứ Géorgie tuyệt đẹp.” Dưới triều đại Nicholas I, Ác Thần không được phép xuất bản công
khai vì ban kiểm duyệt cho rằng nó mang tính cách bài xích giáo hội, nhưng
bằng những bản sao, nó vẫn được thầm lén lưu hành rộng rãi trong dân
chúng. Hậu bán thế kỷ 19, (cũng giống như các bài thơ của Púshkin thời
kỳ sáng tác ở miền Nam), do bởi cái phẩm chất ngọt ngào quyến rũ với
một nhạc tính kỳ diệu, một uy lực đầy ma thuật gợi cảm hứng cho độc
giả trên những tưởng tượng không quên được mà Ác Thần được định giá là bài thơ nổi
tiếng nhất trong nước Nga. “Một Ác Thần bị lưu đày khỏi
thiên đàng, tâm tư sầu héo, đi lang thang quanh mặt đất. Hắn kiêu hãnh
vì nỗi cô đơn và vì quyền lực riêng, nhưng lại buồn sầu bởi tình
yêu không có.” Giống như nhân vật chính trong
tác phẩm Thiên Thần, “vị Ác Thần
này nhớ lại các bài ca trên thiên đàng
và cảm nghe đau khổ vì sự cô biệt của mình. Trong một cung điện tráng
lệ, hắn nhìn thấy những chuẩn bị cho một lễ cưới; nàng Tamara tuyệt
đẹp đang chờ vị hôn phu đến từ một vùng đất lạ. Việc kỳ diệu
đã ứng nghiệm: Ác Thần rơi vào tình yêu. Hắn bèn làm phép cho vị hôn
phu tương lai bị kẻ cướp giết chết giữa rừng núi. Tamara sợ hãi, bỏ
trốn vào một nhà tu. Ác Thần hiện ra trong giấc mộng để quyến rũ nàng.
Hắn thuyết phục rằng vì tình yêu cho nàng mà hắn sẽ từ bỏ lòng kiêu
ngạo và sự trả thù độc ác. Hắn chỉ muốn ‘đem cho nàng sự bình
yên để yêu thương và cầu nguyện’. Hắn thì thầm bên tai nàng: ‘Không
có em, ta biết phải làm gì trong cuộc sống trần gian đời đời buồn nản?
Cung điện ta vô cùng trống rỗng. Em hãy đến đó cùng ta. Em là Thượng
Đế của ta.’ Và Ác Thần ôm nàng trong tay, đặt lên môi nàng cái hôn độc
hại. Cái hôn của Ác Thần đã tàn phá sự sống nàng trinh nữ. Các thiên
thần bèn rước linh hồn Tamara lên thiên đàng. Ác Thần ở lại trần gian
một mình như trước, kiêu hãnh, buồn sầu, không tình yêu và tâm trạng
tuyệt vọng đến muôn kiếp.” Trong thi phẩm này (viết theo cách
của Byron), Lermontov chủ ý tán tụng tinh thần tự do hiểu biết. Nhưng mối
kinh sợ chế độ kiểm duyệt tàn nhẫn ở Nga thời ấy đã buộc nhà thơ
phải giấu bớt, hay làm mờ đi những ý tưởng chân thật của mình. Kể từ khi phổ biến ra ngoại quốc,
Ác Thần đạt được sự ngợi khen dữ
dội. Tuy nhiên, đó vẫn không phải là một tác phẩm hoàn hảo. Có vài
đoạn diễn tả rất đẹp; trái lại, Tamara xuất hiện như một nhân dáng
giản lược, lu mờ. Đoạn diễn văn tán tỉnh của Ác Thần thì nhạt nhẽo,
lê thê và không có được chiều sâu tâm lý hay triết lý. Sức lôi cuốn
của tác phẩm trên nhiều thế hệ độc giả có thể được giải thích
do bởi cái hiệu lực thôi miên của tình cảm trĩu nặng trong tâm hồn
nhân vật chính, bởi tình yêu nẩy nở trong trái tim Tamara, cũng như bởi cảm
xúc lãng mạn của tác giả trên những miêu tả vùng thiên nhiên Caucase
hùng vĩ. Ngôn ngữ của Lermontov, dẫu ít chuẩn xác và lịch sự như Púshkin,
vẫn thường xuyên đạt được điểm hài hòa phong phú trong các vần điệu
xúc cảm đầy tính thôi miên. V. (1839 - 1840) Do bởi lòng nhiệt tâm của bà ngoại
và cũng bởi sự thỉnh cầu của thi sĩ Vassily A. Zhukovski lên Hoàng đế
Nicholas I mà Lermontov được phép trở về thủ đô vào cuối năm 1838; gia
nhập lại trung đoàn Kỵ binh Hussar. Tại St. Pétersbourg, Lermontov tiếp
tục cuộc sống không những chỉ như của một sĩ quan ăn chơi phóng đãng,
lại còn được nhìn nhận là một thi sĩ sáng giá –giống hệt Púshkin- cả
trên mặt thi ca lẫn mặt chính trị bị ngược đãi. Các bài viết của
ông được các nhật báo lớn ở thủ đô đón nhận nồng nhiệt. Lermontov
trở nên là tác giả được hâm mộ nhất, đồng thời là một trong những
cây viết chủ lực của tờ Otéchestvennye zapíski (Thời Sự Quốc
Gia), tạp chí dẫn đầu của giới trí thức Tây Phương thời ấy, do
Krayevski thành lập năm 1839. Năm 1840, một tuyển tập thi ca và
cuốn tiểu thuyết Con Người Của Thời Đại
Hôm Nay được in thành sách. Cùng năm 1840, Lermontov cũng gặp cả nhà
phê bình Vissarion G. Belínski nổi tiếng sắt đá, kẻ đã hình dung nhà thơ
như “một nỗi hy vọng lớn của nền văn chương Nga.” Nhưng, giống như Púshkin, chỉ với
một vài môi trường đặc biệt, ngoài ra Lermontov không thích được nhìn
nhận là một người trong văn giới. Ông rất hạn chế sự giao thiệp, và
chỉ mỗi Krayévski mới là người duy nhất trong giới này từng được xem
là bạn thân của ông. Mặt khác, ông tỏ ra lưu tâm rất nhiều trên các vấn
đề chính trị, và trong khoảng 1836-1837, là hội viên của một hội
chuyên đề ở St. Pétersbourg, tên gọi Hội
Mười Sáu. Dẫu cho có được hâm mộ đón tiếp,
nhà thơ vẫn nghe hoài nghi và cô đơn như cũ. Giống hệt Byron (trước thời
kỳ Thérèse Guiccioli), (Thérèse Guiccioli, người tình đam
mê cuối cùng trong đời Byron, vợ của Bá tước Alessandro Guiccioli. Mối tình
lén lút xẩy ra vào tháng 4/1819 tại Venice, Ý, kéo dài đến 1823 khi Byron
quyết định từ biệt Thérèse, lên đường sang Hy Lạp.) Lermontov trộn lẫn cuộc đời phóng
đãng với các hoạt động thi ca, dù rằng nhà thơ không màng làm cho mình
nổi tiếng trong giới quý tộc triều đình hay giữa đám sĩ quan bạn hữu. Cuối thập niên 1830, hướng sáng
tác của nhà thơ đã được củng cố. Điều xung đột giữa mộng mơ và
thực tế, giữa ảo ảnh đẹp đẽ và sự thô lỗ của đời sống trở nên
là chủ đề chính trong thi ca ông. Nhà thơ từ chối thế giới thực tại,
tự kiếm tìm một cuộc trốn chạy khỏi tính tầm thường và những bất
trắc của đời sống. Lòng yêu thích tự do cùng sự hoài nghi cay đắng
được thể hiện qua các bài triết lý trữ tình như Đừng Tự Tin (Ne ver sebye), Tư Tưởng (Duma). Hai cá chất này cũng được
làm sáng tỏ hơn qua các tác phẩm nổi bật trong phần đời ngắn ngủi
sau cùng của nhà thơ. Điển hình là Vị Sơ
Tu (Mtzyri), hoàn thành trong mùa hè 1839. Thuở ấu thơ từng theo bà ngoại
đến dưỡng bệnh tại Caucase, Lermontov đã mang trong tâm hồn những ấn tượng
khó quên về giải đất tuyệt vời ấy. Bấy giờ, nhân bài thơ Cái Chết Của Một Thi Sĩ làm phẫn nộ
Hoàng đế Nicholas I, Lermontov tìm thấy lại vùng đất mơ ước của mình.
Nơi đây, giữa những núi đồi, cảm nghe tuôn chảy trong người một mạch
nguồn “kiêu hãnh và tự do như những con chim ưng to lớn”, nhà thơ
hồi phục lại lòng tự tin chân thành trước những giá trị của đạo đức,
tình yêu và Thượng Đế. Tất cả mọi điều này được ca ngợi trong tác
phẩm Vị Sơ Tu (“Mtsyri” có nghĩa
là “người mới tu” trong tiếng địa phương vùng Géorgie), thi phẩm
bậc thầy đầy tính trữ tình lãng mạn, viết theo cách thức tác phẩm Người Tù Ở Chillon của Zhukovski. Chủ đề là những lời thú tội
trong giờ hấp hối của một chàng trẻ tuổi nổi loạn trước các linh mục
–sự bất chấp luật lệ và lời tuyên bố của một tinh thần ngang ngạnh
không suy sụp. Giống như bản nháp đầu tiên của Ác Thần, nơi chốn định vị cho Vị Sơ Tu trong bản thảo thứ nhất –(mang
tựa đề Lời Thú Tội, khởi sự từ 1830)- chỉ là mông lung mờ mịt.
Bản nháp thứ hai –1835- cấu trúc được sắp đặt theo cách thức chuyện
cổ tích Nga và có một nội dung phức tạp nhưng không mạch lạc. Trong bản
cuối cùng, (cũng giống như Ác Thần), vùng Géorgie được dùng làm bối
cảnh. Chứa đựng một sức lôi cuốn mạnh
mẽ, Vị Sơ Tu có thể được nhìn như
một thi phẩm thể hiện cái đẹp cao nhất của ngôn ngữ thơ trong nước
Nga. Hơn hết là đoạn tả cảnh thuộc phần giữa, ngắn, nhưng rõ ràng
vô giá. Đó chính là phần cốt lỏi trong sự tưởng tượng của Lermontov
– thi sĩ Nga duy nhất đã thấm cảm được thế nào là “một vùng trời
xa cách ngàn đời” trong tâm trạng những thi sĩ phái lãng mạn Đức và
Anh. Trong tác phẩm Thiên Thần, ảo tưởng
về một “vùng trời xa cách ngàn đời” này đã từng được xác định.
Đó là mặt tích cực của chủ thuyết lãng mạn trong tâm hồn Lermontov. Mặt
tiêu cực không rõ rệt khác là sự khinh bỉ dữ dội đối với con người.
“Ngay chỗ hợp lưu của hai con
sông lớn vùng Caucase, Aragva và Koura, ngày xưa có dựng một tu viện. Bây
giờ nó đã bị tàn hủy không còn chút nào dấu vết; người ta không
nghe ở đó tiếng kinh cầu đều đều của các tăng lữ trong những buổi
lễ cầu kinh nữa. Trong tu viện ấy đã từng nuôi dưỡng nhân vật chính
của thi phẩm, một đứa bé mồ côi người Circasa, được các tăng lữ
mang về đây từ khi 6 tuổi. Mệt mỏi bởi đường dài, đứa bé bị bệnh
nặng ngay khi đặt chân đến tu viện. Tuy nhiên, nhờ sự chăm sóc hết
lòng của các tăng lữ, Thần Chết đã phải xa rời cậu ta. Thoạt đầu, cậu tỏ ra rất bẳn
gắt; chối từ sự giúp đỡ của bất cứ ai, tránh không giao thiệp với
bạn bè đồng cảnh. Cậu tự tay thực hành mọi thứ trong cuộc sống tu
viện. Sau, cậu học tiếng Nga, được rửa tội và cuối cùng trở nên một
người sơ tu; xong, thỉnh cầu để được tuyên thệ là một chủng sinh.
Nhưng sự cảm hoài nhung nhớ quê hương vẫn không nguôi trong tâm hồn cậu.
Cậu mơ đến một sự nghiệp anh hùng, tự do, tình yêu và hạnh phúc. Bầu
máu nóng sục sôi trong huyết mạch, đánh mất đi của cậu niềm tĩnh lặng
tâm tư. Một đêm kia, trong khi mưa bão dữ
dội đổ lên vùng Caucase và những tăng lữ đang bận cầu kinh, cậu bỏ
trốn khỏi tu viện, ẩn mình trong một cánh rừng rậm rạp. Lang thang nhiều
ngày, đối diện với thiên nhiên hoang dã, cậu trải qua những cô đơn và
đói khát, nhưng đồng thời thưởng thức tự do và nguy hiểm. Không lâu sau đó, cậu bị tìm
thấy lúc đang ngất đi và bị dẫn về tu viện. Vô cùng suy nhược, lại
cảm tưởng rằng đang đến hồi gần kề cái chết, cậu quyết định phô
bày hết các ý nghĩ riêng. Cậu nói lên lòng thương nhớ quê hương, nói về
cha mẹ, những con người cậu chưa hề biết mặt. Cậu cũng nhắc đến kỷ
niệm bên dòng sông từng chơi đùa thời tuổi nhỏ. Ba ngày đào thoát vừa
qua đã làm mạnh thêm trong cậu nỗi yêu thích tự do và sự quyến rũ của
thiên nhiên hoang dã, điều mà trong cuộc sống tu viện bao nhiêu năm qua, cậu
đã bị tước đoạt. Những lời nhắc nhở của kẻ
sắp chết làm dựng nên phong cảnh tuyệt diệu của vùng Caucase: Thiên
nhiên hùng vĩ đồng hóa với cảm nghĩ chứa chan về tự do trong tâm hồn
cậu. Núi rừng rậm rạp với rất nhiều âm thanh lạ vọng ra buổi sáng
thứ nhất cậu thức dậy sau cái đêm đào tẩu. Tiếng chảy đều đều của
khe nước ở sườn núi, rì rào quanh
những tảng đá nhọn. Giọng điệu thì thào của gió luồn qua các nhánh
cây. Tiếng gào rền vang của các loài thú dữ... Trong khi bò trườn dưới
bụi rậm để xa hẳn khỏi vùng dân cư ngụ, cậu đồng cảm một cách
sung sướng với con một rắn vừa lướt qua bên cạnh. Và lúc một tia
sáng mặt trời tàn nhẫn chiếu xuống trên thân xác đang kiệt sức vì
khát, cậu lại mê sảng rằng mình đang nằm dưới đáy lạnh của một
giòng sông. Có hai sự kiện đặc biệt xảy
ra với cậu trong ba này đào thoát đó: thoạt tiên là sự gặp gỡ với một
cô gái người Géorgie khi ấy đến múc nước bên dòng suối, làm nẩy sinh
trong cậu một tình cảm mới lạ, vừa dịu dàng vừa mạnh mẽ, mà cho đến
lúc ấy, cậu chưa từng biết. Thứ hai là cuộc chiến đấu với một con
báo to lớn, cậu đạt thắng lợi, nhưng lại bị thương đến tính mạng
phải lâm nguy. Trong tu viện, dù tỏ ra quá đuối
sức để có thể sống còn, cậu vẫn không hối tiếc sự bỏ trốn của
mình. Nếu như không tìm lại được vùng đất quê hương thì ít ra vùng
trời tâm hồn từng mơ ước, cậu đã tìm thấy. Và cậu chết trong an
bình, hòa giải với Con Người và Thượng Đế. Giây lát ngắn ngủi của
một lần được sống nồng nàn đời sống phong phú quả đáng giá rất
nhiều so với một cuộc đời dài đầy những buồn chán ủ ê. Sự cảm động trên những phô diễn
trạng thái tâm hồn và nỗi sùng kính qua các mô tả thiên nhiên là hai phẩm
chất sâu yếu của thi phẩm. Trong Vị Sơ Tu, cũng như trong nhiều bài thơ khác,
sự di cư là điểm đặc thù nói chung của nhân vật Lermontov. Đó không phải
là một tình cờ, mà đã được rút ra từ những ảo ảnh thường xuyên
đeo đuổi nhà thơ, dày vò ông, cho đến khi nào ông tự giải thoát ra khỏi
chúng. Một trong những bài ngẫu hứng, Nhân
Cái Chết Của Alexandr Odóyevski (1839) được diễn tả với sự xúc cảm
sâu xa, thì phân đoạn chính vẫn là được chuyển tiếp từ Sáshka.
Hai tác phẩm lớn nhất của thời kỳ thành thục -Ác Thần và Vị
Sơ Tu- cũng chỉ là những tiếp tục của những thực hiện khởi nguồn
từ 1829 và 1830. (Hoàng thân Alexandr Odóyevski
(1802-1839), thi sĩ, một trong những người trong nhóm Décembristes, tham gia
vào cuộc lật đổ Nicholas I tháng 12/1825, bị đày đi Tây Bá Lợi Á, sau
đó bị chuyển xuống một trung đoàn phòng vệ ở vùng Caucase. Thời đại
sau, hoàng thân được nhớ đến, chủ yếu là nhờ khúc bi thương Lermontov
đã viết ra để tưởng niệm ông sau cái chết của ông, một bài truy điệu
tuyệt diệu nhất trong ngôn ngữ Nga. Các thi phẩm của riêng ông chỉ được
xuất bản rất lâu sau khi ông đã chết. Hầu hết các bài ấy đều nói
lên nỗi buồn sầu trong cuộc sống lưu đày, nhưng có một bài được biết
đến nhiều nhất, họa lại bài thơ nổi tiếng của Púshkin, Lá Thư Viết
Bên Trong Vùng Tây Bá Lợi Á (1827), trong đó nhà thi sĩ lớn hô hào cổ vũ
các phạm nhân trong cuộc nổi dậy đừng để lạc tinh thần. Bài thơ đáp
trả của Alexandr Odóyevski nói lên một cách hào hùng sự khẳng định trên
tinh thần bất khuất của cả nhóm Décembristes.) VI. (2/1840 – 7/1840) Nhưng Lermontov không chỉ là một
nhà thơ lãng mạn. Thời gian càng trôi, ông càng nhận ra điều rằng thực
tế không phải là một lớp màng xấu xí áp chế thứ “hạnh phúc thần
tiên” của ông, mà là một nơi chốn để sống và để hành động. Trong
thi ca ông, yếu tố thực tế khởi đầu được thể hiện bởi các bài thơ
xoàng làm ra thời gian theo học ở trường quân sự và qua Sáshka. Quãng đời 1837-1839, sự sáng tác
của Lermontov tiến triển trên hai chiều hướng khác biệt. Một mặt, nhà
thơ tự đè nặng mình bằng những tưởng tượng chủ quan của thời kỳ
sáng tác thứ nhất; mặt khác, lại tự mở ra một thái độ mới, khách
quan, bâng quơ, và thực tế. Cuối cùng ông chứng thực được vai trò “bậc
thầy” trên các bài thơ mang tính hiện thực hơn là trên các thi phẩm
lãng mạn. Điển hình rõ rệt cho điều sau là sự chào đời năm 1840 của
cuốn tiểu thuyết văn xuôi mang tựa đề Con
Người Của Thời Đại Hôm Nay (Gerojnasego Vrementi). Phải nói rằng tài năng Lermontov
được kết tinh và thành thục tuyệt diệu nhất là trong tác phẩm vừa kể;
qua đó, nhà thơ vẽ ra bức tranh sống động hoàn hảo về Con Người, tâm
lý cùng các hoàn cảnh xã hội sống đương thời của Con Người ấy. Quyển
tiểu thuyết hiện thực viết theo thể văn trữ tình được độc giả và
văn giới ca tụng nồng nhiệt. Người ta không ngần ngại đưa ra khẳng định
rằng Lermontov sẽ là người kế tục của Púshkin. Con
Người Của Thời Đại Hôm Nay, một bước ngoặc, mở đầu cho nền tiểu
thuyết tâm lý trong văn chương Nga. Thập niên trước đó, Púshkin đã viết
Eugène Onégin trong thể thức truyện thơ.
Lermontov chắc chắn đã bị ảnh hưởng bởi Púshkin, nhưng ông khai thác
môi trường văn xuôi rộng rãi hơn để sáng tạo một nhân dáng Petchorin
tinh anh và phức tạp hơn Onégin nhiều bậc. Bao gồm một kỹ xảo đáng nể
trong cách thức trình bày nhân vật, Con Người
Của Thời Đại Hôm Nay gồm 5 tiểu truyện riêng biệt, miêu tả cuộc
đời và tình cảm của Petchorin, một kẻ tiêu biểu cho thời đại
Lermontov đang sống. Mỗi tiểu truyện kể theo từng đoạn trong đời nhân
vật, gợi lên vài sự kiện mới của cá chất anh ta. Nội dung năm tiểu truyện không
được liên kết với nhau. Thứ tự của những câu chuyện trong tác phẩm
không tương hợp với thứ tự đã xảy ra các biến cố. Dù vậy, cuốn tiểu
thuyết vẫn thành công hoàn toàn trên mục đích chính yếu của nó: “Phô
bày cá chất và những hoàn cảnh sống của nhân vật chính, Petchorin.”. Qua tác phẩm, dòng văn xuôi của
Lermontov nẩy bật chặt chẽ và được kiềm chế một cách đáng kể; nhất
là nhà thơ đã cho nó chào đời trong một thời khoản mà truyền thống văn
chương tiểu thuyết chưa được củng cố. Sự khéo léo của Lermontov trong
vai trò nhà văn biểu tỏ hiệu lực dưới những dạng thức khác nhau được
sử dụng trong tác phẩm: lối kể chuyện ngắn gọn xúc tích, những đoạn
phân tích trên tập nhật ký của Petchorin, những đoạn miêu tả thiên
nhiên tuyệt diệu, những trao đổi dí dỏm trong buổi tiếp tân, những
câu chuyện thân mật của viên cựu chiến binh già Maxim Maxýmich..v.v... Nếu so sánh những tác phẩm mang
cùng chủ đề “trình bày cá nhân” rất phổ biến trong Âu Châu thời kỳ
văn chương lãng mạn, người ta dễ dàng nhận ra sự trùng giống nào đó
giữa Con Người Của Thời Đại Hôm Nay
với Adolphe của Constant de Rebecque (nhà văn Pháp, 1767-1830). Dẫu vậy,
cũng khó thể tìm ra trong tiểu thuyết của Lermontov bất cứ ảnh hưởng
trực tiếp nào từ tác phẩm đi trước. Thêm nữa, không thể phủ nhận
điều rằng với Con Người Của Thời Đại
Hôm Nay, Lermontov rõ ràng đã đi xa hơn Constant de Rebecque nhiều bước
trong việc cấu tạo thành công một nhân vật có vẻ hợp lý với những
chiều hướng của đời sống thực tế trong một phạm vi nhỏ hẹp nhưng
có sức sinh động lạ kỳ. Ba tiểu truyện trong Con Người Của Thời Đại Hôm Nay được
xuất bản riêng rẽ lần đầu trên một nhật báo lớn thời ấy (Bèla và Vận
Mệnh năm 1839; Tamán năm 1840); hai
truyện kia Maxím Maxímych và Công Chúa Mary xuất hiện chỉ trong ấn bản
đầu tiên đầy đủ cả 5 truyện, ra mắt độc giả tháng 5/1840 và đạt
ngay tức thì sự thành công dữ dội. Ấn bản thứ hai chào đời năm 1841,
không lâu trước khi tác giả bị tử thương, trong đó có bài tựa do
chính Lermontov viết, nói lên sự giễu cợt đối với độc giả trước nỗi
tin tưởng của họ rằng nhà thơ đã vẽ chân dung mình qua nhân vật
Petchorin. Những tiểu truyện này (Petchorin vừa
là nhân vật chính, vừa là người kể chuyện) được đánh giá là “những
mẫu đẹp nhất của văn xuôi cổ điển Nga”. Con
Người Của Thời Đại Hôm Nay tiếp nối truyền thống nghiên cứu tâm
lý cá nhân khởi đầu trong nước Nga bởi tác phẩm Eugène Onégin của Púshkin, trình bày mọi vấn
đề liên quan đến tâm hồn cùng những lỗi lầm của tuổi trẻ hiện đại.
Điều cố ý của Lermontov là sáng tạo mối liên hệ giữa hai cái tên
nhân vật chính của cả hai tác phẩm. Tên nhân vật Onégin của
Púshkin được rút từ chữ Onega, dòng sông phía Bắc nước Nga;
Lermontov cho nhân vật mình, Petchorin, một cái tên rút ra từ con sông Petchora,
cũng ở hướng Bắc. Bối cảnh là vùng Caucase thập niên 1830, khi ấy trở
nên một vùng đất mới của đế quốc Nga. Dù rằng Géorgie (phía Nam Caucase)
đã được sát nhập vào Nga năm 1801, nhưng những bộ lạc miền núi phía
Bắc vẫn chưa bị khuất phục. Khi cuốn tiểu thuyết này chào đời thì
các bộ lạc ấy, dưới quyền lãnh đạo của tù trưởng Shamil, đang chống
cự mạnh mẽ trước sức bành trướng của người Nga trên vùng đất họ.
Người Nga có một loạt các đồn biên phòng và pháo đài, gọi là phòng
tuyến, mở rộng diện tích vùng Caucase từ Hắc Hải đến Caspian để bảo
vệ những phần đã chiếm đóng trên lãnh thổ miền Bắc, chống lại sự
tấn công bất ngờ của các bộ lạc miền núi. Tên gọi “cánh trái”
và “cánh phải” trong hai tiểu truyện Bèla
và Vận Mệnh dùng ám chỉ các tuyến
phòng ngự đông-tây Géorgie, được nối kết với vùng Bắc Caucase bởi
con đường quân sự Géorgie nổi tiếng. Con đường này chạy dài từ
Tiflis qua rặng núi chính của Caucase để tới Vladikavkaz (bây giờ là
Ordzhonikidze). Đó cũng là con đường mà tác giả đồng hành với đại úy
Maxím Maxímych trong tiểu truyện Bèla. 1/ BÈLA: “Trên đường từ Tiflis tới
Vladikavkás, tác giả và cựu đại úy Maxím Maxímych gặp nhau. Đại úy kể
cho tác giả nghe câu chuyện chàng Petchorin 25 tuổi, từng phục vụ một năm
dưới quyền ông. Câu chuyện như sau: Đại úy Maxím Maxímych, một sĩ quan
độc thân 50 tuổi, cư ngụ trong pháo đài trên ngọn núi sát biên giới,
cùng vị lãnh chúa Tarta vùng biên giới Caucase vốn là bạn hữu của nhau
trong nhiều năm. Vị lãnh chúa này có ba người con: cô gái lớn sắp đi lấy
chồng, cô thứ hai tên Bèla 16 tuổi, và Azamat, cậu trai út 15 tuổi. Đại
úy Maxímych và Petchorin được mời tham dự tiệc cưới cô gái lớn.
Petchorin đâm mê mẩn vì Bèla. Ngoài ra Bèla còn được ưa thích bởi một
chàng trai người Tarta, tên Kazbich. Kazbich có một con ngựa rất quý. Trong một
lúc bỏ ra ngoài hóng mát, đại úy Maxímych tình cờ nghe lỏm được câu
chuyện cậu trai út của vị lãnh chúa đang gạ chàng Kazbich đánh đổi cho
cậu con ngựa quý để “lấy bất cứ thứ gì Kazbich muốn, dù đó là chị
Bèla!”. Kazbich không nhận lời. Sau tiệc cưới, đại úy kể với
Petchorin câu chuyện nghe lỏm được. Petchorin bèn đề nghị với cậu nhỏ
Azamat một kế hoạch: “Cậu sẽ được con ngựa của Kazbich, nhưng đổi
lại, phải đem chị Bèla đến cho Petchorin.” Azamat bằng lòng. Đêm kế tiếp, nhân lúc người
cha vắng nhà vài bữa, Azamat bắt trói chị mang đến pháo đài cho
Petchorin. Phần Petchorin lập mưu để cậu cướp được con ngựa của
Kazbich. Từ đó, không ai nghe nói đến tên cậu nữa. Có lẽ cậu bỏ trốn
theo một nhóm du kích và bị bắn chết đâu đó ở chiến trường vùng
biên giới Kuban hay Terek. Phần người cha, không lâu sau, bị Kazbich giết chết
vì nghi ngờ ông chủ mưu trong việc xúi con trai đánh cắp ngựa của mình.
Riêng Bèla, lưu lại trong pháo đài với Petchorin và đại úy Maxím; sau một
thời gian chinh phục của Petchorin, nàng đã ngã lòng yêu anh ta say đắm. Ngày tháng trôi qua, khi bắt đầu
trở lại thói đam mê săn bắn thuở trước, Petchorin thường bỏ Bèla ở
nhà một mình. Một bữa, thẩn thơ bên bờ suối, Bèla gặp lại Kazbich, bị
gã này bắt cóc đem đi. Vừa khi đó, Petchorin và đại úy Maxím về tới.
Họ bèn rượt theo bắn giải vây, nhưng không trúng Kazbich. Trước khi lủi
vào rừng trốn thoát, Kazbich đâm mạnh một nhát lên lưng Bèla. Bèla bị
thương nặng, hai ngày sau nàng chết. Petchorin đau khổ đến gầy mòn thân
thể. Năm tháng sau, chàng xin đổi sang một nhiệm sở khác.” 2/ MAXÍM MAXÍMYCH. “Trong một trạm nghỉ, Đại
úy Maxím Maxímych (và tác giả) gặp lại Petchorin. Thái độ lãnh đạm của
anh ta làm đau lòng viên đại úy đang nôn nóng muốn bày tỏ cảm tình với
người bạn cũ. Maxím Maxímych là kiểu mẫu sĩ quan Nga đã luống tuổi,
tâm hồn mộc mạc, chính trực. Sau khi chiếm đóng Caucase, đại úy đã tự
gắn liền đời mình vào vùng đất này như một quê hương thứ hai. Cho dù
chỉ thủ một vai phụ, Maxímych đã đạt được cá tính ưu việt đạo đức
vượt trội địch thủ sáng ngời của ông. Trước khi chia tay, đại úy
nói cho Petchorin biết rằng dạo rời Caucase, anh ta đã để quên lại đó một
tập nhật ký. Petchorin đáp: “Cứ việc giữ lấy hay làm cái gì bạn
thích.” Vậy là đại úy Maxímych trao cho tác giả tập nhật ký của
Petchorin”. Ba truyện kế tiếp được trích từ
cuốn nhật ký của Petchorin, viết trước khi đổi đến đóng trong pháo đài
của Đại úy Maxím Maxímych. 3/ TAMÁN: “Petchorin khi ấy đang là sĩ
quan, cùng với người lính cận vệ đi qua một vùng tên gọi Tamán. Cả hai được hướng dẫn vào
trọ trong một ngôi nhà chỉ có duy nhất một thằng bé mù đang hiện hữu.
Ngay đêm ấy, Petchorin khám phá ra một ổ buôn lậu đường biển xuất phát
từ ngôi nhà ấy. Người chủ chốt là một cô gái trẻ đẹp nhưng rất
giảo hoạt và một thanh niên đang trốn trên tàu. Thằng bé mù là đồng lõa
đưa tin. Ngày hôm sau, giả đò yêu thương Petchorin, cô gái quyến dụ
chàng lên thuyền với cô rồi tìm cách xô chàng xuống biển. Petchorin chống
cự, thoát được tay cô gái. Trên bờ, chàng tìm biết thêm điểm kết thúc:
gã thanh niên và cô gái đã vượt biển ra khơi, bỏ rơi thằng bé mù đứng
khóc một mình trên bãi vắng.” 4/ CÔNG CHÚA MARY: Chính tự nó có thể được nhìn
như một trung thiên tiểu thuyết hoàn hảo. Cách kết tạo câu chuyện được
dẫn khởi từ tác phẩm Eugène Onégin của
Púshkin một cách khéo léo. Mối tình tay ba (Petchorin yêu Vera; Mary
yêu Petchorin; và Grushnitski yêu Mary) được kết thúc bởi
một cuộc đấu súng giữa Grushnitski và Petchorin; cuộc đấu mà
do những chi tiết và nơi chốn trùng hợp đã nói lên trước cái vận mệnh
lạ lùng sau đó không lâu đã phủ lên chính cuộc đời tác giả. “Trong một mùa hè tại vùng suối
nước ấm Caucase, Petchorin gặp lại một chiến hữu cũ tên Grushnitski, một
kẻ ba hoa khoác lác, lúc nào cũng tự làm ra vẻ bí mật như một nhân vật
tiểu thuyết qua chiếc áo dày cộm anh
ta thường mặc. Petchorin nhìn thấu được cá chất gã này, vì vậy mà gã
không ưa Petchorin, dù ngoài mặt vẫn tỏ ra hòa hợp. Petchorin giao thiệp thân mật với
bác sĩ Werner, một người có tấm lòng rất tốt. Trong vùng suối ấm cũng hiện
diện bà công chúa Ligovskoy và cô con gái tên Mary. Cả hai là bạn quen với
vợ chồng Vera, người yêu cũ của Petchorin. Vera lúc ấy đang bị lao phổi
nặng. Grushnitski ra công đeo đuổi công chúa Mary nhưng không toại ý. Trong
khi đó, công chúa lại âm thầm yêu Petchorin dù đối với nàng, Petchorin vẫn
tỏ ra lãnh đạm. Grushnitski ghen tức, bày cách sỉ nhục Petchorin. Cuộc đấu
súng diễn ra. Grushnitski bị bắn chết. Petchorin rời bỏ Caucase, tìm đến
vùng N., cư ngụ trong pháo đài, dưới quyền đại úy Maxím Maxímych.” 5/ VẬN MỆNH. Một câu chuyện lãng mạn thường
tình, trong đó Petchorin chẳng ai khác hơn là tác giả (người kể
chuyện) và không đóng vai trò nào cả. Đó là một giai thoại làm nổi bật
thêm cho toàn bộ câu chuyện, na ná như những truyện của Púshkin. Và cũng
giống như vài nhân vật của Púshkin, Petchorin biến dần khỏi sân khấu
với không một lời giải thích nào về cái ngõ cụt đời sống mà anh ta
đang bước.
* Petchorin, nhân vật chính, một
sĩ quan trẻ, bướng bỉnh, thông minh, yếm thế và hay nhạo báng kẻ khác;
con người đã kinh qua rất nhiều hoàn cảnh sống; một người đàn ông trầm
tĩnh, tâm hồn mẫn cảm nhưng lại rất cứng rắn sắt đá, lúc nào cũng
cưu mang sự khinh bỉ đối với giới thượng lưu. Anh ta có khả năng về
những đam mê cao quý và đại lượng, nhưng cuộc đời đã đánh mất của
anh ta mọi cơ hội để phô bày chúng. Tâm hồn anh ta bị tàn phá giống như
một ngọn núi lửa đã tắt. Anh ta bỏ phí nghị lực trong các cuộc phiêu
lưu can đảm nhưng vô nghĩa lý, hủy hoại các phụ nữ yêu mình và cuối
cùng tự ghê tởm chính mình và thế giới chung quanh. Như cái tựa đã nói lên, Petchorin
là đứa con của thế kỷ, một hiện tượng xã hội. Toàn thể một thế
hệ Nga trở nên què quặt bởi chế độ nông nô. Các phản ứng chính trị
dưới triều đại Nicholas I bị bóp nghẹt bởi sự thiếu hoạt động và
bị chỉ trích lên án trong sự hiện hữu vô ích. Giống như Onégin, Petchorin đại
diện cho mẫu người được xếp riêng rẽ khỏi xã hội tầm thường do bởi
tài năng vượt bực của họ, nhưng bị bắt phải chịu để cho hoang phí
cuộc sống, một phần bởi thiếu cơ hội thi thố năng lực đặc biệt,
phần khác cũng bởi chính họ thiếu sức mạnh để thi hành điều ước
muốn riêng. Nhưng Lermontov đi xa hơn Púshkin
trong sự phân tích cá nhân thừa thãi. Petchorin có các phẩm chất mà
Onégin hoàn toàn thiếu. Petchorin sở hữu một nghị lực và
lòng kiêu hãnh. Anh ta có thể bị công kích nhưng lại là kẻ luôn luôn có
chủ đích, dù rằng đích nhắm của anh ta chỉ đem lại các chiến thắng
phù phiếm không đáng kể và hầu hết bị xô đẩy bởi lòng tự cao tự
đại. Lermontov đối xử với Petchorin bằng tính cách khách quan lãnh
đạm có phần sắt đá, kết quả là sự vạch trần về một mẫu “anh
hùng ngu dốt tối tăm”. Giống như các nhân vật của
Byron, Petchorin là một cá nhân có cái tâm hồn mạnh mẽ đến kỳ dị
dưới mắt thiên hạ. Ở tuổi 25, Petchorin đã trải qua tất cả mọi
điều mà cuộc đời dâng tặng cho anh ta, nhưng vẫn không tìm ra gì hơn
ngoài sự thỏa mãn giây lát. Chẳng những thất bại trong việc chờ đợi
nhìn thấy từ cuộc đời một mục đích cao cả để có thể thi thố khả
năng phi phàm của mình, anh ta lại còn phải bị phung phí hao mòn nghị lực
riêng trong các cuộc phiêu lưu tầm thường với ảo tưởng rằng đó chỉ
là sự trốn chạy nhất thời khỏi những buồn chán. Vì vậy, nỗi đắng
cay, yếm thế làm sao có thể tránh khỏi? Điều an ủi duy nhất là anh ta vẫn
giữ được lòng tự tin theo những hiểu biết ưu việt của mình. Anh ta tự
xem thường những cảm xúc và kiêu ngạo riêng, giống như đã từng nói với
bác sĩ Wener như sau: “Sự náo động của cuộc đời đã để lại
trong tôi vài tư tưởng, nhưng không để lại cảm giác nào cho tôi cả.”
Chứng minh điều đã nói, Petchorin thường xuyên chà đạp cảm nghĩ
người khác. Cái bất chấp trước hạnh phúc hay đau khổ của kẻ khác
được lập lại nhiều lần trong tác phẩm. Những nạn nhân của Petchorin,
nếu may mắn (như Vera, Mary) thì phải trả giá bằng trái tim tan vỡ;
hoặc giả ít may mắn hơn (như Bèla, Grushnitski) đã phải trả bằng
chính mạng sống của mình. Trong vai trò một kẻ cực kỳ
kiêu ngạo, Petchorin là nhân vật mở đường cho các nhân vật nổi
loạn của Dostoievski về sau, từ Raskolnikov đến Ivan Karamazov. Tất
cả bọn họ đều có bản chất đam mê, đầy nghị lực. Tất cả đều
vượt quá sự thông thường của tính Thiện và Ác. Nói chung, vấn đề đạo đức là
điểm chính yếu trong thi ca và văn chương Lermontov. Tại sao con người bị
cám dỗ bởi ma quỷ? Cái gì là nguồn cội giấu diếm đàng sau hành động
con người? Tại sao có vài cá nhân bác bỏ thứ bậc hiện hữu của các sự
vật và cố gắng để vượt quá những giới hạn của họ? Những câu hỏi
này luôn luôn làm bận tâm Lermontov và được nêu lên hoài trong các tác phẩm
của ông. Petchorin thuộc thế hệ Lermontov, là kẻ đại diện cho giới trẻ Nga thập niên 1830 kể từ sau cuộc nổi dậy lật đổ chế độ Nga hoàng tháng 12/1825 (nhưng sớm thất bại) của nhóm Decembriste. Cái tựa đề đã rõ ràng nói lên điều ấy. Cũng vậy, Vissarion Belínski, nhà phê bình nổi tiếng vài năm sau, đã nhấn mạnh rằng: “Kiểu mẫu nhân dáng Petchorin hẳn phải xuất hiện không thể tránh được trong thời kỳ đặc biệt ấy của lịch sử nước Nga”, và “Đó là mẫu người của thời đại chúng ta, biểu thị hai đặc điểm rõ rệt: hoặc là |