
Hôm nay lo xong những công việc đón Xuân của cộng đồng
và quần chúng Phật tử trong ba ngày Xuân, tôi có được những giờ khắc
để dành cho việc làm thơ Xuân. Tôi dạo vào vài trang websites quen thuộc
để được thấy nhành mai Xuân và thêm “cảm hứng về Xuân” cho những
bài thơ sắp ra đời của mình. Vào trang Giao Điểm tôi gặp những mục
“new” và ngay cạnh bài viết : “NÊN HIỂU
VÀ HÀNH TRÌ BÁT KÍNH PHÁP NHƯ THẾ NÀO?” của
tôi có bài đối thoại của Cư Sĩ Phúc Lâm : “BÁT KỈNH PHÁP” :
MỘT VẤN NẠN THỜI ĐẠI. “Tôi
nghĩ, có thêm một tiếng nói của cư sĩ Phật Giáo có lẽ cũng không phải
là vô ích.” ( Lời của Cư Sĩ Phúc Lâm - những phần trích dẫn sau với Font màu nâu thế này là lời của Cư Sĩ Phúc Lâm) Khi
gửi bài viết trước đến trang web này tôi có ghi : “ Vấn đề
này ( Bát Kính Pháp) cần phải được nghiên cứu nghiêm túc của nhiều Tăng
Ni và học giả chuyên môn về Phật học và giới luật để sớm có kết luận rõ ràng về Bát Kỉnh
Pháp. Vậy thì, trong thời đại ngày nay, Bát Kỉnh Pháp nên hủy bỏ đi
hay nên được hiểu và hành trì một cách đầy đủ ý nghĩa, hoàn hảo hơn?”
và bài viết đó của tôi cũng chỉ
là một chút đóng góp “để rộng đường
thảo luận và tìm tiếng nói chung về vấn đề này” trong bài viết tôi cũng đã ghi : “Trong
chúng ta, không ai mạnh dạn tự cho là mình đã nhổ sạch vô minh và nắm
chân lý trong tay ( tôi không biết ai là người ngộ Đạo rồi?)”. Vậy nếu các vị cư sĩ, dù trong
cuộc sống bận rộn với gia duyên của mình, sau khi đã nghiên cứu học hỏi
những cốt tủy, căn bản của Phật giáo và thọ trì Tam Quy, Ngũ Giới, có
thể nghiên cứu sâu hơn nữa về Kinh, Luật, Luận trong giáo pháp Như Lai
thì quá tốt đi chứ? Những tiếng nói góp phần của cư sĩ hoặc của học
giả ( chỉ đọc, hiểu và nghiên cứu về Phật giáo chứ chưa quy y tu niệm
theo Đạo Phật) đều đáng quý với nỗ lực và tấm lòng muốn góp phần
làm sáng tỏ vấn đề này. “Ngoài
mặc cảm phe phái, sự chống đối có thể bắt nguồn từ sự khó hòa hợp
giữa hai quan niệm: sử dụng học thuật đứng đắn để đi tới cách
tân, tiến bộ hợp với thời đại; và bảo thủ truyền thống muốn duy
trì một “status quo” trong đó không ít thì nhiều có liên hệ đến địa
vị và quyền lực.” Việc quý vị phản ứng với bài giảng của Thầy Nhật
Từ về Bát Kính Pháp có phải là xuất phát từ “chia rẽ phe phái” ( thậm
chí còn muốn chụp
lên đầu Thầy ( Nhật Từ) một lúc vài cái nón hoàn toàn có tính cách chụp
mũ vô trách nhiệm, vô căn cứ) hay là xuất
phát từ lòng tôn kính Đức Phật mà
nay họ cảm thấy có người làm thương tổn Đức Từ Phụ của họ bằng
cách diễn dịch lệch lạc nên họ “bức
xúc” lên tiếng bằng mọi cách? Hàng Xuất gia - Trưởng Tử Như Lai thì
nên sống và hành Đạo với tinh thần vô ngã, vị tha, hoằng pháp độ
sanh vì lý tưởng hướng đến an lạc và giải thoát cho tất cả nếu có liên hệ đến địa vị và quyền lực thì
không còn phải là Tu Sĩ nữa rồi? “…tôi
thực tình không thể nào hiểu nổi Bát Kỉnh Pháp có công năng như thế nào
mà có thể cứu vãn sự suy thoái và giảm thọ của Chánh Pháp. Vậy Chánh Pháp tồn tại là vì Tỳ Kheo Ni
chấp hành Bát Kỉnh Pháp chứ không phải Chánh Pháp là Chánh Pháp? Vậy là Chánh Pháp nằm trong rừng Kinh điển
của Phật Giáo mà Đức Phật dùng suốt 45 năm để giảng dạy sau khi giác
ngộ, thọ hay bị giảm thọ là tùy thuộc vào việc Tỳ Kheo Ni có tuân
hành hay không Bát Kỉnh Pháp? Tôi thấy
thật khó mà có thể tin được điều này.”
Trong tất cả các bản kinh
văn chỉ có ghi những câu tương tự với câu : «Nếu người nữ không xuất gia ở trong Phật
pháp thì Phật pháp sẽ được lâu dài năm trăm năm.» [1]
chứ không hề nói Bát Kính Pháp có công năng cứu vãn sự suy
thoái và giảm thọ của Chánh Pháp. Bát Kính Pháp là hết sức cần thiết thời
Đức Phật, nếu không có Bát Kính Pháp lúc đó thì sẽ không có đường
hướng, cơ chế sinh hoạt rõ ràng trong Giáo Đoàn Tăng và Ni. Bát Kính
Pháp chỉ là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện đủ cho việc
“cứu vãn” này. Bát Kính Pháp được
chế định ra vào năm thứ Năm trong hơn 45 năm thuyết pháp của Đức Phật
và sau này, cũng vì Bát Kính Pháp chưa đủ để bảo đảm lòng tịnh tín của quần chúng, duy trì ổn định trong sinh hoạt Tăng già, thăng hoa đời
sống Phạm Hạnh của hàng Tu sĩ xuất gia nên Đức Phật đã thiết lập hệ
thống giới luật đầy đủ cho Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni,…và trước khi nhập
diệt, Đức Phật đã ân cần nhắc nhủ : “Giới
luật là thọ mạng của Phật Pháp”. Vậy nếu chỉ gìn giữ Bát Kính
Pháp không thôi, không quan tâm học hỏi và hành trì nhiều giáo pháp và giới
luật khác thì Chánh Pháp cũng sớm giảm thọ thôi. Còn lý do tại sao khi nữ giới
vào Giáo Đoàn khiến cho Chánh Pháp giảm thọ thì trong bài viết trước tôi
đã cố gắng quán sát vào sinh hoạt xưa nay trong Tăng già mà suy nghiệm
mà đưa ra các lý do, giờ này tóm tắt những ý chính nhất một
lần nữa để cùng tham khảo: 1/ - Vì
Giáo đoàn của Phật Giáo có thêm giáo đoàn Ni cho nên số lượng tu sĩ xuất
gia gần như gấp 2. Khi số lượng gấp 2 thì xác suất vi phạm giới luật cũng tăng gấp 2 : nhất
là thời gian càng cách Phật lâu xa, giới luật càng lơi lỏng. Khi sự vi
phạm giới luật nhiều mà nếu như không có biện pháp hạn chế kịp thời
thì rất dễ vi phạm lan tràn (vi phạm theo, ai cũng như ai, để rồi không
ai thắc mắc với ai) và như vậy Chánh Pháp rất dễ bị giảm thọ.
2/ Quan hệ trong nội bộ Ni : nhiều điều khó bàn hết
Quan hệ trong nội bộ Ni rắc
rối hơn trong nội bộ Tăng – đó là một thực tế, đến nỗi nhiều vị
Ưu Bà Di muốn xuất gia đến gặp một vài vị Pháp lữ của tôi hỏi : “Con có nên đi xuất gia không, thưa Thầy”
các Pháp lữ tôi thường trả lời
: “Đi xuất gia và trở thành một vị Sư
Cô thực sự thì quý lắm con ạ, nhưng con hãy tiếp cận dần dần với cuộc
sống Ni chúng xem sao, nếu thấy thích hợp thì con hãy quyết định. Có một
điều này : Thầy thường nghe nhiều vị
Ni thường hay than là : cư xử giữa quý Thầy với nhau sao nhẹ nhàng dễ chịu còn bên Ni chúng
con sao nhiêu khê và nặng nề quá! Nếu
xuất gia, con hãy lưu tâm mà vượt qua trở ngại này” hoặc có số lượng khá nhiều Ưu Bà Di
tìm đến xuất gia với Sư Phụ là vị Tăng chứ không phải là vị Ni.
Tôi cũng đã thử tìm nguyên nhân của những rắc rối khó khăn này : “Có lẽ bản chất phụ nữ họ sống nặng về tình cảm
còn nam giới họ nặng về công việc và không quan tâm đến tình cảm của
những người xung quanh cho lắm nên ít bị phiền nhiễu trong quan hệ lẫn
nhau? Cái rắc rối là do bên Ni giới họ có nhiều suy nghĩ “ Đáng lẽ” trong đầu : đáng lẽ cô ấy phải như thế này, đáng lẽ
việc ấy phải như thế kia,… và để ý hay chấp nơi lòng về cách của
mọi người xung quanh đối xử mình ra sao?” (kể từ đoạn này, hễ phần
trích dẫn có màu xanh là phần trích từ bài viết trước của tôi : “NÊN
HIỂU VÀ HÀNH TRÌ BÁT KÍNH PHÁP NHƯ THẾ NÀO?”)
3/ Trong cách cư xử
giữa Ni và Tăng : Một thực tế là có một số
vị Ni chưa thật sự nghiêm túc hành Bát Kính Pháp nên có hai điều xảy
ra : - Thân mật hơn, vượt khỏi giới hạn Bát
Kính Pháp quy định - Ngã mạn đối với Rõ ràng là : “thân mật như Huynh - Muội
cũng kẹt mà khoảng cách không thông cảm và giúp đỡ nhịp nhàng với
nhau lại ngấm ngầm nuôi giữ bản ngã, hay chỉ trích lẫn nhau cũng kẹt.”
Cũng vì có việc Ni giới vào
Giáo Đoàn bây giờ mới có : “Bát Kính Pháp - một vấn nạn thời đại”
nếu không có Ni giới thì vấn đề này đâu có nêu ra, phải không? “Đặc biệt cũng vì có Ni giới
vào trong giáo đoàn mà hôm nay mới có những bài toán nan giải : 1/ Chấp nhận Bát Kính Pháp là do
Phật chế ra thì có không ít người cảm thấy là Đức Phật thiếu Từ
Bi và Trí Tuệ 2/ Không chấp nhận Bát Kính Pháp
là do Phật chế, vậy thì 2500 năm qua nhiều thế hệ Thầy Tổ đã mù
quáng chấp nhận Bát Kính Pháp hay sao? 3/ Không chấp nhận Bát Kính Pháp
là do Phật chế, vậy thì những gì ghi chép lưu truyền lại trong Kinh tạng
đều chưa chắc là do Phật dạy hay là Chánh Pháp, cần phải có một cuộc
Kết Tập Kinh Điển để giám định lại đâu là lời Phật dạy, đâu là
phần thêm thắt về sau này. Cần có sự thống nhất trong nghị quyết của
Đại Hội Phật Giáo thế giới và Đại Hội Phật Giáo Việt nam về vấn
đề Bát Kính Pháp và những vấn đề khác là Chánh Pháp hay không Chánh
Pháp, nên vâng hành hay loại bỏ ra ngoài. Cũng bởi vì có Ni giới rồi mới
có vấn đề Bát Kính Pháp nên có nghi ngờ và bất ổn nơi Phật Pháp Tăng. - Nếu
quả đúng do Phật chế ra Bát Kính Pháp mà do chúng ta không hiểu hết Như
Lai Ý lại phê phán là Phật thiếu Từ Bi, Trí Tuệ, công bằng khi chế
Bát Kính Pháp như thế là chúng ta hủy báng Phật. - Vì
Bát Kính Pháp nằm sờ sờ trong Kinh Luật Luận Phật giáo nhiều nước, vậy
nếu không chấp nhận Bát Kính Pháp thì có quyền xét lại toàn bộ hệ thống
Kinh Luật Luận. Đứng trên phương diện cá nhân mỗi người thì ta có thể
cảm thấy thích cái nào, hợp giáo pháp nào thì thọ nhận và hành trì
giáo pháp đó, còn cái nào không thích hợp thì chừa lại cho người nào
thích hợp mà lãnh. Còn vì cảm nhận cá nhân bản thân ta không cảm thấy
thích hợp lại kêu gọi tẩy chay hoặc loại bỏ những điều trong Chánh
Pháp thì sẽ gây hoang mang xáo trộn và đánh mất đi những gì quý giá mà
Phật và Chư Tổ truyền lại và biết đâu chánh Pháp giảm thọ cũng bởi
vì những suy nghĩ và việc làm nông nổi của chúng ta vào lúc này. - Tăng
đoàn và Ni đoàn ổn định và phát triển nương vào thật hành Bát Kính
Pháp, nay đang có những nguy cơ bất ổn trong cư xử và liên hệ giữa Tăng
đoàn và Ni đoàn.”
Theo như lời Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Đôn Hậu cũng đã từng
nói rõ là Đạo Pháp suy vi vì, nguyên văn:
“Bản thể
của Tăng bị lu mờ, nội bộ Tăng bị phân hóa và thành phần của Tăng có nhiều quan điểm
dị biệt, giới hạnh suy kém và hiểu biết Đạo lý một cách cục bộ,
phiến diện” thì chẳng phải là thông qua việc “ tranh luận” về
Bát Kính Pháp này mà đang có xảy ra những dấu hiệu như lời Ngài nói
ư?
“Điều
hiển nhiên là đã từ lâu, Tỳ Kheo Ni không còn ở trong thời đại của
Đức Phật, và thực tế xã hội đã không còn ở trong những hoàn cảnh để có thể tạo ra những
cơ hội để Tỳ Kheo Ni có dịp thực hành Bát Kỉnh Pháp. Nhưng Chánh Pháp của Đức Phật đã không
hề suy giảm mà sau hơn 2500 năm càng ngày càng sáng ngời, và ngày nay, Tây
Phương càng ngày càng nhận ra chân giá trị của Chánh Pháp. Tại sao vậy?
Đơn giản thôi. Vì
Bát Kỉnh Pháp không hề có công năng cứu vãn sự giảm thọ của Chánh
Pháp theo như một luận cứ giải thích nguyên nhân Đức Phật đặt ra Bát
Kỉnh Pháp. Điều này cũng chứng tỏ
là Đức Phật không có đặt ra Bát Kỉnh Pháp vì trong đó, qua sự phân
tích trong lãnh vực học thuật, có những điều mâu thuẫn về thời gian
tính, tính nhất quán về giáo lý căn bản bất phân biệt giai cấp, tuổi
tác, và giới tính của Đức Phật mà chúng ta có thể thấy rõ trong ba Tạng
Kinh, Luật, Luận của Phật Giáo.” :
Điều này tôi đã ghi trong
bài viết trước, tôi không hiểu Cư Sĩ Phúc Lâm đã đọc bài viết của
tôi như thế nào nữa? Tôi nhận thấy là Cư Sĩ Phúc Lâm hai lần dùng từ
“lê thê” để nói về bài viết của tôi : “phần bình luận dài
lê thê của Thầy Thích Đồng Trí do Thai Binh Duong đưa lên”, “Thầy biện
giải dài lê thê trên mấy trang giấy nhưng tiếc thay lại không đi vào
chính chủ đề”. Không phải tính vào
số lượng ngôn từ hay trang giấy mà gọi là “lê thê” hay không “lê
thê”. Có người nói một ngàn câu mà người khác lại muốn nghe, không
thừa không thiếu chút nào, ngược lại có người chỉ cần nói một hay
hai câu lại khiến người khác cảm thấy là thừa thãi. Vậy cái chính là
hãy xét vào nội dung và tác dụng của bài viết hay là lời nói. Tôi cũng
nhận được E-mails của một số độc giả cho hay là họ hoan hỉ đọc từ
đầu đến cuối và tiếp nhận thêm được nhiều điều mới và cảm ơn
về bài viết đó của tôi. Tôi nhiệt tình viết và ghi sẵn tư liệu để
độc giả tham khảo, đó là chút góp sức của tôi trong đề tài, độc giả
thích đọc đoạn nào thì đọc, không thích thì thôi, có ai ép buộc phải
đọc từng câu, từng chữ? Xem ra, Cư Sĩ Phúc Lâm không nắm được những
ý chính dù tôi đã cặn kẽ phân tích trong bài viết trước. Tôi cũng tự
nhắc nhở mình là cố gắng nhọc công ghi chép những ý đó lại đây một
lần nữa xem sao? Đức Phật chỉ nói là chấp
nhận nữ giới vào Giáo Đoàn thì chánh pháp giảm thọ một nửa hoặc là
giảm thọ 500 năm (tùy theo văn bản) chứ không phải báo trước là Chánh
Pháp không tồn tại đến 2500 năm. “Về việc Ni giới hiện diện
trong Giáo đoàn sẽ làm giảm thọ chánh pháp, điều này không sai và Như
Lai đã thấy trước điều đó. Mọi người chúng ta bây giờ vẫn cho rằng
Chánh Pháp đang tồn tại phải không? Vậy thì cũng được – có sao đâu?
Ở trên kia, tôi đã loại trừ lối quy kết của Thầy Nhật Từ cho là :
Đức Thế Tôn đẳng thức hóa chánh pháp tồn tại 1000 năm. Cái chính là
với Tuệ giác và thần thông của Như Lai : Như Lai thấy trước nếu không có Ni giới vào Giáo Đoàn thì
Chánh Pháp sẽ trụ thế bao nhiêu năm ( ví dụ
: A năm) và nếu có Ni giới vào rồi thì Chánh Pháp trụ thế
bao nhiêu năm ( ví dụ : B năm) sau đó mới làm phép trừ : vậy thì do Ni giới
vào giáo đoàn nên thọ mạng Phật Pháp giảm là : A – B năm. Chúng ta là người phàm mắt
thịt, chúng ta không biết được A là bao nhiêu, B là bao nhiêu thì làm sao
biết được hiệu số A – B sẽ là bao nhiêu? Muốn mặc cả với Phật,
trước hết chúng ta phải có thần thông và phải biết bao nhiêu năm nữa
thì mạt pháp, bao nhiêu năm nữa thì Phật Di Lặc ra đời, lúc đó Tăng
đoàn biến mất trước hay Ni đoàn biến mất trước, người Tăng cuối cùng
hay người Ni cuối cùng của thời mạt pháp tên gì ?, …Lúc ấy chúng ta mới
bàn với nhau là : sao lời tiên đoán của Phật không phù hợp với điều
tôi đang thấy được, còn bây giờ nếu như không thấy biết một cái gì
hết về tương lai, không biết chánh pháp sẽ còn trụ bao nhiêu năm thì
làm sao quyết định là lời tiên đoán của Phật không phù hợp?” …
“Mặc dù cho phụ nữ vào giáo đoàn
thì chánh pháp giảm thọ nhưng cuối cùng Phật vẫn thành lập Ni đoàn là
vì sao? Xét về thời gian thì sự hiện diện
của Ni giới khiến chánh pháp giảm thọ nhưng xét về không gian Ni giới
góp phần hoằng pháp lợi sanh rộng hơn trong thời gian mà Đạo Pháp tồn
tại. Nghĩa là Đạo Phật thu ngắn chiều dài nhưng phát triển chiều rộng.
Chẳng hạn một công việc đó mà ít người thì làm lâu xong hơn, đông người
làm thì công việc mau xong hơn. Không thể lấy thời gian làm công việc để
nói là công việc làm nhiều hay ít, khối lượng sản phảm bao nhiêu mà phải
tính xem : số lượng người tham gia làm việc là bao nhiêu, hiệu suất làm
việc của mỗi người ra sao thì mới biết tổng thể khối lượng công việc
nhiều hay ít. Đức Phật đã thấy trước dù Ni giới vào khiến Chánh
Pháp giảm thọ nhưng nếu Ni giới hành trì Bát Kính Pháp và giới luật,
lo công việc tự giác, giác tha thì chánh pháp tồn tại tuy ngắn hơn mà vẫn
vừa đủ : vừa đủ ở chỗ là những chúng sanh có duyên thì sẽ nghe và
học được Giáo Pháp, số chúng sanh còn lại chưa kịp nghe học và hành
trì chánh pháp là chúng sanh vô duyên với
Chánh Pháp Phật Thích Ca. Nhưng không lo, một khi Chánh Pháp Phật Thích Ca
không còn nữa thì không lâu sau đó là đến thời kỳ Đức Phật Di Lặc
ra đời. Vậy chúng sanh không có duyên với giáo pháp Phật Thích Ca thì vẫn
còn cơ hội có duyên với giáo Pháp Phật Di Lặc. Điều mà tâm Từ bi khiến
cho Phật Thích Ca cân nhắc là : làm sao khoảng cách giữa thời kỳ Mạt
Pháp cho đến khi Phật Di Lặc ra đời không phải là khoảng cách quá xa,
vì chúng sanh trong thời gian đó không có cơ hội nghe biết được Chánh
Pháp chư Phật. Một khi chấp nhận nữ giới vào giáo đoàn Đức Phật đã
ước lượng được các điều sau đây : 1/ Có bao nhiêu nữ giới sẽ xuất
gia tu học kể từ khi Ni đoàn thành lập cho đến lúc Mạt Pháp? 2/ Chất lượng tu học và khả năng
chứng Thánh quả của những vị Ni đó, cũng như sự hóa độ, lợi tha của
Ni giới đối với chúng sanh là đến đâu và được bao nhiêu? 3/ Khoảng thời gian dài nhất và thời
gian ngắn nhất mà Giáo Pháp Ngài có thể tồn tại trên cõi đời này là
bao nhiêu? 4/ Tổng cọng tất cả lại : nếu
như có Ni giới vào thì số lượng chúng sanh nghe biết đến giáo pháp Phật
Thích Ca, tu tập và có lợi lạc từ giáo Pháp là bao nhiêu, còn nếu không
có Ni giới vào thì số lượng chúng sanh được thấm nhuần lợi ích từ
giáo pháp là bao nhiêu?
Do đó, điều quan trọng ở đây
là cả hai : thời gian Chánh Pháp hiện diện ở đời và số lượng chúng
sanh thấm nhuần lợi lạc từ giáo Pháp đó. Chẳng hạn như chúng ta bảo
suốt 25 thế kỷ qua chánh Pháp vẫn còn đang hiện diện thế giới này, nhưng
số lượng chúng sanh được hóa độ nương nơi giáo Pháp trong từng thế
kỷ là khác nhau. Một lần nữa, xét riêng mạng sống của một con người,
cái quý không nằm ở chỗ sống được nhiều, không phải người sống 90
tuổi là quý hơn người sống được 50 tuổi mà cái chính là : mỗi người
đã sống và đang sống như thế nào? Có người sống ít mà để lại sự
nghiệp vạn thế, có người sống nhiều mà gây phiền hà cho nhiều người
khác.” Như vậy lẽ nào gọi là “biện
giải lê thê” hay “lạc đề” đối với lập luận nêu trên của Cư
Sĩ Phúc Lâm? Hơn nữa, về việc Ni giới ngày nay có nên hành trì Bát Kính
Pháp hay không, tôi cũng đã nêu rõ quan điểm như sau: Lúc sắp nhập diệt, Đức Phật đã
thông qua Ngài A Nan mà nhắn nhủ hàng đệ tử Phật sau này rằng : “Nếu chúng Tăng muốn, sau
khi Ta diệt độ có thể hủy bỏ những học giới nhỏ nhặt không cần
thiết”. Vậy thì quan điểm của tôi thế
này, Bát Kính Pháp hết sức quan trọng và
là điều kiện bắt buộc đối với Ni giới khi Phật còn tại thế như
phần phân tích ở trên khi chúng ta đặt Ni giới vào trong bối cảnh xã hội,
đặc điểm tâm sinh lý phụ nữ, hoàn cảnh và động cơ xuất gia, thói
quen và việc làm của họ trước khi xuất gia, sự non trẻ và cần sự
giúp đỡ của Tăng đoàn,…
Còn
bây giờ khi thời đại, xã hội, cuộc sống đổi thay, trong điều kiện sống
và sinh hoạt tu học hiện tại của mình, nếu Ni chúng nào cảm thấy nhu cầu
bảo hộ của chư Tăng và Bát Kính Pháp không có tác dụng trong đời sống
Phạm Hạnh xuất gia nữa thì như vậy Bát Kính Pháp trở thành những học giới nhỏ nhặt không cần thiết và căn
cứ theo lời nhắn nhủ trên, có thể không hành trì theo. Còn Ni chúng nào
cảm thấy Bát Kính Pháp có tác dụng tích cực thì tiếp tục hành trì
theo. Nhưng hãy cẩn thận, xem xét cho kỹ để cho những cảm nhận và đánh
giá của Ni chúng đó đối với Bát Kính Pháp không mang tính chất chủ
quan, hời hợt và có sự can dự của dễ duôi, giãi đãi, phóng túng và
tiêu cực của mình? “Một
bộ tăng thường gồm những người tu trước tu sau, tuổi đạo phân biệt
rõ ràng, và có một hội đồng coi việc thi hành luật. Khi đó bộ Tăng đã gồm nhiều ngàn người. 501 người xuất gia cùng một lúc thì về
phương diện tu đạo, vai vế đồng đều, vậy nếu một Tỳ Kheo Ni chấp
hành sám luật trước hai bộ Tăng, Ni thì bộ Tăng và bộ Ni gồm những ai, hay là phải chấp
hành sám luật trước cả mấy ngàn Tỳ Kheo và trước 500 Tỳ Kheo Ni khác. Thực tế là, dù chúng ta có giải thích
Bát Kỉnh Pháp thế nào đi chăng nữa, thì ngày nay những điều đó đã
không còn được áp dụng. Đây là điều
quá hiển nhiên, chúng ta không cần phải bàn thêm gì nữa.” Chắc là Cư Sĩ Phúc Lâm đang
nói về điều thứ năm trong Bát Kính Pháp? “Nếu Tỳ kheo ni phạm
trọng tội thì phải chấp hành sám luật trước hai bộ Tăng Ni trong thời
gian nửa tháng” Tỳ Kheo Ni đó đối trước
hai bộ Tăng Ni sám chung một lần chứ có phải đối riêng từng Tăng Ni mà
sám đâu, tại sao nhọc công phân biệt là : bộ Tăng và bộ Ni gồm những ai? Trước
hết là Điều 1: Một Tỳ kheo ni, dầu
có trăm tuổi hạ cũng phải đứng giậy cúi đầu chắp tay đảnh lễ trước
một Tỳ kheo mới thọ giới Cụ túc được một ngày… Có
lẽ chỉ có Thầy Thích Đồng Trí là đi thẳng vào việc bình luận điều
thứ 1 trong Bát Kỉnh Pháp để phản biện Thầy Nhật Từ. Thầy biện giải dài lê thê trên mấy
trang giấy nhưng tiếc thay lại không đi vào chính chủ đề. Tôi xin trích dẫn một vài đoạn
trong phần này để chứng minh. Có
lẽ Thầy Thích Đồng Trí không đọc kỹ điều thứ nhất trong Bát Kỉnh
Pháp. Đây là một luật về “đảnh
lễ” và về số hạ lạp chứ không phải là chuyện chào hỏi nhau thông
thường khi Tăng Ni gặp nhau. Hơn nữa,
nếu một vị Tăng đang đi Thiền hành quán sát, hay đang ngồi Thiền thì
không ai nên quấy rối bằng một cuộc chào hỏi thông thường. Cư sĩ chúng tôi đều biết như vậy, một
Tỳ Kheo Ni không thể không biết đến điều sơ đẳng này. Vậy lý luận phản biện của Thầy có vẻ
hơi lạc đề.
Cư Sĩ Phúc Lâm không biết
mình lạc đề lại bảo người khác lạc đề? Cơ hội gặp nhau và đảnh
lễ chỉ xảy ra ở hai nơi : hoặc là lúc du hành bên ngoài hoặc là lúc
ở trong Tịnh Xá, khi đã bàn thì bàn cho hết chuyện cư xử giữa Tăng và
Ni khi gặp mặt. Người xuất gia tu học theo chánh pháp Phật Đà thì các
uy nghi : đi đứng nằm ngồi nên chánh niệm, tỉnh giác thì lúc nào mà chẳng
“Thiền hành
quán sát, hay đang ngồi Thiền”, vậy
thì biết lúc nào là “Thiền” hay không “Thiền” để biết cách đảnh
lễ hay chào hỏi cho thích nghi?
Thầy
Đồng Trí lại vẫn lẫn lộn giữa một luật cho Tỳ Kheo Ni, một điều
kiện để được gia nhập Tăng đoàn, với nghi thức liên hệ chào hỏi
nhau. Phải chăng nghi thức này, “Tỳ-kheo-ni
nào, dù 100 tuổi hạ, thấy tỳ-kheo mới thọ giới mà không đứng dậy nghinh đón, cung
kính lễ bái, hỏi chào, ba-dật-đề.”, đặc biệt có tác dụng lớn
cho những vị Ni mới xuất gia sơ cơ hậu học, chưa tỏ ngộ Phật Pháp…? Nhưng một Tỳ Kheo Ni đã có 100 tuổi hạ thì có phải là bậc mới xuất gia sơ cơ
hậu học so với một Tỳ Kheo mới xuất gia được một ngày không? Cho nên lý luận phản biện của Thầy Đồng
Trí không phải là phản biện vì nó không đi vào đúng chủ đề mà lái
sang vấn đề khác.
Tôi nghĩ là tôi nên chọn những
đoạn chính có liên hệ việc này trong bài viết trước để Cư Sĩ Phúc Lâm đọc lại :
“Để cho nhất quán và đơn giản
thì chỉ cần nên chọn một trong hai : Tăng nên chào hỏi Ni trước hay Ni nên
chào hỏi Tăng trước? Bởi lẽ như trên đã nói để tránh động niệm và
sanh tâm quán sát phân biệt thì chỉ cần biết đối diện mình là Tăng
hay Ni vậy là được rồi không cần quan tâm thêm xem người ấy là ai,
được bao nhiêu tuổi hạ? Chỉ trừ các vị Đại Đệ Tử Phật quá nổi
tiếng ra, còn các vị Tỳ Kheo Tăng - Ni
khác có ai biết ai được bao nhiêu tuổi hạ? Chẳng lẽ khi gặp nhau, hai
người đứng sựng lại hỏi : Bạch Đại
Đức, Đại Đức được bao nhiêu tuổi hạ? Rồi ai là người sẽ nêu
câu hỏi ấy trước? Chờ nghe xong câu trả lời rồi mới phân ngôi thứ
cao thấp và chào hỏi lẫn nhau hay sao? Tại sao lại phải nhọc lòng và nặng
nề cho việc chào hỏi quá vậy? Nếu vậy thì nó làm gián đoạn hết mọi
việc kinh hành quán sát, tu tập của mỗi
người và tốn khá nhiều thời gian và công sức cho việc chào hỏi này.
Do đó Phật chế theo một cách : vị Ni chào hỏi trước, vị Tăng đáp lễ
một cách đơn giản, nhẹ nhàng, ngắn gọn rồi đường ai nấy đi, tiếp
tục với công việc tu tập quán sát, chánh niệm và không bận tâm với những
ký ức về việc gặp gỡ, về các chi tiết liên quan đối tượng vừa gặp,
về việc chào hỏi vừa rồi.
Đó là nói Tăng – Ni gặp nhau ngoài
đường. Còn việc Tăng – Ni gặp nơi Tịnh xá : trường hợp này thường
xảy ra khi Ni có duyên sự đi đảnh lễ và thỉnh giáo nơi Đại chúng Tăng.
Các công việc như thế thì ít khi Tỳ kheo Ni đi thẳng đến gặp riêng một
vị Tỳ kheo Tăng tại am cốc của vị Tỳ Kheo Tăng đó mà là tác bạch
duyên sự trước Đại Chúng tăng rồi Tăng sai một hoặc vài vị Tăng giúp
cho các vị Ni hay Ni chúng về những công việc đó. Khi tác bạch như thế
thì đảnh lễ và thực hành bổn phận đối với tỳ kheo là phải rồi.
Ni và Tăng rất hạn chế trong việc
gặp nhau đặc biệt là gặp riêng một đối một, hay là có nhiều thời
gian cư xử với nhau. Một khi Tỳ Kheo Ni có
cơ hội để đảnh lễ và thực hành bổn phận đối với Tỳ Kheo Tăng thì
lúc đó vị Tỳ Kheo Tăng này có duyên sự đặc biệt có liên quan đến việc
tu tập hoặc được Tăng sai đến giúp Ni chúng. Đó cũng là những cơ hội
hy hữu quý giá cho Ni giới. Tỳ Kheo Tăng ấy dù lớn dù nhỏ, dù bao nhiêu
tuổi hạ mà được Tăng sai đến thì cung kính đảnh lễ vị ấy là phải
rồi, vì vị Tăng ấy là đại diện cho Đại chúng Tăng, lãnh sứ mạng của
Đại Chúng Tăng đến giúp Ni giới, đảnh lễ vị Tăng ấy như là đảnh
lễ và phụng hành Đại Chúng Tăng vậy.”
Phần trên tôi đã nói là Ni
giới không phải “đa lễ” hay “đảnh lễ” chư Tăng ngoài đường. Một
vị Tăng không đến gặp một vị Ni ở am thất riêng hoặc ngược lại. Vậy
thì chỉ có 2 trường hợp còn lại : Tại trú xứ Tăng: Ni giới
đang tác pháp hay tác thỉnh với Đại chúng Tăng vậy thì dù đảnh lễ một
vị Tỳ Kheo mới thọ giới trong ngày hôm đó cũng là một thành viên trong
Tăng đoàn và một phần trong các pháp tác pháp hay tác thỉnh. Tại trú xứ Ni : thì Tỳ Kheo Tăng ấy dù lớn
dù nhỏ, dù bao nhiêu tuổi hạ mà được Tăng sai đến thì cung kính đảnh
lễ vị ấy là phải rồi …
Vậy thì phân biệt tuổi hạ
cao thấp giữa Ni và Tăng mà làm gì? Tỳ Kheo Ni dù đến trăm tuổi hạ đảnh
lễ một vị Tỳ Kheo thọ giới một ngày mà liên quan đến Tác thỉnh,
Tác sám, hay đảnh lễ một vị Tăng sai đến với Ni chúng là phải rồi
– vì lợi ích Ni chúng và thành tựu Phạm hạnh của Tỳ Kheo Ni mà thôi.
Đâu có một Tỳ Kheo Tăng nào ngẫu hứng không có duyên sự gì mà “ghiền”
sự đảnh lễ nên tự ý đi dạo qua thăm trú xứ Ni để được đảnh lễ
cung kính đâu mà lại sợ phải phiền hà, bất công hay vô lý?
Cuối
cùng Thầy Đồng Trí còn đề nghị với Thầy Nhật Từ là:
Nếu Thầy Nhật Từ thấy điều
này bất công phi lý thì Thầy hãy thử thực hành điều ngược lại : Trước
khi Thầy dạy lớp Ni Thầy đảnh lễ Ni chúng tam bái
Phúc Lâm: Đề nghị này vô lý, thấy bất công thì xóa bỏ bất
công chứ làm ngược lại để thực hiện một bất công khác hay sao? Đề nghị này có tính cách “chọc quê”
Thầy Nhật Từ chứ chẳng phải là phản biện với lý luận, nhưng Thầy
Đồng Trí chắc không thể ngờ được là nó lại có phản tác dụng, chọc
lại chính mình.
Đề nghị này không vô lý mà có 3 lý do thỏa đáng : 1- Nếu như không chấp về sự tướng, giới tính thì hãy làm tái hiện hình ảnh Thường Bất Khinh Bồ Tát và như thế sẽ làm gương cho những vị Tân Tỳ Kheo đảnh lễ Ni Sư cao hạ lạp. Một vị Tân Tỳ Kheo đảnh lễ một vị Tỳ Kheo cao hạ lạp là chuyện tất nhiên và nếu bảo là cần có sự bình đẳng trong sinh hoạt Tăng Ni, nghĩa là Ni Sư cao hạ lạp cũng có uy đức và vai trò ngang với vị Hòa Thượng Tăng cao hạ lạp, vậy thì vị Tân Tỳ Kheo không phải là nên đảnh lễ Ni Sư cao hạ lạp sao? Vậy thì đảnh lễ Ni chúng tam bái là sự nhắc nhở đầy ấn tượng cho mỗi vị Tỳ Kheo Tăng hãy tự lượng uy đức mình và suy gẫm lại về Bát Kính Pháp không phải là không tốt sao? 2- Đảnh lễ cúng dường đến Đại chúng Tăng có phước đức, công đức không thua kém gì đảnh lễ cúng dường đến Phật. Chính Đức Phật không nhận bộ Y mà Dì Mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề cúng dường, mà dạy Dì Mẫu cúng dường đến Tăng chúng : “Ananđa, ngươi khẩn cầu
Như Lai thọ y của Dì mẫu bằng cách gợi lại mối tình dưỡng dục tuyệt
vời mà Dì mẫu dành riêng cho Như Lai thuở ấu thời. Ðiều này Như Lai không
phủ nhận. Do đó, Như Lai đã triệu tập chúng tăng, và hướng dẫn Dì mẫu
cúng dường đến đoàn thể thay vì cá nhân. Sự cúng dường đến tập thể
có giới đức thì phước báu thật là vô lượng.” “Dù đổ nước rửa bát với ý định bố thí cho những loại thấp sinh vẫn được phước nhiều. Do đó, sự bố thí từ người có giới đức trở lên đến bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác thì phước báu lại càng to lớn hơn. Tuy nhiên, phước của cá thể vẫn là phước tương đối, giới hạn; còn phước của tập thể thí thì tuyệt đối, vô hạn. Này Ananđa, đến thời mạt pháp sẽ không còn bậc xuất gia có giáo phục và giới đức, mà chỉ có hình thức tối thiểu để ghi nhận mà thôi. Chẳng hạn như, quấn vải vàng trên cổ, buộc chỉ vàng nơi cườm tay hoặc trên búi tóc. Mặc dầu vậy, sự bố thí đến hình thức tăng ấy cũng được phước vô lượng miễn là tác ý hướng vọng tăng già.” [2] Mọi Phật tử đều biết việc : Đức Phật không một mình giúp cứu độ Mẹ Ngài Mục Kiền Liên - Mục Thanh Đề, mà chỉ dạy Ngài Mục Kiền Liên về Vu Lan Bồn pháp để cúng dường và nhờ uy đức Tăng chúng mà cứu mẹ Ngài. Quả thật là : “Đức chúng như hải”. Nếu lạy Tăng chúng là chuyện làm hàng ngày thì tại sao việc Đề nghị này có tính cách “chọc quê” Thầy Nhật Từ? Lấy oai đức nhỏ đảnh lễ oai đức lớn là việc hợp lý sao lại nói là bất công, vô lý, hay chọc quê? Còn thấy “chọc quê”, “bất công”, hay “vô lý” thì quá chấp nhặt về hình tướng và giới tính rồi còn gì? 3. Nếu bảo là Bát Kính Pháp không phải do Phật chế ra, do ngoại Đạo đưa vào sau này, thì Thầy Nhật Từ cũng nên lạy Ni chúng để cảm uy đức bao thế hệ Ni giới đã nhẫn nại vì tôn kính những điều ghi trong kinh sách mà dù nhọc mệt cũng không dám bỏ và kể từ bây giờ lạy ba lạy xin Ni chúng sớm bỏ đi vì lòng tôn kính Như Lai, nếu bê trễ thì thương tổn Như Lai. “…
Giới luật được thiết lập sau 20 năm. Hệ
thống an cư, bố tát, định tội, trị phạt cũng nằm trong năm 21 trở
đi. Trong khi đó ở năm thứ 6 này, chúng ta đã nghe cái câu điều lệ
thứ hai: Ni không được tổ chức an cư ở những nơi không có Tăng. Chúng
ta thấy nó vô lý không? Thời điểm đó làm gì có cơ chế an cư mà có nội
dung đó?” Việc này tôi đã phân tích khá nhiều, bây giờ còn trích dẫn : “phần lý luận dựa vào sự bất phù hợp giữa thời gian mà chúng ta cho là Đức Phật dạy Bát Kỉnh Pháp và thời gian định cơ chế an cư, tự tứ, bố tát v..v..” nữa lại còn nói : Thầy Thích Đồng Trí đồng ý với
Thầy Nhật Từ ở điểm là có vấn đề
bất phù hợp về thời gian nêu trên, nhưng Thầy cũng không trả lời thẳng
vào câu hỏi chủ yếu của Thầy Nhật Từ mà chỉ nói về những lợi
ích của điều thứ hai trong Bát Kỉnh Pháp, nhưng tất cả chỉ nói về thời gian khi Giáo
đoàn Tỳ Kheo Ni mới được thành lập trong những điều kiện xã hội thời
bấy giờ. Tôi biết phải ghi thêm sao đây bây giờ? Thôi thì ghi lại câu này lần nữa : “Điều này tôi đã ghi trong bài viết trước, tôi không hiểu Cư Sĩ Phúc Lâm đã đọc bài viết của tôi như thế nào nữa?” Cư Sĩ Phúc Lâm hãy xem đoạn sau và hãy tìm ra bất phù hợp về thời gian như thế nào?
Về an cư : “Đúng là hệ thống giới luật
được thiết lập và ban hành đầy đủ về giai đoạn sau này ( theo nhiều
tài liệu thì Giới Bốn Ba La Đề Mộc Xoa được hình thành vào năm thứ
mười ba sau ngày Phật thành Đạo). Tuy nhiên việc an cư thì mùa hạ nào
Phật và Giáo Đoàn cũng an cư.” … “Cũng vậy, hệ thống giới luật
quy định thể thức an cư chưa được thiết lập. Tuy nhiên đã có việc
an cư thì Đức Phật đề cập về trú xứ an cư là điều rất tự nhiên
thôi, rồi sau này giới bổn sẽ từ từ kiết tập tổng hợp đưa vào
sau. Đúng là thường thì nhân phạm Đức Phật chế giới nhưng trong những
năm đầu Đức Phật cũng phải dạy những điều cần thiết để đảm bảo
cho các sinh hoạt Giáo đoàn chứ? Thật
là vô lý khi có việc an cư mà không biết sẽ nên an cư tại đâu?”
Về Bố Tát : Bố Tát nguyên khởi là sinh hoạt định kỳ và chung với
nhau trong chúng đoàn hay Ni chúng, các tôn giáo khác trong thời Đức Phật
cũng vậy . Đã có thành lập thành Ni chúng thì phải có sinh hoạt chung với
nhau. “Trong các kỳ nhóm họp sinh hoạt chung với nhau
trong Đại chúng Ni nên thỉnh giáo giới Tăng qua để hướng dẫn sinh hoạt
là tốt đẹp quá đi chứ?”
Về Tự Tứ : “Một khi đã có an cư thì phải
có ngày kết thúc an cư khi hết mùa mưa để rồi sau đó đi du hóa khắp nơi,
ngày kết thúc ấy gọi là tự tứ.” Đến ngày kết thúc an cư ba tháng mùa mưa thì cùng họp Đại chúng lại để kiểm thảo lại quá trình sinh hoạt tu học trong mùa an cư là tất nhiên thôi.
Cư Sĩ Phúc Lâm hãy đọc lại đoạn sau này xem tôi có
“trả lời thẳng
vào câu hỏi chủ yếu của Thầy Nhật Từ” hay không?
“Cái
thuật ngữ “ Tăng tàn” được đưa vào và thay vị trí của từ “ trọng
tội” về sau này. Vậy thì tại sao chúng ta phải kẹt vào 2 chữ “Tăng
tàn” để bảo rằng lúc đó khái niệm này chưa có, hay việc sám hối
và trị phạt của Tỳ Kheo Ni trước hai bộ chúng là không có? Còn việc
phạm trọng tội là có chứ, những việc làm gây khổ đau người khác và
làm rối loạn Tăng già hay thương tổn Đức Phật : khiến người đời hủy
báng Tam Bảo,…Chẳng hạn chúng ta nói tại sao lại dùng “ Phật đản
sanh”, “ Phật thành đạo” mà không dùng “Bồ Tát Tất Đạt Đa đản
sanh”, “ Bồ Tát Tất Đạt Đa thành đạo” có người lại chấp vào từ
ngữ : đã Phật rồi thì còn đản sanh làm
chi nữa, hoặc còn thành đạo cái gì nữa? Thì cũng tại vì chúng ta
“bưng” từ “Phật” về sau này mà “bỏ” vào các ngữ cảnh trước
đó mà thôi. Chẳng hạn nếu nghe ai đó bảo : “ Thầy Nhật Từ được
sanh ra ở miền Tây Nam Bộ” có người cãi : làm gì có chuyện Thầy Nhật
Từ được sanh ra ở miền Tây, Thầy Nhật Từ được sanh ra ở Chùa Giác
Ngộ Saigon ( hoặc chùa nào đó Saigon), …
tất cả cũng vì chúng ta “bưng” cái chữ Thầy Nhật Từ mà “bỏ”
vào văn cảnh của hơn mười năm trước trong cuộc đời mà thôi.
Vậy thì nội dung và tính chất
các việc quy định trong các điều
2,3,4,5,6 trong Bát Kính Pháp rất là phù hợp và xảy ra khi vừa lập Ni đoàn
chỉ có điều là ngôn từ được cập nhật (update) sau khi có bộ luật
và các quy định chặt chẽ về an cư, tự tứ, Bố tát, yết ma, xử phạt,
… ra đời (và khi kiết tập kinh điển lần I thì các vị
Thánh Đệ Tử đã dùng những ngôn từ cập nhật này để ghi chép và lưu
truyền lại). Dù là sơ đẳng và đơn giản như thế nào đi nữa nhưng
nội dung của các việc được ghi trong Bát Kính Pháp được thực hiện
nghiêm túc ngay khi Ni đoàn vừa thành lập.”
Trong bài, Thầy Đồng Trí đã nhiều lần trích dẫn từ cuốn Đức Phật và Phật Pháp do Phạm Kim Khánh dịch cuốn The Buddha and His Teachings của Đại Đức [Chưa phải là Hòa Thượng] Narada Maha Thera để làm hậu thuẫn cho phần lý luận của mình. Cuốn sách này được xuất bản năm 1964 tại Kỳ Viên Tự, Saigon, dựa trên một bản thảo đã xuất bản từ năm 1942 đã được duyệt sửa và thêm bớt nhiều. Như được viết trên đầu cuốn sách:
Cuốn sách này có thể xem là sách căn bản cho
ai muốn tìm hiểu Phật Giáo Nguyên Thủy.
Đại Đức Maha Thera là người Tích Lan, theo Phật Giáo Nguyên
Thủy. Đọc cuốn Đức Phật và
Phật Pháp chúng ta thấy nội dung không ngoài những điều mà tác giả
học được và tin trong truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy. Đây không phải là một cuốn sách trong
lãnh vực học thuật mà là thuộc lãnh vực tín ngưỡng.
Thầy
Đồng Trí viết: Chúng ta có thể đọc
trong sách Đức Phật và Phật Pháp để biết vị trí và những gì xảy ra
trong Hai Mươi Hạ Đầu Tiên của Đức Phật.
Nhưng nếu đọc kỹ những chuyện trong Hai Mươi Hạ Đầu Tiên
của Đức Phật thì chúng ta thấy nhiều chuyện thuộc về truyền thuyết
(Legends) mà chính Đại Đức Narada Thera lấy từ cuốn “Buddhist Legends”
ra, cùng với những câu trong Kinh Pháp Cú và Giới Bổn. Đại Đức Narada Thera cũng không ghi xuất
xứ tài liệu về Hai Mươi Hạ Đầu Tiên của Đức Phật từ đâu mà ra. Tôi xin trích dẫn vài đoạn trong Hai Mươi
Hạ Đầu Tiên của Đức Phật và xin thỉnh ý kiến của Thầy Đồng Trí.
Trang
190: Hạ thứ sáu – tại đồi Mankula, trong Kosambi, gần Aliahabad: Cũng như trước kia Ngài dùng phép
Yamaka Patihariya, làm cho lửa và nước đồng
thời từ lỗ chân lông phun ra, để chế ngự tính ngã mạn của
thân bằng quyến thuộc tại quê nhà, nơi đây Ngài dùng lại phép ấy lần
thứ nhì để thâu phục những người khác
đạo. [Phúc Lâm: Đức Phật
không dùng Chánh Pháp mà lại dùng trò quỷ thuật để thâu phục những người
khác đạo? Còn có gì có thể hạ thấp
Đức Phật hơn nữa không?]
Hạ
thứ bảy – tại cung Trời Đạo-Lợi (Tavatimsa):
Trong hạ thứ bảy Đức Phật thuyết Vi Diệu Pháp
(Abhidamma) cho chư Thiên ở cung Trời Đạo-Lợi và vị Trời trước kia là
hoàng hậu Ma-Da (nghĩa là Mẹ Đức Phật đã chết sau khi sanh Đức Phật)
từ Đấu-Xuất đến Đạo Lợi nghe Pháp. Mỗi ngày Đức Phật trở về quả địa cầu
để tóm tắt bài Pháp cho Ngài Xá-Lợi-Phất và Ngài Xa-Lợi-Phất giảng
rộng giáo lý ấy cho hàng đệ tử.
Nếu
chúng ta có thể tin những điều trên thì không có gì cần phải bàn cãi
thêm. Nếu không thì nêu 20 hạ đầu
tiên của Đức Phật trong cuốn Đức Phật và Phật Pháp ra để phản bác
luận cứ của Thầy Nhật Từ thì tôi cho là không có tính cách thuyết phục. Nhưng có vẻ như Thầy Đồng Trí rất tin
những chuyện này, vì trong một đoạn sau Thầy đã nhắc lại Hạ Thứ Bảy
mà Thầy đã tin rằng Đức Phật đã lên cung trời ba mươi ba để thuyết
Pháp cho mẹ [đã chết] để “chứng minh” về sự hiện hữu của ảnh
tượng Phật trong thời Phật tại thế.
Trong phần mở đề của bài viết : “NÊN HIỂU VÀ HÀNH TRÌ BÁT KÍNH PHÁP NHƯ THẾ NÀO ?”, tôi có ghi : “Ở đây tôi không có điều kiện tham khảo nhiều sách sử và Luật tạng Phật giáo, tôi chỉ dựa trên những cuốn sách phổ thông căn bản nhất để dẫn chứng cho những ý kiến của mình.”. Điều ấy không có nghĩa là tôi chỉ gặp Bát Kính Pháp hoặc các câu chuyện liên quan đến cuộc đời Đức Phật trong các quyển sách ấy thôi. Tôi đã đọc và tìm thấy nhiều nơi trong những Kinh sách khác xác nhận những chứng cứ mà tôi đưa ra nơi đây. Tuy nhiên khi dẫn chứng thì chỉ ra những sách phổ thông, căn bản nhất để mọi người cùng tra cứu. Những cuốn sách bị xếp vào : “thuộc lãnh vực tín ngưỡng” ấy đã và đang có nhiều ích lợi cho hàng Phật tử học hỏi và tu tập, còn những quyển được xếp hạng thuộc : “lãnh vực học thuật” ấy là những quyển sách gì vậy và có ích lợi cho việc hoằng truyền chánh pháp như thế nào?
Vậy tôi ghi dẫn chứng từ các cuốn sách nữa sau đây,
không biết có bị xem là sách “thuộc lãnh vực tín ngưỡng” và không có giá trị tham khảo
không?
“ MÙA MƯA TẠI RÀJAGAHA “Theo dự định, đức
Phật an cư mùa mưa 527 trước CN tại Ràjagaha (Vương Xá) đồng thời các
thảo am dành cho Tăng chúng đã được dựng lên ở Trúc Lâm, đó là bước
đầu của một tinh xá. Ðây là mùa mưa thứ hai kể từ khi ngài bắt đầu
truyền bá Giáo Pháp và không phải là không gặp vấn đề rắc rối. Sự
phát triển Tăng đoàn ngày càng đông gây nên nhiều khó khăn bất ngờ cho
bậc giáo chủ.”
( Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt
Hãy đọc đoạn văn giới thiệu sau đây để xem cuốn
sách này và tác giả này có giá trị trong “lãnh vực học thuật”
không? “Historical Buddha, The Times, Life and Teachings of the
Founder of Buddhism", Back in print after many years, this is one of the best historical biographies of the Buddha. It explores the social, religious and political conditions that prevailed in the Buddha's time. It examines the spiritual traditions that the Buddha knew and from which he diverged, placing his teachings and influence in a thoroughly researched historical context. The discussion of the "Problem of Dating" the Buddha's life (pp. 10 - 13) is as thorough and informative as any in print. The Historical Buddha is worth having in your library if for no other reason than to have at your fingertips this lucid discussion of a perennial issue referred to by every modern commentator. Maurice O'C. Walshe, the late, well-known translator of The Long Discourses of the Buddha has shown here that he is as masterful in translating German as he was Pali. Price: $12.95
Cuốn sách này được Giáo Sư Nguyên Tâm Trần
Phương Lan dịch Việt (1997)
xuất
bản bởi Viện
Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam để làm tài liệu
cho việc giảng dạy Anh ngữ và lịch sử Đức Phật tại Học Viện Phật
Giáo Saigon chẳng lẽ cũng chỉ “thuộc lãnh vực tín
ngưỡng” mà thôi. Cuốn sách thứ hai mà tôi muốn nêu ra đây là cuốn :
“THE LIFE OF THE BUDDHA, From "The Teachings of the Buddha", Ministry
of Religious Affairs, cuốn sách này được dùng rộng rãi trong học đường,
các trường Phật học tại Miến Điện, có ghi rằng : “At that time there were sixty-one arahats including the Buddha in the world. Their cankers had already been extinguished. The Group of Five and fifty-five arahats led by Yasa were the 'Ehi-Bhikkhu' arahats, i.e.. their lay-man appearances disappeared and they were transformed into monk's when they were merely called by the Buddha. 'come, my bhikkhus!" They spent
the first rain-retreat period in Issipatana Afterwards
the Buddha himself went to Uruvela grove to teach the Dhamma to one thousand ascetics led
by the three Kassapa brothers, viz.. Uruvela Kassapa, Nadi Kassapa and ( …Họ trải qua mùa an cư đầu tiên tại Issipatana, Vườn Nai, Ba La Nại. Khi kết thúc mùa an cư này, Đức Phật dạy bảo 60 vị A La hán du hóa : “Này, Các Tỳ Kheo! Như Lai đã được thoát ra ngoài lậu hoặc và các ngươi cũng thế. Hãy du hành khắp nơi hoằng truyền chánh Pháp toàn thiện đoạn đầu, đoạn giữa, đoạn cuối vì lợi ích của Trời người vì lòng bi mẫn với đời, không đi hai người chugn một nẻo đường …) Trong cuốn sách : “The Buddha's Daily
Routine, From "The Teachings of the Buddha", Ministry of Religious Affairs, “ The Buddha, throughout his Missionary period of forty-five years, except the three months of rains-retreat, went to places of great distance, even two thousand yojanas afar, and dispelled the wrong views of all living beings. During the forty-five years, the Buddha spent his rain-retreat at the following places. The Places Where The Buddha Spent the Rains-Retreat Commencing from the very first day of attaining Buddhahood on the fullmoon day of Kason (about May) in the year 103 Maha Era (589 B.C.), the Buddha spent the rainy seasons (Vassa) at the following places:
Việc kế tiếp là Đức Phật có sử dụng đến thần thông hay không? Trước hết là Đức Phật chứng được tam minh, lục thông trong đêm giác ngộ - chứng Đạo quả Vô Thượng Bồ Đề. Chúng ta vẫn thường nghe câu chuyện sau đây: Đức Phật rất hạn chế và cũng dạy hàng Thánh Đệ Tử của Ngài hạn chế dùng thần thông - chỉ nên dùng chánh pháp để giáo hóa độ sanh. Tuy nhiên, không ít trường hợp, trong những trường hợp chỉ còn cách dùng đến thần thông mới có tác dụng nhiếp hóa hay thực hiện được việc giáo hóa thì Đức Phật và các Thánh Đệ Tử vẫn dùng. Chúng ta hãy đọc lại những mẩu chuyện về Ngài Mục Kiền Liên - đệ tử đệ thần thông đệ nhất của Phật để thấy rằng : “Đức Thế Tôn thường xuyên răn đệ tử không nên thi thố thần thông với ngoại đạo, nhưng đối với Mục Kiền Liên, Thế Tôn không ngăn cấm vì Ngài biết tôn giả khéo léo phối hợp thần thông với trí huệ để hàng yêu, phục ngoại đạo giáo hóa chúng sinh.” [6]
Biết bao nhiêu việc
liên quan đến thần thông trong Phật giáo, chẳng lẽ Cư Sĩ Phúc Lâm đề
nghị bỏ hết những câu chuyện ấy ra? Việc Ngài Mục Kiền Liên dùng
thần thông quan sát khắp các cõi rồi bưng chén cơm xuống địa ngục dâng
cho Mẹ chắc là cũng không đáng tin? Chính Đức Phật dắt |