
BÁT KỈNH PHÁP” : MỘT VẤN NẠN THỜI
ĐẠI Phúc Lâm Gần đây ở bên
nhà có cuộc tranh luận về bài giảng "Giáo
đoàn Tỳ kheo-Ni và Bát Kỉnh Pháp” của Thầy Nhật Từ. Tôi nghĩ, có thêm một tiếng nói của cư
sĩ Phật Giáo có lẽ cũng không phải là vô ích.
Để tìm hiểu vấn đề, tôi vào đọc trang nhà Đạo Phật Ngày
Nay, một trong vài trang nhà Phật Giáo tôi thường vào đọc, nhưng không
còn thấy mấy bài của Thầy Phước Huệ, vào phapthoai.net, và đây là lần
đầu tiên, thì thấy có nhiều quan điểm
khác nhau, vào Quảng Đức thì có bài của Thích Lệ Thọ. Riêng trong
phapthoai.net, dưới “chủ đề sôi nổi”: "Giáo đoàn Tỳ kheo-Ni
và Bát Kỉnh Pháp” có tới hơn 140 bài góp ý của một số người
tham gia. Do đó tôi cũng nắm được phần
nào về những phản ứng xung quanh bài giảng của Thầy Nhật Từ. Thật ra, trước đây
tôi cũng đã đọc kha khá về vai trò phụ nữ trong đạo Phật và tôi cảm
thấy có điều bức xức trong lòng. Cách
đây vài năm, nhân dịp nói chuyện với một Sư cô đang theo học tại đại
học Wisconsin ở Madison, tôi có đề nghị một đề tài nghiên cứu đại
cương là về nâng cao vị thế, xác định rõ vai trò của Tỳ Kheo Ni trong
Phật Giáo trong thời đại ngày nay. Sư
cô nói rằng: “Khó lắm bác ơi! Vì
truyền thống Ni phụ thuộc Tăng đã ăn sâu trong những xã hội Á Châu, rất
khó mà thay đổi.”. Nay, có lẽ đây
là dịp để tôi bày tỏ vài ý kiến nhân cuộc tranh luận gần đây về vấn
đề nên bỏ hay không bỏ Bát Kỉnh Pháp. Tuy đã có nhiều
nghiên cứu, bình luận về Bát Kỉnh Pháp trong môi trường trí thức Âu Mỹ
từ nhiều năm nay rồi, nhưng có lẽ bài
giảng "Giáo đoàn Tỳ kheo-Ni và Bát Kỉnh Pháp” của Thầy
Thích Nhật Từ đã châm ngòi cho một cuộc tranh luận trong cộng đồng Phật
Giáo Việt Nam nội địa mà nhiều khi không phải là tranh luận trí thức
như Thầy Phước Huệ đã vạch rõ. Thật
là đáng tiếc vì điều này đáng lẽ không nên xẩy ra. Một cuộc tranh luận
trí thức có những tiêu chuẩn của nó. Giá
trị của một cuốn sách hay một bài viết là ở nội dung cuốn sách hay
bài viết chứ không nằm ở tiểu sử, bằng cấp, hay chức tước, địa vị
của tác giả. Thời buổi này, người
ta không thể mang bằng cấp, chức tước, địa vị v..v.., hoặc có trước
đây, hoặc có bây giờ, ra để mà thuyết phục độc giả về giá trị của
một cuốn sách hay của một bài viết. Cũng
vì vậy, trong giới trí thức, nhất là trong môi trường đại học, khi phê
bình một cuốn sách hay một bài khảo luận của một tác giả nào đó,
không bao giờ người ta nói đến đời tư của tác giả rồi dựa vào đó
mà suy diễn lệch lạc theo thiên kiến của mình, đưa ra những khẳng định
vô trách nhiệm về tác giả đó, những điều không liên quan gì đến nội
dung tác phẩm của tác giả. Khổ thay,
có vẻ như một số những người tham gia cuộc tranh luận về Bát Kỉnh
Pháp trong phe chống đối chưa biết đến
những tiêu chuẩn căn bản này, cho nên khi góp ý về bài giảng
"Giáo đoàn Tỳ kheo-Ni và Bát Kỉnh Pháp” của Thầy Thích Nhật Từ
đã không đi vào từng luận điểm trong bài giảng của Thầy Nhật Từ mà
lại đưa ra những nhận xét về cá nhân Thầy Nhật Từ, lôi cả bằng cấp
của Thầy ra chê bai, rồi chọn trong cái kho nón cối của mình, để chụp
lên đầu Thầy một lúc vài cái nón hoàn toàn có tính cách chụp mũ vô
trách nhiệm, vô căn cứ. Những người này tưởng rằng dùng những thủ
đoạn như vậy là có thể giảm được uy tín của đối phương, không ngờ
lại có nhiều phản tác dụng trong giới trí thức, tự chứng tỏ là mình
thiếu kiến thức, thiếu khả năng đối thoại nghiêm chỉnh, và nhất là,
thiếu tư cách. Đọc những bài chống
đối lúc đầu trên trang nhà phapthoai.net, tôi có cảm tưởng là sự chống
đối bắt nguồn từ tình cảm phe phái chứ chẳng phải là một cuộc
tranh luận trí thức. Điều này khá
rõ rệt vì chúng ta thấy “người ta” đã đưa cả chính trị vào trong
vòng tranh luận, chụp mũ Cộng Sản lên đầu Thầy Nhật Từ, và dùng những
từ thiếu nghiêm túc đối với những bậc trưởng thượng trong Phật Giáo
như các quý Thầy Minh Châu, Trí Quảng, Trí Siêu và cả Thầy Thanh Từ, Nhất
Hạnh nữa, những vị này chẳng liên quan gì đến bài giảng của Thầy Nhật
Từ. Có thể đây không phải là chủ
trương của phapthoai.net, nhưng sự xuất hiện của những ý kiến lạc đề
và nặng tính phe phái chính trị này khiến cho người đọc không thể
không đặt nghi vấn trước mục đích, chủ trương, và thực chất của
phapthoai.net. Do đó, ngay từ đầu,
phapthoai.net đã tự làm giảm đi danh vị của mình rất nhiều trên diễn
đàn truyền thông, nếu thực sự đã có một danh vị nào đó. Nhận xét trên của
tôi không phải là vô căn cứ, xin quý vị đọc lại nội dung một số bài
thuộc phe chống đối. Chẳng vậy mà
có một Phật tử, dưới tên Chinh Phap, cũng đã đưa ra những nhận định
như sau: Là một Phật tử, con rất buồn và xấu
hổ khi theo dõi cuộc tranh luận. Con thường nghe các Thầy giảng
pháp với những lời lẽ rất hay, những nội dung rất lợi lạc như không
tham sân si, không khẩu nghiệp, không gian dối, không nói xấu, phải lo tu
thân... Ngoài mặc cảm phe
phái, sự chống đối có thể bắt nguồn từ sự khó hòa hợp giữa hai
quan niệm: sử dụng học thuật đứng đắn để đi tới cách tân, tiến bộ
hợp với thời đại; và bảo thủ truyền thống muốn duy trì một “status
quo” trong đó không ít thì nhiều có liên hệ đến địa vị và quyền lực. Sự xung đột giữa hai quan điểm mới và
cũ chúng ta có thể thấy trong mọi tôn giáo, không chỉ riêng trong Phật
Giáo. Nhưng với thời gian, khó ai mà
có thể ngăn cản được sự tiến hóa trí thức của con người. Vì vậy, nhiều sự thay đổi đã xảy ra
trong những tôn giáo thờ thần có tiếng là bảo thủ nhất như Ca-Tô Giáo
Rô-ma, Do Thái Giáo, và cả Hồi Giáo, những tôn giáo của đức tin. Phật Giáo được biết là tôn giáo của
lý trí, của trí tuệ, nên tôi tin rằng, hơn bất cứ tôn giáo nào khác,
Phật Giáo sẽ không ngần ngại mà thay đổi khi cần, lẽ dĩ nhiên là chỉ
thay đổi sau khi đã sử dụng lý trí, trí tuệ để suy nghiệm tìm ra lẽ
thật trong những vấn đề cần phải tranh luận.
Một trong những vấn đề trong vòng tranh luận ngày nay giữa một
số Trưởng Tử Như Lai là về Bát Kỉnh Pháp. Trước khi đi vào phần phân tích để
bày tỏ ý kiến, tôi nghĩ cũng nên ôn lại sơ lược nguyên nhân đưa đến
việc Đức Phật đưa ra Bát Kỉnh Pháp. Diễn
tiến quen thuộc có thể thu ngắn như sau, quý độc giả nào muốn biết
các chi tiết có thể vào tìm đọc trong bất cứ trang nhà Phật Giáo nào. Bà Maha Prajapati Gotami, kế mẫu của
Đức Phật, xin Đức Phật cho Bà được xuất gia. Ba lần, Đức Phật đều từ chối với lý
do, tùy theo bản truyền, hoặc sự gia nhập của ni giới ở trong Tăng đoàn
có thể ảnh hưởng đến tính cách phạm
hạnh thanh tịnh của tăng chúng, hoặc để phụ nữ xuất gia sẽ làm xáo
trộn nền tảng và sự an sinh của gia đình.
Sau khi Tịnh Phạn Vương qua đời, Bà Maha Prajapati đã tự xuống
tóc, cùng với 500 phụ nữ trong hoàng phái đến Vesali, nơi Phật đang cư
ngụ, xin Phật cho phép được xuất gia. Bị
từ chối, Bà Maha Prajapati ra đứng khóc ngoài cổng. Ngài Anan thấy vậy bèn xin với Đức Phật
cho Bà Maha Prajapati xuất gia. Sau một
cuộc đối thoại hào hứng giữa Đức Phật và ngài Anan, cuối cùng Đức
Phật chấp thuận với điều kiện: Giới
Tỳ Kheo Ni phải chấp hành Bát Kỉnh Pháp, suốt đời không thay đổi, nếu
không thì Chánh Pháp của Đức Phật sẽ bị giảm thọ 500 năm thay vì tồn
tại trong 1000 năm. [Như được ghi
trong nhiều tài liệu, điều này có nghĩa là cho phép nữ giới xuất gia
thì Chánh Pháp của Đức Phật bị giảm thọ 500 năm và Bát Kỉnh Pháp là
phương thuốc để cứu vãn sự giảm thọ 500 năm của Chánh Pháp]. Sau đây là nội dung 8 điều trong Bát Kỉnh
Pháp: 1- Một Tỳ kheo ni, dầu có trăm tuổi
hạ cũng phải đứng giậy chắp tay đảnh lễ trước một Tỳ kheo mới thọ
giới Cụ túc được một ngày. 2- Một Tỳ Kheo ni không được an cư
kiết hạ ở nơi nào không có Tỳ kheo ở. 3- Mỗi nửa tháng, Tỳ Kheo ni phải đến
cầu xin thọ giáo cùng Tỳ kheo. 4- Khi an cư xong, phải đến Tỳ kheo cầu
ba sự tự tứ: đã thấy gì, nghe gì, và nghĩ gì. 5- Nếu Tỳ kheo ni phạm trọng tội
thì phải chấp hành sám luật trước hai bộ Tăng trong thời gian nửa tháng. 6- Tỳ Kheo ni phải tu tập 6 giới
trong 2 năm rồi mới được xin thọ giới Cụ Túc trước hai bộ Tăng. 7- Một Tỳ kheo ni không được khiển
trách hay nặng lời đối với một vị Tỳ kheo trong bất kỳ trường hợp
nào. 8- Tỳ kheo ni không được nói lỗi của
Tỳ kheo. Trái lại, Tỳ kheo được quyền cử tội Tỳ kheo ni. Đọc đi đọc lại bản Bát Kỉnh Pháp, với
đầu óc hạn chế và trình độ tu tập càng hạn chế hơn nữa, tôi thực
tình không thể nào hiểu nổi Bát Kỉnh Pháp có công năng như thế nào mà
có thể cứu vãn sự suy thoái và giảm thọ của Chánh Pháp. Vậy Chánh Pháp tồn tại là vì Tỳ Kheo Ni
chấp hành Bát Kỉnh Pháp chứ không phải Chánh Pháp là Chánh Pháp? Vậy là Chánh Pháp nằm trong rừng Kinh điển
của Phật Giáo mà Đức Phật dùng suốt 45 năm để giảng dạy sau khi giác
ngộ, thọ hay bị giảm thọ là tùy thuộc vào việc Tỳ Kheo Ni có tuân
hành hay không Bát Kỉnh Pháp? Tôi thấy
thật khó mà có thể tin được điều này. Điều hiển nhiên
là đã từ lâu, Tỳ Kheo Ni không còn ở trong thời đại của Đức Phật,
và thực tế xã hội đã không còn ở trong những
hoàn cảnh để có thể tạo ra những cơ hội để Tỳ Kheo Ni có dịp thực
hành Bát Kỉnh Pháp. Nhưng Chánh Pháp của
Đức Phật đã không hề suy giảm mà sau hơn 2500 năm càng ngày càng sáng
ngời, và ngày nay, Tây Phương càng ngày càng nhận ra chân giá trị của
Chánh Pháp. Tại sao vậy? Đơn giản thôi.
Vì Bát Kỉnh Pháp không hề có công năng cứu vãn sự giảm thọ
của Chánh Pháp theo như một luận cứ giải thích nguyên nhân Đức Phật
đặt ra Bát Kỉnh Pháp. Điều này cũng
chứng tỏ là Đức Phật không có đặt ra Bát Kỉnh Pháp vì trong đó, qua
sự phân tích trong lãnh vực học thuật, có những điều mâu thuẫn về thời
gian tính, tính nhất quán về giáo lý căn bản bất phân biệt giai cấp, tuổi
tác, và giới tính của Đức Phật mà chúng ta có thể thấy rõ trong ba Tạng
Kinh, Luật, Luận của Phật Giáo. Trong cuộc tạm gọi
là “tranh luận” về Bát Kỉnh Pháp, tôi đã đọc kỹ bài giảng "Giáo
đoàn Tỳ kheo-Ni và Bát Kỉnh Pháp” của Thầy Nhật Từ, cũng như những
bài “Bát Kỉnh Pháp Chướng Ngại Hay Căn Bệnh Thời Đại?” , “Ai Đủ
Tuệ Giác Để Bỏ Bát Kỉnh Pháp”, “Không
Nên Bỏ Bát Kỉnh Pháp”, “Bát Kỉnh Pháp” lần lượt của các quý
Thầy Thích Lệ Thọ, Thích Nhựt Chấn, Thích Minh Hành, Thích Minh Thông, một
loạt bài của các quý Thầy Thích Chơn Như, Thích Phước Huệ, phần bình
luận dài lê thê của Thầy Thích Đồng Trí do Thai Binh Duong đưa lên, bài
này sau đó cũng xuất hiện đầy đủ hơn trên diễn đàn Giao Điểm, cùng
một số bài khác của những tác giả không muốn đề tên Thích, đặc biệt
là bài của một Sư cô không thích dùng tên Thích mà lại thích làm Mẹ
Thiên Chúa. Một số người chống
đối Thầy Nhật Từ, cho rằng Thầy chạy theo phong trào Nam Nữ bình quyền,
hay bình đẳng của Tây phương. Cách
nhìn này khá thiển cận. Đọc kỹ bài
giảng "Giáo đoàn Tỳ-kheo-Ni và Bát Kỉnh Pháp” của Thầy Nhật
Từ, tôi cảm nhận được không phải Thầy chỉ nhắm vào Bát Kỉnh Pháp,
mà dùng Bát Kỉnh Pháp để đi vào nhiều vấn nạn khác trong Phật Giáo
và gài vào trong đó những thông điệp thời đại nhằm mục đích thức tỉnh
con người. Thức tỉnh như thế nào? Thức tỉnh để thấy rằng: “Những
giá trị vương quyền của thế gian cũng chỉ là tạm bợ trong một giai
đoạn nào đó thôi, mà vấn đề còn lại là mình phải tìm kiếm những
giá trị tâm linh cao hơn” Thức
tỉnh để thấy rằng, trong thời đại ngày nay, Phật Học không thể
thiếu Thế Học. Thức tỉnh
để thấy rằng, trong bối cảnh của
một thế giới đa tôn giáo mà ngoại đạo thường xuyên tìm những kẽ hở
để đánh phá Phật Giáo, chúng ta không thể chỉ ngồi hít vào thở ra. Thức tỉnh để thấy rằng, Phật Giáo
không cần phải e ngại những sự phân tích, nghiên cứu trong lãnh vực học
thuật về ngay cả những văn phẩm mà chúng ta được biết là Kinh Phật. Thức tỉnh để thấy rằng những lý do
nào làm cho Chánh Pháp suy vi, nhưng tuyệt đối không phải là do Đức Phật
chấp nhận thành lập Giáo đoàn Tỳ Kheo Ni, hay là Tỳ Kheo Ni không chịu
thực hành Bát Kỉnh Pháp. Cố Đại Lão
Hòa Thượng Thích Đôn Hậu cũng đã từng nói rõ là Đạo Pháp suy vi vì, nguyên văn: “Bản thể
của Tăng bị lu mờ, nội bộ Tăng bị phân hóa và thành phần của Tăng có nhiều quan điểm
dị biệt, giới hạnh suy kém và hiểu biết Đạo lý một cách cục bộ,
phiến diện”. Phương pháp giảng
luận của Thầy Nhật Từ rất nghiêm túc, dù trong bài giảng, đôi khi Thầy
dùng những từ hoặc ý có tính chất khôi hài thời đại mà một vài người
khắt khe trong Đạo có thể thấy không thích hợp nếu chỉ xét trên mặt
văn tự. Thầy luôn luôn đưa ra chính
đề rồi dùng lý luận đi vào phản đề, đây là phương pháp nghiêm chỉnh
nhất trong lãnh vực học thuật, không thể chỉ nói lên ý kiến một chiều
của mình. Về Bát Kỉnh Pháp, Thầy đã
nêu lên những luận cứ giải thích truyền thống trên từng điều một để
bảo vệ giá trị thiết thực của Bát Kỉnh Pháp, rồi mới đưa ra lý luận
phản biện, chứng minh những luận cứ trên không có cơ sở, chứa nhiều
mâu thuẫn, để đi đến kết luận là điều đó khó mà có thể cho là của
chính Đức Phật ban ra. Điều hiển
nhiên là trong lãnh vực học thuật, những luận cứ của Thầy Nhật Từ
không phải là tuyệt đối mà là một sự mời gọi để đối thoại nghiêm
chỉnh, cùng nhau tìm ra lẽ thật. Thật
quả tôi cũng biết chút ít về lịch sử Phật Giáo, về Giáo lý của Đức
Phật, nhưng tôi thấy khó mà tìm ra chỗ nào trong phần phản biện của Thầy
Nhật Từ để mà phản bác dựa trên lý luận. Bước sang lãnh vực cảm
tính và tín ngưỡng thì lại khác. Trong
một phần sau, tôi sẽ đi vào vài ý kiến phản biện luận cứ phản biện
của Thầy Nhật Từ để chúng ta thấy rõ vấn đề. Theo ý kiến riêng của
tôi, xét theo bối cảnh lịch sử và xã hội Ấn Độ thời Đức Phật còn
tại thế, chúng ta có thể miễn cưỡng
chấp nhận một số lý luận để biện hộ cho 3 điều trong Bát Kỉnh
Pháp: Điều thứ 2: Một Tỳ
Kheo ni không được an cư kiết hạ ở nơi nào không có Tỳ kheo ở (gần)
[vì sự an toàn của Tỳ Kheo Ni trong xã hội Ấn Độ thời đó]; Điều thứ
3: Mỗi nửa tháng, Tỳ Kheo ni phải đến cầu xin thọ giáo cùng Tỳ
kheo. [Vì Tỳ Kheo Ni là những người hậu học cả 5, 6 năm, nên cần sự
dìu dắt của giới Tỳ Kheo để thấm nhuần cùng học phương thức tu tập
giáo lý của Đức Phật. Hiển nhiên
Đức Phật không thể tự mình quán xuyến việc dạy giáo lý cho một số
đông Tỳ Kheo Ni mới gia nhập Tăng đoàn như vậy, và cũng không thể mất
thì giờ để nhắc lại những điều Đức Phật đã dạy trong 5 năm qua,
cho nên chỉ có cách nhờ giới Tỳ Kheo truyền đạt lại giáo lý của Đức
Phật cho giới Tỳ Kheo Ni]; và Điều thứ 5: Nếu Tỳ kheo ni phạm trọng
tội thì phải chấp hành sám luật trước hai bộ Tăng trong thời gian nửa
tháng. Đây là những điều rất cần
thiết để bảo đảm sự tu học của giới Tỳ Kheo Ni trong thời đó. 5 điều còn lại là được thêm thắt
vào sau, do ai, bao giờ, và với ý định gì, tôi không rõ. Tuy nhiên, khi đọc kỹ
những điều luật trong Bát Kỉnh Pháp và đối chiếu với chuyện Đức Phật
chấp thuận cho Bà Kế Mẫu Maha
Prajapati Gotami và 500 phụ nữ thuộc hoàng phái xuất gia, tôi thấy Bát Kỉnh
Pháp có vẻ như được chế ra về sau
để cho Tỳ Kheo Ni áp dụng dưới sự ngự trị của Tăng đoàn chứ không
phải là thuộc thời Đức Phật cho phép thành lập Giáo đoàn Tỳ Kheo Ni. Lý do tôi nghĩ như vậy là vì khi chấp thuận
cho Bà Maha Prajapati và 500 phụ nữ thuộc hoàng phái xuất gia thì tất cả
đều thành Tỳ Kheo Ni ngay, nghĩa là không phải thi hành điều thứ 6 tu thử
2 năm, và chưa thể có 2 bộ Tăng, Ni đúng với nghĩa “bộ”. Một bộ tăng thường gồm những người
tu trước tu sau, tuổi đạo phân biệt rõ ràng, và có một hội đồng coi
việc thi hành luật. Khi đó bộ Tăng
đã gồm nhiều ngàn người. 501 người
xuất gia cùng một lúc thì về phương diện tu đạo, vai vế đồng đều,
vậy nếu một Tỳ Kheo Ni chấp hành sám luật trước hai bộ Tăng, Ni thì bộ
Tăng và bộ Ni gồm những ai, hay là phải
chấp hành sám luật trước cả mấy ngàn Tỳ Kheo và trước 500 Tỳ Kheo Ni
khác. Thực tế là, dù chúng ta có giải
thích Bát Kỉnh Pháp thế nào đi chăng nữa, thì ngày nay những điều đó
đã không còn được áp dụng. Đây
là điều quá hiển nhiên, chúng ta không cần phải bàn thêm gì nữa. Trong câu chuyện Bà Maha Prajapati Gotami
xin Phật cho xuất gia, có một chi tiết mà tôi cho rằng có tính cách thuyết
phục nhất, cộng với lòng từ bi, đại trí của chính Đức Phật để Đức
Phật chấp thuận. Từ chi tiết này
tôi tự hỏi có thật là có cuộc can thiệp của Ngài Anan để cho Bà Maha
Prajapati và 500 phụ nữ thuộc hoàng phái được xuất gia hay không? Lý luận phản biện trong bài giảng của
Thầy Nhật Từ hình như cũng có nghi vấn này, nhưng đặt theo một lối
suy nghĩ khác. Đó là sự kiện, theo Thầy Thích Minh Thông: “Bà Gotami vẫn
không nao núng ngã lòng vì những đợt thỉnh nguyện bất thành, mà bền
gan cam chịu mọi khổ nhọc và đương đầu nghịch cảnh, quyết định
theo chân Đức Thế Tôn đến Vesali cùng với một số đông mệnh phụ phu
nhân có niềm tin nơi bà (có nơi nói cùng với 500 người nữ giòng họ Xá
Di). Cắt bỏ chùm tóc đẹp thuở nào, vứt bỏ nữ trang lộng lẫy, tự
khoác lên mình tấm y thô thiển, các bà cam chịu khổ nhọc đi bộ, trải
qua đoạn đường dài 150 dặm đến Vesali, mình mẩy lấm lem bụi bặm, y
phục rách rưới tả tơi, chân cẳng sưng vù đau nhức.” để nài nỉ
xin cho được xuất gia. Điều này chứng
tỏ Bà Maha Prajapati đã quyết chí tu theo Chánh Pháp, dù Đức Phật có
không cho phép thì cũng không ngăn cản được quyết tâm của Bà. Bà thừa biết rằng khi Thái Tử Tất Đạt
Đa bỏ nhà đi tìm Đạo, Ngài có xin phép ai đâu? Trước cảnh tượng này,
Đức Phật, được biết là Bậc Đại Trí với lòng từ bi không bờ bến,
có thể nhẫn tâm trước một đòi hỏi không trái với những điều Người
thường dạy về sự bình đẳng giữa Nam và Nữ trên con đường tu tập,
và từ chối đến 6 lần. Rất có thể
lúc đầu Đức Phật cũng còn ngần ngại, vì Đức Phật và các đệ tử
dù sao cũng sinh ra trong xã hội Bà La Môn, một xã hội kỳ thị, coi rẻ phụ
nữ một cách cực đoan. Đức Phật luôn
luôn sống trong Chân Đế nhưng Người cũng không thể phủ nhận Tục Đế,
ở đây nên hiểu là những quy ước trong xã hội. Nhưng rồi Đức Phật đã làm một cuộc
cách mạng: đặt chân lý mà Người ngộ
được lên trên những quy ước xã hội, và quyết định chấp thuận cho lập
Giáo đoàn Tỳ Kheo Ni. Để hiểu rõ
quyết định dũng lược vượt thời gian, không ai hơn, không ai bằng này của
Đức Phật, chúng ta cần phải đi vào một chút lịch sử nhân loại, và
nhất là lịch sử Ấn Độ thời bấy giờ. Vấn đề kỳ thị Nữ
giới, coi Nữ giới thấp kém hơn Nam giới là một vấn đề có thể nói
là phổ quát trên khắp thế giới, và còn kéo dài cho tới tận ngày nay
ở nhiều nơi, nhất là trong các tôn giáo thờ thần như Hồi Giáo, Công
Giáo, Do Thái Giáo và cả trong những xã hội văn minh tân tiến nhất như Mỹ,
Nhật Bản, Nam Hàn v..v.. mà chúng ta thường rất ngưỡng mộ những giá trị
vật chất của họ. Trong Công Giáo, Nữ
giới không được làm Linh Mục, chỉ có thể làm “sơ” và từ giáo lý
“Cha cũng như Chúa”, phải hoàn toàn làm thuộc hạ của các Cha, tuyệt
đối phải nghe lời “bề trên”. Ở
nhà thờ nào có Cha là ở đó có các “sơ” phục vụ. Cha muốn là Chúa muốn, Ý Cha là ý Chúa,
Cha có thể thay Chúa rửa tội và tha tội cho con chiên, gọi Thánh Linh về
ngự trong người con chiên v..v… Nhưng
cũng vì vậy mà đã xảy ra vụ các “Cha cũng như Chúa” đã hiếp dâm
các “sơ” trong 23 quốc gia trên thế giới, có lẽ dưới hình thức để
ban ân sủng của Chúa cho “sơ”. Do
Thái Giáo không có Rabbi đàn bà. Còn Hồi
Giáo thì khỏi nói. Con gái còn không
được phép đi học ở nhiều nơi. Trong
các quốc gia theo Phật Giáo Nam Tông cũng vậy, Thái Lan không cả cho phép Tỳ
Kheo Ni, nếu có, được đi nhiễu quanh Tháp Phật. Riêng ở Ấn Độ thời
Đức Phật tại thế, sự kỳ thị Nữ giới còn được viết trong Luật
Manu (Manu-smirthi): Là người con gái, là người đàn bà trẻ, hay ngay cả
là người đàn bà già, không được tự tiện làm điều gì, ngay cả trong
nhà mình. Khi còn trẻ một người Nữ
phải nghe lời cha, khi lấy chồng phải nghe lời chồng, khi chồng chết phải
nghe lời con; một người nữ không bao giờ được quyền độc lập
("By a girl, by a young woman, or even by an aged one, nothing must be done
independently, even in her own house. In childhood a female must be subject to her father,
in youth to her husband, when her lord is dead to her sons; a woman must never be
independent". (Laws of Manu, V, 147-8)). Ngoài ra, Nữ giới
không được quyền tham dự các lễ tiết tôn giáo, không được đọc Kinh
Vệ-Đà. Nói tóm lại, trong thời Đức
Phật tại thế, dựa vào Kinh Vệ-Đà-Áo Nghĩa Thư, phụ nữ Ấn Độ bị
loại ra ngoài mọi hoạt động xã hội và tôn giáo (Swarna de Silva in The
Place of Women In Buddhism, 1994: The primordial principle in the
Vedic-Upanishadic philosophy which was dominant in the Buddha's time, was the
male-principle (purusha), and this provided justification for the exclusion of women
generally from social and spiritual activity.) Từ những sự kiện
trên, chúng ta mới có thể thấy Đức Phật đã vĩ đại như thế nào khi
Người chấp thuận thành lập Giáo đoàn Tỳ Kheo Ni cho Nữ giới. Đây là một thông điệp phổ quát, dành
cho toàn thể nhân loại, không hề có bất cứ một sự phân biệt nào về
chủng tộc, giai cấp xã hội, hay giới tính.
Một trong 10 danh hiệu của Đức Phật là “Thiên nhân sư”
(Satta devamanussanam), nghĩa là Thầy dạy của các Thiên Chúa và Người
(Teacher of gods and humans). Người đây
bao gồm cả Sau đây chúng ta hãy
đi vào vài điều trong Bát Kỉnh Pháp. Trước hết là Điều
1: Một Tỳ kheo ni, dầu có trăm tuổi hạ cũng phải đứng giậy cúi
đầu chắp tay đảnh lễ trước một Tỳ kheo mới thọ giới Cụ túc được
một ngày. (A nun who has been ordained even for a century must greet
respectfully, rise up from her seat, salute with joined palms, do proper homage to a monk
ordained but that day.) Câu này có nghĩa là
một Tỳ Kheo Ni, dù đã đi tu được 100 năm rồi, khi thấy một Tiểu Tăng
mới tu được một ngày, cũng phải đứng giậy cúi đầu chắp tay đảnh
lễ ông Sư trẻ này. Cái lôgíc trong
câu này là như thế nào, hay cho rằng muốn hiểu Kinh Phật không cần dùng
đến lôgíc? Sau đây chúng ta hãy điểm
qua vài lôgíc của những vị phát dị ứng với lôgíc, kèm theo vài lời
bàn của Phúc Lâm: Thích Lệ Thọ:
Tăng Ni không như Nam và Nữ bình thường, đồng thời giáo lý của
đức Phật không là “bình đẳng hình thức” như xã hội lập ra, nên
có rất nhiều trường hợp Logic lại sai với thực tế, và chính Albert
Enstain [sic] đã thừa nhận rằng: “Thành công của tôi có đến 90%
là sai khi đặt ra những giả thuyết!” [Phúc Lâm: Lôgíc không thể sai với thực tế vì
lôgíc chính là phương pháp luận để đi đến thực tế. Một trong những định nghĩa của lôgíc
là: lý luận có giá trị, đặc biệt là để phân biệt với những luận
điệu vô giá trị hay phi lý (Valid reasoning, esp. as distinguished from
invalid or irrational argumentation), thí dụ như câu dẫn chứng Albert Enstain [sic]
đã thừa nhận rằng: “Thành công của tôi có đến 90% là sai khi đặt
ra những giả thuyết! Kinh Phật không phải là những giả thuyết mà
là những chân lý Đức Phật đã ngộ được.
Tôi cũng chưa đọc được câu trên của Albert Einstein ở
đâu. Thành công mà đến 90% là sai mà
có thể gọi là thành công được hay sao? “Giáo
lý của đức Phật không là “bình đẳng hình thức” như xã hội lập
ra”? Có thật như vậy không? Trong Tăng đoàn của Đức Phật có đủ mọi
hạng người, không hề phân biệt giai cấp, đó không phải là “bình
đẳng hình thức” để phá cái “bất bình đẳng hình thức” trong
xã hội hay sao? Nhưng mà Thầy Lệ Thọ
lôi Einstein vào đây làm gì? Để chứng
minh Phật Giáo không cần đến lôgíc?] TieuTang: Bát kỉnh pháp chính là thuốc để đối
trị với nghiệp mang thân nữ của họ. [Phúc Lâm: Cũng vì “nghiệp
mang thân Nữ” mà Việt Nam ta có Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bùi Thị Xuân, Hồ
Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Ni Sư Trí Hải, Diệu
Không, Đàm Lựu v.. v.. Cũng vì “nghiệp
mang thân Nam” mà Việt Nam có Trần Ích Tắc, Trần Bá Lộc, Trần Lục,
Hoàng Quỳnh, Ngô Đình Diệm v..v.. Vậy lấy cái gì để đo “nghiệp mang
thân nữ” với “nghiệp mang thân Chúng ta nên để ý
là trong những luận điệu chống đối bài giảng về Bát Kỉnh Pháp, hầu
hết chỉ là viết theo cảm tính và không đưa ra một lý luận nào để phản
bác lập luận của Thầy Nhật Từ. Tôi
xin lấy một vài thí dụ điển hình: Vuithoi: Bài giảng này nếu nhìn dưới một
công trình nghiên cứu thì rất hay nhưng nếu nói đủ để đề nghị bỏ
Bát Kỉnh Pháp thì còn xa lắm. Vì thầy Thích Nhật Từ chỉ theo suy luận
và dựa vào phương pháp luận của khoa học thực nghiệm chứ chưa thể
nghiệm, chưa quán thấy được căn cơ chúng sanh và cũng chưa thực thấy
việc này thật sự có lợi ích cho việc tu học của chư Tăng chư Ni mà để
đi đến kết luận. [Phúc Lâm: Viết như trên, tác giả chứng tỏ
là mình đã thể nghiệm, quán thấy, thực thấy v..v.. nhưng lại không hề
nói rõ ra là mình đã thể nghiệm Bát Kỉnh Pháp [dành cho Tỳ Kheo Ni] như
thế nào, và mình đã quán thấy căn cơ chúng sanh như thế nào, và cũng không
hề chứng minh là Bát Kỉnh Pháp có ích lợi cho việc tu học của chư
Tăng chư Ni như thế nào. Cho nên những
lời viết như trên thực sự là trống rỗng, chỉ có trên mặt văn tự] Thích Như Tấn:
Thử hỏi vị TS Nhật Từ đã hiểu chưa? Và như thế nào là bình đẳng?
TS Nhật Từ đã hiểu chưa? Nếu chưa hiểu thì hãy nên thành tâm sám hối
những lời nói ngông cuồng của mình, rồi quán chiếu tu tập để được
có trí tuệ mà thấu triệt những lời dạy của Phật. Nếu đã cho là
mình thấu hiểu rồi, thì khỏi cần bàn nữa, vì những kẻ này chỉ là hạng
nhất xiển đề đối với Tam bảo không có lòng tin, chỉ là những ma
quân đầu thai vào Phật pháp để phá hoại, nói như vậy, vì xét theo lịch
sử truyền thừa hơn 2500 năm chưa có vị Tổ sư nào dám sửa đổi luật
do Đức Phật nói ra, bây giờ TS Nhật Từ là thứ nhất, phải nói vị
này chưa có một lòng tin nào về Phật, chưa hiểu được danh từ “Phật
bảo” là như thế nào? [Phúc Lâm: Cũng như Vuithoi, tác giả hàm
ý mình đã hiểu những điều Thầy Nhật Từ chưa hiểu, nhưng cũng không
hề trình bày là mình đã hiểu thế nào là bình đẳng và đã thấu triệt
những lời dạy của Phật như thế nào. Người
Hà Nội đã phê bình như sau: Tại sao Dieu Ho Que Huong (alias Thich Như Tấn)
chống đối bài giảng của Tỳ Kheo Thích Nhật Từ. Có phải là vì cho rằng mình đã thấu hiểu
đúng mà Tỳ Kheo Thích Nhật Từ hiểu sai. Vì
vậy mới chống đối chứ, có phải không. Nhưng
“Nếu đã cho là mình thấu hiểu rồi, thì khỏi cần bàn nữa, vì những
kẻ này chỉ là hạng nhất xiển đề đối với Tam bảo không có lòng
tin, chỉ là những ma quân đầu thai vào Phật pháp để phá hoại” Vậy là Dieu Ho Que Huong (alias Thích Như
Tấn) đã tự mình xếp hạng mình rồi đó. (Kể ra Người Hà Nội phê
bình cũng được đấy chứ? )]. Có lẽ chỉ có Thầy
Thích Đồng Trí là đi thẳng vào việc bình luận điều thứ 1 trong Bát Kỉnh
Pháp để phản biện Thầy Nhật Từ. Thầy
biện giải dài lê thê trên mấy trang giấy nhưng tiếc thay lại không đi vào
chính chủ đề. Tôi xin trích dẫn
một vài đoạn trong phần này để chứng minh. Thích Đồng Trí:
“Một khi hình thành hai bộ chúng : Tăng đoàn và Ni đoàn, vấn đề đầu
tiên đặt ra là nghi thức chào hỏi nhau giữa Tăng và Ni. Gặp nhau không thể
không chào hỏi vì chào hỏi sẽ bày tỏ được sự cảm thông, hòa hợp,
kính trọng nhau giữa những người cùng chí hướng xuất trần… …Khi đi ngoài
đường, Tu sĩ Phật Giáo luôn chánh niệm tỉnh giác, ý thức từng bước
đi, thiền hành quán sát, tâm trí không rảnh rang cho việc chăm chú các đối
tượng, cảnh sắc bên ngoài. Hơn nữa các vị thường cúi đầu xuống, không
phóng tầm mắt quá xa… Do đó, khi gặp
nhau ngoài đường, chuyện giới tính ( Tăng hay Ni) thì rất dễ nhận biết
qua màu sắc, y phục và dáng đi nhưng tuổi tác rất khó nhận biết vì lo
việc niệm tưởng, kinh hành quán sát và không cố ý nhìn thẳng vào mặt
để xem vị Tăng đó, Ni đó là ai. Khi gặp giữa đường thì dù vị Tăng
đó là ai, vị Ni đó là ai thì chuyện đó cũng không cần phân biệt và
không quan trọng vì đâu có hỏi nói hay học hỏi gì nhiều lúc đang đi?
Trong tâm thì Tăng Ni kính trọng nhau sẵn rồi, kính trọng về lý tưởng
giải thoát và cứu độ chúng sanh, đó là chính yếu và thuộc về tánh.
Còn về mặt hình tướng và biểu hiện thì câu hỏi đặt ra là : giữa Tăng
và Ni ai sẽ chào hỏi ai trước khi gặp nhau?” [Phúc Lâm: Có lẽ Thầy Thích Đồng Trí không đọc kỹ
điều thứ nhất trong Bát Kỉnh Pháp. Đây
là một luật về “đảnh lễ” và về số hạ lạp chứ không phải là
chuyện chào hỏi nhau thông thường khi Tăng Ni gặp nhau. Hơn nữa, nếu một vị Tăng đang đi Thiền
hành quán sát, hay đang ngồi Thiền thì không ai nên quấy rối bằng một
cuộc chào hỏi thông thường. Cư sĩ
chúng tôi đều biết như vậy, một Tỳ Kheo Ni không thể không biết đến
điều sơ đẳng này. Vậy lý luận phản
biện của Thầy có vẻ hơi lạc đề. Điều
1 trong Bát Kỉnh Pháp không có đặt vấn đề giữa Tăng và Ni ai sẽ
chào hỏi ai trước khi gặp nhau? mà
là Một Tỳ kheo ni, dầu có trăm tuổi hạ cũng phải đứng giậy cúi
đầu chắp tay đảnh lễ trước một Tỳ kheo mới thọ giới Cụ túc được
một ngày. (A nun who has been ordained even for a century must greet
respectfully, rise up from her seat, salute with joined palms, do proper homage to
a monk ordained but that day.) Trong bài “Ai
Đủ Tuệ Giác Để Bỏ Bát Kỉnh Pháp”,
Tỳ Kheo Thích Nhựt Chấn có trích một điều trong Giới Bổn Tỳ
Kheo Ni như sau: Điều 175: “Tỳ-kheo-ni nào, dù 100 tuổi hạ, thấy tỳ-kheo
mới thọ giới mà không đứng dậy nghinh đón, cung kính lễ bái, hỏi
chào, ba-dật-đề.” Như vậy, văn
tự đã rất rõ ràng, có nghĩa là một bà già trên trăm tuổi đang ngồi,
thấy một Tiểu Tăng mới tu được một ngày đi tới, cũng phải đứng giậy
(nếu còn đủ sức) cúi đầu chắp tay “đảnh lễ”. Thực tình tôi không tin ở con số 100 đâu,
mà cho rằng điều luật trên qui định là Tỳ Kheo Ni, bất kể là đã tu tập
được bao lâu, cũng phải làm đủ lễ nghi trước một Tăng nhân mới xuất
gia được một ngày, và lẽ dĩ nhiên Đức Phật chẳng bao giờ đưa ra một
điều luật quá phi lý như vậy, bất kể chúng ta giải thích luật đó như
thế nào. Phật Giáo là tôn giáo rất
tôn trọng kinh nghiệm tu tập, nghĩa là tuổi đạo chứ không phải là tuổi
đời. Do đó nhưng người vào Đạo
sau, bất kể tuổi tác như thế nào, đều phải kính trọng, đảnh lễ, và
học hỏi những người đi trước] Thầy Đồng Trí còn giải thích việc
đảnh lễ của Tỳ Kheo Ni như sau: Vì cần có sự tướng,
cần có sự nhắc nhở cho việc tu tập và cùng lo Phật sự, cần có nghi
thức khi liên hệ chào hỏi nhau và đặc biệt có tác dụng lớn cho những
vị Ni mới xuất gia sơ cơ hậu học, chưa tỏ ngộ Phật Pháp và thể
tánh thì cần phải nương, quy y, đảnh lễ, cung kính và vâng hành nên Phật
chế ra việc đảnh lễ này. [Phúc
Lâm: Thầy Đồng Trí lại vẫn lẫn
lộn giữa một luật cho Tỳ Kheo Ni, một điều kiện để được gia nhập
Tăng đoàn, với nghi thức liên hệ chào hỏi nhau.
Phải chăng nghi thức này, “Tỳ-kheo-ni nào, dù 100 tuổi hạ,
thấy tỳ-kheo mới thọ giới mà không đứng dậy nghinh đón, cung
kính lễ bái, hỏi chào, ba-dật-đề.”, đặc biệt có tác dụng lớn
cho những vị Ni mới xuất gia sơ cơ hậu học, chưa tỏ ngộ Phật Pháp…? Nhưng một Tỳ Kheo Ni đã có 100 tuổi hạ thì có phải là bậc mới xuất gia sơ cơ
hậu học so với một Tỳ Kheo mới xuất gia được một ngày không? Cho nên lý luận phản biện của Thầy Đồng
Trí không phải là phản biện vì nó không đi vào đúng chủ đề mà lái
sang vấn đề khác] Cuối cùng Thầy Đồng
Trí còn đề nghị với Thầy Nhật Từ là: Nếu Thầy Nhật Từ
thấy điều này bất công phi lý thì Thầy hãy thử thực hành điều ngược
lại : Trước khi Thầy dạy lớp Ni Thầy đảnh lễ Ni chúng tam bái [Phúc Lâm: Đề nghị này vô lý, thấy bất công thì
xóa bỏ bất công chứ làm ngược lại để thực hiện một bất công
khác hay sao? Đề nghị này có tính
cách “chọc quê” Thầy Nhật Từ chứ chẳng phải là phản biện với
lý luận, nhưng Thầy Đồng Trí chắc không thể ngờ được là nó lại
có phản tác dụng, chọc lại chính mình.] Bây giờ chúng ta sang điểm thứ 6
trong Bát Kỉnh Pháp: Tỳ Kheo ni phải tu tập 6 giới trong 2 năm rồi mới
được xin thọ giới Cụ Túc trước hai bộ Tăng. Nhưng khi Đức Phật
chấp thuận cho Bà Maha Prajapati cùng 500 phụ nữ trong hoàng phái được gia
nhập Tăng đoàn (theo nghĩa rộng) thì làm gì có điều kiện này. Họ được kết nạp ngay, đâu có phải
qua một thời gian thử thách là 2 năm? Đây
là một điểm rất khó giải thích nếu cho rằng Bát Kỉnh Pháp là do
chính Đức Phật đặt ra. Nếu thực sự
Đức Phật đã đặt ra Bát Kỉnh Pháp là điều kiện “sine qua non” mà Tỳ
Kheo Ni phải chấp hành nếu muốn gia nhập Tăng đoàn, thì Bà Maha Prajapati
và 500 phụ nữ đi theo Bà là những người đầu tiên phải chấp hành điều
luật này, nhưng không có một văn kiện nào để lại nói rằng Bà Maha
Prajapati và 500 phụ nữ kia đã phải trải qua 2 năm tu tập 6 giới trước
khi được chính thức làm Tỳ Kheo Ni. Có tài liệu ghi rằng, Bà Maha Prajapati đã xin
với Đức Phật bỏ đi điều thứ nhất nhưng không được chấp thuận. Đây là một vấn đề còn trong vòng nghi vấn. Thật ra, điều thứ 6 này nên áp dụng cho
Tăng và Ni ngày nay hơn là trong thời Đức Phật còn tại thế. Hình như đây cũng là một đề nghị của
Thầy Nhất Hạnh trước đây : Hãy
tu thử đã, và sau một thời gian vài năm, nếu
hội đủ các yếu tố đạo đức và ý chí tu hành rồi hãy chính thức xuất gia tu thực. Trở lại điều thứ hai trong Bát Kỉnh
Pháp: Một Tỳ Kheo ni không được an cư kiết
hạ ở nơi nào không có Tỳ kheo ở. Đến đây thì chúng ta phải kể đến
một luận cứ rất khoa học của Thầy Nhật Từ để chứng minh là Đức
Phật không thể nói câu này. Thầy Nhật
Từ giảng: Chúng ta phải xét một sự kiện rất
là quan trọng, lịch sử ra đời của truyền thống an cư (56p:11s). Chúng ta
biết là Bát kỉnh pháp được thành lập vào năm thứ 5 hoặc năm thứ
6 sau khi thành lập đạo. Trong khi đó hệ thống của an cư kiết hạ,
những điều khoản về định tội, trị phạt, tự tứ, bố tát được thành
lập theo đại đa số các bộ luật đó là năm thứ 20 sau khi đức Phật
thành đạo. Rõ ràng chúng ta thấy có một cái mâu thuẫn về tính thời
gian, không có logic với nhau… … Giới luật được thiết lập sau
20 năm. Hệ thống an cư, bố tát, định tội, trị phạt cũng nằm trong
năm 21 trở đi. Trong khi đó ở năm thứ 6 này, chúng ta đã nghe cái câu
điều lệ thứ hai: Ni không được tổ chức an cư ở những nơi không có
Tăng. Chúng ta thấy nó vô lý không? Thời điểm đó làm gì có cơ chế an
cư mà có nội dung đó? … Từ đó chúng ta có thể khẳng định
được rằng câu nói này, nó được ra đời từ thời Phật nhập niết bàn.
Còn nó nằm ở trong lần biên tập thứ nhất thứ hai, thứ 3 thừ 4 thì
không ai đám xác quyết. Bởi vì với lòng tin tưởng và tuệ giác của
các bậc A la hán thì các ngài không thể có những cái nhìn giới hạn về
giới tính như vậy được. Mà lần biên tập đầu tiên toàn là nhưng bậc
A la hán không. Cho nên chúng ta pải có niềm tin tuyệt đối vào đại A la
hán là tuệ giác, giống như các vị đại Bồ tát không thua không kém. Cho
nên tình trạng đó có thể được đưa vào sau thời kỳ biên tập kinh điển
lần thứ nhất. Bằng không chúng ta thấy nó vô lý, làm gì có giới luật
mà nói có an cư và nó kéo theo các điều khoản 3, 4 và 5 cùng chung cấu
trúc này. Trên đây là phần lý luận dựa vào
sự bất phù hợp giữa thời gian mà chúng ta cho là Đức Phật dạy Bát Kỉnh Pháp và thời gian định cơ chế
an cư, tự tứ, bố tát v..v.. Nhưng
theo tôi, vấn đề chủ yếu mà Thầy Nhật Từ muốn nêu lên là: Liệu
là cái nhu cầu bảo vệ đó có cần thiết trong thời đại ngày hôm nay
hay không? Khi mà chư Ni đã có những cái chùa riêng và chùa của họ lớn
hơn chùa của Tăng và họ cũng đâu hề có lời thỉnh cầu bảo hộ nào
đâu, mà mình cũng chưa hề bảo hộ họ lần nào, ngày nào cả. Thích Như Chấn:
Xét về tính an toàn trong đời sống thời đại xưa, đoàn thể Ni chúng
là những người từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong một xã hội
mạnh được yếu thua, nhiều trộm cướp; nếu không có sự bảo hộ của
Tăng thì điều gì sẽ xảy ra? Thầy Thích Đồng Trí
đồng ý với Thầy Nhật Từ ở điểm là có vấn đề bất phù hợp về
thời gian nêu trên, nhưng Thầy cũng không trả lời thẳng vào câu hỏi chủ
yếu của Thầy Nhật Từ mà chỉ nói về những lợi ích của điều thứ
hai trong Bát Kỉnh Pháp, nhưng tất cả chỉ nói về thời gian khi Giáo
đoàn Tỳ Kheo Ni mới được thành lập trong những điều kiện xã hội thời
bấy giờ. Riêng về vấn đề an
cư, Thầy Đồng Trí phản bác như sau: Đúng là hệ thống giới luật được
thiết lập và ban hành đầy đủ về giai đoạn sau này ( theo nhiều tài liệu
thì Giới Bốn Ba La Đề Mộc Xoa được hình thành vào năm thứ mười ba
sau ngày Phật thành Đạo). Tuy nhiên việc
an cư thì mùa hạ nào Phật và Giáo Đoàn cũng an cư. Chúng ta có thể đọc
trong sách Đức
Phật và Phật Pháp để biết
vị trí và những gì xảy ra trong Hai Mươi Hạ Đầu Tiên của Đức Phật. Trong bài, Thầy Đồng
Trí đã nhiều lần trích dẫn từ cuốn Đức Phật và Phật Pháp do
Phạm Kim Khánh dịch cuốn The Buddha and His Teachings của Đại Đức
[Chưa phải là Hòa Thượng] Narada Maha Thera để làm hậu thuẫn cho phần
lý luận của mình. Cuốn sách này được
xuất bản năm 1964 tại Kỳ Viên Tự, Saigon, dựa trên một bản thảo đã
xuất bản từ năm 1942 đã được duyệt sửa và thêm bớt nhiều. Như được viết trên đầu cuốn sách : Cuốn
sách này có thể xem là sách căn bản cho ai muốn tìm hiểu Phật Giáo
Nguyên Thủy. Đại Đức Maha Thera là
người Tích Lan, theo Phật Giáo Nguyên Thủy.
Đọc cuốn Đức Phật và Phật Pháp chúng ta thấy nội
dung không ngoài những điều mà tác giả học được và tin trong truyền thống
Phật Giáo Nguyên Thủy. Đây không phải
là một cuốn sách trong lãnh vực học thuật mà là thuộc lãnh vực tín ngưỡng. Thầy Đồng Trí viết: Chúng
ta có thể đọc trong sách Đức Phật và Phật
Pháp để biết vị trí và
những gì xảy ra trong Hai Mươi Hạ Đầu Tiên của Đức Phật. Nhưng nếu đọc kỹ
những chuyện trong Hai
Mươi Hạ Đầu Tiên của Đức Phật thì chúng ta thấy nhiều
chuyện thuộc về truyền thuyết (Legends) mà chính Đại Đức Narada Thera lấy
từ cuốn “Buddhist Legends” ra, cùng với những câu trong Kinh Pháp Cú và
Giới Bổn. Đại Đức Narada Thera cũng
không ghi xuất xứ tài liệu về Hai Mươi Hạ Đầu Tiên của Đức
Phật từ
đâu mà ra. Tôi xin trích dẫn vài đoạn
trong Hai Mươi Hạ Đầu Tiên
của Đức Phật và xin thỉnh ý kiến của
Thầy Đồng Trí. Trang 190: Hạ thứ sáu
– tại đồi Mankula, trong Kosambi, gần Aliahabad:
Cũng như trước kia Ngài dùng phép Yamaka Patihariya, làm cho lửa
và nước đồng thời từ lỗ chân lông phun ra, để chế ngự tính ngã
mạn của thân bằng quyến thuộc tại quê nhà, nơi đây Ngài dùng lại
phép ấy lần thứ nhì để thâu phục những người khác đạo. [Phúc Lâm: Đức Phật không dùng
Chánh Pháp mà lại dùng trò quỷ thuật để thâu phục những người khác
đạo? Còn có gì có thể hạ thấp Đức
Phật hơn nữa không?] Hạ thứ bảy – tại
cung Trời Đạo-Lợi (Tavatimsa): Trong
hạ thứ bảy Đức Phật thuyết Vi Diệu Pháp (Abhidamma) cho chư Thiên ở
cung Trời Đạo-Lợi và vị Trời trước kia là hoàng hậu Ma-Da (nghĩa là Mẹ
Đức Phật đã chết sau khi sanh Đức Phật) từ Đấu-Xuất đến Đạo Lợi
nghe Pháp. Mỗi ngày Đức Phật trở
về quả địa cầu để tóm tắt bài Pháp cho Ngài Xá-Lợi-Phất và
Ngài Xa-Lợi-Phất giảng rộng giáo lý ấy cho hàng đệ tử. Nếu chúng ta có thể
tin những điều trên thì không có gì cần phải bàn cãi thêm. Nếu không thì nêu 20 hạ đầu tiên của
Đức Phật trong cuốn Đức
Phật và Phật Pháp ra để phản bác luận
cứ của Thầy Nhật Từ thì tôi cho là không có tính cách thuyết phục. Nhưng có vẻ như Thầy Đồng Trí rất tin
những chuyện này, vì trong một đoạn sau Thầy đã nhắc lại Hạ Thứ Bảy
mà Thầy đã tin rằng Đức Phật đã lên cung trời ba mươi ba để thuyết
Pháp cho mẹ [đã chết] để “chứng minh” về sự hiện hữu của ảnh
tượng Phật trong thời Phật tại thế. Tôi nghĩ phần góp
ý kiến của tôi ở trên về Bát Kỉnh Pháp cũng đã đủ để nói lên những
điều tôi muốn nói. Về vấn nạn
Bát Kỉnh Pháp nói riêng, vai trò phụ nữ trong Phật Giáo nói chung, Thầy
Chân Như đã đưa lên hai bài: Tám Điều Luật Khắt Khe Dành Cho Chư Ni
của Tiến sĩ Amasiri Weeraratne; Bát Kỉnh Pháp: Tầm Quan Trọng Và Những
Vấn Đề của Ven. Maha Narin Sea Liu do
Thích Nữ Liên Hiếu dịch, và bài Ni Giới Đài Loan Vận Động Hủy Bỏ
Bát Kỉnh Pháp do Thầy Thích Giải Hiền, Du Học Tăng tại Đài Loan tường trình.
Ngoài ra, muốn đi sâu thêm vào vấn đề, chúng ta có thể đọc
phần trả lời của Tỳ Kheo Ni Chatsumarn Kabilsingh trước 36 câu hỏi về Tỳ
Kheo Ni , và những bài The Place of Women in Buddism của Swarna de Silva; Women
in Buddhism của Ven. Patti Nakai; The revival and survival of Buddhist nuns, Ven.
Bhikkhuni Gotami (Dr Prem Suksawat), Bangkok Post, 18 February 2001; A path less
travelled, Atiya Achakulwisut, Bangkok Post, 17 April 2001; Her holiness, Atiya
Achakulwisutu, Bangkok Post, 30 May 2001; A nun's life has limited appeal,
Sanitsuda Ekachai, Bangkok Post, 05 July 2001; The Dhammananda controversy,
Sanitsuda Ekachai, Bangkok Post, 22 September 2001; Women in Buddhism: Planting the
Seed of Peace, Aree
Chaisatien,
Nation Multimedia, October 5, 2001; A
New Dawn for Women’s Rights, After a Millennium, World Buddhists Affirm Equality for
Women In Unprecedented Internal Ordination Ceremony Under the Tree of Enlightenment. Trước khi kết luận,
tôi xin có vài ý kiến về một câu của
Toi Đi Tim Toi: TS. Nhật Từ
là một con người có tài "tranh luận". Từ những năm còn theo học
tại học viện PGVN tại TP. Hồ Chí Minh khóa III (khi đó là Trường cao cấp
Phật học), TS. Nhật Từ đã được biết đến là người thích "tranh
luận". [Thế “Toi di tim toi”
xông vào phapthoai.net để làm gì? Để
moi móc đời tư của Thầy Nhật Từ?] Phúc Lâm: Khi xưa chính Đức Phật cũng đã từng
tranh luận với ngoại đạo để giải hoặc và chuyển hóa họ. Trong Mật Tông, tranh luận là một môn học
mà Tăng sinh phải thực tập hàng ngày. Vậy
vấn đề không phải là thích hay không thích tranh luận, mà là tranh luận
trong tinh thần như thế nào, có cần thiết không? Phật Giáo nhà ta có
hai cụm từ: “Nói năng như Chánh Pháp” và “Im lặng như Chánh
Pháp”. Năm 1991, trong khi các quý
Thầy khác “Im lặng như Chánh Pháp” thì Thầy Nhật Từ đã lên tiếng
“Nói năng như Chánh Pháp”, gây chấn động dư luận quốc nội qua
một bài thuyết trình Phê Bình “Thần Học Ki Tô Giáo Theo Cung Cách Á
Châu” của Mục sư Tống Tuyền Thịnh, chủ đề của cuộc hội thảo
do Ủy Ban Đoàn Kết (sic) Công Giáo thành phố Hồ Chí Minh tổ chức. Nội dung Tuyển Tập “Thần Học Ki Tô
Giáo Theo Cung Cách Á Châu” của Mục sư Tống Tuyền Thịnh là xuyên tạc
Phật Pháp để hạ thấp Phật Giáo, và Thầy Nhật Từ đã vạch ra những
sai lầm trong tuyển tập trên cùng lúc khai ngộ cho thính chúng Chánh Pháp của
Đức Phật. Toi Di Tim Toi cho rằng
Thiên Chúa Giáo cũng có lý lẽ của họ, có thắng được họ đâu? “Tranh luận” là để tìm ra lẽ thật,
không phải để thắng. Bài Phê Bình của
Thầy Nhật Từ đã vạch ra bộ mặt thật của Mục Sư Tống Tuyền Thịnh
và cái gọi là Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo tổ chức hội thảo để xuyên
tạc chống phá Phật Giáo. Năm 1999, một tín đồ
“trí thức” Công Giáo, Phan Thiết, cho xuất bản cuốn Hành Hương Đất
Phật với cùng mục đích như Mục sư Tống Tuyền Thịnh, nhằm xuyên tạc,
bôi nhọ, chống phá Phật Giáo. Năm
2000, trong khi quý Thầy vẫn giữ thái độ cao quý “Im lặng như Chánh
Pháp” thì Thầy Nhật Từ đã cùng với Giáo sư Trần Chung Ngọc “Nói
năng như Chánh Pháp”cho xuất bản cuốn Vạch Trần Âm Mưu Phá Ngầm
Phật Giáo để phản bác mưu đồ của Phan Thiết. Bài của Thầy Nhật Từ trong cuốn Vạch
Trần Âm Mưu Phá Ngầm Phật Giáo đã được đánh giá như sau: “Tự thân bài phê bình của Thích Nhật
Từ có giá trị như một cuốn sách giáo khoa về Phật Giáo. Để vạch ra những sai lầm căn bản của
Phan Thiết viết về Phật Giáo, có thể điều này không mấy quan trọng đối
với một tu sĩ Phật Giáo, tác giả đã soi sáng cho độc giả thấy đâu
là kiến thức chân chánh về Phật Giáo, qua một bố cục trình bày chi tiết
và chính xác về cách dùng thuật ngữ Phật Giáo, sự hiểu biết đúng về
Kinh điển Phật Giáo và Giáo Lý Phật Giáo..Giá trị bài phê bình của
Thích Nhật Từ thực ra không ở chỗ phê bình Phan Thiết, mà là ở chỗ vị
tu sĩ Phật Giáo này đã cống hiến cho các độc giả, nhất là cho các Phật
tử một kiến thức sâu sắc, vững chắc về Phật Giáo. Tỳ Kheo Thích Nhật Từ đã làm tròn nhiệm
vụ truyền bá Đạo Pháp của một Trưởng Tử Như Lai.” Vậy
thực chất tính “thích tranh luận” của Thầy Nhật Từ là như thế nào. Hay là “nếu người ta tát má này thì
nên đưa má kia cho người ta tát tiếp”, một
câu của Giê-su mà Thầy Đồng Trí khen là hay trong phần “Thay Lời Kết”
của Thầy [Thầy không đọc những câu khác của Giê-su]. Nhưng ngày nay, trước
một bài giảng về Bát Kỉnh Pháp của Thầy Nhật Từ thuộc loại phân
tích nghiên cứu trong lãnh vực học thuật thì quý Thầy lại không thể “Im
lặng như Chánh Pháp” được nữa mà một số đã cùng nhau thay vì giữ
thái độ “im lặng sấm sét” của Bồ Tát Duy Ma Cật thì lại “Nói
năng như Chánh Pháp”, nhưng nghe cứ
như là “nói năng như sấm sét” để “tố khổ” Thầy Nhật Từ. Tôi chắc quý Thầy này không muốn tôi nhắc
lại những đoạn đó ở đây. Có thể
quý Thầy này có dị ứng với “tranh luận”.
Thay Lời Kết.
Không có mấy người
biết là Phúc Lâm tôi vốn chẳng xa lạ gì với Người Hà Nội. Chúng tôi thường xuyên gặp nhau bàn chuyện
đời, chuyện Đạo, không hẳn chỉ là Đạo Phật. Hôm nay mới gặp, tôi có bảo ông ta: Này
ông! Ông có đọc Vuithoi và Thầy Đồng Trí phê bình bài của ông không,
có ý kiến gì không? Ông ta cười bảo:
“Mấy Thầy viết sao thì mình nghe vậy thôi, mình là hạng bét trong hàng
Tứ Chúng mà.” Tôi nổi máu anh hùng:
“Thế tôi viết thay ông có được không?”
Ông ta xua tay: “Ông muốn viết gì thì cứ viết theo ý ông, chứ
đứng có đoán mò viết theo ý tôi ” Tôi
cười: “Tôi thừa biết ông nghĩ gì rồi, bạn bè thân thiết với nhau
mà ông lại sút banh cho tôi. Nhưng thôi,
được, để tôi viết theo ý tôi vậy.”. Vậy,
tôi xin bắt đầu viết theo ý tôi với Vuithoi: Vuithoi viết: “Người
Hà-nội muốn đăng bài mình thì đăng thẳng lên đây như thầy Thích Chân
Như đã làm.” [Phúc Lâm: Nếu
tôi không lầm thì Người Hà-nội đã nói là không dám gửi bài cho
DaoPhatNgayNay.com và phapthoai.net, cho nên đã gửi cho giaodiem.com. Thầy Thích Chân Như đưa lên là ý của Thầy
Chân Như chứ không phải do lời yêu cầu của Người Hà-Nội. Tôi có hỏi, Người Hà-nội nói rằng
không biết Thầy Chân Như là ai, chỉ là “văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình”
qua những bài trên phapthoai.net thôi.] Vuithoi: “Bài viết của
Người Hà-nội chưa đủ để Ban Điều Hành website này phải xóa” [Phúc
Lâm: Vậy chắc Vuithoi ở trong ban
điều hành phapthoai.net? Nhưng Người Hà-nội
không gửi bài cho phapthoai.net thì xóa hay không xóa cũng vậy thôi. Vuithoi làm như Người Hà-Nội muốn đăng
bài của mình lên phapthoai.net lắm hay sao?] Vuithoi:
”vuithoi cũng là một cư sĩ như người Hà-nội và cũng biết rằng các thầy
không coi trọng sự tu học của cư sĩ tại gia. Nhưng đối với vuithoi việc
đó không quan trọng vì chỉ có người chưa chứng ngộ thật sự mới thấy
như vậy thôi.” [Phúc Lâm: Đọc kỹ Người Hà-Nội
chúng ta thấy ông ta đâu có coi việc đó là quan trọng? Ông ta nhắc lại một câu của một Thầy
viết trên phapthoai.net dưới tên anhsangbinhminh: “Nếu là 1 cư sĩ họ không
biết gì về giới luật họ chỉ nghe nói mà họ lên tiếng thì chúng tôi
không có đề cập, cho dù có đề cập với vị cư sĩ đó cũng vô ích mà
thôi.” rồi viết: “Biết là vô
ích, nhưng vô cũng là hữu…”. Vô cũng là hữu thì còn có gì là quan trọng
nữa? Nhưng mà hỏi riêng vuithoi nhé: ở trên cái cõi đời ngày nay, ai là
người đã chứng ngộ thật sự đây? Người
Hà-Nội tất nhiên là chưa chứng ngộ thật sự rồi. Còn Vuithoi? Mừng
cho ông, vì ông đã chứng ngộ thật sự rồi (diễn ý câu ông viết). Vuithoi là cư sĩ nhưng có người lại xưng
ông là Thầy.] Vuithoi:
“Điều căn bản thứ nhất là trích trong kinh Nền Tảng Đức Tin và Người
Hà-nội trích thiếu 1 đoạn kết rất quan trọng sau khi nói về 10 đức
tin này” [Phúc
Lâm: Khi Người Hà Nội đưa lên vài điều trong Kinh Nền Tảng Đức
Tin là chỉ để nhắc nhở là Đức Phật đã dạy “Chớ Vội Tin”
chứ không phải là “Đừng Tin”. Đoạn
cuối Đức Phật dạy khi nào thì mới tin rất quen thuộc, ai mà chẳng biết? Hơn nữa trong một đoạn sau, Người Hà-nội
có viết: “Trong Phật Giáo không có chuyện mù lòa tin bướng tin càn [lời
của Thượng Tọa Thích Mật Thể] mà chữ Tín này phải là kết quả
của sự hiểu biết qua quán chiếu, suy tư và thực nghiệm. Không phải cứ bảo rằng đây là Kinh Phật
là cứ việc nhắm mắt mà tin. Cần phải
biết xem đó có đúng là Kinh Phật hay không, có đúng là Phật nói như vậy
không, có thể áp dụng được không, áp dụng có lợi hay có hại v..v..
rồi bấy giờ mới có thể tin, nếu sự áp dụng chúng mang lại lợi ich
cho người cho ta và giúp ta thăng tiến trên con đường tu học. Đây chính là lãnh vực của học thuật
ngày nay.” Đoạn này chẳng phải là theo đúng lời Phật dạy sau khi
Đức Phật đưa ra 10 điều về Nền Tảng Đức Tin là gì?] Vuithoi:
“Điều thứ 4 người Hà-nội muốn nói là kinh điển ngày nay không
thể được coi là chính những lời của Phật dạy, mà được thêm thắt
vào sau này.” [Phúc Lâm: Đây là vuithoi nói chứ không phải
là Người Hà-Nội muốn nói như vậy.
Vuithoi khôn lắm, cắt đi một đoạn đầu trong câu Người Hà-nội
viết: Điều mà các học giả nghiên cứu về Phật Giáo ngày nay
không còn nghi ngờ gì nữa là: “Một
số điều trong Luật Tạng – bao gồm một số Luật – không thể được
coi là chính những lời của Phật dạy, mà được thêm thắt vào sau này.”
rồi thay đoạn cắt đi bằng “kinh điển ngày nay” để chụp lên
đầu Người Hà-Nội. Xin vuithoi đọc
thêm đoạn này của Người Hà-Nội rồi so với câu trích dẫn cắt xén của
vuithoi xem có chỗ nào khớp không: [Người
Hà-Nội: Đức Phật không hề viết một chữ.
Các Kinh sách chỉ xuất hiện sau khi Đức Phật đã tịch diệt
nhiều trăm năm và sau nhiều lần kết tập để ôn lại những lời Phật
dạy. Do đó,
thật là ngây thơ nếu chúng ta cho rằng Kinh điển Phật Giáo
mà chúng ta có ngày nay hoàn toàn không có gì sai lầm hay không có gì
mâu thuẫn vì trải qua hơn 2500 năm con người có rất nhiều cơ hội để
cho những điều này xảy ra. Lẽ dĩ
nhiên, những thêm thắt sai lầm hay mâu thuẫn không phải là của Đức Phật.] Vuithoi cho rằng việc
phản bác bài giảng của thấy Thích Nhật Từ không có gì không ổn cả. Lẽ dĩ nhiên, có gì mà không ổn. Có ai lên tiếng chống việc phản bác đâu? Nhưng vấn đề là phản bác như thế nào,
và thực sự có phải là phản bác theo tiêu chuẩn tranh luận trí thức hay
không? Vuithoi đọc lại một số luận
điệu “phản bác” trên phapthoai.net rồi xin cho ý kiến về những luận
điệu “phản bác” đó có ổn hay không, và đó có phải là phản bác
trong tinh thần tranh luận trí thức hay không? Phần bình luận của vuithoi về vài
điều trong bài giảng của Thầy Nhật Từ trong bài Kính Gửi Người Hà-Nội,
Phúc Lâm xin được phép không bàn tới. Hết
chuyện vuithoi nay Phúc Lâm xin phép sang chuyện buồn thôi. Buồn vì miễn cưỡng phải góp ý kiến về
vài điểm của một bậc Thầy, Thầy Thích Đồng Trí. Trong phần Thay Lời Kết, Thầy Thích Đồng
Trí cũng phê bình bài viết của Người Hà-Nội.
Người Hà-Nội giữ “im lặng như thế gian pháp” nhưng lại
ngầm sút banh cho Phúc Lâm viết thay mà không phải là thay, vì đây là ý của
Phúc Lâm chứ không phải của Người Hà-Nội.
Nhưng Phúc Lâm phải thành thực thú nhận là, trong phần sau đây,
không ít thì nhiều cũng được Người Hà-Nội “cố vấn” về một số
tài liệu. Thầy Thích Đồng Trí đưa ra 4 bằng chứng để bác bỏ điều mà
Người Hà-Nội cho rằng không thể có “Tháp Phật” và “ảnh tượng Phật”
nằm trong phần Chúng Học của Giới Bổn Tỳ Kheo Ni. Nhưng đọc kỹ 4 bằng chứng này thì Phúc
Lâm lại thấy rằng đó chỉ là những truyền thuyết đượm chất hoang
đường và khó có thể phù hợp với Bậc đã đạt Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác như Đức Phật, nếu không muốn nói là có phần hạ thấp Đức
Phật xuống hàng “Vô thượng sư Thanh Hải”.
Thật vậy, chúng ta hãy thử xem 4 bằng chứng Thầy Thích Đồng
Trí đưa ra như thế nào. Tôi xin lập
lại nguyên văn phần sau đây của Thầy Thích Đồng Trí: “Thế nhưng có ít nhất là bốn bằng
chứng ghi rõ ràng trong kinh sách cho việc đã
có Tháp Phật khi Phật còn đang tại thế : Bằng
chứng thứ nhất về Tháp Phật : Sau khi vua Tần bà
sa la và Hoàng Tử A Xà Thế nghe một câu chuyện tiền kiếp và thụ giáo một
bài học có ý nghĩa thâm thúy từ Đức Phật, vua Tần bà sa la trình bày tâm nguyện tha thiết đến Thế
Tôn như sau : "Bạch Ðức
Thế Tôn, khi Ngài đi rồi, con sẽ không thể nào kính lễ Ngài, con sẽ
không thể nào thường xuyên cúng dường Ngài, và điều đó làm con buồn
lắm. Xin Ngài cho con một lọn tóc, xin Ngài cho con vài cộng móng tay, con sẽ
tôn trí tất cả trong tháp giữa hoàng cung của con. Thế là con sẽ giữ
được chút gì gọi là một phần thân thể của Ngài, và mỗi ngày, con sẽ
kết hoa tươi, đốt hương quí để trang hoàng lễ bái trong tháp." Ðức Thế Tôn biếu
tất cả những gì mà Tần-bà-sa-la cầu xin, Ngài nói: "Hãy tôn trí
tóc và móng tay này trong tháp, nhưng trông tâm con, hãy ghi nhớ những gì thầy
dạy." Vua Tần-bà-sa-la
hoan hỷ trở lại hoàng cung, Ðức Thế Tôn lên đường sang thành Ca-tỳ-la-vệ.”
Bằng
chứng thứ hai về Tháp Phật : Câu chuyện liên quan ý nguyện của cung phi
XơRiMaTi của Vua Tần-bà-sa-la “Nhằm tiết
xuân sang, trăm hoa đua nở. Trong rừng, các loài chim thi nhau ca hát vui mừng.
Vua và Hoàng hậu, có cung phi mỹ nữ theo hầu, xuất hành ngự đến vườn
hoa trong Rừng Tre. Cung phi tâu: - "Tâu bệ
hạ, ban ngày chúng tôi không thể đến hầu Phật. Vậy xin bệ hạ cho lập
trong cung một ngọn Tháp thờ tóc và móng tay của Ðức Thế Tôn. Chúng
tôi sẽ được vọng bái thường thường và cúng dường Phật các thứ
bông hoa, hương thơm, tàn lọng, cờ phướn". Bằng
chứng thứ ba về Tháp Phật : “ …Vừa lúc ấy
có một đoàn xe 500 cổ từ xứ Ukala (nay thuộc địa phận tỉnh Grandjãm),
thuộc miền Nam, chở hàng hóa lên miền Bắc như Bayã, Rajagaha, Vésali vừa
đến địa-phận làng Uruvela, có nhiều xe bị trục-trặc, cái thì súc
bánh, …. Hai người lái-buôn, chủ của đoàn xe tên Tapussa (Sa-Lệ-Phú-Ba)
và Bhallika (Bấc-Lê-Ca) nhảy xuống rảo bước xem coi có việc chi bất thường
chăng. Hai người chợt thấy Ðức-Phật đương tỉnh-tọa dước cội cây
Tãrãyana, hào-quang tủa sáng như mặt trời ban mai, họ định-tỉnh tinh-thần
và nói với nhau: Ðây là một vị Thánh-nhân và giờ nầy có lẽ Ngài cũng
sấp thọ-trai, vậy chúng ta nên đem vật-thực cúng-dường cho Ngài. Tapussa
và Bhallika trở lại xe lấy món thực-phẩm nấu mật và mía róc, đến gần
mọp lạy dưới chân Ðức-Phật và sau khi đi ba vòng quanh Ðức-Phật, đứng
chấp tay cung kính bạch: Xin Ðức Thế-Tôn xuống phước thọ nhận vật-thực
chúng tôi đem đến dâng cúng cho Ngài… Hai người rất thỏa-thích,
liền xin qui-y với Ðức-Phật và cầu xin Ngài ban cho một vật kỷ-niệm
để tôn-thờ. … Ðức-Phật hoan-hỷ
cho họ qui-y theo Ngài và cho họ ít sợi tóc và rẻo móng tay làm kỷ-niệm. … Hai người nầy
cầm đầu đoàn thương-đội, đi từ Nam lên Bắc, từ Bắc xuống Nam, và
nhiều khi mướn thuyền vượt biển sang qua các xứ hải-ngoại. Ði đến
đâu họ đem vật kỷ-niệm ấy ra chiêm-bái và gây ảnh-hưởng tốt đẹp
cho sự truyền bá Phật-Pháp. Sau lại hai người lái buôn đến kinh-doanh lập
nghiệp tại Miến-Ðiện, xây tháp thờ tóc và móng tay của Ðức-Phật tại
thành Bằng
chứng thứ tư về Tháp Phật : Tại
Na-kiệt [Nagarahàra] : "Chừng 100 bước về phía Tây của
hang Bóng Phật, là nơi Ðức Phật đã cạo tóc và cắt móng tay. Ngài đã
đích thân cùng các đệ tử xây một cái tháp cao 70-80 bộ để làm mẫu
cho những cái tháp tương lai. Tháp này hiện nay vẫn còn" Về hình tượng Phật thì đã có từ
khi Phật còn tại thế,
cụ thể là vào Hạ Thứ Bảy khi Phật thuyết pháp tại cung Trời Tavatimsa (Đao Lợi) : Tại Xá vệ: "Khi Phật lên cung trời ba mươi
ba để thuyết pháp cho mẹ trong ba tháng, vua pasenadi [Ba-tư-nặc] nhớ Phật,
sai thợ khắc hình tượng Ngài bằng gỗ chiên-đàn và đặt tượng ngồi
trên tòa của Phật. Về sau, khi Phật trở về, tượng bèn rời chỗ đi
ra đón chào Ngài. Phật dạy: "Ngài cứ ngồi yên chỗ. Sau khi
tôi nhập Niết bàn. Ngài sẽ làm mẫu mực cho bốn chúng đệ tử tạc tượng
trong tương lai". Khi ấy tượng trở lại chỗ ngồi. Ðây là
pho tượng Phật đầu tiên đã được tạc, và người đời sau lấy mẫu
từ đó. Rồi đức Phật dời về một tu viện nhỏ khác ở phía Nam, cách
chỗ của tượng tưởng chừng 20 bộ" . Sau khi
“chứng minh” là trong thời Phật tại thế đã có “Tháp Phật” và
“ảnh tượng Phật” bằng 4 “bằng chứng” trên, Thầy Đồng Trí viết: Vậy thì vấn
đề rối rắm nảy sinh là tại vì chúng ta [alias NgườI Hà Nội]
không học hết, nghe, thấy, biết hết, học lụp chụp từng đoạn
trong Tam Tạng Kinh Điển nên thường hay thấy chống trái rồi thắc mắc
đủ mọi điều, lại hăng hái phán xét thế này thế nọ thôi chứ còn bản
thân chánh pháp thì khúc đầu, khúc giữa và khúc cuối nào có chống trái
với nhau? [Thầy có ý nói là Người Hà-Nội không học hết,
nghe, thấy, biết hết, (chỉ) học lụp chụp từng đoạn trong Tam Tạng
Kinh Điển nên thường hay thấy chống trái rồi thắc mắc đủ mọi điều,
và tất nhiên Thầy Đồng Trí đã học hết, nghe, thấy, biết hết từng
đoạn trong Tam Tạng Kinh Điển. Mừng
cho Thầy] Thầy Thích Đồng Trí ơi! Phúc Lâm, nếu cần có thể quỳ xuống van
vái Thầy, xin Thầy đừng mang những chuyện này mà đi giảng đạo ngày
nay. Tại sao?
Vì như vậy là Thầy đã quá hạ thấp Đức Phật rồi. Tài liệu Thầy
lấy là ở trong những Truyện Cổ Phật Giáo, trong những Website
vietsuns.com, truyenviet.com, cuốn sách của Trùng Quang Nguyễn Văn Hiếu, và những
Tư liệu lịch sử và bán lịch sử do Pháp Hiển ghi lại, chứ chẳng
thấy trong Kinh nào của Phật mà Thầy nói là trong Kinh sách. Thầy cho rằng, Đức Phật đã ngộ được lý vô ngã vô thường mà khi còn tại thế Người lại chấp thuận và tình nguyện biếu tóc với móng tay cho người đời để xây tháp thờ phượng những thứ này của Người hay sao? Thầy quên rằng trước khi tịch diệt Đức Phật đã dạy phải giữ giới và theo Chánh Pháp, đó là hình thức tôn kính Phật nhất hay sao? Thấy Pháp là thấy Phật hay thấy vài sợi tóc và mấy cái móng tay là thấy Phật? Rồi Người lại đích thân cùng đệ tử xây tháp để làm mẫu cho những Tháp Phật sau này, và để móng tay và tóc của mình vào trong đó? |