
Nguyễn Văn Hóa Vài cảm nghĩ sau khi đọc bài
“vài ghi nhận bất chợt” của thầy Tuệ Sĩ về bản Việt dịch của
“Triết học Thế Thân”. Nhân chuyến về nước hơn
hai năm trước, tôi có viếng thăm thầy Mạnh Thát, và được thầy ký tặng
cho cuốn “The Philosophy of Vasubandhu”. Ấn tượng đầu tiên là thấy sách
in ở Việt Trong dịp gặp gỡ cuối năm
vừa qua, tôi được bạn Nguyễn Hữu Liêm (đang hành nghề luật sư và
còn là giáo sư triết tại đại học cộng đồng ở San Jose) cho một bản
copy bài viết của thầy Tuệ Sĩ : “Nhân đọc Triết học Thế Thân –bản
Việt dịch” của Đạo Sinh từ Tập san Nghiên cứu Phật học vào Thu
2549, tức là bài viết rất mới. Sau khi đọc xong bài “đọc
sách” mà thầy Tuệ Sỹ rất khiêm tốn nói là “vài ghi nhận bất chợt,
chứ không phải là lời giới thiệu sách”, và phải đọc đến hai, ba lần,
cảm giác “ngán” ban đầu khi đọc bản Anh ngữ, được thay thế bằng
tinh thần hưng phấn. Từ đó, tôi suy diễn ra một vài điểm then chốt
sau: Một, trí thức tinh hoa của Phật giáo Việt
Thật vậy, vào ngày
4/10/1957, Nga Sô viết bắn vệ tinh Sputnik lên không gian đã gây sửng sốt,
bất ngờ cho Mỹ, nên trong vài năm sau đó, Mỹ vội vã chạy đua bằng một
dự án nghiên cứu để bắt kịp Nga có tên là ARPA (Advanced Research Project
Agency). Với dự án đó, qua công ty IBM, Mỹ đã chế tạo những máy điện
toán cỡ lớn, rất mắc tiền, được gọi là “MainFrame”, thiết kế ở
vài trung tâm khắp nước Mỹ. Các nhà khoa học muốn sử dụng “computer
mainframe” để nghiên cứu, phải tìm cách tập trung về các trung tâm đó,
gây nên nhiều bất tiện. Cho nên người ta đã nghĩ đến phương cách để
cho các “mainframe” đó liên lạc với nhau qua đường dây điện thoại, hệ
thống “mạng luới” (networks) mới bắt đầu hình thành. Ngày 21/11/1969,
trường Đại học UCLA với Viện Nghiên cứu của Đại học Stanford
(Stanford Research Institute) có thể liên lạc với nhau qua các máy điện toán.
Khoảng đầu tháng 12/1969, mới đúng là ngày sinh nhật của Internet, gọi tắt
là Arpanet (Advanced Research Project Agency Networks). Năm 1972, Internet mới chỉ
tròn 3 tuổi, trong thời gian đó thầy Mạnh Thát chưa trình luận án “Triết
học Thế Thân”, nhưng trên Tạp chí Tư Tưởng (của Viện Đại học Vạn
Hạnh), thầy đã cho đăng một loạt bài nghiên cứu và đề nghị một lập
trình (computer programming) khả dĩ để xử lý ngôn ngữ phiên dịch. Theo thầy
Tuệ Sỹ, “điều đó đã gây ra sự ngạc nhiên không ít”. Không phải
chỉ ngạc nhiên thôi, có người còn cho các bài khảo cứu ấy là “hoang
tưởng”. Điều đó rất dễ hiểu, vì cả miền Nam chưa ai biết đến máy
computer là gì, kể cả trong môi trường đại học, làm sao có thể hiểu
thế nào là “lập trình’ của máy computer. Mỹ có trang bị cho chính quyền
miền Nam lúc đó một vài máy “Mainframe” như IBM 360 cho các cơ quan tham
mưu và quốc phòng, và họ có cho một vài sĩ quan cao cấp chế độ cũ đến
Mỹ để được huấn luyện về các máy computer đã trang bị đó, nhưng đó
chỉ là những điều-khiển-viên máy điện toán, gọi là “computer
operators”. Trong cuối thập niên 60’s ở Mỹ, mới chỉ có hai ‘lập
trình’ thông dụng là Eliza Doolittle, viết bởi Joseph Weizenbaum ở MIT, và kế
đó là ‘lập trình’ Parry viết bởi Kenneth Colby ở Đại học Stanford. Đầu thập niên 70’s, trong
giới sinh viên du học ở miền Nam, có hiện tượng đồn đãi với nhau ra
nước ngoài nên học môn ăn khách, dễ kiếm tiền là “điện tử”
(Electronics), chứ chưa ai có một ý niệm chọn môn học về “lập trình”
(Computer Programming) cả, do đó đề xuất của thầy Mạnh Thát là một đề
xuất đi trước thời đại vậy. Hai, Triết học Thế Thân, theo tư duy và
cách hiểu mới, thầy Mạnh Thát đã thiết đặt một phương pháp luận mới
về Triết học Thế Thân, mà trong quá khứ có rất nhiều người hiểu “Thế
Thân” theo xu hướng Duy tâm luận tuyệt đối (Absolute Idealism), qua đó “ngoài
thức, không có gì hết”, hay nói cách khác tất cả đều là hư vô. Nhưng,
tại sao có tình trạng nhầm lẫn nguy hại này, theo thầy Tuệ Sỹ là vì,
“ngôn ngữ Hán có một giới hạn nào đó để khó mà chuyển tải hết nội
dung tư tưởng của Phật học có nguồn gốc Ấn Độ”, và bởi đại đa
số các người đã học Phật từ Hán và tư duy từ Hán học cho cả hai
phái của Đại Thừa (Trung Quán và Duy Thức). Nhưng không phải chỉ vì “khuyết
điểm” của Hán tự, ngay cả tư duy ngôn ngữ lệch lạc, có thể đưa tới
sự hiểu sai, điều mà thầy Tuệ Sỹ gọi là cái “bẫy sập” của
ngôn ngữ. Thí dụ, từ 'vipāka', các dịch
giả trước và sau Huyền Trang đã dịch là “quả báo” trong một môi trường
xã hội và thời đại dễ dàng chấp nhận, kể cả những người Tây phương
học Phật đã dịch là “retribution” (hoàn báo), chỉ vì họ bị sa vào
định thức duy tâm tuyệt đối.. Để giải
quyết vấn nạn đó, thầy Mạnh Thát đã đề nghị cách dịch và hiểu
khác, bằng một lôgíc mà tôi gọi là ‘não trạng điện toán’ và một
“lý thuyết mô tả” (the theory of descriptions), theo đó, tác giả đề nghị
một cách dịch mới từ 'vipāka' bằng một “cấu trúc
ngôn ngữ, mang tính ngôn ngữ” (‘verbal construction’) là “xử lý”
(processing) –hay có thể hiểu là tiến trình xử lý, thay vì “quả báo”
hay “dị thục” (theo Câu Xá luận). Nhưng tại sao: “quả báo” trở
thành “xử lý” ? – theo thầy Tuệ Sỹ, thế giới mà ta thấy đang tồn
tại đó chỉ là một cấu trúc đã được xử lý, chính là dữ liệu
thông tin (informational data), là “cái làm cho ta biết”. Hiểu theo ngôn ngữ
triết học : đối tượng được đưa vào thức. Hiểu theo ‘não trạng
điện toán’, đó là dữ liệu được đưa vào bộ vi xử lý / hay còn gọi
là bộ xử lý trung ương (Central Processing Unit). Mở rộng sự diễn giải này,
ta có thể hiểu bằng biểu đồ lập trình điện toán (computer programming
flowchart), tiến trình xử lý này còn gọi là chu kỳ xử lý (logic/
processing loop), hay nói cách khác khi một quá trình xử lý hoàn tất, kết
quả của nó trở thành dữ liệu bắt đầu quá trình xử lý khác. Thầy
Tuệ Sỹ gọi trong Hán dịch là “tiền dị thục ký tận, phục sinh dư dị
thục”/ nghĩa là : dị thục trước đã hết, dị thục khác lại phát
sinh / “dị thục là thân và tâm của chúng ta đây như là kết quả báo
ứng của nghiệp đã làm trong quá khứ. Khi sự báo ứng đã hoàn tất,
món nợ đã thanh toán, dị thục thân này được rủ xả để dị thục (tức
thân) khác xuất hiện, tái sinh trong một đời sống khác.” Vậy, thức (consciousness) và
hoạt động của thức không phải là điều hoang tưởng, lệch lạc, mà
chính là “một cơ cấu xử lý thông tin với mọi thành phần phụ thuộc
quan yếu được biết đến của nó, bao gồm mọi vận hành có thể được
biết đến và có đủ khả năng thực hiện.” Dĩ nhiên đó là chỉ nêu ra
một vài điểm nhỏ, dù rất cơ bản của “Triết học Thế Thân”, mà
qua “cái nhìn bất chợt” của thầy Tuệ Sỹ, đã làm cho sự hóc búa của
nó trở thành sự lôi cuốn, hấp dẫn. Từ đây, qua “Triết học Thế
Thân”, Phật giáo mang thêm một tầm nhìn mới : tích cực, năng động và
hiện sinh, mà qua hệ thống triết học, tư duy của Ấn Độ không chỉ
cung cấp một chất “thuốc súng”, còn làm bệ phóng để đưa sự tiến
bộ của khoa học kỹ thuật và kinh tế Việt Nam bay lên cao. Những ai đã mang tâm trạng như tôi sau khi
cầm cuốn “The Philosophy of Vasubandhu”,
có thể tin tưởng bước qua cầu tới bờ đáo ngạn, bằng bản Việt dịch
đầy “cân nhắc thận trọng, trong thuật ngữ cũng như trong cú pháp” như
thầy Tuệ Sỹ đã mô tả. Cảm ơn lời mách nước của
ông Nguyễn Hữu Liêm. Trân trọng giới thiệu THTT. với bạn đọc của
Giao Điểm.
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com