gd copyright
posted: 09.1.2006
thien minh

Di ảnh Thầy Thích Thiện Minh

   Vài lời của web Gđ: Chúng tôi nhớ trong bài mở đầu của loạt bài: Tản Mạn về Chiến tranh-Nhân quyền-Dân chủ” của tác giả Trần Chung Ngọc, có đoạn ông có đề cập đến việc cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ký lệnh đổi tên đường Thái văn Lung thành đường Alexandres de Rhodes, đi từ nhân quả nhận tiền hối lộ, tham nhũng. Hối lộ từ ai, chắc hẳn quý độc giả có thể đoán được. Đọc xong bài viết đó, chúng tôi đã điện thư với tác giả, xin bỏ đi đoạn viết đó, vì nhiều lẽ, trong đó chúng tôi không muốn mang tiếng web GĐ là của “nhóm Bắc kỳ, chỉ trích Nam kỳ để bênh Bắc kỳ, (trong thực tế thì chúng tôi có đủ miền cả!)”. Và, chúng tôi còn kể thêm một câu chuyện biết được trong gia đạo của ông Kiệt để biện hộ cho sự “công chính” của ông. Gs. Trần Chung Ngọc nghe lời, và sửa lại đoạn đó liền. Chúng tôi mừng thầm, và luôn luôn tin tưởng về con người tử tế của ông. Cũng tương tự, khi làm việc với tác giả Hoàng Nguyên Nhuận, ông cũng từng nhiều lần nghe lời chúng tôi như thế, dù cả hai là người của thế hệ lớn tuổi hơn chúng tôi nhiều, và trong vài lãnh vực còn đáng làm bậc thầy chúng tôi nữa. Trong anh em chúng tôi, vẫn luôn luôn có những chuyện “tử tế” âm thầm trong lúc làm việc mà ở ngoài không ai biết được…

Trong suốt năm qua, ở trong nước, chúng tôi nhận thấy ông Võ Văn Kiệt xuất diện nhiều lần: trên báo chí, Internet, trên truyền hình, rồi viết tham luận… cố vấn ý kiến cho chính phủ và đảng CS này kia; lần nào cũng thấy mặt mày ông tươi rói, cười vui thỏa thuê của một kẻ đắc chí. Hình ảnh này rất tương phản với một số nhà lãnh đạo khác, trong lúc đất nước đang đối đầu với một số vấn đề chính trị, xã hội lớn. Chúng tôi đã có ý định viết một bài về ông, nhưng nghĩ lại điều lợi và hại chung, rồi thôi.

Tình cờ bữa nay, đọc bài “Ngày Kỵ Thầy” của tác giả Hoàng Nguyên Nhuận, đã nói rõ về cái chết của thầy Thiện Minh là “…trong tay Võ Văn Kiệt-Lê Duẫn”, thì lịch sử bỗng nhiên đang mở ra một trang trong sáng, minh bạch. Là bởi, hơn ai hết, ông Hoàng Nguyên Nhuận có một tư cách lịch sử nào đó -từ 1963 cho đến ngày ông quyết định lên thuyền vượt biển- , để nói lên sự thật này. Trước khi dành thì giờ để đóng góp ý kiến về bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc : “Ngày Kỵ Thầy”.   Phụ trách web Gđ.

                                        butterfly_and_flowers_sc.gif (8396 bytes)                                              

   NGÀY KỴ THẦY

Hoàng Nguyên Nhu?n 

            Thầy Thiện Minh chuyển nghiệp ngày 17/10/1978 nhằm ngày 16 tháng Chín năm Mậu Ngọ.

 Ngày Hiệp Kỵ Hàng Năm

Bao nhiêu năm qua, anh chị em chúng tôi vẫn âm thầm nhớ ngày đó và thường lấy ngày giỗ Thầy làm ngày hiệp kỵ những anh chị em từng lận đận một thời với nhau. Đây là một vài trao đổi của chúng tôi với nhau nhân mùa kỵ Thầy năm 2005.   

22/10/05 - Anh ơi,

Hôm thứ Ba ngày 16 tháng 9 âm lịch vừa qua, tất cả anh em sinh viên Phật tử còn ở Sài Gòn đã tụ tập về Chùa VL của Thầy NM  để cùng Thầy làm lễ cầu siêu. Buổi lễ bắt đầu lúc 10 giờ, Thầy NM nhân danh trụ trì và ban tổ chức phát biểu mở đầu, nêu công đức của Thầy từ hồi ở trong Ủy Ban Liên Phái năm 1963, rồi Tổng Vụ Trưởng Thanh Niên, và cố vấn của Viện Hóa Đạo. Thầy NM nói về Thầy một cách cung kính, gọi Thầy là ‘bổn sư chúng tôi’. Thầy nói khoảng 10 phút, không thấy có điều gì thất lễ, sau đó là lễ cúng. Phần cúng có ba thời kinh khác nhau. Trước hết là cúng Phật, sau đó là cúng Thầy, có đọc sớ cầu siêu, rồi qua bàn thờ anh em mình sau cùng. Cũng có sớ cầu siêu cho tất cả anh chị em do NTC quỳ dâng sớ, từ Thầy Bùi tường Huân đến anh Văn đình Hy, chị Tịnh Nhơn, đến Phan đình Bính, Phan chánh Đông, Vĩnh Kha, Vĩnh Tùng, Bảo Cương, v.v... NTC cũng ghi thêm Trần duy Thọ mới mất cách đây hai năm, và hai đệ tử của Marx là Nguyễn Thiết và Lê minh Trường. Những anh em mình có mặt đông đủ hôm đó gồm anh chị HD, DVN, X, PĐ, TL, C, và một vị cư sĩ trước là Thầy Tâm Hòa ở Tổng Vụ Thanh Niên, cùng với nhiều anh em khác trong Đoàn SVPT-SG. Lễ cúng Thầy cũng như anh chị em rất tươm tất.   Sau lễ cúng, Thầy NM phát biểu cám ơn mọi người đến dự lễ và đề nghị từ nay hằng năm lấy ngày 16 tháng 9, ngày kỵ Thầy làm ngày hiệp kỵ cầu siêu cho tất cả anh chị em của mình tại Chùa VL. Kết thúc là cơm chay do Chùa nấu cho môn đồ pháp quyến và có liên hệ với Thầy và anh em mình. Đặc biệt, NP có đến lúc 9 giờ, chỉ gặp NTC và lên chánh điện thắp hương trên bàn vong của anh em mình rồi đi, không ở lại dự lễ vì... bận [hay tránh mặt?]. Nhưng có đến như thế là rất quý rồi. PDN không thấy đến, hình như đi Đà Nẵng đúng ngày hôm đó... Kính chúc anh chị sức khỏe, an vui. Thân mến, TL.

Tái bút: Thầy NM đang xây lăng cho Thầy ngoài Huế, tại Chùa Thuyền Tôn, đã tiêu tốn khoảng..., nay đang ngưng lại vì có tin ông Võ văn Ái phong cho Thầy làm Thánh tử đạo, Thầy NM sợ chính quyền dị nghị nên tạm ngưng...Hết.

Và sau đây là hồi âm của Hoàng tôi.

TL và Anh Chị Em thân thương,

Cám ơn ACE và Thầy NM đã chu đáo lo kỵ Thầy và những ACE đã chuyển nghiệp. Kỳ rồi về SG, hôm đến Chùa Thầy NM thắp hương cho Thầy và ACE đã khuất, tôi không nhớ đã soát lại tên các bài vị có Quách Thị Trang, Nhất Chi Mai và mấy SVHS Phú Thọ bị Hố Nai lên SG làm loạn giết chết hồi 1964 không? [Anh chị HD hẳn còn nhớ rõ vụ này] Nếu chưa thì nhờ C liên lạc với thân nhân xin để tên vào được không? Xây lăng cho Thầy ở Huế? Kỳ rồi về Huế, Thầy Hải Ấn [đệ tử Thầy Thiện Siêu] có đưa tôi đi thắp hương cho Thầy nơi bảo tháp của Thầy ở Thuyền Tôn mà. Đã có tháp sao lại còn xây mộ? Nơi bảo tháp ấy có một bài thơ bằng chữ Hán bút tự của Thầy Thiện Siêu. Chỉ có chữ Hán thôi. Tôi có xin phép Thầy Hải Ấn dịch ra tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh rồi khắc vào một tấm bảng đồng hoặc đá gắn vào bên cạnh. Thầy Hải Ấn đã thuận cho phép, và tôi có nhờ TK+ĐX+XQ lưu ý chuyện này...  Không biết ACE, nhất là C và Thầy NM, nghĩ sao? Lần tới, nếu H về, và H rất thân với C, nhờ H tiếp tay chuyện này được không?

Thăm nhau thường an lạc,

23/10/05

 Người Tù Của Ba Chế Độ Đã Chuyển Nghiệp

            Kỵ Thầy hằng năm là dịp để chúng tôi suy nghĩ nhiều hơn về cuộc đời Thầy, về những ước nguyện và hoạt động của Thầy, hậu quả của những hoạt động đó đối với PG và đất nước.

            Trong dịp nầy một lần trước đây, Hoàng tôi có ghi lại vài ý tưởng qua bài Xếp Bút Nghiên Xuống Đường Giải Nghiệp. Năm năm qua rồi kể từ những dòng chữ đó, và 27 năm qua kể từ ngày Thầy chuyển nghiệp. Bao nhiêu nước chảy qua cầu...

            Thầy bị bắt ngày 13/4/1978, hơn một năm sau khi Hoàng rời trại giam Phan đăng Lưu. Lý do chính thức để bắt nhốt Thầy là Thầy phạm tội cư trú bất hợp pháp trong Chùa Già Lam. Lê Duẩn và Võ văn Kiệt xứng đáng là người đã viết lại lịch sử nhân loại, viết lại lịch sử tôn giáo và lịch sử quốc gia bằng án lệnh quái dị ấy! Vì gia đình đang hoảng hốt trước tin Thầy bị bắt và lo là tôi có thể bị bắt lại nên đã “kềm kẹp” tôi tối đa, Hoàng tôi đã xót xa loay hoay chạy vạy để rồi cuối cùng đành ngậm ngùi với tin Thầy chuyển nghiệp. Cái chết của Thầy càng khiến gia đình tôi gia tăng áp lực cho tôi phải trốn ra nước ngoài.

Lúc mới ra khỏi tù, tôi lên thăm Thầy lúc đó đang trú ngụ Chùa Già Lam bên Gia Định với ôn Trí Thủ. Thầy dặn nghỉ ngơi một lúc rồi Thầy nhờ chút việc. Tuần sau đến hầu Thầy, Thầy ngõ ý muốn có một tài liệu nói về tiến trình hiện đại hóa PGVN, phong trào đấu tranh của PG năm 1963, về hoàn cảnh hiện tại của PG, về ước vọng của PG đối với đất nước, về tương lai của PG trong lòng dân tộc và nhân loại. Tôi đã vâng lời.

            Trong lúc chuẩn bị vượt biên, nhiều lần tôi xin Thầy đi với chúng tôi. Mười lần như một, Thầy chỉ im lặng cười. Thầy không nói những câu làm tôi nãn lòng hay cảm thấy tội lỗi khi bỏ nước ra đi, nhưng Thầy cũng không khuyến khích tôi đến xứ người phải làm những điều mà cho đến nay tôi không hề ân hận đã không làm.

            Bao nhiêu năm gần Thầy, chưa bao giờ chúng tôi thắc mắc về những điều Thầy dạy bảo hay quyết định. Ngay cả lúc theo Thầy đi vào đường thập tử nhất sinh như năm 1963, 1964, 1966 và 1969. Gian nan, khốn khó, học hành dở dang, nghề nghiệp gián đoạn, bị đánh đập hành hạ, bị trù dập, cò bót, tòa án, nhà tù, quân ngũ, đào ngũ, trốn lánh... chưa bao giờ chúng tôi ân hận đã theo Thầy. Bởi lý, Thầy thường là kẻ lãnh đủ gian nguy khổ nhục, nếu không trước thì cũng đồng thời với chúng tôi.

Thầy là người tù của cả ba chế độ. Đệ I CH của Ngô đình Diệm, Đệ II CH của Nguyễn văn Thiệu và CHXHCNVN thời Lê Duẩn lãnh đạo. Trong chế độ thứ ba này, hình như có không ít người từng với Thầy ở trong Ủy Ban Hành Chánh Trung Bộ là tổ chức trực tiếp đứng ra nhận ấn kiếm thoái vị của Bảo Đại.

            Thầy đã chuyển nghiệp trong tay Võ văn Kiệt-Lê Duẩn. Đó là một sự thực lịch sử, cả về lịch sử PG lẫn lịch sử VN hiện đại.  Nhìn đời như biển khổ, Thầy và anh chị em chúng tôi phải cám ơn những người đã giúp Thầy thoát nợ đời. Nhưng theo công lý thường tình cũng như lý nhân quả, họ không thể phủ nhận trách nhiệm về cái chết của Thầy trước tiên.

Năm 1966, trong lúc Phật tử đứng lên yêu cầu Nguyễn văn Thiệu-Nguyễn cao Kỳ dân chủ hóa đất nước, Thầy đã bị ám sát bằng lựu đạn ngay tại cổng chính Trung Tâm Thanh Niên Phật Tử Quảng Đức đường Công Lý Sài Gòn. Lúc bình phục trở về, có người hỏi Thầy có hận thù những kẻ ám hại Thầy không? Câu trả lời của Thầy là điều ai cũng có thể đoán được. Phật dạy lấy đức báo oán, chớ không lấy oán báo oán. Nếu Thầy biết kẻ nào hại Thầy, gặp họ Thầy sẽ lạy họ ba lạy để cám ơn. Hoàng tôi nghĩ rằng nếu tôi hỏi Thầy có hận thù những kẻ đã tạo cơ duyên cho Thầy chuyển nghiệp trong tù không, Thầy hẳn cũng trả lời như thế. Đó là điều kẹt cho anh chị em chúng tôi, trần tục, sơ cơ, sân hận, chúng tôi cảm được tâm đạo của Thầy, nhưng không chắc đủ kiên tâm theo dấu chân của Thầy từng bước một trên đường tu tập.

Hoàng tôi đã trăn trở nhiều khi viết những dòng chữ này, và cảm thấy trước tiên phải sám hối với Thầy. Nhưng tôi nghĩ làm sáng tỏ cái chết của Thầy sẽ làm cho Phật tử gần với chính quyền hơn và đó là điều lợi, dù muộn màng, cho cả chính quyền lẫn PG. 

 Phục Hồi Danh Dự

Có nhiều người đặt vấn đề phục hồi danh dự cho Thầy. Nhưng ngũ uẩn giai không, một người, nhất là người đó lại là nhà tu, thì cần gì chuyện danh sắc?! Lại nữa, nếu vì chấp kiến mà nói chuyện danh dự thường tình đi nữa thì ‘danh dự’ đó nơi Thầy có mất đâu mà phải phục hồi?! Trái lại, cái chết của Thầy làm sáng tỏ hơn ‘danh dự’ của một Phật tử, một nhà tu, một lãnh tụ PG thì có.

Cái chết đó đã làm sáng tỏ hơn những sai lạc lịch sử mà chính quyền đương nhiệm đang bất đắc dĩ thừa hưởng, cũng như làm sáng tỏ hơn nhu cầu tự giác và hòa hợp hòa giải mà chính quyền đương hành đang từng bước thực thi.

Cho nên, nếu cần làm sáng tỏ cái chết của Thầy thì đó chính là vì danh dự của chính quyền đương nhiệm, những người đang thừa hưởng thành quả tích cực cũng như tiêu cực từ quá khứ mình không chủ định, của Võ văn Kiệt-Lê Duẩn thời đất nước đang chập choạng trong cơn say chiến thắng mơ màng chạy theo Stalin, Mao trạch Đông để “tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc” về một ngày mai chỉ tồn tại trong dự tưởng. Không nhận mình sai thì làm sao thấy mình đúng. Thiện chí sửa sai của chính quyền từ khi đổi mới là điều không thể phủ nhận.

 Những Câu Hỏi Quanh Một Cái Chết

Vấn đề chính không phải là Thầy đã chết như thế nào? Thầy chết bệnh hay bị giết? tự tử hay tai nạn bất ngờ?...điều đó không quan trọng. Hoàng tôi không bi kịch hóa cái chết của Thầy để làm lý do tuyên truyền chống đối. Bởi làm như vậy thì cũng chỉ là cách lợi dụng cái chết của Thầy để buôn bán hận thù. Và nuôi dưỡng hay bán buôn thù hận là điều mà suốt đời Thầy chống lại và dạy cho anh chị em chúng tôi phải chống lại.

Điều đáng nói là Thầy chết trong tù. Quyết định bắt nhốt Thầy hẳn phải là lệnh trung ương từ Hà Nội. Do đó, câu hỏi đặt ra là thứ nhất, từ Miền Nam hay TP Hồ chí Minh ai là kẻ đã trình xin Hà Nội để bắt Thầy? Thứ hai, kẻ xin lệnh nhốt Thầy đó đã dựa vào những báo cáo gì chứng tỏ Thầy nguy hại cần phải nhốt? Thứ ba, ai làm báo cáo tiên khởi đó để khả dĩ thuyết phục Võ văn Kiệt phải trình xin lệnh trung ương? Mười Anh Đỗ trung Hiếu trưởng ban tôn giáo Thành Ủy, Võ văn Kiệt Bí Thư Thành Ủy kiêm chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân thành phố hẳn phải là người đủ tư cách để trả lời những câu hỏi đó.

Trong tinh thần ‘hàn gắn, khoan dung, hòa giải’ như Võ văn Kiệt mấy lúc sau này thường nói đến, Hoàng tôi hy vọng trách nhiệm về cái chết của Thầy Thiện Minh sẽ được minh giải cách này hay cách khác, mà người khởi sự dĩ nhiên phải là Võ văn Kiệt.  Lê Duẩn đã chuyển nghiệp, cần nói cũng không nói được, Võ văn Kiệt còn đó, chưa làm được chuyện ấy trong lúc đương quyền, giờ cũng chưa phải là đã muộn.

Mặt khác, sau báo cáo và quyết định trình xin Hà Nội bắt Thầy Thiện Minh của Võ văn Kiệt-Đỗ trung Hiếu hẳn còn có những bóng đen từng quy tụ quanh Nguyễn văn Huyền, Trần văn Lắm, hay quanh những tờ Tin Sáng, Đại Dân Tộc với Hồ Ngọc Nhuận, Ngô công Đức, Võ Long Triều, Nguyễn văn Ba, Lý quý Chung trước 1975 và núp sau lưng Võ văn Kiệt-Trần bạch Đằng để tiếp tục hoạt động sau năm 1975.

Thầy Thiện Minh đã bị tập đoàn và tàn dư của tập đoàn Ngô đình Diệm xem như là kẻ thù số một. Sau 1963, tàn dư này đã chạy theo rồi phản Dương văn Minh để phò Nguyễn Khánh, phản Nguyễn Khánh để phò Nguyễn cao Kỳ, bỏ rơi Nguyễn cao Kỳ để phò Nguyễn văn Thiệu tái lập một chế độ Diệm-không-Diệm. Tướng Dương văn Minh từng tâm sự: “Chẳng qua sau khi cách mạng 63 thành công, tôi và Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng vì nhân hậu đã không giải giới và tống vào tù toàn bộ quân cán chính Cần Lao Ngô đình Diệm, mà hậu quả sau này đã tạo nhiều biến loạn, để cuối cùng chúng vực dậy chế độ Cần Lao Diệm-Không-Diệm của Nguyễn Văn Thiệu.”

Đến khi Mỹ quyết bỏ của chạy lấy người dẹp Thiệu và dùng Dương văn Minh làm kẻ cầm cờ trắng đầu hàng thì đám này lại cúi đầu nhận lệnh kèm với những bông giấy của Hoàng đức Nhã, và những chỉ thị từ Tòa Đại Sứ Mỹ để tấn công bất cứ kẻ nào không chịu tham gia cái trò chơi bỏ của chạy lấy người đó. Bộ ba Thiện Minh-Huyền Quang-Mãn Giác là mục tiêu tấn công của họ. Đọc lại Tin Sáng, Đại Dân Tộc trưóc 1975 thì thấy rõ những đòn độc này.  

Sau 30/4/1975, tàn dư này lại lợi dụng Võ văn Kiệt-Trần bạch Đằng để chui sâu trèo cao. Bộ mặt thật của nhóm này phần nào đã hiện ra trên tờ Tuổi Trẻ Xuân 2001 do Lê văn Nuôi một đàn em của Hồ ngọc Nhuận làm Tổng Biên Tập, trong âm mưu khai tử uy danh của Hồ chí Minh qua cái gọi là điều tra dư luận sâu rộng với kết quả là chỉ có 39% dân chúng phục tài Hồ chí Minh trong khi có đến 89% tôn sùng Bill Gates! Đây cũng là những kẻ dựa vào thế Mỹ và Ky-tô giáo, và đến phút chót lại rắp ranh dựa vào Pháp và Trung Quốc để đẩy Dương minh Minh ra cầm cờ trắng để một đàng che cho Mỹ thu hồi tù binh và tháo chạy, và đàng khác biến Miền Tây hậu giang thành một Nam Kỳ Quốc. Đọc lại những lời tâm sự của Tướng Dương văn Minh, những giờ phút cuối cùng của Tướng Nguyễn khoa Nam, Lê văn Hưng, hồi ức của Tướng Mạch văn Trường và nhớ đến âm mưu đào sâu hố chia rẽ Nam Bắc, làm sống lại vết chém của thực dân từng đoạn lìa tổ quốc ra làm bốn phần Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ và Hoàng Triều Cương Thổ để mưu đồ tranh quyền hiện nay thì có thể thấy rõ hơn điều này.

Nhóm này có trách nhiệm gì không trong quyết định ngang nhiên vô hệ thống, phi hành chánh của Võ văn Kiệt trong việc đổi tên đường liệt sĩ Thái văn Lung thành đường Alexandre de Rhodes, một cố đạo gián điệp của Pháp? Nhóm này có trách nhiệm gì khi mới đây, Võ văn Kiệt lên tiếng ca tụng GM Lê hữu Từ lãnh chúa khu tự trị Bùi Phát, kẻ từng dùng tiền bạc súng đạn của Pháp chống lại Việt Minh. 

Đám tàn dư này có dính líu đến mức nào trong quyết định của Võ văn Kiệt-Đỗ trung Hiếu trình xin trung ương bắt nhốt Thầy Thiện Minh?   

          Giải Oan Là Minh Giải Oan Khiên

Đã hẳn, thương kính Thầy, tiếc nuối Thầy, không có nghĩa là phải để tâm những kẻ đã đẩy Thầy đến chỗ chuyển nghiệp trong lao tù. Sức mạnh của người Phật tử không phải là trả thù bằng giam cầm, đọa đày, chém giết. Sức mạnh của người Phật tử là mặc tẩn, làm thinh coi như không có. Sức mạnh của người Phật tử là chấp nhận, và tìm cách hóa giải chuyện giam cầm, đàn áp, chém giết, trả thù. Cố gắng đến đâu, tôi chưa biết, nhưng tôi vẫn cố gắng vì nghĩ rằng Thầy muốn anh em chúng tôi làm như vậy.

Tuy nhiên, đất nước đã bị tàn hại quá nhiều vì thù hận. Và cách giải hận hay nhất là giải oan, cách giải oan hay nhất là thừa nhận trách nhiệm về những oan khiên đó. Lê Duẩn đã ra đi, Võ văn Kiệt còn đó, và Võ văn Kiệt sẽ giúp chính quyền đương nhiệm trút được gánh nặng chính quyền đương nhiệm không tạo ra nhưng đang phải bất đắc dĩ gánh lấy, bằng cách nói rõ trách nhiệm về oan khiên này.

Vì nhu cầu tu tập, cách trả thù hay nhất với người Phật tử có lẽ là tránh không làm những điều xấu mà kẻ thù ghét mình đã vấp phạm, quyết làm những điều tốt mà họ không làm được, và cố làm tốt hơn những điều tốt họ đã làm. Những kẻ đã nhúng tay vào cái chết của Thầy thật đã tạo ác nghiệp cho chính họ nhưng đồng thời cũng tạo cơ duyên cho Thầy chuyển nghiệp. Tội nghiệp cho họ thì có, oán hận họ thì được ích gì? Thù hận chẳng giải quyết được gì ngoài việc gia tăng lòng ghét sợ và quyết chí trả thù. Thầy đã dạy cho chúng tôi bài học cám ơn kẻ nặng tay với mình như thế năm 1963, 1966 và 1969. Bài học đó cũng là bài học của Thầy Quảng Đức và bao nhiêu Tăng Ni Phật Tử khác đã hy sinh dạy cho chúng tôi.

Bức tường Berlin sụp đổ, các chế độ xã hội chủ nghĩa Đông Âu đổ nhào theo. Không thấy một nước Đông Âu nào hôm nay dựng lên những trại học tập cải tạo cho ngụy quân, ngụy quyền và những tay sai ôm chân Liên Xô cả. Ở VN, thực dân và các tập đoàn chống Cộng ngày trước đã vô tình biến nhà tù thành trường huấn luyện cán bộ cho đối phương. Lê Duẩn quên bài học đó nên mới thiết lập hệ thống lò luyện hận thù vô ích vô bổ là các trại học tập cải tạo. Tập trung cải tạo vì nhu cầu an ninh thì được, nhưng kéo dài ngày quá thì trở thành bất nhẫn. Nhất là khi đã tiêm vào đầu người ta lòng hận thù rồi thả cho người ta ra đi theo diện HO! Đó là điều bất hạnh cho dân tộc Việt Nam mà những người hữu trách hôm nay đang phải gánh và tìm cách xoa dịu hàn gắn. Phải làm những gì có thể làm để tiếp trợ cho thiện chí xoa dịu hàn gắn này. Giải tỏa oan khiên trong vụ Thiện Minh là một trong những cách tiếp trợ đó. Hoàng tôi nghĩ khi Thủ Tướng Phan văn Khải tiếp HT Huyền Quang ở Hà Nội trước đây cũng với ý nguyện ấy. Tiếc rằng cơ duyên chỉ mới nửa vời...  

          Con Đường Của Phật Tổ Hồng Bàng

Cuộc đời của Thầy xoay quanh hạnh nguyện thống nhất PG và thống nhất dân tộc để chấm dứt tương tàn. Điều bi hài của lịch sử và nghiệp báo là khi dân tộc đã thống nhất thì Thầy lại 'mây trắng thong dong' không còn phải lận đận với chuyện thống nhất PG và khế hợp PG với một dân tộc vừa được tái thống nhất nữa. Đó là một điều khỏe cho Thầy nhưng lại cũng là một mất mát lớn cho PG và dân tộc. Nhất là sau khi ý thức hệ Lenin-Stalin tàn phai, hậu phương Xã Hội Chủ Nghĩa quốc tế rã đám và chế độ đương quyền hôm nay chưa tìm được một cương lĩnh thế trị nào khả dĩ lấp đầy khoảng trống do những tàn phai và rã đám ý thức hệ đó tạo ra.

        Thầy là kẻ kiến trúc cuộc vận động tự do tín ngưỡng và bình đẳng tôn giáo năm 1963, Thầy là người đặt nền móng cho ngôi nhà GHPGVN hôm nay. Không có phong trào vận động đó thì PG, kể cả PG Hòa Hảo, có lẽ đã trở thành một thứ hội tương tế của những thầy cúng chỉ biết lo chuyện ma chay cầu đảo. Một số Phật tử, xuất gia cũng như tại gia, đã quên điều đó. Một số tín đồ PG Hòa Hảo đã không ý thức được chuyện đó, cũng như họ không ngờ rằng đại thể sinh hoạt của PGHH là hình ảnh sinh hoạt tương lai của PGVN nói chung trong tư thế đạo không xa đời, đời không tách phân khỏi đạo và tu hành là một sinh hoạt tâm linh thong dong tự tại không gò bó với định chế hình thức như giáo chế, giáo quyền, giáo hội. Quan niệm Tân Tăng của Thầy Mãn Giác hay tinh thần Tiếp Hiện của Thầy Nhất Hạnh có xa gì với chủ trương tu tại gia của PGHH?

            Phong trào đấu tranh 1963 lay động Phật tử bừng tỉnh sau cơn mê dài từ thời Lê mạt, và đẩy PG phải dấn thân chấp nhận phần vụ đối với dân tộc của điều mà Thầy rất thích nói tới là tín ngưỡng của Phật Tổ Hồng Bàng thị, chữ của Nguyễn Quyền, lãnh tụ Đông Kinh Nghĩa Thục trong bài thơ Phen Này Cắt Tóc Đi Tu.

Phật pháp không phân biệt Nam Bắc Đông Tây đã đành, nhưng thân mạng và quốc gia là những cửa ngõ, những nhịp cầu nối liền mỗi người với chúng sinh nhân loại. Cho nên, với người Việt, Phật trước tiên phải là Phật của Việt tộc, Tổ trước tiên phải là tổ của Việt tộc và PG trước tiên phải là PG của VN, vì VN. Một tín ngưỡng chân chính nhân bản không thể đẩy tín đồ phản lại tổ tiên, đồng bào, đồng hương, thân nhân.

            Người Phật tử đồng hóa dân tộc và đạo pháp làm một theo nghĩa ấy chứ không phải theo nghĩa PG phải độc chiếm quốc gia, toàn trị dân tộc, biến quốc gia dân tộc thành công cụ hay tài sản riêng muốn làm gì thì làm, ngay cả đem làm lễ vật dâng cúng cho thần thánh.

            PG không đòi hỏi hay ép buộc ai nhận mình là quốc giáo. Lịch sử ngàn năm hành đạo cho thấy PG chỉ bị đàn áp bách hại chứ chưa giết hại ai vì kẻ đó không phải là đồng tôn hay không muốn theo đạo Phật.

            Đã hẳn, theo luật đa số đại diện của trò chơi dân chủ, Phật tử VN có thể gọi một ngôi Chùa nào đó - như Chùa Một Cột chẳng hạn, là Việt Nam Quốc Tự. Nhưng tâm nguyện xây dựng một ngôi VNQT là tâm nguyện xây một ngôi Chùa khả dĩ thể hiện những đặc trưng và nguyện ước của người Việt về một quốc gia VN, chứ không phải là nơi tập trung một tập đoàn giáo quyền độc thiện độc trị tự gán cho mình quyền giữ chìa khóa Niết Bàn và gát cổng Địa Ngục. Ước vọng phổ cập ư nhất thế của người Phật tử là ước vọng san sẻ công đức cho thế gian cùng hưởng chứ không phải là thiết lập một đế quốc tóm gọn tất cả linh hồn, thể xác, tài vật của thế gian về cho mình rồi tiếp tục... đóng cửa đi ăn mày hy bóc lột tín hữu.

            Tôn giáo quốc tế và ý thức hệ quốc tế chỉ là hai mặt của tham vọng đế quốc chủ nghĩa, đế quốc thiêng liêng cũng như đế quốc thế tục. Và con đường một chiều thường là đế quốc thiêng liêng tìm cách lũng đoạn và khống chế đế quốc thế tục.

Ý thức hệ Marx là một nổ lực đi ngược lại con đường một chiều đó. Bi hài lịch sử là nơi nào cách mạng mác-xít thành tựu, nơi đó thế tục trở thành thế tục thiêng liêng, linh thánh vạn năng mà quên rằng độc tôn độc thiện là kẻ thù của Marx, kẻ thù của một xã hội không vong thân, một xã hội nhân ái một người vì mọi người mà Marx muốn xây dựng. Đây là điểm Marx gặp Phật, Xã Hội Chủ Nghĩa gặp Lục Hòa.

 Sống Chết Cho Hòa Bình Thống Nhất

Hoàng tôi chưa hề quên chuyến đi cùng Thầy ra Quảng Trị dự trại mừng Phật Đản của Gia Đình Phật Tử tổ chức ngoài đó xế trưa ngày Phật đản 1963. Chúng tôi một số ngồi xe chung với Thầy và Thầy bảo tôi chuẩn bị vài lời của Đoàn Sinh Viên Phật Tử Huế nói với đồng bào Phật tử ngoài đó. Tôi vâng lời nhưng đầu óc vẫn như chưa hết cơn bàng hoàng với những gì xảy ra trên sân Chùa Từ Đàm hồi trưa.

Khi bàn với Thầy nội dung những điều tôi phải nói, tôi hỏi dò Thầy, đạo pháp và dân tộc được rồi, nhưng cụ thể PG rồi sẽ còn làm gì nữa đây? Qua câu trả lời của Thầy, tôi ghi nhớ hai chuyện. Thứ nhất, đã đến lúc làm thì phải làm thôi, thất bại thì dắt nhau về Tây Phương [cực lạc] mà ở. Thứ hai, trước sau gì thì đất nước rồi cũng phải thống nhất. Tôi âm thầm nhận Thầy là ánh đuốc thế trị của tôi từ đó. Đời một người, không có hạnh phúc nào bằng hạnh phúc tìm được một lý do để mà sống, mà chết với.  

Tâm nguyện là như thế, nhưng quả thực tôi chỉ thực sự dấn thân hết mình sau khi PG công bố bản Tuyên Ngôn Của Tăng Tín Đồ PGVN hay còn gọi là Nguyện Vọng 5 Điểm ngày 10/5/1963. Với tôi, bản tuyên ngôn đó là một lời khai chiến, một lời thách đấu quyết tử. Bởi vì, qua 9 năm tự cho mình là một quyền uy thần thánh vô nhiễm, anh em nhà Ngô đã không cho ai phê bình và không chấp nhận một ai phê bình mình. Thế mà bản tuyên ngôn này dám công khai nói anh em Ngô đình Diệm sai, và đòi họ sửa sai này. Cho nên, với tôi, văn kiện lịch sử đó cho thấy Thầy và sơn môn Huế quyết còn ăn hết nhịn như Thầy nói trưa ngày Phật Đản. Đáng tiếc là anh em Ngô đình Diệm đã không chịu thấy như vậy.

 Không kể 3 năm 1963-1966, thỉnh thoảng được gặp Thầy, 10 năm còn lại 1966-1975, tôi gần như được thường trực hầu Thầy. Tôi có được duyên may gần gũi với cả hai Thầy Thiện Minh và Trí Quang.

Nơi Thầy Trí Quang, tôi tìm hứng khởi qua những chỉ dạy trực tiếp hay những điều Thầy viết mà đặc điểm nổi trội là khúc chiết, trong sáng và tiết kiệm lời. Tôi nhớ mãi lần đầu học được kinh nghiệm đó với Thầy. Đó là hôm Chùa tổ chức đưa đám Phật tử Nguyễn tăng Chắc vừa bị sát hại. Đoàn SVPT Huế được giao nhiệm vụ đọc ai điếu trước khi hạ huyệt. Tôi thảo ai điếu, trước giờ đám, tôi đưa Thầy duyệt lại. Thầy đọc xong bảo, ý thì được nhưng quá dài dòng văn tự, và Thầy kiên nhẫn chỉ những chỗ lôi thôi, và nên nói sao để tránh được những dài dòng đó. Tôi hơi sốc, dù sao mình cũng là Giảng nghiệm viên Văn Khoa đang dạy phê bình văn học chứ đâu phải sinh viên tò te! Sốc thì sốc nhưng tôi phải nhận Thầy đúng, âm thầm ghi nhận lời Thầy từ đó mỗi khi múa bút.

Nơi Thầy Thiện Minh, tôi trông chờ phương thức hành động. Thầy không viết nhiều như Thầy Thiện Siêu, không nói hay như Thầy Trí Quang, nhưng tài ứng đối và dồn đối phương vào thế phải tự vệ thay vì tấn công, khả năng đánh giá nhân sự, khả năng nhìn thấy vấn đề và cách giải quyết vấn đề của Thầy thì đúng là... Thầy. Hàng mấy ngàn người bị hốt về Nha Công An Trung Phần sáng 21/8/1963 làm sao quên được hình ảnh Thầy thản nhiên đứng như một quan chức dự duyệt binh diễn hành trên chiếc xe chở những người bị hốt trong Chùa Từ Đàm về trong khi bao nhiêu người khác như tôi vì sợ gậy đùi, báng súng và bị giày xô đạp vào lưng nên phải nằm mọp trên sàn xe.

Sau 1963, ít ra thì cũng 2 lần Thầy đã đưa gậy đỡ Thầy Trí Quang khỏi thế kẹt. Lần thứ nhất năm 1966, Thầy chống gậy đi xin giáo chỉ của Đức Tăng Thống ra lệnh cho Thầy Trí Quang đang tuyệt thực đến chết ở bệnh viện Duy Tân sau vụ Miền Trung bị triệt hạ phải ngưng tuyệt thực. Lần thứ 2 năm 1967, xin giáo lệnh của Đức Tăng Thống ra lệnh cho Thầy Trí Quang ngưng tuyệt thực và trở về Chùa trong lúc Thầy đang cắm lều trước Dinh Độc Lập để phản đối Nguyện văn Thiệu ban hành Sắc Luật 23/67. Thân nhất với Thầy Trí Quang có lẽ là Thầy, dù gặp nhau trên bàn cờ tướng thì sát phạt và cải nhau tưng bừng. Người âm thầm đứng ra lo hậu phần cho Thầy lại chính là Thầy Thiện Siêu, đồ chúng Chùa Thuyền Tôn và bây giờ là Thầy MN và đám học trò Thầy nơi Chùa LV.   

Suốt cả đời Thầy, Thầy chỉ âm thầm thực hiện mộng ước chấm dứt chiến tranh và thống nhất đất nước.    

Năm 1964, Mỹ khởi sự leo thang đánh Miền Bắc bằng vụ Vịnh Bắc Việt, chúng tôi đã trình thầy 2 điều lo ngại, thứ nhất Mỹ sẽ bỏ chạy như Pháp năm 1954 và thứ hai, cả VN sẽ lâm vào tình trạng khốn đốn vì tàn phá chết chóc như Cao Ly năm 1953. Cho nên, bằng bất cứ giá nào cũng phải chống chiến tranh, chống leo thang ra Bắc và muốn làm được như thế thì phải có một chính quyền không làm tay sai Mỹ.

Sau khi đi ngoại quốc về tháng 8/1964, tôi ghé Sài Gòn ở lại với Thầy, trình bày ý nghĩ của mình và xin phép Thầy khởi phát cuộc đấu tranh chống Hiến Chương Vũng Tàu của Nguyễn Khánh. Thầy hỏi cặn kẽ anh em chúng tôi tính làm gì, làm tới đâu, liệu có được quần chúng hưởng ứng không, nhưng Thầy không nói gì. Sáng 19/8/1964, Thầy đưa tôi ra phi trường về Huế, trước khi chia tay Thầy chỉ dặn làm vừa vừa thôi, hãy cẩn thận. Về Huế, ngày hôm sau, chúng tôi phát khởi phong trào bằng Đêm Không Ngủ tại khuôn viên Đại Học Văn Khoa kỷ niệm 20/8 ngày chính quyền Diệm thực hiện chiến dịch Nước Lũ bố ráp Chùa chiền năm ngoái. Chủ điểm của đêm canh thức đó là khẩu hiệu Độc Lập Quốc Gia-Hòa Bình Dân Tộc-Cách Mạng Xã Hội được Vĩnh Kha Đoàn Trưởng Đoàn Sinh Viên Phật Tử Huế và Trần xuân Kiêm, Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Huế tung ra trong dịp này. Trong khẩu hiệu đó, HBDT là nói đến quan hệ Nam-Bắc, ĐLQG là nói đến nền tự chủ tự quyết của Miền Nam, CMXH là phương thức xây dựng Miền Nam với sự tiếp tay của MTDTPG, chủ ý của khẩu hiệu là đánh hay đàm thì người Miền Nam cũng phải có tiếng nói, có quyết định. Muốn có quyết định đó thì phải có một chính quyền mạnh, trong sạch, có thế dựa của dân. Vì khẩu hiệu đó mà chúng tôi bị điểm mặt là Thành Phần Thứ Ba không liên kết, hay cay cú hơn là chủ hòa chủ bại, hoặc nặng nề hơn là trung lập thân Cộng.

Tổ chức Phật sự và vận dụng Phật tử tiếp sức vào việc chống ngoại nhân khuynh loát, tạo điều kiên hòa hợp hòa giải để chấm dứt chiến tranh, tiến đến thống nhất đất nước trong hòa bình và độc lập. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt hành trạng thế trị của Thầy. Nhìn lại hoàn cảnh 1954-1975, nhìn lại giai đoạn 1963-1972, nhìn lại thời gian chính quyền Mỹ leo thang cho đến ngày tiếng súng ngưng hẳn 1965-1975, nhìn lại thời gian một năm hiệp thương giữa Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam và CHXHCNVN, nhìn lại thực trạng những thành phần có Mặt Trận nhưng không có đảng, nhìn lại số người phải bỏ nước ra đi vì chịu không nổi sức ép cải tạo xã hội chủ nghĩa... hẳn ai cũng thấy chính người Việt đã bỏ qua hay bắt hụt nhiều cơ hội để chấm dứt chiến tranh sớm hơn, bớt tàn phá, bớt đau khổ chết chóc, bớt phung phí tài nguyên nhân vật lực hơn. Kết luận đó của Thầy đã được gói ghém trong tài liệu sau đây...

Đây là một tài liệu từ Phủ Tổng Thống Đệ II CH đang nằm trong thư khố quốc gia chưa được giải mật. Vì lý do đó mà chúng tôi xóa bỏ khuôn dấu xuất xứ. Đọc tài liệu này, những người quen với những công báo, văn thư của Phủ Tổng Thống đều nhận thấy ngay lối dùng dấu ngang [-], í với á [chính trị, chánh trị], chữ hoa với chữ thường tùy tiện của người thảo văn thư, người đánh máy và người đọc lại văn thư trước khi trình ký. Những chỗ có gạch dưới hàng để nhấn mạnh của Nguyễn phú Đức cũng được giữ nguyên, việc Nguyễn phú Đức gọi Thầy Nhất Hạnh là Nhật-Hạnh cũng được giữ nguyên. Tài liệu này một lần nữa cho thấy rõ thực chất giải pháp hòa bình của PGVN, lập trường và giải pháp hòa bình của Thành Phần Thứ Ba mà Thầy chủ xướng và là phát ngôn viên. Nguyên văn nội dung văn kiện đó là:       

Phủ Tổng-Thống

Phụ-Tá Đặc-Biệt Về Ngoại-Vụ

Ngày 7 tháng 11, 1970

Phiếu-Trình

Tổng-Thống Việt-Nam Cộng-Hòa

 Trích-yếu: Giải-pháp 6 điểm về hòa-bình của Phật-giáo Ấn-Quang.

             Tôi kính trình Tổng-Thống duyệt lãm bản Giải-pháp 6 điểm về hòa-bình của Phật-giáo Ấn-Quang do Thượng-tọa Thích Thiện Minh công-bố tại Đại-hội Phật-giáo ở Kyoto ngày 20-10-1970.

            Đề-nghị này thực ra chỉ gồm 4 điểm chính, vì 2 điểm sau cũng chỉ là những lời kêu gọi ở ngoài nước và trong nước.

            Về phương-diện quân-sự, đề-nghị này kêu gọi các bên lâm chiến xuống thang chiến-tranh dần dần để đi tới một cuộc ngưng bắn toàn diện vào chiều 30 Tết Tân-Hợi, và việc thiết-lập một Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát do Liên-Hiệp-Quốc chỉ-định.

            Về phương-diện chính-trị, đặc-điểm đáng lưu ý là đề-nghị này cho cái gọi là “Chánh-phủ Cách-Mạng Lâm-thời”, một địa-vị chánh yếu trong phía bên kia trong việc ngưng-chiến, kiểm-soát ngưng bắn, cũng như trong một giải-pháp chánh-trị cho Miền Nam Việt-Nam.

            Ngoài ra, đề-nghị này kêu gọi trong điểm 4: “Chánh-phủ Huê-kỳ phải để cho người Việt tự-do chọn lựa một Chánh-quyền có thể đại-diện cho đa-số quần-chúng có căn-bản hòa-giải dân-tộc, không liên-kết”... để thương-thuyết với Chánh-phủ Huê-kỳ và “Chánh-phủ Cách-Mạng Lâm-Thời”.

            Theo báo “Sài Gòn Mới” ngày 28-10-1970, đề-nghị của Ấn-Quang được Hội-Nghị Quốc-Tế Phật-Giáo ở Kyoto dùng làm nền tảng trong bản quyết-nghị kêu gọi rút quân ngoại nhập, và lập chánh-phủ có “căn-bản rộng-rãi” ở Saigon.

            Theo tin hãng AFP hồi đầu tháng này, Ấn-quang sẽ cử hai Thượng Tọa Nhật-Hạnh và Thiện-Minh qua Paris trong một ngày gần đây để vận-động về giải-pháp hòa-bình nói trên với các Phái-đoàn đương tham dự cuộc hòa-đàm tại Paris.  

Kính trình:
[ký tên]
Nguyễn Phú Đức

 Đính hậu: -Bản đề-nghị giải-pháp hòa-bình của Ấn-Quang tại Hội-nghị Kyoto

                         --2 bài báo liên-hệ :

GIẢI-PHÁP 6 ĐIỂM VỀ HÒA-BÌNH
CỦA PHẬT-GIÁO ẤN-QUANG DO THƯỢNG-TỌA
THIỆN-MINH CÔNG-BỐ TẠI KYOTO NGÀY 20-10-1970

          Điều thứ 1: - Các bên lâm-chiến bắt đầu ngay từ hôm nay xuống thang chiến-tranh dần dần để đi tới một cuộc ngưng bắn toàn-diện vào lúc 6 giờ chiều ngày 30 Tết Tân-Hợi.

          Cả hai bên đều được thế-giới trông chờ tuyên-bố chấp-nhận lời cam-kết ngưng bắn toàn diện này vào trước giờ đó và càng sớm càng gây thêm được nỗi vui mừng và hy-vọng cho thế-giới.

          Trong thời-hạn này, quần-chúng Việt-Nam mong đợi về phía Chính-phủ Hoa-Kỳ hãy ngưng bớt những cuộc thả chất độc, ngưng cuộc thả bom B.52 và những cuộc chiến-tranh lùng diệt. Về phía Chánh-Phủ CMLT, chúng tôi mong mõi hãy chấm dứt những cuộc pháo-kích vào các nơi dân-cư đông-đúc để sát-hại thường-dân vô tội.

          Điều thứ 2: Tổ-chức Liên-Hiệp Quốc phải cấp thời chỉ-định một số quốc-gia trung-lập như Pháp, Ấn, Hồi, Thụy-Điển v.v...để thành-lập một ỦY-HỘI QUỐC-TẾ kiểm-soát cho cuộc ngưng bắn này. Một chuyên-viên quân-sự của Chánh-phủ VNCH và một chuyên-viên quân-sự của Chánh-phủ LTCMMN sẽ được tham-gia vào đại-diện trong Ủy-hội này.

          Điều thứ 3: Chính-phủ VNCH phải phóng–thích tất cả những tù nhân chính-trị như sinh-viên, trí-thức, tu-sĩ và tất cả những người đương bị giam-giữ vì đã tranh-đấu cho Hòa-bình và quyền tự-chủ của Quốc-gia.               

Điều thứ 4: Chính-phủ Hoa-Kỳ phải chấm dứt tình-trạng thối-nát độc-tài và bất-lực hiện tại ở Miền Nam Việt-Nam bằng cách phải để cho người Việt tự-do chọn lựa một Chánh-quyền có thể đại-diện cho đa-số quần-chúng có căn bản hòa-giải dân-tộc, không liên-kết và đầy-đủ khả-năng để:

a)    Thương-thuyết với Chánh-phủ Hoa-Kỳ về những thời-biểu triệt-thoái toàn thể quân-lực Hoa-Kỳ ở Việt-Nam và về những liên-hệ ngoại-giao, văn-hóa, kinh-tế giữa Hoa-Kỳ và Việt-Nam.

b)    Thương-thuyết với Chánh-phủ CMLT về những thể-thức tổ-chức Tổng-tuyển cử để đại-diện cho mọi khuynh-hướng chính-trị ở Việt-Nam. Một cuộc bầu cử thực sự tự do dưới sự giám-sát Quốc-Tế trong đó mọi người dân bất cứ khuynh hướng chính-trị nào đều có thể tham dự.

 Điều thứ 5: Các Chánh-phủ Hoa-Kỳ, Liên-Bang Sô-Viết, Cộng-Hòa Nhân-Dân Trung-Hoa và các quốc-gia liên-hệ khác cộng-tác với nhau để chấm dứt những nỗi đau khổ của người Việt bằng cách ủng-hộ cho đề-nghị này do chính người Việt đưa ra.

 Điều thứ 6: Các phía lâm chiến tại Việt-Nam và nhân-dân yêu chuộng hòa-bình trên thế-giới, các giáo-hội tôn-giáo và các nhà nhân-bản kịp thời hành-động để thúc đẩy các quốc-gia có trách-nhiệm về chiến-tranh Việt-Nam chấm dứt cuộc chiến-tranh tại Việt-Nam, Kampuchea và Lào.       

            Người Chết Hai Lần

Có những người Phật tử đang rấp ranh biến Thầy thành hương hoa dâng cúng cho hai thứ đế quốc linh thánh và đế quốc trần tục. Cho nên, Thầy đã chết một lần vì cuồng vọng cải tạo của Võ văn Kiệt-Lê Duẩn, Thầy có thể đang bị bức ép chết thêm lần nữa bởi tay những kẻ muốn làm tôi mọi cho đế quốc thiêng liêng và đế quốc thế tục đang ầm ĩ xử dụng nhân quyền và tự do tôn giáo như một chiêu bài để trục lợi.

Ngày trước, họ cố lôi Thầy vào làm tay sai cho Pháp, cho Mỹ không được nên đã lên án Thầy là cộng sản, ngày nay họ lại thương vay khóc mướn Thầy như là nạn nhân cộng sản để đánh bóng chiêu bài nhân quyền và tự do tôn giáo là chiêu bài mới thay cho chiêu bài chống Cộng đã lỗi thời.

            Một số Phật tử hình như cũng vô tình hay cố ý tham dự cái trò này. Có lẽ vì vậy mà bao nhiêu năm qua, các tự viện thuộc GHPGVNTN hải ngoại của Võ văn Ái-Ỷ Lan và quý HT Hộ Giác, Tâm Châu, Chánh Lạc, Giác Lượng, Quảng Độ, Quảng Ba... vẫn hương tàn bàn lạnh trong mùa kỵ Thầy, thế mà năm 1998, họ đã đột nhiên thỉnh hương linh Thầy ra bắt chứng giám màn kịch tranh đấu cho nhân quyền VN tại hải ngoại.

Năm 2003, Thầy Mãn Giác làm lễ kỷ niệm 40 năm dấn thân nhập cuộc của PG thì đám này sợ mất lòng tàn dư chế độ cũ nên lấy lý do không khơi lại đống tro tàn để quay mặt đi. Năm 2005, chính đám này lại xì xụp theo nhịp chuông mõ của Ỷ Lan-Võ văn Ái để làm lễ kỷ niệm 30 năm Pháp Nạn, làm như thể là đất nước được hòa bình thống nhất, thoát được họa chiến tranh, thoát được nạn độc quyền kinh tế, độc quyền văn hóa tôn giáo của những tay sai ngoại bang là đại họa. Bởi thậm xưng và u u minh minh như thế nên mới xảy ra những trường hợp cười ra nước mắt hơn cả lục, cả công án như sau:

            1. Có người sẽ phân vân tại sao HT Quảng Độ trong Thông Bạch Vu Lan Kỷ Mão 1999, kêu gọi Phật tử báo hiếu cho các bậc tiền bối hữu công đối với dân tộc và đạo pháp nhưng lại không hề nhắc đến tên Thầy Quảng Đức, Thầy Thiện Minh, Thầy Đôn Hậu, Thầy Trí Thủ, Thầy Thiện Hoa, Thầy Thiện Hòa ... và bao nhiêu tôn đức Tăng Ni Phật tử từ thập niên 60 đến nay từng bỏ xương máu xây đắp nên GHPGVNTN mà hôm nay HT Quảng Độ là kẻ kế thế trong chức vụ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo?

2. Một điều nữa cũng có thể làm nhiều người ngỡ ngàng là HT Quảng Độ công khai tán thán công đức của cái gọi cuộc hội diễn mùa Phật Đản 1999 của Võ văn Ái-Ỷ Lan và quý HT Đức Niệm - Hộ Giác - Chánh Lạc - Giác Lượng - họp tại Santa Ana, California, Hoa Kỳ trong ba ngày 14, 15 và 16.5.1999 và HT gọi đó là Đại Hội VIII của GHPGVNTN. Chẳng lẽ không ai trình cho HT biết rằng ở hải ngoại ít ra cũng có 6, 7 cái giáo hội như thế? Ai muốn thì cứ bày giáo hội ra cho có với thiên hạ, thậm chí có người còn muốn bỏ áo nâu áo lam, mặc áo vàng làm vô thượng sư thượng thủ PG thế giới như HT Tâm Châu nữa.

3. Chẳng lẽ không ai trình HT rõ hơn rằng GHPGVNTN hải ngoại chỉ là những nhóm thiểu số quanh quẩn ở Miền Nam California, hay một vài vùng ở Pháp, ở Australia hay ở Đức mà thôi? Tự xưng đại diện Phật tử toàn bang California - hay toàn Hoa Kỳ, Australia, Pháp, Đức cũng đã là thậm xưng rồi, làm sao có thể nhận là đại diện cho Phật tử lưu vong hải ngoại hoặc đại diện cho cả Ấn Quang và VNQT ở quê nhà? Thực tế của GHPGVNTN hải ngoại là thế đó thì làm sao mà khi giáo hội nầy tụm năm tụm ba lại thì lại được gọi là Đại Hội VIII của GHPGVNTN?

4. Chẳng lẽ HT Quảng Độ đã cố ý gián tiếp khai tử GHPGVNTN mà HT đang là Viện Trưởng Viện Hóa Đạo khi HT đồng nhất GHPGVNTN tại quê nhà với một nhúm túm tụm lại dưới danh nghĩa GHPGVNTN hải ngoại? Hay HT đã ban cho giáo hội nầy danh nghĩa GHPGVNTN lưu vong? Lâu nay, ở hải ngoại vẫn có cả chục chính quyền lưu vong nhưng GHPGVNTN lưu vong thì đây là lần đầu tiên có một.

            Lần đầu tiên, nhưng thuận với lương tri và thực tế thì cũng phải là lần cuối cùng. Bởi, nếu đất nước chỉ có một thì PG cũng phải chỉ có một. Chia để trị là mánh mung của những kẻ muốn thao túng quyền lực thế trị. Phật tử phải hóa giải chứ không vô tình tiếp tay với cái mánh mung đó.

            Đỉnh cao phát triển của PGVN là thời Lý-Trần. Tinh thần tín ngưỡng thời nầy cho phép người Phật tử buổi sáng tụng kinh, buổi trưa luyện võ, buổi chiều ra trận chống xâm lăng, tối nếu còn sống trở về với người thân yêu thì lại lo cho gia đình, và lại tụng kinh ngồi Thiền để chờ ngày... hôm sau. Có lẽ nhờ vậy mà giữ được quê hương, mà bảo vệ được dân tộc khỏi nạn ngoại xâm, và có lẽ cũng vì vậy mà các nhà lãnh đạo đất nước thời đó mới làm vua vài bữa đã chân trong chân ngoài đòi về hưu lên núi làm Thái Thượng Hoàng, xem ngai vàng như chiếc giày rách? Mở đường cho thời tự chủ vàng son đó là thời đấu tranh tự chủ của Ngô, Đinh và Tiền Lê. Trong thời kỳ đó, quý Thầy Ngô chân Lưu, Vạn Hạnh đã xuất xử thế nào? Ngô chân Lưu là quốc sư của nhà Đinh và là Khuông Việt Đại Sư của triều Tiền Lê, Vạn Hạnh là cố vấn của triều Tiền Lê và là kẻ khai sáng triều Lý. Nhà Đinh mất, Ngô chân Lưu không hề hô hào phò Đinh diệt Tiền Lê, Tiền Lê suy vong Vạn Hạnh cũng không hề hô hào phò Lê phản Lý. Cũng không thấy sử sách nào gọi họ là sư phản động, sư quốc doanh, hay sư của giáo hội nhà nước cả. Như vậy thì PG của quý vị chống Tăng Ni phản động, chống sư quốc doanh, chống giáo hội nhà nước là PG nào đây?

            Thập niên 1950 và 1960, PG phải hô hào thống nhất đoàn kết để tự vệ trước những chế độ kỳ thị PG. Thực dân Pháp rồi Ngô đình Diệm đánh phá PG bằng Dụ số 10 của Bảo Đại và bằng kế hoạch Nước Lũ 20/8/1963. Nguyễn văn Thiệu bằng Sắc luật 23/67 xé nát cơ chế PG làm đôi.

            Sắc luật 23/67 là giấy khai tử GHPGVNTN do Nguyễn văn Thiệu ký. Nói thế khác, giáo hội nầy đã bị phủ nhận 8 năm trước khi Miền Nam đổi chủ. Chính quyền thời Lê Duẩn chỉ là kẻ bắn phát súng thi ân nhắm vào GHPGVNTN. Chính Nguyễn văn Thiệu đã tiếp nối âm mưu dở dang của Ngô đình Diệm dùng Phật tử đánh PG đồ. Ngô đình Diệm dùng Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ PG Thuần Túy thân chính để triệt hạ Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ PG mà Thầy Thiện Minh là phát ngôn viên chính thức. Nguyễn văn Thiệu dùng Sắc luật 23/67 phủ nhận khối Ấn Quang, tấn phong khối VNQT và từ đó tạo ra hiện tượng sư phản động tức phe Ấn Quang chống chính quyền, và sư quốc doanh trong giáo hội nhà nước tức VNQT.

Mấy lúc nay, HT Tâm Châu và HT Hộ Giác tỉ tê than khóc GHPGVNTN, nhưng khi Nguyễn văn Thiệu ban hành tờ khai tử GHPGVNTN là Sắc Luật 23/67 thì nhị vị ở đâu? HT Tâm Châu chạy theo Đại Sứ Bunker và Nguyễn văn Thiệu và HT Hộ Giác thì chạy theo HT Tâm Châu để bảo vệ chức Đại Tá Phó Giám Đốc Nha Tuyên Úy PG! Không có ngày 30.4.1975 thì nỗi đau nhục Ấn Quang–VNQT đó không biết đến ngày nào mới hết. Thống nhất là để thực hiện một sự kết hợp. Sự kết hợp đã được thực hiện thì cần đoàn kết chứ không cần thống nhất nữa. VN đã là một, PG tất yếu cũng phải là một vì thực tế quốc gia cũng như vì nhu cầu hành đạo.

 Tấm Gương Sáng

            Trong quan hệ với quyền lực thế trị, PG trước sau chỉ có thể là ông thầy hay gương sáng đạo đức và kẻ trọng tài về các chính sách được nhà nước đem ra thực hiện. Theo Phật không phải là đi ngược con đường Phật đã đi, và con đường Phật đi là con đường từ bỏ quyền lực thế trị để làm thầy, chứ không tranh bá đồ vương. Phật không phải là Vua của các vua, Phật là Thầy của các vua.

            Người Tây phương đã chấm dứt áp bức, bóc lột, đã phục hồi tự do và nhân phẩm, đã đòi lại quyền làm người và quyền hưởng dụng tài sản làm ra, bằng cuộc cách mạng 1789 ở Pháp. Cuộc cách mạng nầy đã đánh tan liên minh thần thánh giữa thần quyền độc tôn độc thiện với thế quyền toàn trị độc đoán. Người Tây phương đã có tất cả những gì họ muốn có, đang hưởng tất cả những gì họ muốn hưởng. Sự hưởng thụ vật chất phồn vinh đó đang đạt đến mức ngầy ngật bảo hòa khiến người Tây phương phải phân vân tự hỏi mình đang đứng ở đâu? sẽ đi đến đâu? Tôn giáo, triết lý, chính trị, văn học, nghệ thuật truyền thống không giúp họ câu trả lời. PG có thể xuất hiện như một câu trả lời càng ngày càng có nhiều người lưu tâm chọn lựa.

            Trong lúc Tây phương đang ngấy tận cổ với nền văn minh vật chất hưởng thụ của mình thì các nước nghèo đang phát triển, VN là một, lại cuống cuồng hăm hở dấn thân vào đường văn minh đó. PG có thể xuất hiện như một cảnh tỉnh, một hướng đi khác của cuộc đời cho lớp trẻ.

            Lượng tính của trần gian khó có thể biến thành phẩm chất tối hậu cho cuộc đời. Đói khổ có thể làm con người đánh mất nhân tính nhân phẩm, và phồn vinh thừa mứa cũng có thể biến con người thành quái vật. PG có thể xuất hiện như một thăng tiến quân bình cho tất cả mọi người.

            Đó là những hướng hành thiện thiết thực khả hữu của PG nơi lưu đày cũng như ở quê nhà. Giáo hội, đoàn thể, tổ chức, danh phận, chức tước chỉ cần thiết và có ý nghĩa nếu để theo đuổi thực hiện những công cuộc hành thiện đó. Bằng không, những thứ đó sẽ chỉ là gông cùm xiềng xích tay chân, chỉ là những mụn nhọt ghẻ lở trên xác thân của những kẻ vụng tu.

            PG nhờ dân tộc mà có cơ hội thi hành công quả, dân tộc nhờ có PG mà thăng tiến, không đọa lạc. Chính là vì vậy mà có thể nói phục vụ dân tộc là phục vụ PG, và phục vụ PG là phục vụ dân tộc.

            Đó là một bài học nữa về hành trạng và cuộc đời Thầy.

             Hoàng Nguyên Nhuận

Phong Trang 30/10/1999 - Trại Đỗ Quyên 19/10/2005. 

 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com