
Ngọc Thiên Hoa Chữ ''Xuân'' Với
''Xuân Phong'' Và ''Đại Mộng'' Của Lý Bạch
( Trích Tiểu luận ''MÙA XUÂN TRONG THƠ ĐƯỜNG'' ) Thơ Đường là
niềm tự hào của lịch sử Văn học Trung Quốc nói riêng và là một công
trình tập thể cống hiến độc đáo cho lịch sử văn học nhân loại nói
chung. Trung Quốc và Thơ Đường với hàng nghìn năm trường tồn đã ảnh
hưởng không nhỏ đối với phong tục và nền văn hóa Việt Nếu mùa xuân
trong thơ ca Việt Nam rộn ràng tiếng pháo với những sắc màu hoa cỏ tràn
đầy sức sống và bắt đầu bằng cánh én và nhành mai thì mùa xuân trong
thơ ca Trung Quốc tức trong '' Thơ Đường '' đi qua hơn nghìn năm ba thế kỷ
với những nỗi bất đắc chí, những hoài niệm xa xưa, nỗi buồn nội
chiến với vui thú điền viên trong một thời đại cực thịnh và suy tàn
! Diện mạo một
thời kỳ ấy đã hình thành những màu sắc trong mùa xuân đầy những khóm
hoa thắm động buồn thương, đầy cỏ ấm nhớ nhung với những tiếng
chim oanh đánh động cõi lòng mênh mông của những tâm hồn văn nhân mà thời
cuộc tương tàn và thời gian sàn lọc đã biến họ thành kẻ vĩ đại giữa
cuộc đời ô trọc ... Họ là ai ? Họ là Lý Bạch,
Đổ Phủ, Mạnh hạo Nhiên, Kim xương Tự, Trương nhược Hư, Vương xương
Linh, Lưu phương Bình, Lưu vũ Tích, Hoàng phủ Nhiễm, Thôi Đồ...với Xuân
Tứ, Xuân nhật túy khởi ngôn chí, Xuân phiếm, Xuân vọng, Xuân hiểu,
Xuân oán, Xuân giang hoa nguyệt dạ, Xuân cung khúc, Xuân từ, Xuân tịch lữ
hoài... Cơn Gío
Xuân ( Xuân Phong ) Và Giấc Mộng Lớn ( Đại Mộng ) Của Lý Bạch : Xuân trong '' Xuân
tứ '' của Lý Bạch là bốn mùa thương nhớ của người thiếu phụ bốn
năm chờ chồng mà người chồng ấy ( người yêu ?) đi đâu, làm gì không
ai biết. Chỉ biết trong tấm màn che, người thiếu phụ chẳng tha thiết gì
đến bốn mùa đi qua hay lại đến ! :
Lẽ ra, người
buồn cảnh cũng héo khô. Cớ sao màu xanh biếc của cỏ nước Yên, người
thiếu phụ cũng thấy và nhìn thấu được màu xanh lục của những nhánh
dâu Tần rũ xuống ?. Thán phục thay ! Nước Yên, nước Tần đã thành quá
khứ mấy trăm năm về trước mà trong lòng người thiếu phụ vẫn còn
hoài niệm !. Hương vị '' một thoáng xanh xưa '' hóa ra có chất liệu từ lúc '' người đi một nửa hồn tôi mất
''. Màu xanh của mùa xuân đó thôi !
Màu xanh trong mắt của một tâm hồn héo úa vì thương nhớ chứ không khô
nỗi đợi chờ. Đấy chính là '' Xuân
tâm, xuân cảm, xuân tri thức ''. Trong lòng có xuân thì tất có cảm xúc
mùa xuân và mắt phóng tầm xa, xuân lòng nhận được. Thế mới nói : Cảnh
vật cỏ xanh nước Yên ( Yên thảo ), dâu tầm màu thẳm nước Tần ( Tần tang ) là mùa xuân có thật lại hữu tình nằm
trong cảnh mơ là xuân lòng mong ngày tương hội. Ngày gặp nhau của hai người
xa xôi và lâu đến thế không thể là ngày của mùa hạ khô cằn, nắng gắt
hay ngày của mùa thu lá rụng tơi bời
hoặc là ngày của mùa đông giá lạnh thì chỉ còn là ngày của xuân hồng ấm nắng. Chữ xuân của
Lý Bạch trong '' Tứ xuân '' là '' xuân phong '' ( gió xuân ). Gió
xuân theo xuân về lay mành thiếu phụ nhưng nàng cố làm vẻ không quen,
không biết, không cảm :
Nàng không
quen biết với gió sao gió vào tận màn lay mành ?. Té ra, ngọn gió '' người
dưng '' kia ( bất tương thức ) như một ngọn gió vô tình mà lại hữu
tình đã mang tin có một người từ nơi
xa xôi sắp trở về ( Đương quân hoài quy nhật ) cho kẻ khuê phòng
thôi đau lòng, đứt ruột ( Thị thiếp đoạn trường thì ). Mùa xuân trong
'' Tứ xuân '' không là mùa xuân ê chề trong '' Tự tình '' của
Hồ xuân Hương '' Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại '' hay mùa xuân tan nát trong '' Truyện Kiều ''
của Nguyễn Du '' Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay '' mà là xuân căng
mọng, đầy sức sống của Xuân Diệu trong '' Xuân hồng '' : '' Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi
''. Lãng mạn đến thế. Vậy, màu xanh
trong ''Tứ xuân '' của Lý Bạch
là xanh của đợi chờ, ước mơ, khát vọng và lòng chung thủy. Nhưng trời
hỡi '' Cỏ non xanh tận chân trời ''
như nói cái ý '' Mùa xuân con én đưa thoi '' của Nguyễn Du đã đưa
ngọn gió xuân lãng mạn ( gió xuân đi ngược thời gian ) trong bài '' Xuân
tứ '' với '' xuân
phong '' lay mành thiếu phụ quay về gặp chữ '' xuân phong ''chính mình
trong '' Xuân nhật túy khởi ngôn chí '' : Lý Bạch nghĩ cho người và
nghĩ cho mình ( Ngày xuân tỉnh rượu bắt đầu nói chí khí của mình ). Chí khí của
Thanh Liên cư sĩ cầm bút thay đao giữa loạn An lộc Sơn nửa đường đứt
gánh, buồn bã say mềm quay tròn với '' xử thế nhược đại mộng (
đời là giấc mộng lớn ) . Mộng lớn không thành ( bất thành danh hữu tất
thành nhân ) thì đành '' sỡ dĩ chung nhật túy '' ( say sưa suốt ngày
). Vậy mà như cái tỉnh mộng của Thâm Tâm sau khi '' Say vùi, ta đốt
tương tư thảo. Bóng khói qua mây lại nhớ mình '', Lý Bạch nghìn năm
trước cũng đã mắt thấy, tai nghe '' nhất điểu hoa gian minh '' (
chim hót trong hoa ). Hoa nở. Chim hót. '' Em ơi ! Mùa xuân đến rồi đó ''!.
Nhưng ngặt nổi, gió xuân ( xuân phong ) mang lời con chim oanh líu lo :
Nghĩa là chim
kêu trong gió, ta buồn thân ta !. Trong hai bài
thơ ngũ ngôn của Lý Bạch với đầu đề có chữ '' Xuân '' là '' Xuân
tứ '' sáu câu, '' Xuân nhật túy khởi ngôn chí '' mười hai câu ,
ta lại thấy lão tiên say này dùng hai
từ '' Xuân phong '' cho mỗi bài. Bài '' Thanh bình điệu '' thể thất
ngôn mười hai câu có hai từ '' xuân phong ''. Ngọn gió xuân ở bài '' Thanh bình điệu
'' đã thổi '' tiên ông '' đang đi trên mây xanh do hoàng gia nhà Đường (
Đường minh Hoàng ) giăng cho, rớt xuống vực thẩm. '' Giấc mộng con '' của Tản Đà ( Tiểu mộng ) còn chưa có huống hồ '' Giấc
mộng lớn '' ( Đại mộng ) cứu khốn phò nguy của Lý Bạch tráng sĩ ! Vì vậy, ta thấy
: Một '' xuân
phong '' không quen biết - nghĩ cho người- làm nỗi nhớ nhung thức giấc
( bất tương thức, nhập la vi ).
Đó là một Lý Bạch lãng mạn
trong cho người '' Xuân tứ '' với làn gió xuân gợi nỗi nhớ đoạn trường.
Một '' xuân
phong '' với tiếng chim oanh mang lời tự than- nghĩ cho mình - ( dục
thán tức ) của kẻ quan sĩ mặc áo tráng sĩ '' lên voi, xuống ngựa ''
trong một thời đại thịnh trị của nhà Đường. Đó là một Lý Bạch
lãng mạn cho mình trong '' Xuân nhật túy khởi ngôn chí '' ôm nỗi buồn
thân phận. Trương đình
Tín trong '' Đường thi tuyển dịch '' có nhận xét : '' Hình như
trong Lý Bạch có hai con người cùng song song tồn tại xem có vẻ mâu thuẩn
nhau.'' Có đúng vậy không ?. Thực ra, với
ý chí mạnh mẽ trong một con người ôm ấp mộng lớn như Lý Bạch lãng mạn
với mong muốn bứt phá buồn thương, xa lìa đau hận hóa thành Lý Bạch
tráng sĩ đầy nhân tính : Chính
vì ngọn gió xuân ( xuân phong ) trong '' Xuân tứ '' có sức mạnh đánh động
giấc xuân của người thiếu phụ đã bị lớp bụi thời gian chia cắt phủ
dày làm cho nàng sống dậy với mùa xuân quá khứ ( cỏ nước Yên, dâu nước
Tần ) và tương lai với gió xuân lay màn vải ( nhập la vi ) là hiện thực. Hiện thực này đã trang bị
đôi cánh tương lai cho người thiếu phụ trong một ngày không xa sẽ đón
chồng trở về ( Đương quân hoài quy nhật ). Lý Bạch tráng sĩ đầu bạc
( Xuất môn tao bạch thủ-Đổ Phủ-'' Mộng Lý Bạch '' ) đã làm cái
công việc '' cứu người hơn xây bảy cấp phù đồ ''!. Nét '' bi '' biến mất theo làn gió xuân. Chữ
'' lạc '' xuất hiện theo xuân đưa gió trở về. Ngọn
gió xuân trong '' Thanh bình điệu '' ( Điệu nhạc thanh bình ) nói dùm
tâm sự của quân vương :
Nhà vua ( Đường
minh Hoàng ) muốn giải khuây nỗi buồn hận gió xuân nên mới cùng Dương
Quý phi tựa lan can ở đình Trầm Hương ngắm cảnh. Nhưng oan nghiệt thay,
xưa nay thơ ngoài cửa miệng ( xuất khẩu
thành thi ) đã là '' tai bay vạ gió '' đầu lìa khỏi cổ, mũ mão rụng rơi,
công danh đổ nát cho biết bao văn nhân, quan chức, trọng thần ! Mạnh hạo
Nhiên, Lạc tân vương, Lưu trường Khanh, Lư Luân, Bạch cư Dị, Trần tử
Ngang, Vương Hàn, Giả Nghị, Hàn Dũ ...từng là nhưng người bị biếm trất,
bị thất sủng ! Với Lý Bạch,
ngọn gió xuân thứ hai trong bài thơ này đã dạt tráng sĩ đại mộng ra khỏi
nơi hoạn lộ xênh xang :
Than ôi ! Ý
nghĩ : Nhìn mây tưởng áo; nhìn hoa tưởng người trong gió thấm đầy
sương hoa. Gió xuân dám đùa cợt trên mình người ngọc Dương Quý phi !.
Thế là một Cao lực Sĩ với mối hận '' cởi giày '' cho Lý Bạch ngày
nào đã vồ lấy chữ nghĩa '' khinh mạng '' này. Lời sàm tấu rỉ bên tai
thiên tử. Đạo thánh chỉ ban ra. Lý Bạch tiêu tùng! Và '' xuân
phong '' của Lý Bạch đã quay trở lại với cái '' tôi '' đầy bi phẩn. Gió
xuân trong '' Xuân nhật túy khởi ngôn chí - '' trộn lẫn '' bi '' và
'' lạc ''- đưa tiếng chim oanh làm buồn thân phận đã thành ngọn gió
xuân nương theo tiếng chim oanh đánh động con người '' hành lạc tu cập
xuân '' ( vui chơi xuân kẻo xuân qua ).
Chàng Lý Bạch ma men biến chứng nằm say chết trước cột thềm ( Đồi nhiên ngọa tiền doanh ) bật dậy
theo tiếng chim trong gió mùa xuân :
Hát vang lên,
gào to lên chờ trăng sáng. ( Trăng chưa sáng ) mà bài ca đến khúc cuối thì nỗi buồn cũng '' cuốn theo chiều gió
'', bay tuốt luốt. Khí khái quá trời !. Cái '' bi '' lại nuốt vào lòng ! Đấy! Hai con
người của Lý Bạch : Một kẻ lắm u buồn; một người đầy khí khái. Nỗi
buồn kia là cuộc đời cho; khí chất nọ là...rượu cho. Nhưng đời cho
rượu; rượu lại làm tỉnh đời. Hai tính cách nói như Trương đình Tín
là '' mâu thuẩn '' lại đi đôi với nhau, đấm đá nhau rồi...'' ký hòa ước
'' đình chiến với nhau mà tồn tại và lại là '' tri kỷ '' cho đến hết
đời. Mâu thuẩn trong một thực thể cũng thống nhất và hài hòa với
nhau. Hai mặt này không thể thiếu được trong một con người là lẽ tự
nhiên của tạo hóa. Cũng như nhìn Đổ Phủ và Lý Bạch : Một hiện thực;
một lãng mạn nhưng chính thực ra hai người này lại bổ sung cho nhau, quyện
vào nhau mà tương thân, tương ái đến nổi Đổ Phủ phải '' Mộng Lý
Bạch '' và nghìn năm sau, thơ ca Việt
Nam lại xuất hiện một Quách Tấn '' Mộng thấy Hàn mặc Tử ".
Tri kỷ đến thế !. ____________________ Mùa xuân của
Thơ Đường với từng cơn gió xuân từ một nghìn mấy trăm năm về trước
vẫn thổi vào lòng người nỗi niềm tê tái vì xa cách, vì thời cuộc. Mặc
dù vậy, mùa xuân đi qua cảnh não nùng vẫn
xanh trên cỏ bạc ngàn, hoa vẫn nở rung rinh trong gió, chim vẫn hót trên
đường quê hương ngập tràn khói lửa và rộn ràng hơn bao giờ trong một
thời đại cực thịnh đến cỡ nào cũng đi vào thời cáo chung theo chiều
xoay lịch sử. '' Sĩ khả khái
'' thời nào cũng lắm nổi gian truân, ủ
đầy uẩn khúc, dầy cơn lận đận ! '' Xuân
phong '' của Lý Bạch với hai tính chất u buồn, khí phách chạy trên
khúc ca lãng mạn có xoa dịu được lòng những người thiếu phụ ngày
hôm nay có người thân vì ra trận, vì số phận đẩy đưa chưa về đoàn
tụ hay vĩnh viễn chia cắt kẻ dương gian, người âm phủ ? '' Xuân phong ''
của Lý Bạch có đủ sức gió vỗ về cho những người ngã ngựa hôm nay,
đứng dậy cầm bút mà chiến đấu với '' thế sự nhược đại mộng ''
ngày nao ? Một ngọn
gió xuân buồn tê tái '' đoạn trường thì ''. Một ngọn
gió xuân phiêu diêu, tự tại với '' khúc hận dĩ vong tình ''. Người và cảnh
vật mùa xuân dẫu không quen biết ( bất tương thức ) thì cũng vì chữ Tâm mà đến với
nhau mà biết nhau, quen nhau thì nhớ nhau ( tương tri, tương thức tất
tương tư ). '' Đại mộng ''- giấc mộng lớn- của Lý Bạch phải chăng
là giấc mộng '' hòa bình, an lành, hạnh phúc '' cho nhân loại ?. Hỡi những
ngọn gió xuân ! Xin hãy mang đến cho đời hương hoa và tiếng hát dù phải
nói tiếng chia tay, dù phải từ nay vĩnh biệt một cõi đi-về là '' đại mộng '' của nhân gian. Tháng
01/06/06 Ngọc thiên
Hoa PHỤ BẢN :
NGUYÊN BẢN VÀ BẢN DỊCH
TƯ LIỆU THAM KHẢO - '' Đường
thi tuyển dịch '' của Trương đình Tín, NXB Thuận Hoá -2003.
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com