
Bát Kinh Pháp (tiếp theo - 2)
Tóm lại, tại sao lại chọn Ni đảnh lễ
chào hỏi Tăng trước? Có nhiều lý do rõ ràng mà ai cũng dễ dàng nhận thấy
:
1/ Để ngắn gọn, đơn giản và không sanh
tâm phân biệt, động niệm nhiều : như trên tôi đã nói, việc chào hỏi
vì gặp nhau tình cờ ngoài đường thì chỉ thực hiện đơn giản, thường
là xá chào lặng lẽ chứ không có thời gian dừng lại để đảnh lễ sát
chân và thực hành các bổn phận khác. Vậy
thì để tránh nhọc công phân biệt : vị Tăng
ấy là ai, vị Ni ấy là ai, bao nhiêu tuổi hạ? chuyện này ở giữa đường làm sao biết
được? cho nên chỉ cần Ni xá chào trước, Tăng xá chào lại. Nếu phải
chọn nhất quán một mô thức : Ni
chào hỏi trước hay Tăng chào hỏi Ni trước thì chọn : Ni xá chào Tăng trước là thích hợp hơn
chứ. Có rất nhiều khả năng (xác suất cao) là Vị tăng đối diện đó lớn
tuổi hạ hơn Tỳ Kheo Ni vì Tăng đoàn thành lập đã lâu và có rất nhiều
vị Tăng ( cũng như Tăng đã chứng Thánh quả) trước khi Ni đoàn được
thành lập. Ni đoàn thành lập sau Tăng
đoàn. Tỳ Kheo Tăng dạy bảo và giúp đỡ cho Ni giới trên nhiều phương
diện cho sinh hoạt tu tập thì gặp một hình bóng của vị Tăng cũng khiến
Ni giới nhớ đến ơn đức 2/ Khi mang tính chất duyên sự, Phật sự và Tăng
sai thì một vị Tăng đến với Ni chúng là đại diện cho cả Đại chúng
Tăng lo giúp Ni chúng : cho nên đảnh lễ và thực hành bổn phận đối
với vị Tăng ấy là hợp tình hợp lý thôi. Nếu như tu hành chơn chánh
trong giáo pháp của Phật thì cả hai vị Tỳ Kheo Ni đảnh lễ và thực
hành bổn phận đối với Tỳ Kheo Tăng và vị Tăng được đảnh lễ ấy
chỉ có lợi lạc thôi chứ không ai cảm thấy khó chịu, khiên cưỡng, bất
công, mệt mỏi, hay giảm phước đức cả. Bởi lẽ chúng ta đã biết : Tỳ
Kheo có nghĩa là : Khất sĩ, Bố Ma, Phá Ác, là vị nối nghiệp ba đời
chư Phật làm rúng động Tam Thiên chứ đâu phải ít ỏi hay nhỏ nhoi gì? Tỳ Kheo Ni đảnh lễ Tỳ
Kheo Tăng và quán sát chân chánh thì được nhiều lợi ích : Vì trong đó
có bao hàm nhiều ý nghĩa : vì đảnh lễ Phật, phật đã dạy trong
Bát Kính Pháp và Phật đã cho cơ hội như ngày hôm nay, đảnh lễ Pháp : vì cầu Pháp, cầu giáo giới, đảnh lễ Tăng : vì hình ảnh của vị Tăng ấy là đại diện
cho Tăng chúng, hoặc là vị tăng ấy đang được Tăng sai đến, phụng
hành sứ mạng của tăng đoàn giao mà Phật sự với Ni giới và vì trực tiếp cụ thể là biết ơn tâm hạnh
cao cả của vị Tăng này đã vì sự tu học của Đại Chúng Ni mà đến. Tỳ Kheo Tăng thọ nhận
sự đảnh lễ cúng dường của Ni giới nên quán sát chân chánh và sẽ có
nhiều lợi ích : Tỳ Kheo Ni đang đảnh lễ ba đời mười phương Phật Pháp
Tăng chứ không phải chỉ đảnh lễ riêng bản thân mình, bản thân hãy tu
tập và chu toàn Phật sự xứng đáng với sự ủy thác chư Tăng và xứng
đáng với sự tin tưởng và tôn kính này của Ni chúng, trong lòng có một
sự tôn kính và bằng tâm niệm mà đảnh lễ và đáp lễ chư Ni bởi vì họ
đang thiết tha với Phật Pháp và lý tưởng cao cả nên bày tỏ thành tâm
và cần cầu như vậy. Bây giờ
xét về những lý tánh liên hệ đến việc đảnh lễ : trong kinh Pháp Hoa
có vị Tỳ-kheo Thường Bất Khinh phàm
khi ngó thấy hoặc Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, hoặc Ưu-ba-tắc, Ưu-bà-di, thảy đều
lễ lạy khen ngợi mà nói rằng: "Tôi rất
kính quí Ngài chẳng dám khinh mạn. Vì sao? Vì quý Ngài đều tu hành đạo
Bồ-Tát sẽ được làm Phật". Vậy thì đảnh lễ người khác là
đang đảnh lễ Phật tánh của họ và đang trở về với Phật tánh bên
trong của mình, đang dẹp tự ngã và đang học tính khiêm hạ, đang trân
quý Tam Bảo và các giá trị chân thiện mỹ. Với tâm thành kính mà đảnh lễ cúng dường Tỳ Kheo, dù đó là
một vị giả danh Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo không xứng đáng thì Tỳ Kheo Ni vẫn
có công đức và phước đức. Có công đức là vì do quán sát các hạnh
lành đã nêu trên, có phước đức là do việc làm xét ở nơi tâm cao quý
và thành kính. Chúng ta nhớ câu chuyện một bà già nghèo khổ, làm lụng
khó nhọc mới có đủ cơm ăn, nhưng ngày nào cũng nhịn một bát cơm để
đảnh lễ cúng dường bốn vị Bà La Môn xuất gia lười biếng tu hành giả
dối, kiếp sau bà lão trở thành Hoàng hậu vợ vua Ba Tư Nặc còn bốn vị
Bà La Môn xuất gia đó trở thành bốn người Thạch nữ khiêng kiệu cho
Hoàng Hậu. Hơn nữa,
“năng lễ sở lễ tánh không tịch”, “ ngũ uẩn giai không” có gì để
chấp việc đảnh lễ? Có người
sẽ đặt câu hỏi là : Nếu gọi là Phật tánh bình đẳng, nếu gọi là
“ tánh không tịch” nếu gọi là “ngũ uẩn giai không” vậy thì Tỳ
Kheo Tăng có được đảnh lễ Tỳ Kheo Ni không? Nói tánh
là vậy nhưng đã còn sống trong cõi đời này thì phải có tướng và
Tánh Tướng viên dung. Xét về sự tướng thì lúc vị Tăng đang thọ nhận
sự đảnh lễ cúng dường là vì vị
Tăng đó đang được Tăng sai, đang giảng dạy và làm giáo giới Ni, đang
lo các việc giúp cho Ni đoàn. Bàn về tánh về thể là bàn lý như vậy cho
Tăng và Ni quán sát trong lúc đảnh lễ, việc này là việc tu tập quán
sát lâu dài, còn thực tế không phải vị Tăng Ni nào cũng thâm nhập vào
lý tánh tuyệt đối ấy. Đứng trên phương diện sự tướng mà xét : Thầy
đảnh lễ trò, anh đảnh lễ em, người ban ơn đảnh lễ người chịu ơn
là không phù hợp. Vì cần có sự tướng, cần có sự nhắc nhở cho việc
tu tập và cùng lo Phật sự, cần có nghi thức khi liên hệ chào hỏi nhau
và đặc biệt có tác dụng lớn cho những vị Ni mới xuất gia sơ cơ hậu
học, chưa tỏ ngộ Phật Pháp và thể tánh thì cần phải nương, quy y, đảnh
lễ, cung kính và vâng hành nên Phật chế ra việc đảnh lễ này. Nếu Thầy
Nhật Từ thấy điều này bất công phi lý thì Thầy hãy thử thực hành
điều ngược lại : Trước khi Thầy dạy lớp Ni Thầy đảnh lễ Ni chúng
tam bái, hoặc Thầy đến các Trưởng Lão Ni đảnh lễ thăm hỏi và xin
các vị Ni trưởng cho biết ý kiến về Bát Kính Pháp, lúc ấy Thầy hãy cảm
nhận như thế nào trong thân tâm của Thầy và Đại Chúng Ni. Quả thật nếu
nó lợi lạc và tự nhiên như là việc Ni giới đảnh lễ Thầy thì có lẽ
dần dần sau này nhiều người noi gương làm theo như vậy. Thầy làm như vậy sẽ có tác dụng mạnh
hơn là bài thuyết giảng của Thầy về “Giáo đoàn Tỳ kheo
Ni và Bát Kỉnh Pháp”. Điều thứ hai là ni không
được an cư ở nơi không có Tăng. Cơ sơ lý luận bảo vệ cho rằng là
điều khoảng này mang tính bảo hộ an ninh và phạm hạnh thì rõ ràng đó
rất là chính xác. Bởi vì trong giai đoạn trong quá khứ trong giai đoạn thời
của đức Phật, tính an ninh rất là bấp bênh. Nói chung là những chỗ
nào mà sự phát triển về cơ chế, định chế xã hội chưa có vững thì
an ninh là một vấn đề. Do đó chư Tăng phải bảo hộ những người yếu
hơn mình như là một trong những hạnh nguyện dấng thân Về mặt
an ninh, xin nói thêm : Tại Ấn Độ ngày nay nạn bắt cóc con gái và ám
sát vẫn còn. Bọn thổ phỉ trong rừng núi vẫn còn nhiều. Vì các cô con
gái khác được cha mẹ bảo hộ - giữ kỹ trong nhà như đã bàn ở phần
trên – nên nếu Ni giới an cư tại trú xứ xa chư tăng thì sẽ là mồi
ngon cho bọn thổ phỉ này. Chư Ni an cư gần trú xứ Tăng thì sẽ được bảo
hộ về mặt an ninh. Lý luận phản biện như
thế này: Liệu là cái nhu cầu bảo vệ đó có cần thiết trong thời đại
ngày hôm nay hay không? Khi mà chư Ni đã có những cái chùa riêng và chùa của
họ lớn hơn chùa của Tăng và họ cũng đâu hề có lời thỉnh cầu bảo
hộ nào đâu, mà mình cũng chưa hề bảo hộ họ lần nào, ngày nào cả. Trong việc an cư, chư
Tăng không chỉ giúp cho Ni chúng về việc an ninh mà chư Tăng còn giúp thêm nhiều việc khác nữa
như sau : 1/ Mùa an cư là mùa ưu tiên cho việc học hỏi
– giáo dục : Chúng an cư sẽ ở lại một chỗ và cơ hội dành cho cho
việc học hỏi nhiều hơn các thời gian khác trong năm. Như trên đã nói,
Đức Phật thường được vua quan, quần thần, dân chúng đến đảnh lễ
viếng thăm và học hỏi nên không có thời gian nhiều để đến dạy Đại
chúng Ni. Trong những bài Phật thuyết pháp công cộng thì Tăng – Ni, Phật
tử và các loài cùng nghe. Ngoài giờ ấy ra, Chư Ni muốn học hỏi thêm
thì có những vị Tăng lãnh trách nhiệm Tăng sai đến dạy cho Ni chúng. Vì
nhiều vị Tăng đã được nghe Phật thuyết giảng các năm qua, chư Tăng học nhiều, hiểu nhiều
và kinh nghiệm hành trì nhiều, và nhiều
vị đã chứng Thánh quả nên đến Ni chúng mà trình bày và giảng giải lại,
thời ấy thì đâu có kinh sách, cassettes, CDs, VCDs, websites, … như bây giờ để mà thay thế sự giảng dạy của
Chư Tôn Đức. Sau đó, có còn lại điều nào chưa sáng tỏ thì trình lên
Phật chỉ giáo thêm. Vậy nếu Ni chúng an cư xa chư Tăng thì làm sao chư
Tăng đến giáo giới và giảng dạy? (Thời
ấy chư Tăng chỉ đi bộ mà thôi) 2/ Kinh nghiệm về tổ chức đoàn thể : Ngay thời
hôm nay khi chúng ta có đủ luật tạng và sách vớ nói về tổ chức và
điều hành đoàn thể, nhiều vị trụ trì chúng chỉ có 10 người mà luôn
than thở là khó khăn nhiều quá, liên
tục gặp gỡ và học hỏi kinh nghiệm từ nhiều vị trụ trì khác. Vậy
thì tổ chức Ni đoàn với chúng an cư khá đông thời đó, các vị có
trách nhiệm quản chúng Ni phải thường xuyên học hỏi bên Tăng vì các vị
Tăng có kinh nghiệm trong lĩnh vực này : kinh nghiệm từ đời sống khi
chưa xuất gia và kinh nghiệm trong thời gian sống với giáo đoàn Tăng. Chúng
ta phải thừa nhận thực tế là : có một số tranh cãi trong Ni đoàn phải
thỉnh nhờ các vị Tăng đến để dàn xếp, thiết lập lại sự an hòa
cho Đại chúng. Một điều phổ biến trong các trường Cơ Bản Phật Học
có cư xá Tăng và cư xá Ni gần Trường là vị quản chúng bên Tăng và
các Thầy trong Ban Giám Hiệu thường được mời đến cư xá Ni để giải
quyết một số vấn đề bất ổn trong Ni chúng. 3/ Kinh nghiệm tu học cá nhân Việc tu - đặc biệt trong tu Thiền Định- là một
quá trình khám phá tâm thức, tri kiến và cách nhìn nhận về cảnh giới
bên ngoài,…Đôi lúc người tu có những biến chứng, có những kinh nghiệm
mới mẻ cần phải trình bày các bậc Tôn Túc xem về chỗ thấy, lối suy
nghĩ, rồi hướng thực tập như thế là đúng hay chưa? Thời ấy số lượng
chư Tăng nhiều, Chư Tăng tu lâu năm, có nhiều kinh nghiệm tu tập và chứng
Thánh quả cũng nhiều nên có thể giải quyết những nghi vấn, những biến
tướng trong quá trình tu tập, có thể giúp điều chỉnh cho kịp thời và
hợp chánh pháp. ( Việc tẩu hỏa nhập ma là do hành trì và vận dụng tâm
thức sai phương hướng). Ba tháng
an cư là thời điểm tốt nhất cho việc tu học, Ni chúng an cư gần Tăng sẽ
được bảo hộ về mặt an ninh, sẽ có chư tăng đến giảng dạy, sẽ học
hỏi thêm về cách tố chức và điều hành Ni chúng và được gỡ rối về
những kinh nghiệm tu học cá nhân. Đâu phải
chư Ni có chùa to hơn chư Tăng thì không cần bảo hộ? Bảo hộ ở đây
bao gồm bảo hộ về an ninh cho chùa chiền, cho sinh mạng và an hòa thanh tịnh
trong tâm thức mỗi con người. Chùa to lớn, Ni chúng và Phật tử nhiều, vấn
đề giáo dục Phật giáo lại càng đặt trọng và nếu Ni chúng cảm thấy
có nhu cầu học hỏi thì đi tìm thỉnh Tôn Đức tăng đến chỉ dạy cho
việc tu học trong mùa an cư. Chùa to lớn, Ni chúng đông thì càng dễ xảy
ra những bất đồng ý kiến trong chúng nhiều hơn. Tôi nhớ lại một chùa
Ni nọ cũng to lớn nhưng trong chúng không yên vì một số Sư Cô cho rằng vị
Ni sư trụ trì - Sư Phụ ấy dành tình cảm đặc biệt cho một đệ tử Ni
và sẽ trao quyền trụ trì lại cho vị đệ tử này. Không một ai trong
chùa Ni ấy có thể có đủ tư cách để lập lại sự an hòa cho chúng
trong chùa ấy cả vì chúng không phục Ni sư trụ trì thì ai đứng ra bàn
giải bây giờ? Cuối cùng chúng phải thỉnh cầu một vị Thượng Tọa bên
tăng đến hòa giải. Vị Thượng Tọa Tăng này phân tích nhiều lắm về
ý nghĩa xuất gia, vai trò của trụ trì, về bổn phận của Sư Phụ và đệ
tử, về Lục Hòa, về Vô Ngã vị tha, về những lợi ích thiết thực tâm
linh và hoạt động cuộc sống hàng ngày, về cách quán sát tâm trong các
cuộc tranh cãi, nguyên nhân của những xung đột bất đồng, về nguyên tắc
chọn vị trụ trì mới và tấn phong trụ trì,…Vị Thượng Tọa Tăng này
nói chuyện với chúng cả một ngày thì sau đó tôi thấy mọi việc an hòa
trở lại. Họ muốn bảo hộ, họ
điện thoại lên công an, công an xuống lo hết trơn. Hoặc là an ninh văn phòng,
họ xuống sẽ làm hết hà. Vệ sĩ, bây giờ có công ty về sĩ nhiều lắm. Công an
và vệ sĩ có làm gì được trong việc như vừa nêu trên. Cũng không hề
có kẻ cướp, nghịch tặc từ bên ngoài sách nhiễu, cũng không hề có ai
vi phạm pháp luật, vấn đề ở đây là những khúc mắc trong tư tưởng và
nếp sống sinh hoạt của người xuất gia thì công an biết gì mà giúp, vệ
sĩ thuê về để giữ gìn cái gì? Hầu hết các việc là cần giải quyết
êm thấm nội bộ, xét vào thanh quy của đại chúng chứ chưa dùng tới bộ
luật hình sự hay dân sự. Còn những việc mang tính chất khủng bố, hăm
dọa tính mạng, hành hung, … thì ít khi xảy ra mà nếu xảy ra thì giải
quyết cũng nhanh thôi, lúc này mới nhờ đến luật pháp quốc gia và các cơ
quan an ninh xã hội…Nhưng vấn đề chính muốn nói ở đây là nâng cao việc
tu học và giúp xóa tan đi những nghi nghờ, phiền não, khoảng cách tâm
lý, khúc mắc, bất an của Đại chúng,… những việc này cần nhờ chư Tôn
Đức Tăng chỉ dạy và với Từ Bi và Tuệ Giác sẽ lập lại sự an hòa
cho Đại chúng Ni mà thôi. Giới luật được thiết
lập sau 20 năm. Hệ thống an cư, bố tát, định tội, trị phạt cũng nằm
trong năm 21 trở đi. Trong khi đó ở năm thứ 6 này, chúng ta đã nghe cái
câu điều lệ thứ hai: Ni không được tổ chức an cư ở những nơi không
có Tăng. Chúng ta thấy nó vô lý không? Thời điểm đó làm gì có cơ chế
an cư mà có nội dung đó. Đúng là
hệ thống giới luật được thiết lập và ban hành đầy đủ về giai đoạn
sau này ( theo nhiều tài liệu thì Giới Bốn Ba La Đề Mộc Xoa được hình
thành vào năm thứ mười ba
sau ngày Phật thành Đạo) Tuy nhiên
việc an cư thì mùa hạ nào Phật và Giáo Đoàn cũng an cư. Chúng ta có thể
đọc trong sách Đức Phật và Phật Pháp để biết vị trí và những gì xảy
ra trong Hai Mươi Hạ Đầu Tiên của Đức
Phật : Hạ
Đầu Tiên - tại Benares (Ba La Nại), Hạ Thứ Nhì, Thứ Ba Và Thứ Tư - tại
Rajagaha, Hạ Thứ Năm - tại Vesali, Hạ Thứ Sáu - tại đồi Mankula, trong
Kosambi, gần Allahabad., Hạ Thứ Bảy - tại cung Trời Tavatimsa (Đạo Lợi),
Hạ Thứ Tám - tại rừng Bhesakala, gần tảng đá Sumsumara, trong quận
Bhagga, Hạ Thứ Chín - tại Kosambi, Hạ Thứ Mười - tại rừng Parileyyaka, Hạ
Thứ Mười Một - tại Ekanala, một làng theo đạo Bà La Môn, Hạ Thứ Mười
Hai - tại Veranja, Hạ Thứ Mười Ba - tại tảng đá Caliya, Hạ Thứ Mười
Bốn - tại Jetavana, kỳ Viên, Savatthi, Hạ Thứ Mười Lăm - tại Kapilavatthu
(Ca Tỳ La Vệ), Hạ Thứ Mười Sáu - tại thành Avali, Hạ Thứ Mười Bảy
- tại Rajagaha, Hạ Thứ Mười Tám - tại tảng đá Caliya, Hạ Thứ Mười
Chín Và Hai Mươi - tại Rajagaha, [1] Cũng vậy, hệ thống giới
luật quy định thể thức an cư chưa được thiết lập. Tuy nhiên đã có
việc an cư thì Đức Phật đề cập về trú xứ an cư là điều rất tự
nhiên thôi, rồi sau này giới bổn sẽ từ từ kiết tập tổng hợp đưa vào
sau. Đúng là thường thì nhân phạm Đức Phật chế giới nhưng trong những
năm đầu Đức Phật cũng phải dạy những điều cần thiết để đảm bảo
cho các sinh hoạt Giáo đoàn chứ? Thật
là vô lý khi có việc an cư mà không biết sẽ nên an cư tại đâu? Có người
sẽ nêu câu hỏi : Tóm lại hầu hết chư Tăng cứ tự cho rằng : Ni giới
luôn cần phải được bảo hộ, dạy bảo, giúp đỡ bởi chư Tăng, Ni giới
không tồn tại và phát triển cho riêng mình chăng? Câu trả
lời là : Thực tế Ni chúng thời Đức Phật là thế vì họ thấy con đường
xuất gia của Đức Phật và Tăng chúng rất cao đẹp nên họ đi theo nhưng
mà đó là một sự thay đổi rất lớn. Cứ thử nghĩ trước khi xuất gia
nữ giới chỉ quen việc phục dịch trong nhà, không được học hỏi hay
suy nghĩ chuyện cao xa, chưa làm quen với mô hình tổ chức và sinh hoạt tập
thể,… Khi xuất gia rồi thì nương nhờ nơi Đức Phật và Tăng đoàn
giúp đỡ cho. Cho dù có vị Ni chứng quả A La Hán, nhưng chứng được quả
A La Hán xong không có nghĩa là giỏi toàn diện để có thể mang lợi lạc
về mọi phương diện đến Đại chúng mà chỉ là được tâm giải thoát,
tuệ giải thoát và hết phiền não lậu hoặc mà thôi. Ni chúng thời Đức
Phật cần thiết sự bảo hộ về an ninh và dạy bảo của Tỳ Kheo Tăng nên
an cư gần trú xứ Tăng chúng. Còn nếu bây giờ nếu chúng Tỳ Kheo Ni nào,
trú xứ Tỳ Kheo Ni nào cảm thấy tự bản thân Ni chúng kiết giới xa trú
xứ Tăng và tự sinh hoạt tốt được
thì thôi vậy. Một thực tế khó khăn hiện tại xảy ra là : có những nơi
chùa chiền Phật giáo còn ít, một số vị Ni trụ trì ở một chùa xa
xôi, vùng đó không có đủ túc số 4 vị Ni để cùng tổ chức an cư, vị
Ni đó cũng khó tùng hạ an cư, chỉ tâm niệm an cư một mình tại trú xứ,cũng
khó có điều kiện liên hệ vị Tăng, ( ví dụ như có một vài Chùa hoặc
Tịnh thất Ni lác đác trên nước Mỹ - trừ vùng Cali có nhiều chùa Ni) gặp hoàn cảnh thế thì phải chịu thôi,
đâu có lựa chọn gì được và vị Ni đó vẫn là là Tỳ Kheo Ni vậy. Nhưng hãy
xem xét kỹ lại nếu như đến đăng ký
an cư 3 tháng ở một trú xứ gần bên trú xứ Tăng và có lợi lạc, an ổn
và tu học dễ tiến triển nhiều hơn thì nên cố gắng sắp xếp để an
cư nơi đó. Ni giới đừng vì cố chấp cho rằng nơi tự bản thân mình
có đầy đủ tất cả không cần gì hướng ngoại (nơi Tỳ Kheo Tăng) tìm
cầu. Nên cẩn thận kẻo cố chấp mà sinh ra ngã mạn và ảo tưởng ( cho
rằng nơi mình mọi thứ luôn đúng và đã đủ rồi). Điều thứ 3 là các Tỳ
kheo ni phải thỉnh giáo giới trong các kỳ Bố tát … Trong khi đó giáo đoàn của
Tỳ kheo ni sau những lịch sử biến thiên, không còn giống như cấu trúc của
xã hội Ấn Độ nữa. Tức là ni được học ngay từ lúc mới vào chùa chẳng
những học Phật pháp mà còn học luôn cả thế học, có thể nghiên cứu
viết sách dịch kinh. Như vậy là họ đâu cần có cái nhu cầu để thỉnh
giáo giới. Lấy một cái điều khoản được ra đời từ nhiều thế kỷ
về trước để áp dụng cho cơ chế xã hội hiện tại, đôi lúc nó không
cần, mà trên thực tế nếu có làm thì cũng làm cho ngoại lệ qua loa. Nó
đâu có ý nghĩa gì đâu. Chủ nghĩa hình thức là điều nên cấm kỵ. Đúng thế,
hiện nay có đầy đủ điều kiện để học hỏi
: kinh sách,
cassettes, CDs, VCDs, DVDs, đài truyền thanh, báo chí, websites, … Ni chúng mặc
sức lựa ra những gì có sẵn, đã phát hành sẵn để học, ôn và san sẻ
trong Ni chúng. Nói rằng : Không có người đến giáo giới thì Ni chúng vẫn
có nhiều chương trình để học hỏi, trao đổi san sẻ với nhau có lợi
ích thiết thực– đúng. Nhưng nếu bảo : Ni
chúng đã có đầy đủ điều kiện tu học và thăng hoa rồi, dù
bẩt cứ vị Giáo Giới Sư nào đến cũng không dạy thêm gì hơn nữa là không đúng. Lẽ thứ nhất : Không ai dám tự
cho mình đã học hết tinh hoa của Phật Pháp hay tinh hoa của thiên hạ. Lẽ
thứ hai : Học là một chuyện, tu và thể nghiệm được những điều đã
học, áp dụng lý thuyết vào cuộc sống lại là chuyện khác. Học được
nhiều như vậy nhưng cái chính là xét
lại mình xem tham, sân, si, mạn, phiền não, … còn nhiều không? Đạo Phật
là Đạo để sống, thể nghiệm và giải thoát chứ không phải là trên chữ
nghĩa và dịch thuật. Hãy nên
nhớ ngôn ngữ và chữ nghĩa chỉ là phương tiện vay mượn kém cỏi để
biểu đạt chân lý. Nhiều lúc chân lý nằm thoát ra ngoài ngôn ngữ. Giáo
pháp chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng, chỉ là thuyền đưa người sang sông.
Chính vì thế, để tránh cái chấp kẹt trong văn tự Đức Phật đã nói :
Trong 49 năm Ta chưa từng nói một lời nào.
Biết bao nhiêu dẫn chứng khác có thể nêu ra ở đây : Ngài Bàn Đặc học
2 chữ : “Chổi quét” mà chứng quả A La Hán, Ngài A Nan ôm một bụng chữ mà đến kỳ Kết Tập
Kinh Điển nằm than thở ở ngoài động Thất Diệp và chun được vào
trong Động trong phút chót nhất, trong hội Linh Sơn “niêm hoa vi tiếu” một
cách vô ngôn, Đức Phật phó chúc lại Ngài Ca Diếp chánh
pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, Tổ
Đạt Ma chủ trương “Bất lập văn tự,
giáo ngoại biệt truyền”trong việc khai ngộ tự tánh, hoặc Ngài Huệ
năng không biết chữ, lo gánh củi xay lúa giã gạo, không học hành nhiều
vậy mà tỏ ngộ Đạo mầu và được truyền Y Bát… Vậy nếu các Tỳ
Kheo Ni cho là đã có cơ duyên học hỏi nhiều rồi, đủ rồi và không cần
được giáo giới gì hơn thì hãy xem
xét lại nơi mình cẩn thận kẻo rơi vào chấp chặt văn tự, sở đắc, sở
tri chướng. Các vị đó học nhiều vậy nhưng đã giải thoát chưa, đã đạt
đến chỗ vô lậu và bảo đảm thoát ra ngoài vòng luân hồi sanh tử chưa?
Nếu chưa thì hãy nên tìm học, hãy nên lắng nghe thêm. Có thể những vị
Tăng mộc mạc đơn sơ, một Thầy vườn nhưng có những tâm hạnh, những
việc làm, những cách suy nghĩ, cách quán sát tu tập, thực thi Phật sự,
những tư tưởng sâu sắc và thực tế,… đáng để các Tỳ Kheo Ni đầy
chữ nghĩa ấy tiếp kiến, học hỏi, trao đổi. Đạo là cái gì rất gần
gũi chứ không quá cao xa, không ở nơi rượt đuổi tìm bắt mệt nhoài
trong văn tự. Chừng nào các Tỳ Kheo Ni đắc quả A La Hán trở lên rồi
thì có thể bảo là không cần đến giáo giới sư nữa. Tuy nhiên
nếu cảm thấy rằng : Các vị Tăng
xung quanh về cả pháp học và pháp hành không có ai xứng đáng cao thượng
hơn để Tỳ Kheo Ni học hỏi thì cũng chịu thôi chứ biết làm sao. Có thể
là Tỳ Kheo Ni ấy đạt đến chỗ vô thượng sư hoặc có thể là vị Ni
ấy kém phước duyên không gặp các bậc Cao Tăng Thạc Đức. Lời khuyên của
tôi nơi đây là : được học hỏi nhiều thì nên có tấm lòng thành kính
tri ân đối với Đức Phật, các bậc tiền bối, Tôn Đức bao thế hệ đã
để lại kho tàng giáo pháp quý giá, Thầy Tổ và Phật tử đã trợ giúp
cho việc học hành nghiên cứu, và trừ ngã chấp, pháp chấp. Điều quan trọng
là phải biết đưa bài học vào trong cuộc sống của mình và mọi người.
Trí Tuệ Phật Giáo từ nơi Văn Tư Tu khác với kiến thức thế gian dựa
vào góp nhặt của chữ nghĩa. Con đường chuyển hóa của Phật giáo gắn
liền với thanh tịnh hóa thân tâm, nhận thức về Khổ và biết cách dứt
Khổ. Hãy cẩn thận đừng để mớ chữ nghĩa góp nhặt làm hàng rào cản,
làm khoảng cách giữa Ta và mọi người, hoặc khiến Ta dương dương tự
đắc, mục hạ vô nhân. Học là điều kiện cần chứ chưa phải là điều
kiện đủ, trong tu tập nên gắn liền : Học mà Tu, Tu mà Học. Tôi không
loại trừ khả năng một người có thể tự đọc, học nơi Kinh sách và
trường lớp, xong rồi áp dụng tu tập và sinh hoạt vẫn có kết quả, hướng
đến giải thoát giác ngộ, giải thoát thậm chí có thể làm một bậc
Duyên Giác hay Độc Giác tuy nhiên hãy quán sát cho kỹ trước khi bảo là
xung quanh không có ai đáng để mình thọ giáo, học hỏi thêm. Hơn nữa
trong Ni chúng, có thể có số Tỳ Kheo Ni khác lại cảm thấy cần có những
vị Giáo Giới Sư thích hợp mà họ tin tưởng hơn là vị Tỳ Kheo Ni học
giả trong chùa. Một điều nữa là : hiểu và áp dụng giới luật trong cuộc
sống hiện tại cũng không phãi dễ làm, chẳng phải chúng ta đang có sự
cách biệt và cần san sẻ cho nhau về việc hiểu và hành trì Bát Kính
Pháp là gì? Điều thứ tư là Ni phải
làm lễ Tự Tứ, tự nói lỗi của mình trước hai bộ Tăng và Ni về ba vấn
đề thấy, nghe và nghi.
Cái lý luận nói là muốn bảo vệ nhân cách và đạo đức, người ni phải
mời người khác để nhận xét về mình. Rõ ràng cơ hội đó đã tạo ra
sự hoàn thiện ở con người dám mạnh dạn thấy lỗi của mình. Nhu cầu
này là nhu cầu rất là lớn. Chúng ta nên nhớ rằng
trong Tăng chúng có nhiều vị là giáo giới bên Ni Đoàn, trong đó có cả
Ngài Ca Diếp, A Nan, Ưu Ba Ly, …tức là có các vị đã là Thầy của Ni
chúng. Trong khi Tự Tứ thì hoặc là mỗi vị tự sám hối lỗi của mình
hoặc là người khác chỉ ra lỗi của mình theo nơi thấy, nghe và nghi. Như
vậy Ni chúng sẽ được nghe lời sám hối hoặc là nghe những lời phản
ảnh về những sự nghi nghờ và buộc tội về vị Giáo giới Sư của họ.
Đọc câu chuyện Cuộc đời Ðức Xá-lợi-phất (Sarìputta) - Nguyễn
Ðiều (1966) chúng
ta đã thấy Xá Lợi Phất bị vu cáo thế nào như đã nêu phần trên,
chúng ta cũng thấy 500 vị A La Hán buộc sáu tội Ðột Cát La đối với
Ngài A Nan gay gắt như thế nào trong kỳ Kiết Tập Kinh Điển lần thứ nhất,
rồi về sau này chuyện Ngài Cưu Ma La Thập nhận và sống chung với mười
cung nữ do Tần chủ Diêu Hưng ban tặng, chuyện Ngài Phật Ấn uống rượu
thịt ngâm thơ với Tô Đông Pha và mượn vợ của Tô Đông Pha một đêm,
chuyện “trà đình tửu điếm vô phi thanh
tịnh Đạo Tràng” của Tế Điên Hòa Thượng, chuyện Tổ Đơn Hà
thiêu mộc Phật, chuyện chư Hòa Thượng, Thượng Tọa trong hai Giáo Hội :
GHPGVNTN và GHPGVN ngồi lại Bố Tát với nhau lần đầu tiên và nêu ra những
lỗi nơi thấy, nghe và nghi sau 30 năm
không sinh hoạt chung (nếu như có ngày ấy), chuyện Thầy Nhật Từ và các
Thầy đã từng đàm thoại với Thầy về vấn đề Bát Kính Pháp an cư
chung và Bố Tát nêu lại những lỗi thấy, nghe, nghi lẫn nhau,… những
chuyện như thế nếu để các Ni giới cùng thời vào ngồi lắng nghe chư
Tăng buộc tội lẫn nhau thì như thế nào, …? Toàn là những tội nghe qua
cảm thấy trời long đất lở, khiến nhiều người choáng váng và sốc thật
sự. Với chí khí “Nam nhi tự hữu xung
thiên chí, hưu hướng Như Lai hành xứ hành” hoặc
là : “Phùng Phật sát Phật, phùng Tổ sát
Tổ”, hoặc tâm đắc với tư tưởng : “
Phật là Phật, Anh là Anh, Anh đâu cần làm Phật và Phật cũng đâu cần
làm Anh” thì tốt hơn hết là quý
Chư Tăng hãy tự nêu lỗi lẫn nhau trong dịp riêng, đừng nêu lỗi ra trước
mặt Ni giới khiến về bản chất tâm sinh lý êm hòa, hiền thục quý Ni bị
“ Tăng xông máu” và phải đưa đi cấp cứu khi cảm thấy thần tượng
của mình sụp đổ, tương lai của Đạo Pháp mù mịt, các bậc Long Tượng
Phật Pháp đang giao tranh và cơ hồ như sắp làm sập đổ ngôi nhà Phật
Pháp,…Cái tư tưởng cách mạng, canh tân, hoạt hiện Phật giáo vào đời
sống hiện tại, phá chấp, đạp lên lề thói cũ thường có ở Chư Tăng
và nhiều lúc việc đúng sai phải trái thật khó mà phân định thì cứ
nên để “các tư tưởng lớn đó làm việc riêng với nhau” tốt hơn, thế giới hòa bình hơn. Đừng lôi
các Tỳ Kheo Ni vào những việc như thế hãy để quý vị đó tịnh niệm
và tiếp tục tin tưởng, phối hợp, hoặc trợ duyên Phật sự cho quý Thầy.
Lúc Phật còn tại thế thì Ngài giám định chuyện đúng sai, còn bây giờ
lấy tiêu chí nào giám định? Nếu gọi là căn cứ giới luật thì các
Ngài phán : giới luật này do người đời sau thêm vào chứ không phải do
Phật chế ra,… bó tay thôi. Vậy chư Tăng nên chỉ ra tội riêng với nhau
không nên nêu trước mặt Ni giới là tốt hơn nhiều. Chúng ta thấy có nhiều
lý luận tưởng chừng như thích hợp lắm, nhưng trên thực tế có nhiều
phát sanh. Vấn đề mấu chốt nữa là vấn đề mời gọi chư Tăng chỉ
điểm ba việc thấy, nghe và nghi dựa vào tư tưởng kinh điển nhà Phật
nó không thích hợp?... Đức Phật dạy mỗi người
phải phản quan chính mình về các giác quan, thông qua thiết lập chánh niệm
tỉnh thức trong từng cử chỉ đi đứng, nằm, ngồi. Tự quan sát mình, tự
hoàn thiện mình chứ Ngài không có kêu là phải đi quan sát dùm. Chẳng lẽ,
mấy ông thầy tối ngày đi rình mấy bà Ni làm gì, rồi đến cái ngày Bố
tát mới chỉ điểm thấy nghe và nghi thì vô lý. Còn không thôi tối ngày
cứ đi nghe ngóng coi bà đó bả làm gì. Rất là vô lý, chúng tôi thấy nó
ra sao đó. Chúng ta nói là Tự tứ là hoạt động dân chủ cầu tiến trên
cơ sở nhận lỗi và sửa lỗi, nó là cái cơ chế để phát huy đạo đức
lớn lắm, và như vậy là nhu cầu của tất cả mọi người chứ không phải
chỉ có nam hay là nữ hay là đặc biệt của người nữ. Dù có hạn
chế như thế nào đi nữa thì con người có mắt vẫn thấy, có tai vẫn
nghe, có tâm thức suy luận thì vẫn cứ nghi. Thôi để cho dễ dàng và cụ
thể hơn tôi nhắc cho Thầy nên tự nhớ lại ở bản thân Thầy ( Thầy Nhật Từ). Thời học ở Ấn Độ
Thầy có thấy Ni sinh hoạt không và chính Thầy đã từng nghe chư Tăng buộc
tội những người Ni phải không? Quả thật là có “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”
phải không? Cũng chính Thầy không ít lần phân giải về tội trạng của
Ni kể cả việc đi gặp các Giáo Sư Ấn Độ hoặc trong các cuộc họp mặt,
hoặc trong phone, hoặc trong bài viết gửi đến Chư Tăng có phải không? Rồi
trong khi đi dạy tại Vạn Hạnh, Vĩnh Nghiêm, các chùa Ni, Thầy nhắm mắt
cách nào để không phải thấy? Trong những lúc trà đàm với pháp lữ, hoặc
có những vị Ni cô oan ức tìm Thầy để xin một lời khuyên giải, hoặc
trong các dịp hội thảo, kiểm điểm quan trọng của Ni chúng có mời Thầy
đến tham dự để lắng nghe khách quan và cho lời chỉ dạy, Thầy làm sao
không vận dụng nơi thấy, nghe, nghi để rồi cố gắng thiết lập lại lục
hòa cho những Ni chúng đó? Đặc biệt,
dù hàng ngày không thấy, không nghe, không nghi đi nữa thì đến giờ Tự Tứ
cũng phải thấy và nghe những gì đang xảy ra và hãy có lời khuyên dạy
chỉ bảo tại nơi đó. Ở trên kia tôi đã ví dụ một vị Thượng Tọa
được mời đến giải quyết nỗi bất ổn trong Đại chúng Ni vì Đại Chúng
bất mãn vị Sư Phụ Ni, Vị này ưu
ái thương riêng một vị đệ tử và muốn sau này người đệ tử ấy kế
thế trụ trì như thế nào rồi. Ban đầu vị Thượng Tọa đó đâu có tối ngày đi rình mấy bà
Ni làm gì nhưng
mà vì lòng Từ Bi, vì Đạo Pháp, khi Ni chúng thỉnh mời đến thì phải ngồi
sinh hoạt với Ni chúng đó một ngày, dụng toàn tâm lực vào việc thấy,
nghe, nghi để phân giải và cuối cùng là có kết quả tốt đẹp. Vậy thì
mắt, tai và tâm thức, … là cái vốn
quý giá của con người lỗi không ở nơi mắt, tai và tâm thức, hoặc thấy,
nghe, nghi mà quan trọng là biết thấy,
nghe, nghi về những gì ở Ni giới, mục
đích của việc làm đó là thế nào và nên làm với một tinh thần và dụng
tâm ra sao? Điều thứ năm, Ni phạm
giới Tăng tàn, phải thực hiện hình phạt ý hỷ nửa tháng trước hai bộ
Tăng và Ni. Tức là Tăng tàn được xem như là gần mất đi phẩm hạnh của
người xuất gia. Tổn thất về tính cách phạm hạnh đó có thể ở mức
độ nghiêm trọng cho tình trạng mất đi tánh mạng. Cho nên trong trường hợp
đó phải đi sám hối trước hội đồng Tăng và Ni để cho ý thức về lỗi
lầm đó được mọi người biết làm cho mình thúc thủ và làm mới cuộc
đời, đổi mới cuộc đời… Rõ ràng cái nhu cầu đó cần
phải được áp dụng cho hai giới Tăng và Ni cho mọi người. Lại một
lần nữa chúng ta gặp vấn đề tương tự như điều thứ tư ở trên. Ở
đây, yêu cầu hành xử khác nhau đối với tăng và Ni đặt trên căn bản
hai lý do sau đây: - Bản chất tâm sinh lý
khác nhau ở Tăng và Ni hay Nam và Nữ : Bản chẩt của nữ là nhu thuận, điều đó
càng đặc biệt đúng đối với phụ nữ Ấn Độ và Á Đông, bản chất
của nam là quật khởi, vùng lên : “Chọc
trời khuấy nước mặc dầu, dọc ngang nào biết trên đầu có ai” (Truyện Kiều). Ni giới hầu hết là khép
mình vào giới luật và một khi lỡ lầm vi phạm thì cần có ấn tượng
trong lúc sám hối trước hai bộ chúng Tăng và Ni để nương lực Đại chúng
mà tu sửa lại phận mình. Đối với Tỳ Kheo, bản chất nam tính đặc biệt
trong giai đoạn đầu thì tính phàm phu vẫn còn chứ chưa phải là Phật
Thánh ngay mà là đang trên con đường tu tập. Đó là những tánh ngang ngạnh,
cang cường và như vậy tự ái cũng lớn. Nên nhớ là nói về phạm giới
Tăng Tàn thì có nhiều điều rất dễ bị hổ thẹn. Người Tỳ Kheo đã
phạm giới Tăng tàn thật sự là người có nhiều nghiệp và trong tâm vốn
có nhiều phiền não, cho nên xử lý với tội Tăng tàn cần phải khéo
léo, tuy áp dụng đúng luật nhưng Đại chúng nên thể hiện từ tâm thông
cảm, thương xót cho hoàn cảnh, trường hợp và muốn vực người phạm giới
đứng dậy. Cho nên xử lý Tỳ Kheo Tăng phạm tội Tăng tàn riêng nơi Tăng
chúng thôi thì tự nhiên và hiệu quả hơn và không khí, phản ứng thế
nào cũng không ảnh hưởng lan rộng nhiều. Nếu như xét thấy áp dụng việc
sám hối tội tăng tàn của Ni thực hành trước hai bộ chúng có lợi nhiều
hơn nhưng việc này có tác dụng ngược lại đối với Tăng thì cứ để
chư Tăng sám hối tội tăng tàn trước Tăng chúng mà thôi. Ở
đây không phải là đang hạ thấp Ni giới mà là khuyến khích và làm nổi
bật một số đức tính tốt sẵn có : nhu thuận, nhẫn nại, thành thật
và cầu tiến của Ni giới. Ở trong một gia đình, khi con cái vi phạm cùng
một lỗi giống nhau, cha mẹ lại áp dụng biện pháp phạt khác nhau đối
với con trai, con gái không phải là vì phân biệt đối xử hay thương con nào
nhiều hơn mà căn cứ vào tánh khí đứa con và phương pháp nào là hiệu
quả nhất đối với chúng. Đạo Phật không chủ trương bình đẳng trên
hình thức mà hướng vào mục tiêu giải thoát, giác ngộ, tùy căn cơ trình
độ mà giáo hóa, tùy bệnh mà cho thuốc. Các vị Thiền sư có lúc nói dịu
dàng, có lúc hét la, có lúc khiến đệ tử phải quỳ ngoài sương gió, chặt
một cánh tay, có lúc khép cửa làm gãy một chân đệ tử,… không phải
là Thiền sư bất bình thường hay không bình đẳng mà là vì lòng Từ Bi
xem xét và ứng xử xứng tánh, hợp căn cơ của đối tượng. Thân thể
con người nam nữ sai khác, tánh chất sai khác, sức chịu đựng sai khác,
… thì làm sao áp dụng nguyên xi một mô thức cho hai bên được? Từ Bi và
Trí Tuệ của Phật và Bồ Tát là giúp chúng sanh hướng thượng và giải
thoát nên trong việc làm có trường hợp làm
nghịch hạnh nữa chứ không phải là luôn an ủi, xoa dịu chúng sanh. - Như đã nói trên, dù với
lý tưởng hành Đạo nhưng Tỳ Kheo, đặc biệt là sau khi Phật nhập diệt,
do bản chất lý luận, suy tư triết gia nhiều, thích suy nghĩ cao xa nên những
cách phá chấp và tranh biện sẽ xảy ra nhiều. Ví dụ trong thời Đức Phật
đã xảy ra với Đề Bà Đạt Đa, Lục Quần Tỳ Kheo, những nhóm Tỳ Kheo
tranh cãi về Kinh và Luật mà Phật không hóa giải được phải bỏ đi an cư một mình trong Hạ Thứ Mười -
tại rừng Parileyyaka. Sau
này, trong Kỳ kiết tập Kinh Điển lần II, cũng có sự bất đồng ý kiến
của nhóm Tỳ kheo Bạt Kỳ
và trưởng lão Da Xá về mười điều phi pháp căn cứ trên giới bổn, để
rồi sau đó là hình thành các bộ phái khác nhau đặt trên căn bản các bộ
Luật khác nhau… Một lần nữa, xin nhắc lại có những vị Tỳ Kheo Tăng
hết sức năng động tích cực trong Phật giáo, thực hành, mang Đạo Phật
vào thể nghiệm bản thân và mạch sống cuộc đời và như vậy uyển chuyển
tùy duyên phương tiện và hành trì giới luật có khai giá trì
phạm. Đó là nhiệt tình của quý vị Tăng ấy, nhưng có thể nhiệt
tình quá mức, mong muốn hiện đại hóa Đạo Phật trong khi Tuệ giác chưa
trọn vẹn để biết cách giữ bản tánh nhất như và vi diệu của Giáo
Pháp khiến vị Tăng ấy phạm tội tăng tàn. Chẳng hạn, một người nhiệt
tình hoạt động nhưng có những cải cách không theo lề lối cũ dễ bị
xem là phạm giới : giới
phá tăng hòa hợp, giới hỗ trợ phá tăng, giới ngoan cố chống cự,… Vấn đề là ai hiểu được
động cơ của việc làm, tác dụng hay tác hại của việc làm trong hiện tại
và mai sau trên bình diện rộng lớn toàn thế giới, vũ trụ của vị ấy…Lối
nhận thức sinh hoạt khác thường làm xôn xao Tăng chúng Phật giáo này là
nguyên nhân để những Tỳ Kheo bảo thủ nghe, thấy, nghi và buộc tội Tăng
tàn, nhưng bản thân người làm việc đó không chấp nhận và không phục
vì người ấy tự biết tâm mình làm là vì phụng sự Tam bảo và như thế
là phù hợp nhất, đảm bảo sự phát triển Đạo Pháp trong tình hình hiện
tại và tương lai. Vậy thì từ bất đồng ý kiến rồi dẫn đến phân rẽ
trong Tăng đoàn, chí hướng ai nấy đi, Ni chúng nếu đi dự nghe các lời
buộc tội Tăng tàn đối với những Tỳ Kheo này thì sẽ không ích lợi
gì, chỉ thêm hoang mang, xót xa và đảo lộn mọi suy nghĩ và nếp sống
yên tịnh trong Phạm Hạnh mà thôi. Tuy nhiên,
trong mối tương quan này, chúng ta cũng hãy nhìn thấy những điểm tích cực
mà bao Tỳ Kheo Tăng đã đóng góp trong sự nghiệp hoằng dương Phật Pháp
kể từ thời Phật tại thế đến nay. Chúng ta hãy xem các kỳ Kiết Tập
Kinh Điển từ lần thứ I đến thứ VI, 28 vị Tổ Sư Thiên Trúc, 6 vị Tổ
trung Hoa, bao nhiêu vị Tổ Sư đến Việt Nam và những Tổ Sư Việt nam
cũng đều là Tỳ Kheo Tăng. Cho nên cái bản chất đào sâu, tìm hiểu,
nghiên cứu, khám phá, canh tân, áp dụng cuộc đời, tích cực đi đến mọi
ngóc ngách cuộc sống lại dễ vướng vào sự kết buộc vào tội Tăng tàn
nhưng chính nó lại mở ra những bước đi mới cho Phật giáo. Tóm lại Phật
đã biết trước là Tỳ Kheo Tăng công cũng nhiều mà “tội” cũng nhiều,
nhất là tội Tăng tàn, nên không buộc Tăng phải ra sám hối trước hai bộ
chúng Tăng Ni vì như vậy chỉ thêm động niệm phiền nhiễu Ni chúng dài
dài và tạo sự hoang mang trên bước đường tu niệm. Chỉ có Tỳ Kheo Ni
nên sám hối tội Tăng Tàn trước hai bộ chúng Tăng Ni vì những Tỳ Kheo
Ni phạm tội ấy phần lớn là vì cá nhân không gìn giữ được nên Tỳ
Kheo Ni dễ dàng chấp nhận Sám hối hơn. Điều thứ sáu là Thức-Xoa-Ma-Na
phải tuân thủ các học giới trong vòng hai năm trước khi thọ giới Tỳ-kheo-ni
và phải được sự đồng thuận của hai bộ Tăng và Ni. .. Nếu chúng ta đối chiếu
phân tích về tính thời gian của các điều luật của Thức-xoa-ma-na ni và
Tỳ kheo ni, chúng ta thấy nó không hợp lệ. Bởi vì trong thời đại của
đức Phật cũng giống như điều thứ hai là vấn đề của Thức-xoa-ma-na
ni chưa có. Trong 6 năm đầu chưa có, mấy mươi năm sau mới có. Chúng ta
đều biết khi đó Dì Mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề, Da Du Đà La và 500 thể nữ
thuộc dòng họ Thích Ca sau khi chấp nhận Bát Kính Pháp đều được trở
thành Tỳ Kheo Ni vậy có ai làm Thức Xoa Ma Na đâu mà Đức Phật lại ban hành
điều thứ 6 này để làm gì? Hơn nữa cơ chế thiết lập giới là nhân phạm
chế giới và hệ thống Luật tạng
chưa được hình thành thì điều thứ 6 này tại sao bỗng dưng đặt ra tại
đây? Cơ chế nhân phạm chế giới là việc sau này
liên quan đến hình thành hệ thống giới luật. Chúng ta không thể quy kết
là : suốt quá trình thuyết pháp độ sanh Đức Phật phải nhân phạm chế giới và không được nói
trước về những điều chưa xảy ra. Tại sao chúng ta tự vẽ ra một quỹ
đạo rồi buộc Phật phải sinh hoạt ở trong quỹ đạo đó? Ngay từ ban
đầu thiết lập Bát Kính Pháp, Đức Phật đã chỉ rõ: “…cũng như người kia đắp bờ đê
bên cạnh hồ nước rộng lớn để chặn nước khỏi tràn qua, Như Lai lo
ngăn chặn trước, khi ban hành "Tám Giới Chánh" cho các tỳ khưu
ni, buộc phải giữ nguyên vẹn trọn đời." [2] Như vậy,
Bát Kính Pháp này mang tính cách ngăn chặn : cũng
như người kia đắp bờ đê bên cạnh hồ nước rộng lớn để chặn nước
khỏi tràn qua, Như Lai lo ngăn chặn trước… Tại sao chúng ta lại cấm
Đức Phật cái quyền ngăn chặn ấy?
Đức Phật là bậc có Nhứt Thiết Trí, Phật nhãn, tam minh lục thông, thập
lực, thập bát bất cộng pháp,… thấu suốt chuyện quá khứ, hiện tại,
vị lai thì Phật làm những gì Ngài xét thấy cần làm chứ? Hiện tại thì chưa có
Thức Xoa Ma Na nhưng ngay lúc này Ngài đề cập về Thức Xoa Ma Na bởi vì
trên đường giáo hóa Ngài đã từng gặp nhiều phụ nữ, nhiều góa phụ,
cũng như còn nhiều mệnh phụ thuộc dòng họ Thích nữa và trong hàng Ưu Bà
Di của Ngài còn nhiều phụ nữ có con gái còn trẻ (cỡ tuổi như Ngài La
Hầu La) và Ngài biết trước những người Mẹ con Ưu Bà Di này khi hay tin
phụ nữ được chấp nhận vào Ni đoàn thì họ cũng muốn xin xuất gia (với
sự đồng ý của chồng hoặc là chồng đã chết). Chuyện này thật là dễ
biết chẳng hạn như chúng ta cũng thường nghe các Ưu Bà Di đã có chồng
con sau khi tiếp kiến chư Tăng xong thường nói : giá mà con được xuất gia tu học như quý Thầy,
bây giờ gia duyên con ràng buộc quá, chắc kiếp này không được rồi,…Nhất
là Đức Phật lại có tha tâm thông nữa, lẽ nào một việc như thế lại
không xảy ra trong suốt 5 năm giáo hóa của Ngài khi mà uy đức và sức cảm
hóa của Ngài cao hơn chúng ta vô số kể? Những lúc trưóc kia dù biết
tâm niệm khao khát xuất gia của các Ưu Bà Di có con gái trẻ nhưng Ngài
không đề cập đến việc này (lờ đi) vì nhân duyên chưa đến. Hôm nay
nhân dịp mở cửa đón nhận phụ nữ vào Giáo đoàn và nhân lúc chế Bát
Kính Pháp, Ngài nêu điều này vào luôn với lòng Từ Bi như là một sự gợi
ý, cho phép, mở rộng cửa để đón nhận những Mẹ và con, hoặc người
con gái trẻ của các Ưu Bà Di này xuất gia. Với người bé gái chưa đủ
tuổi thì e rằng vì bồng bột mà tự ý xin xuất gia hoặc là theo Mẹ xuất
gia chứ chưa có ý chí rõ rệt vậy
thì cần có 2 năm thử nghiệm và quyết định và thời gian đó thì gọi
là Giới tử ni (Sikkhamànà). Không hẳn Thức Xoa Ma
Na dành cho các bé gái mà còn dành cho những ai dù muốn xuất gia nhưng
chưa biết chắc chắn là mình có thích hợp với đời sống xuất gia không
thì xin làm giới tử Ni - ứng cử viên để chuẩn bị chính thức xuất
gia làm Tỳ Kheo Ni – thì thời gian cho phép tập sự và thí nghiệm này là
2 năm trước khi hai bộ chúng Tăng và Ni quyết định vị này có được trở
thành Tỳ Kheo Ni không. Cứ mở cửa sẵn ra như
vậy để khuyến khích cho họ phấn khởi mà lo sắp xết chuyện gia đình,
khi nào sắp xếp xong, họ sẽ xuất gia. Hoặc nhờ đó mà trong quá trình
đi du hóa, Ma Ha Ba Xà Ba Đề và những vị Tỳ Kheo Ni đầu tiên này biết
cách mà trả lời cho những dạng Ưu Bà Di có chồng con này, hoặc là xét
điều kiện mà tiếp nhận cho họ xuất gia. Bây giờ nhân lúc chế ra Kính
Pháp thì chế hết ra luôn một lần chứ chẳng lẽ đợi vài tuần sau rồi
cho gọi các Tỳ Kheo Ni đến chế thêm điều nữa rằng : Trên đường giáo hóa, nếu như các Tỳ Kheo
Ni gặp các bé gái, hoặc Mẹ và bé gái muốn xuất gia thì cứ tiếp nhận,
với người Mẹ có ý chí xuất gia dũng mãnh thì cho làm Tỳ Kheo Ni ngay khi
chấp nhận Bát Kính Pháp này, với ai chưa dứt khoát hoặc bé gái chưa thật
sự trưởng thành nhưng muốn xuất gia thì
dẫn về Tịnh Xá làm Thức Xoa Ma Na 2 năm và sau đó được sự đồng ý
hai bộ chúng Tăng và Ni mới được chính thức xuất gia làm Tỳ Kheo Ni. Tại sao cơ chế xuất
gia thử nghiệm không có đối với Tỳ Kheo Tăng (mà chỉ có một Sa Di La Hầu
La vì trẻ tuổi), còn cơ chế Giới tử ni (Sikkhamànà) lại có đối với
nữ giới? Bởi lẽ Chư Tăng đều đã nghe Phật thuyết pháp tỏ ngộ rồi
sanh tâm hoan hỉ muốn xuất gia chắc chắn, cơ duyên thuần thục trong khi
phụ nữ có một số vì tỏ ngộ Đạo Pháp mà xuất gia, có một số đi
xuất gia vì hoàn cảnh bức bách hay buồn khổ ( ngay cả 500 thể nữ cũng
xuất gia vì theo Dì Mẫu sau sư kiện Vua Tịnh Phạn băng hà và đọc Trưởng
Lão Ni Kệ chúng ta thấy có rất nhiều trường hợp vì sầu khổ khiến nữ
giới đi xuất gia) và vì bản chất yếu đuối nên muốn vào Ni đoàn để
tìm một chỗ nương tựa, hoặc dù người vợ muốn đi xuất gia luôn nhưng
hãy thí nghiệm xem người chồng tuy đồng ý cho
mình đi tu mà có chịu đựng được không, có quá sầu khổ
không, trước khi quyết định làm Tỳ Kheo Ni chính thức cả đời. Cho nên tôi tin rằng Phật
lập ra cơ chế Giới tử ni (Sikkhamànà) thí nghiệm này ngay từ khi vừa mới
lập Giáo Đoàn để cho những ai chưa thệ nguyện xuất gia làm Tỳ Kheo Ni
cả đời thì cứ sống và thử nghiệm cuộc sống xuất gia 2 năm. Lý do
rõ ràng là : ngay từ đầu Đức Phật bày tỏ cho thấy sự do dự của
Ngài trong việc thiết lập Ni đoàn vì cuộc sống xuất gia khác quá xa nếp
sống phụ nữ thời ấy… Còn chuyện nguồn gốc
lịch sử để thiết lập cơ chế Thức Xoa Ma Na là do việc Sư cô tên là
Sanghamita đã trở thành Tỳ-kheo-ni trong tình trạng không biết mình đang
mang thai, bởi vì cô ta đã từng có một tình duyên lận đận … như Thầy
Nhật Từ đã nêu thì chỉ là chuyện các bộ phái trong thời kỳ phân
phái sau này nhấn mạnh điều đó, suy diễn cho rằng đó là nguyên nhân
khiến Thế Tôn lập cơ chế giữ 6 giới trong 2 năm cho Thức Xoa Ma Na mà
thôi. Đồng ý rằng có chuyện Sư Cô Sanghamita ấy xuất gia rồi sanh con
trong Tịnh xá thiệt nhưng cơ chế Thức Xoa Ma Na ( đi xuất gia thí nghiệm
2 năm) thì đã có kể từ khi thành lập Ni đoàn.
Lúc đó có 2 thể thức mở ra : người
nào thực thụ xuất gia thì thọ nhận Bát Kính Pháp và làm Tỳ Kheo Ni,
còn những ai chưa đủ tiêu chuẩn ( tuổi tác, nhận thức và thệ nguyện)
cũng như hoàn cảnh chưa cho phép thì có thể xuất gia thí nghiệm trong hai
năm theo cơ chế Giới tử ni (Sikkhamànà). Như vậy, chúng ta thấy biết
là điều thứ hai, thứ ba, thứ tư và thứ năm của Bát kỉnh pháp liên hệ
đến nội dung của mấy chục năm sau, tối thiểu là sau năm thứ 20 kể từ
khi Như Lai Thế Tôn thành đạo. Như vậy, bản chất của Bát kỉnh pháp
là đang nằm trong vòng nghi vấn rất là lớn. Điều thứ hai là ni không
được an cư ở nơi không có Tăng. Về việc an cư thì phần
trên đã phân tích Đức Phật và Giáo Đoàn luôn an cư từ mùa hạ đầu
tiên cho đến khi Phật nhập niết bàn. Một khi đã có việc an cư thì quy
định cách chọn nơi chốn an cư là điều hiển nhiên thôi. Điều thứ 3 là các Tỳ
kheo ni phải thỉnh giáo giới trong các kỳ Bố tát. Upasatha đúng như sự phân
tích từ nguyên là ngồi lại gần với nhau để học hỏi lẫn nhau. Cách
thức này đã có từ trước khi Phật Thành Đạo và các Đạo sĩ các Đạo
khác vẫn thường làm như vậy. Việc phản quang tự kỷ,thảo luận hoặc
là thắp sáng chánh niệm, soi sáng cho nhau là điều rất quan trọng trong Phật
giáo. Đã sống chung trong một đoàn thể thì việc quy định ngày giờ để
cùng ngồi lại với nhau trong ý nghĩa Bố Tát là điều cần thiết và tất
nhiên thôi, có như thế mới là cơ hội để sinh hoạt Đại chúng, còn bằng
không thì sống chung với nhau mà không hề sinh hoạt chung với nhau lần
nào sao? Như trên đã nói, trong các cuộc hội họp chung với nhau đó bên
Ni chúng thì thỉnh giáo giới Sư từ bên Tăng thì sẽ được nhiều lợi lạc
vì: Vị Tăng đó đã được theo Phật học nhiều năm rồi, thực hành tu tập
cũng lâu và đã chứng Thánh Quả ( ít nhất là Tu Đà Hoàn) lại có kinh
nghiệm sinh hoạt tập thể, Tăng đoàn và có nhiều vị Tăng là Thầy bên
Ni giới nữa… Cho nên, những cơ hội cả Ni đoàn cùng hội họp nhau như
thế thì việc mời một vị Giáo Giới Sư bên Tăng là tất nhiên thôi vì
khi ấy cả Ni chúng đều được lợi lạc. Luật lệ cho việc Bố
Tát sẽ được thiết lập chặt chẽ có hệ thống về sau này nhưng mô thức
sinh hoạt ban đầu của Bố Tát thì đã có ngay khi Giáo đoàn thành lập Điều thứ tư là Ni phải
làm lễ Tự Tứ, tự nói lỗi của mình trước hai bộ Tăng và Ni về ba vấn
đề thấy, nghe và nghi. Một khi
đã có an cư thì phải có ngày kết thúc an cư khi hết mùa mưa để rồi
sau đó đi du hóa khắp nơi, ngày kết thúc ấy gọi là tự tứ. Hiển
nhiên khi kết thúc việc gì thì cũng phải nhìn lại xem kết quả của việc
đó như thế nào. Ni giới đã nhờ chư Tăng đến giáo giới cho nên ngày Tự
Tứ cũng nên nói lỗi mình trước hai bộ Tăng Ni để có gì cần phân
tích chỉ dạy thì Chư Tăng hoặc là chính những vị Thầy giáo giới của
mình ( như Ngài A Nan, Ca Diếp, Ưu Ba Ly) chỉ giáo về lỗi và hướng tu tiến
về sau để khắc phục lỗi đó,… Điều thứ năm, Ni phạm
giới Tăng tàn, phải thực hiện hình phạt ý hỷ nửa tháng trước hai bộ
Tăng và Ni. Trong sách : “Đức Phật
và Phật Pháp” có ghi điều này chính xác hơn : “Tỳ khưu ni đã phạm trọng tội phải
chịu phạt Manatta (Một hình thức phạt kỷ luật) trước chư Tăng và chư Ni.” Cái thuật ngữ “ Tăng
tàn” được đưa vào và thay vị trí của từ “ trọng tội” về sau
này. Vậy thì tại sao chúng ta phải kẹt vào 2 chữ “Tăng tàn” để bảo
rằng lúc đó khái niệm này chưa có, hay việc sám hối và trị phạt của
Tỳ Kheo Ni trước hai bộ chúng là không có? Còn việc phạm trọng tội là
có chứ, những việc làm gây khổ đau người khác và làm rối loạn Tăng
già hay thương tổn Đức Phật : khiến người đời hủy báng Tam Bảo,…Chẳng
hạn chúng ta nói tại sao lại dùng “ Phật đản sanh”, “ Phật thành đạo”
mà không dùng “Bồ Tát Tất Đạt Đa đản sanh”, “ Bồ Tát Tất Đạt
Đa thành đạo” có người lại chấp vào từ ngữ : đã Phật rồi thì còn đản sanh làm chi nữa,
hoặc còn thành đạo cái gì nữa? Thì cũng tại vì chúng ta “bưng” từ
“Phật” về sau này mà “bỏ” vào các ngữ cảnh trước đó mà thôi.
Chẳng hạn nếu nghe ai đó bảo : “ Thầy Nhật Từ được sanh ra ở miền
Tây Nam Bộ” có người cãi : làm gì có chuyện Thầy Nhật Từ được
sanh ra ở miền Tây, Thầy Nhật Từ được sanh ra ở Chùa Giác Ngộ Saigon
( hoặc chùa nào đó Saigon), … tất cả
cũng vì chúng ta “bưng” cái chữ Thầy Nhật Từ mà “bỏ” vào văn cảnh
của hơn mười năm trước trong cuộc đời mà thôi. Vậy thì nội dung và
tính chất các việc quy định trong
các điều 2,3,4,5,6 trong Bát Kính Pháp rất là phù hợp và xảy ra khi vừa
lập Ni đoàn chỉ có điều là ngôn từ được cập nhật (update) sau khi có
bộ luật và các quy định chặt chẽ về an cư, tự tứ, Bố tát, yết ma,
xử phạt, … ra đời. Dù là sơ đẳng và đơn giản như thế nào đi nữa
nhưng nội dung của các việc được ghi trong Bát Kính Pháp được thực hiện
nghiêm túc ngay khi Ni đoàn vừa thành lập. Điều thứ bảy là Tỳ-kheo-ni
không được chỉ trích và chửi bới chư Tăng dù với bất kỳ lý do gì.
Lý luận bảo hộ cho rằng không thể nào chấp nhận về phương diện đạo
đức, khi một vị Ni với tư cách là một người học trò chửi bới các
vị giáo thọ của mình. Bởi vì nó liên hệ tới một sự kiện lịch sử
là có một vị Tỳ-kheo-ni đã chửi mắng rất nặng nề Tôn giả Ưu-ba-li,
khi Tôn giả này đã đến giáo giới họ. Họ chẳng những không nghe mà nổi
cáu sân hận quá nên đã trút những lời không đẹp đẽ gì cả. Rõ ràng là Tỳ-kheo-ni không được chỉ
trích và chửi bới chư Tăng là phải quá rồi, chửi mắng như thế thì
còn thể thống gì nữa? Do đó, nó phải được
áp dụng chung cả hai tình huống Tăng và Ni, tức là bên nào cũng phải dùng
ái ngữ, chứ không phải chư Ni thì phải ái ngữ, còn chư Tăng thì muốn
nói sao thì nói. Cái này thì chính tác giả của vấn
đề được gán cho đức Phật thì có thể tạo ra rất nhiều nỗi oan
trái ở trong cuộc đời này mà tác giả ở đây là
Thầy Nhật Từ. Nghĩa là chính Thầy Nhật Từ gây oan trái cho đức Phật
chứ giải oan cho Đức Phật gì đâu? Phật chỉ
dạy : Tỳ-kheo-ni không được chỉ
trích và chửi bới chư Tăng rồi dừng lại bỗng dưng
Thầy Nhật Từ ngẫu hứng thêm vào trong khi Tỳ-kheo-tăng được
quyền chỉ trích và chửi bới chư tỳ kheo ni. Rõ ràng là cái phần đuôi
thòng lọng mà Thầy Nhật Từ thêm thắt vào này không tìm thấy ở trong một
văn bản nào cả? Như trên
đã nói Bát Kính Pháp là có tác dụng ngăn ngừa và giữ Tỳ Kheo Ni ở
trong Phạm hạnh xứng đáng của một bậc xuất gia. Rõ ràng sự cẩn thận
dạy bảo, ngăn ngừa này : Tỳ-kheo-ni không được chỉ
trích và chửi bới chư Tăng không dư thừa tí nào
vì có một thực tế dù chúng ta có muốn chấp nhận hay không nó vẫn xảy
ra là : có nhiều phụ nữ ở ngoài thế gian
rất xuất sắc trong việc chỉ trích và chửi bới, tôi đã từng
nghe các bà láng giềng chửi bới người khác cả ngày không chán vì những
chuyện con chó chạy qua con gà chạy lại gì
đó, ở ngoài chợ trời các bà chửi bới nhau ầm ỉ hoài chứ gì? Có khi
các bà lôi 9 đời dòng họ người khác ra để chửi bới chứ chẳng chơi !
Nhiều vị Tỳ Kheo Ni đi xuất gia vì hoàn cảnh bức bách và
tâm tánh chưa được thuần thục, tập nhiễm thế gian vẫn còn nhiều,
tâm lí bị ức chế, căng thẳng như đã nêu phần trên nên có những lúc
có thể phản ứng theo thói quen và tánh cách phàm tục nếu như họ không
được răn bảo nhắc nhở tới hậu quả của việc làm ấy ( có thể mất
tính cách Tỳ Kheo Ni vì vi phạm Bát Kính Pháp và bị trục xuất ra khỏi
Ni đoàn) Thế đó,
dù đã được răn nhắc như vậy mà chuyện chửi mắng vẫn xảy ra : có một vị Tỳ-kheo-ni đã
chửi mắng rất nặng nề Tôn giả Ưu-ba-li, khi Tôn giả này đã đến giáo
giới họ. Họ chẳng những không nghe mà nổi cáu sân hận quá nên đã
trút những lời không đẹp đẽ gì cả. Không chỉ một mình
Ngài Ưu Ba Ly bị Ni giới chửi mắng mà Ngài Ca Diếp và Bàn Đặc ( sau khi
chứng quả A La Hán) cũng đã từng nghe những lời chỉ trích khá nặng nề. Phật đã
vì lòng Từ Bi răn dạy tường tận như thế, vậy mà cũng vi phạm nhiều
lần lại còn trách tại sao Phật lại dạy ra như vậy, điều này là thế nào, lấy oán báo ân sao? Chúng ta thử đặt ra một
tình huống, nếu như một vị ni nào đó bị chư Tăng ứng xử bất công
thì sao, im lặng hay lên tiếng và lên tiếng như thế nào để không dẫn
đến sự phá hòa hợp Tăng và vẫn sân hận như một ngọn lửa thiêu đốt
an vui và hạnh phúc. Điều qui này hoàn toàn
trái ngược với học thuyết nhẫn nhục: “ai chửi bới gì chửi bới,
mình không được nói”. Cho nên đức Phật nói, nếu như người ta nói
sai mình phải xác định trong kinh Trường bộ: “Những điều này không
có trong chúng tôi, chúng tôi không hề làm những điều này.” Ngài nói rất
là rõ, chứ Ngài không bao giờ dạy chúng ta im lặng tiêu cực. Chuyện
này thì xưa nay vẫn thường làm rồi : nếu như một vị ni nào đó
bị chư Tăng ứng xử bất công thì đến thưa trình với
Phật hoặc tác bạch thưa trình Đại chúng Tăng về sự kiện đó. Có ai cấm
quý vị Ni nói câu : “Những điều này không có trong chúng
tôi, chúng tôi không hề làm những điều này.” với Tỳ Kheo Tăng miễn rằng
là nói trong hòa nhã, ái ngữ chứ không phải chửi bới. Các Tổ có thể dạy, chẳng
hạn như luận Bảo vương tam muội: “Oan ức không cần biện bạch, vì biện
bạch là hèn nhát.” Đó là Tổ dạy chứ Phật dạy không có. Phật nói:
khi mà mình bị hiểu sai thì mình phải trình bày chân lý, còn nghe hay
không nghe là thuộc về quyền của người. Chúng ta
nên hiểu đúng về câu : “Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch
là hèn nhát.” như thế nào? Biện bạch
khác với trình bày. Biện bạch là bao hàm một nỗ lực và thường là
kèm theo biểu đạt cảm xúc ( buồn bực không yên), tìm đủ mọi phương
cách và nói dài bất tận cho đến khi sự việc đen ra đen, trắng ra trắng
mới thôi ( tức là tìm mọi cách để làm gãy đổ lời buộc tội của
người khác nhắm vào mình). Còn việc trình bày là thản nhiên, bình tĩnh xác nhận là điều đó có hay không mà
thôi. Chư Tổ trong hầu hết trường hợp đâu có cấm việc trình bày nhưng
chỉ dạy chúng ta không biện bạch mà thôi - tức là không quá loay hoay khổ
sở tìm cách nọ cách kia để mọi người xung quanh hiểu mình theo cách tốt
đẹp hơn. Có nhiều
lời buộc tội dù oan ức nhưng bị cáo không đủ lý do hay bằng chứng để
chứng minh rằng là mình bị oan. Điều này vẫn thường hay xảy ra trong cuộc
đời. Trong trường hợp này thì dù có trình bày hay biện bạch cho mấy
đi nữa cũng chỉ làm tăng thêm sự hiểu lầm nơi mọi người và nhọc sức
mà thôi vì mặc cảm và thành kiến, hay dụng ý xấu xa đã không khiến
cho người cáo tội không bình tâm xét lại vấn đề. Ví dụ cụ thể là
khi người ta đã nghĩ và đã bảo : Thầy Nhật Từ làm tất cả những điều
đó vì danh lợi cá nhân, hoặc là vì mua lòng ai đó, hoặc là vì thế lực
nào đó sai bảo chứ không phải làm
là vì lý tưởng Bồ tát hay là Chỉ có con đường duy nhất
là ủng hộ Phật pháp thôi, vậy thì Thầy cứ tự
nhiên mà trình bày : Điều này không có nơi ở nơi tôi. Còn chư Tổ dạy
không biện bạch có nghĩa là dạy Thầy đừng nên quá bận tâm cả ngày
đêm buồn khổ và dồn hết tâm trí để giải oan và thanh minh cho được
việc này. Hơn nữa, cho dù Thầy có nỗ lực đến đâu đi nữa thì liệu
Thầy có thanh minh được việc này hay không khi lối suy nghĩ của họ là vậy? Một tầng
nghĩa cao hơn nữa đó là có trường hợp có thể thanh minh được nhưng
sau khi thanh minh xong phần ta yên ổn mà tai họa lại giáng vào kẻ khác cho
nên ta nên im lặng luôn chịu thiệt thòi và oan ức phần mình và đảm bảo
sự an ổn cho người khác. Ví dụ : có một người cha rất nóng tánh, có
những bộ chén kiểu cỗ xưa hay bình trà rất đẹp và rất giá trị, một
hôm dọn dẹp hay rửa chén người em làm bể bộ đồ cổ quý đó. Khi người
cha về gặp người anh và hay biết bộ đồ cổ đã bể liền nổi giận
đùng đùng và hét bảo “Có phải mày là
đồ vô tích sự đập vỡ chén và bình của tao đó không?” Người
anh cúi đầu im lặng. Người cha sau đó đánh vào người con trai lớn này
dồn dập. Người anh này không biện bạch vì muốn chịu đòn thay cho em
mình, nếu biện bạch thì tội nghiệp cho em mình yếu đuổi không chịu nổi
roi đòn và cơn giận sấm sét của người cha. Ví dụ tương
tự ta có thể tìm thấy trong câu truyện cổ Phật giáo : “ Nắm hạt trai” : một vị Tỳ kheo
đi khất thực và du hóa vào thăm một người nọ. Người ấy mừng rỡ nên
dù lúc đang xỏ những hòn ngọc trai vào dây chuỗi lại bỏ việc đó đi
làm cơm nước cúng dường Tỳ Kheo. Khi đó con ngỗng nhìn thấy hòn ngọc
trai tưởng là món ăn ngon bèn đớp nuốt vào bụng. Khi chủ nhà bưng cơm
lên thì hoảng kinh vì những hạt ngọc trai không còn nữa. Chủ nhà bèn
tra hỏi vị Tỳ Kheo nhưng vị Tỳ Kheo không nói, vì tiếc của nên sai gia
nhân đánh đập vị Tỳ kheo cho đến
khi ngất xỉu suýt chết đi. Con ngỗng loanh quanh bên vị Tỳ Kheo bị người
chủ nhà giận quá đập một gậy chết luôn. Vị Tỳ Kheo sực tỉnh dậy,
thương cho con ngỗng, đọc kinh cầu nguyện rồi mới nói ra sự tình. Trong
trường hợp này, nếu vị Tỳ Kheo áp dụng câu nói của Phật dạy : Điều này không có ở nơi tôi là không được rồi, hoặc chỉ ra con ngỗng
đã nuốt ngọc trai là đồng tình với việc sát sanh rồi. [3] Tương tự
như vậy câu chuyện Thiền Sư “ thật vậy sao” Hakuin trong “MỘT
TRĂM LẺ MỘT CÂU CHUYỆN THIỀN” [4]
thản nhiên lãnh đứa con oan nghiệt vu oan cho Ông và “Ngài tận tình chăm sóc đứa bé và thường
đi sang hàng xóm để xin sữa và các thức cần thiết khác để nuôi trẻ
sơ sinh” chứ không nói câu : “Việc này không có nơi tôi” bởi nói
câu đó thì đau khổ vẫn tiếp tục trút lên đầu thiếu nữ - người mẹ của đứa con oan nghiệt đó khi cha mẹ
của cô thiếu nữ luôn cật vấn và tra hỏi về người cha của đứa bé
này mà lúc ban đầu cô thiếu nữ không đủ can đảm để thú nhận cha của
đứa bé oan nghiệt cùng với mối tình vụng dại là anh hàng cá trẻ tuổi.
“Oan ức không cần biện bạch” chứ
không phải là : “ việc này không có ở nơi
tôi” đã giúp cho Thiền sư Hakuin hành hạnh Ba La Mật - nhẫn nhục Ba
La Mật, tinh tấn Ba La Mật, Bố Thí Ba La Mật và Tứ Vô Lượng Tâm - Từ
Bi Hỷ Xả. Bởi thế
nên có câu rằng : “Y Kinh giải nghĩa tam
thế Phật oan, ly Kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”. ( Y sát theo Kinh
mà giải nghĩa là oan ba đời chư Phật, rời xa Kinh một chữ là đồng với
lời nói của ma ). Điều thứ tám là chư Ni
không được phép quở trách khuyên lơn chư Tăng, nhưng chư Tăng được quyền
quở trách chư Ni. Cái lý luận bảo vệ: đó là tại vì muốn cho chư Ni thể
hiện lòng tôn kính tuyệt đối với Tăng đoàn, vì đó là điều cần thiết
và mang lại lợi ích cho cá nhân và cho chư Ni. Lý luận đó nghe có mát lỗ
tai thôi chấp nhận. Điều thứ
tám này là kết quả tất yếu của 7 điều như đã phân tích trên. Như chúng
ta đã nói : có một số việc làm của Tỳ Kheo Tăng khó phân biện được
là đúng hay sai, khi ấy chưa có hệ thống giới luật đầy đủ, chỉ căn
cứ vào sở học và tu nơi lời dạy của Đức Phật mà quyết định là
việc làm đúng hay sai. Tỳ Kheo Ni mới vào Giáo Đoàn chưa học được bao nhiêu ngày thì căn cứ vào đâu để biết
là việc làm đúng hay sai trong khi đó hàng chúng Tăng lại có những người
hành mật hạnh, nghịch hạnh nữa? Nhiều Tỳ Kheo Tăng đã có kinh nghiệm
học và tu sâu dày, đắc quả A La Hán, có
thần thông nữa và làm Thầy bên Ni giới thì việc quở trách và khuyên lơn
Ni giới sẽ chính xác và hiệu quả. Ngược lại Ni giới lúc ấy non trẻ
làm sao làm được việc quở trách khuyên lơn này? Ví dụ một cô Sa Di Ni vào chùa mấy
ngày thì làm sao biết việc làm Thầy Nhật Từ là đúng hay sai mà quở
trách với khuyên lơn? Rõ ràng giáo đoàn
Ni đang cần sự chăm sóc cho lớn mạnh từ đức Phật với sự hỗ trợ rất
lớn từ phía Tăng đoàn. Một lần nữa trở lại một điểm mà tôi
đã nhấn mạnh phần trên là : ngay cả thời nay khi Ni giới đủ điều kiện
để học và biết nhiều nhưng có dám tự hào là hiểu biết hết hạnh
nguyện và lối làm việc của Hãy nghĩ
xem Ni giới đâu bám vào được tiêu chí cho việc đúng sai làm cơ sở cho
việc quở trách khuyên lơn này : Lúc Phật còn tại thế : ni giới sinh sau
đẻ muộn, học ít, nên căn bản giáo Pháp chưa đủ sức tin là đã vững
vàng để quở trách khuyên lơn Tỳ
Kheo Tằng, lúc Phật nhập diệt : Các Tỳ Kheo tham gia vào việc kiết tập
Tam tạng kinh điển, các Tỳ Kheo lập ra các tông phái, cũng như hôm nay
các Tỳ Kheo đang làm công việc giám định giới luật và quyết định tiếng
nói của các Ngài Tỳ Kheo có giá trị áp dụng hơn là tiếng nói của Phật
(các Ngài nói : lời phật dạy lúc đó
nay đã lỗi thời hoặc là cái này do người sau thêm thắt vào chứ Phật
không nói) lời trong Kinh điển lưu truyền mà các Ngài còn dẫm qua nhẹ
nhàng như vậy thì lời quở trách khuyên lơn của chư Ni phỏng có tác dụng
gì? Đó có phải là thực tế không? Điều
quan trọng nhất tại đây là lúc thành lập ni đoàn, việc bố tát, an cư,
sám hối, tự tứ, ,… của chư Ni có Tỳ Kheo tăng hiện diện giáo giới,
giúp đỡ thì quở trách và khuyên lơn rất là hiệu quả. Còn việc Tăng
đoàn ai lo, ai giúp Tỳ Kheo tăng sống đúng với Phạm hạnh xuất gia và tu
tiến? Trả lời : đã có Đức Phật và các Trưởng Lão Tăng
xuất sắc và dư sức để lo chuyện ấy rồi. Tôi muốn nói vào thời Đức
Phật, thật là vô lý khi một chuyện (giữ cho tăng đoàn nghiêm tịnh, hòa
hợp) đã có người lo và dư sức lo thế mà Ni chúng vừa mới xuất gia tu
học lại đòi lo phần làm nghiêm tịnh Tăng đoàn, thật là chỗ đáng lo,
cần lo không lo, chỗ đã có thừa người lo rồi mình lại giành phần lo
bao đồng ! Nếu những ai có năng khiếu quản lý, điều hành hoặc có thuật điều binh sẽ cảm thấy
điều này thật là buồn cười. [1] Hòa thượng Narada, Phạm Kim Khánh dịch Việt
1998, Đức Phật và Phật Pháp, (The Buddha and His Teachings), phần : Con
Đường Hoằng Pháp |